nhiều khía cạnh khác nhau, chủ đề được đề cập nhiều hơn trong các công trình nghiên cứu là nguồn gốc, bản chất con người, nhân tố con người trong lực lượng sản xuất, quyền con người, mối
Trang 1\
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
- -
TRẦN QUANG TUYNH
ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ TỰ NHIÊN VÀ YẾU TỐ XÃ HỘI ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO SỨC KHỎE CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
- -
TRẦN QUANG TUYNH
ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ TỰ NHIÊN VÀ YẾU TỐ XÃ HỘI ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO SỨC KHỎE CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn 1 : PGS.TSKH Lương Đình Hải
2 : PGS TS Phạm Công Nhất
HÀ NỘI - 2013
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 0
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 QUAN NIỆM TRIẾT HỌC VỀ YẾU TỐ TỰ NHIÊN, YẾU TỐ XÃ HỘI VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI 14
1.1 Quan niệm triết học về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người 14
1.1.1 Sơ lược một số quan niệm trong lịch sử 14
1.1.2 Quan điểm mác xít 16
1.2 Mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người 23
1.2.1 Một số quan điểm ngoài mác xít 23
1.2.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người 30
1.3 Sức khoẻ con người 35
1.3.1 Một số quan điểm về sức khoẻ trong lịch sử 35
1.3.2 Quan điểm hiện đại về sức khoẻ 41
Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ TỰ NHIÊN VÀ YẾU TỐ XÃ HỘI ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI 49
2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến sức khỏe con người 49
2.1.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên bên ngoài con người 49
2.1.2 Ảnh hưởng của quá trình trao đổi chất với sức khoẻ 57
2.1.3 Khả năng tự vệ của con người và sức khoẻ 65
2.1.4 Vai trò của quá trình tự điều chỉnh của cơ thể đối với sức khỏe 73
2.2 Ảnh hưởng của yếu tố xã hội đến sức khỏe con người 81
2.2.1 Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế đến sức khỏe 83
2.2.2 Ảnh hưởng của môi trường xã hội đối với sức khỏe 92
2.2.3 Ảnh hưởng của lối sống đến sức khỏe 104
2.2.4 Ảnh hưởng của hệ thống y tế đến sức khỏe 116
Trang 4Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM CHĂM SÓC,
BẢO VỆ VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE CON NGƯỜI VIỆT
NAM HIỆN NAY 131
3.1 Nhóm giải pháp tác động đến mặt tự nhiên nhằm nâng cao sức khỏe con người Việt Nam hiện nay 131
3.1.1 Giữ gìn và cải tạo môi trường tự nhiên trong sạch góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân 131
3.1.2 Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân 134
3.2 Nhóm giải pháp tác động đến mặt xã hội nhằm chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người Việt Nam hiện nay 144
3.2.1 Đẩy mạnh cải tạo các quan hệ kinh tế - xã hội, xây dựng môi trường xã hội trong sạch lành mạnh nâng cao sức khỏe nhân dân 144
3.2.2 Xây dựng lối sống lành mạnh, ngăn chặn đẩy lùi các tệ nạn xã hội nâng cao sức khỏe nhân dân 147
3.2.3 Phát huy tốt hơn nữa vai trò của hệ thống y tế trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân 160
KẾT LUẬN 171
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 174
TÀI LIỆU THAM KHẢO 175
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Tiếng Việt
ADN Axít diôxyribô nuclêic
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mẵc phải
ATP Adênosin tri phốt phát
ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
BCHTW Ban chấp hành trung ương
BVBMTE Bảo vệ bà mẹ trẻ em
BVSKBMTE Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CSSK Chăm sóc sức khỏe
CSSKBMTE Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em
CSSKND Chăm sóc sức khỏe nhân dân
DSKHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình
ĐCSVN Đảng cộng sản Việt Nam
FAO Tổ chức lương thực thế giới
GDP Tổng thu nhập quốc dân trên đầu người
GNP Tổng sản phẩm quốc nội
HIV Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
H1N1 Một phân nhóm của vi rút cúm A
H5N1 Một phân nhóm của vi rút cúm gia cầm
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
NCKH Nghiên cứu khoa học
NXB Nhà xuất bản
PH Nồng độ axít hay bazơ
SARS Hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng
Trang 6UNEP Chương trình môi trường Liên Hợp quốc
UNICEF Quĩ nhi đồng Liên Hiệp Quốc
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
XHCN Xã hội chủ nghĩa
WHO Tổ chức Y tế thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là sản phẩm tiến hoá cao nhất của giới tự nhiên Vấn đề con người luôn là một trong những vấn đề trọng tâm, nóng bỏng của hiện thực đời sống xã hội được các nhà lý luận, các nhà khoa học chú trọng nghiên cứu để cố gắng tìm ra những câu trả lời thỏa đáng trên những phương diện khác nhau
Bước vào thế kỷ XXI - thế kỷ tạo dựng nền văn minh mới, văn minh tin học, phát triển con người trở thành mục tiêu trọng tâm của sự phát triển
xã hội Do vậy, vấn đề con người, tâm lý con người, nhân cách con người, trí tuệ con người, tiềm năng con người và nguồn lực con người lại nổi lên mạnh
mẽ Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nhiều quốc gia coi chiến lược phát triển con người là cốt lõi của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Phát triển con người là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển văn hoá và tăng trưởng kinh tế
Từ Đại hội VI, ĐCSVN đã khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người trong tiến trình phát triển xã hội Các kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng tiếp tục khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế, xã hội Đại hội XI của ĐCSVN nhấn mạnh: “Phải bảo đảm quyền con người… nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài, chăm lo lợi ích chính đáng và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi người dân, thực hiện công bằng xã hội” [28, tr 100] Đảng
ta đã nhận thấy con người là vốn quí nhất - là vốn của mọi nguồn vốn, là lực của mọi nguồn lực
Khi Đảng ta xác định: “… con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển” [28, tr 30] thì sức khỏe cũng chính là nguồn lực phát triển hay nói cách khác là yếu tố rất quan trọng trong nguồn lực lao động Cộng đồng quốc tế và các công ước quốc tế đều cho sức khỏe là một trong những “nhu cầu cơ bản bậc nhất” của cuộc sống con người, và cao hơn nữa sức khỏe được xem là một trong những quyền con người, có nghĩa là sức khỏe của mỗi người được tôn trọng, mỗi cá nhân và nhà nước đều có trách
Trang 8nhiệm thực hiện quyền này Với mỗi người, có sức khỏe là có thể có tất cả, không có sức khỏe sẽ không làm được gì cho bản thân, gia đình và xã hội Với mỗi quốc gia, sức khỏe của người dân là một trong những nguồn lực quyết định nhất đến sự phát triển của xã hội, nó có vai trò trực tiếp sử dụng
và phát huy tốt nhất vai trò của các nguồn lực khác của xã hội Nhận thức rõ vấn đề này, Đại hội XI của ĐCSVN đã nhấn mạnh: "phát triển mạnh sự nghiệp
y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân" [28, tr 128]
Tuy nhiên, sức khỏe con người bao gồm: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội Nó bị qui định và chịu sự tác động rất mạnh mẽ của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội, bên trong và bên ngoài con người Hai yếu tố này có mối quan hệ biện chứng và tác động thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của con người
Điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta đã và đang xuất hiện những yếu tố để củng cố, phát triển sức khỏe cho con người, nhưng bên cạnh
đó cũng xuất hiện ngày càng nhiều các yếu tố cả tự nhiên và xã hội có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe: các đại dịch mới như căn bệnh SARS, HIV/AIDS hiện đang hoành hành, lỗ thủng tầng ôzôn, el-ninô và những thảm họa môi sinh khác, đã và đang đe dọa sự tồn vong hoặc gây nên những khó khăn lớn cho quá trình phát triển con người Hơn 10 năm qua, cơ cấu bệnh tật ở Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể, mô hình bệnh tật ở nước ta vừa có những bệnh của nước nghèo, lại vừa có những bệnh của nước đang phát triển; những bệnh liên quan đến rối loạn trao đổi chất và hoạt động thần kinh trung ương như: vữa xơ động mạch, bệnh thiếu máu cơ tim, tăng huyết
áp, thừa cân, bệnh tiểu đường, v.v đang có xu hướng gia tăng Nhu cầu CSSK của người dân ngày càng cao và đa dạng, trong khi khả năng đáp ứng của hệ thống y tế còn hạn chế, chi phí cho CSSK ngày càng tăng, có sự chênh lệch khá lớn về chỉ số sức khỏe giữa các vùng, miền gây ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu đảm bảo công bằng trong y tế Tình hình đó, đã và đang đặt ra những vấn đề rất cơ bản, cấp thiết về lý luận và thực tiễn trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ và phát triển con người ở nước ta hiện nay
Trong những năm qua, ở nước ta cũng như trên thế giới đã có nhiều
Trang 9công trình, đề tài nghiên cứu về con người dưới nhiều góc độ khác nhau và
có giá trị đáng kể Tuy nhiên, dưới góc độ triết học nghiên cứu quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội nhằm nâng cao sức khoẻ, phục vụ sự nghiệp phát triển con người Việt Nam chưa có nhiều và đang là vấn đề có tính cấp thiết cần được quan tâm nghiên cứu
Từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: Ảnh hưởng của yếu tố tự
nhiên và yếu tố xã hội đến sức khoẻ con người và vấn đề nâng cao sức khoẻ
con người Việt Nam hiện nay làm luận án tiến sĩ triết học chuyên ngành chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề con người luôn là vấn đề trung tâm của các thời đại, các ngành khoa học ra đời và phát triển đều hướng tới việc phục vụ con người Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề con người nói chung, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình vận động, phát triển và sức khoẻ con người nhằm nâng cao đời sống của con người đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử
Các trường phái triết học phương Đông cổ, trung đại thường nhìn nhận con người với tư cách là một thực thể bao gồm hai phần thể xác và linh hồn Các quan niệm về bệnh tật và sức khoẻ của họ đều tìm cách giải thích những trạng thái bên trong cơ thể con người gắn liền với những yếu tố của môi trường bên ngoài Nổi bật nhất trong số các quan niệm đó là học thuyết âm dương và ngũ hành trong triết học Trung Hoa cổ đại
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại đã có nhiều nhà triết học nghiên cứu tìm hiểu về con người và có những quan điểm khác nhau, đã có những đại biểu đưa ra những tiêu chí để phân biệt giữa con người và con vật Ngay từ thế kỷ IV trước công nguyên, Hypôcrát một danh y của Hy Lạp đã có công tách y học khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, đưa ra thuyết thể dịch để giải thích các hiện tượng sức khoẻ và bệnh tật Theo ông, thầy thuốc cần chú ý đến cách sinh hoạt, chế độ
ăn, tuổi tác, hoàn cảnh sống của người bệnh, đất đai, nguồn nước, thời tiết địa phương nơi có dịch bệnh Tuy chưa đưa ra khái niệm yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội và chỉ ra một cách cụ thể ảnh hưởng của nó đến sức khoẻ con người, song ông đã biết bệnh tật có những nguyên nhân hiện diện ở con người, ở môi trường
Trang 10xung quanh con người và diễn tiến theo các quy luật tự nhiên
Thời Phục hưng vấn đề con người đã được nhiều nhà triết học, khoa học nghiên cứu, các môn khoa học về con người như: giải phẫu học, sinh lý học, sinh lý học thần kinh cao cấp, sinh hoá, tâm lý học, tâm thần học đã được ra đời
và phát triển Cách nhìn con người của thời đại cũng chỉ từ hai góc độ là thể xác
và tinh thần Thời kỳ này chưa xuất hiện khái niệm yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội trong con người cũng như chưa thấy được con người là một thực thể tự nhiên - xã hội
Vấn đề con người và sức khoẻ con người được nhiều nhà triết học cổ điển Đức đi sâu nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tuy chưa dùng khái niệm yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội nhưng G.W.F.Hêghen đã có nhiều luận điểm lí giải khá sâu sắc về mối liên hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong con người Ông cho rằng, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình hoạt động của chính bản thân chủ thể ấy, hoạt động của con người càng phát triển bao nhiêu thì ý thức càng mang bản chất xã hội bấy nhiêu, tức là, hai mặt tự nhiên và xã hội là mâu thuẫn nhưng thống nhất với nhau chi phối con người Ông đưa ra quan niệm biện chứng về sống và chết, đồng thời ông luận giải mối quan hệ giữa sức khoẻ và bệnh tật với môi trường bên ngoài, song hạn chế là ông đã biến con người thành con người tự ý thức, coi
ý thức là phương thức tồn tại duy nhất của con người
L.Phoiơbắc khi nghiên cứu về con người đã lấy con người sống, con người có cảm giác là điểm xuất phát của học thuyết duy vật của mình Theo ông, con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên, là một sinh vật có hình thể vật chất ở trong không gian và thời gian và do vậy, nó có năng lực quan sát
và suy nghĩ L.Phoiơbắc đã phê phán cách tiếp cận về con người của các nhà duy tâm trong triết học cổ điển Đức khi nghiên cứu con người chủ yếu như một bản nguyên tinh thần trừu tượng, bản chất con người chỉ có tư duy, còn thể xác không thuộc về bản chất con người Thể xác của con người là cơ sở vật chất cho sự thống nhất của con người, là một bộ phận của thế giới khách quan Đặc trưng của chủ nghĩa nhân bản của L.Phoiơbắc là phủ nhận quan điểm nhị nguyên luận về con người, đồng thời thừa nhận và luận chứng cho
Trang 11quan điểm duy vật về sự thống nhất giữa tinh thần và thể xác, tư duy và tồn tại, giữa tâm lý và sinh lý, giữa khách quan và chủ quan Hạn chế của L.Phoiơbắc về bản chất của con người thể hiện ở chỗ ông coi con người như một thực thể sinh vật chứ không phải là thực thể xã hội Ông đã đề cao mặt sinh vật của con người khi cho rằng, bản tính tự nhiên của con người là sự ích kỷ và sự ích kỷ ấy là phù hợp với tự nhiên và tồn tại thực sự, cho nên khi L.Phoiơbắc nghiên cứu những vấn đề của đời sống xã hội, ông đã rơi vào duy tâm, thần bí về cái gọi là “con người thực thể” Hạn chế đó đã được khắc phục trong quan điểm của C.Mác về con người, khi ông khẳng định:
“L.Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ
xã hội” [63, tr 11]
Học thuyết Mác - Lênin vừa khẳng định con người là một bộ phận của thế giới tự nhiên, vừa khẳng định con người là một thực thể mang tính xã hội Triết học Mác nghiên cứu con người trên cơ sở là một thực thể tự nhiên
- xã hội Trong các tác phẩm “Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên”
và một số tác phẩm khác C.Mác, Ph.Ăngghen đã phân tích khá sâu sắc nguồn gốc hình thành và phát triển của con người; vai trò của lao động và giao tiếp xã hội trong việc quyết định bản chất con người Tuy C.Mác và Ph.Ăngghen không đưa ra một định nghĩa nào về sức khoẻ, bệnh tật, nhưng quan niệm của các ông về con người là một thực thể tự nhiên - xã hội, về bản chất con người, về mối quan hệ chặt chẽ giữa sức khoẻ, bệnh tật với các điều kiện sống, đặc biệt là các điều kiện kinh tế - xã hội… có giá trị rất lớn, có tính định hướng, là cơ sở cho việc nghiên cứu sức khoẻ, công tác chăm sóc
và bảo vệ sức khoẻ cho con người
Trong triết học hiện đại khi đi sâu tìm hiểu nghiên cứu con người, yếu
tố tự nhiên và yếu tố xã hội đã được xem xét, nghiên cứu một cách tương đối
có hệ thống Xu hướng rõ nét khi nghiên cứu vấn đề này là: duy sinh học và duy xã hội
Phái “Học thuyết sinh học xã hội” của chủ nghĩa hiện thực khoa học,
Trang 12mà tiêu biểu là Uynxơn thì coi sinh học là cơ sở để giải thích toàn bộ hiện thực, nhiệm vụ của phái này là nghiên cứu ranh giới giữa mặt sinh học và mặt xã hội Trong quá trình đó, họ đã tuyệt đối hoá các đặc trưng sinh học trong bản chất con người, không đánh giá đúng vai trò của yếu tố xã hội và
đi đến kết luận, khả năng của con người chủ yếu là do tính di truyền quyết định, còn vai trò của yếu tố xã hội là rất nhỏ Mặt khác, phái “Sinh học xã hội” còn cố chứng minh một số giả thuyết cho rằng, “bản chất động vật đồng nhất với bản chất con người” và “cái khởi nguyên và cội nguồn” trong con người là cái sinh học, còn cái xã hội là cái thứ yếu không bền vững
Chủ nghĩa Đácuyn xã hội biện hộ cho bạo lực và quyền lực xã hội (kẻ mạnh chiến thắng), nó gần với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, hệ tư tưởng phát xít, bản chất của nó là lạm dụng các qui luật sinh học, qui luật tự nhiên trong việc nghiên cứu con người Ngày nay, một số người tán thành chủ nghĩa Đácuyn xã hội vẫn sử dụng luận điểm đấu tranh sinh tồn, chọn lọc tự nhiên để giải thích sự phát triển của xã hội loài người, song họ cho rằng, hiện nay với những thành tựu của khoa học và kỹ thuật, cuộc đấu tranh sinh tồn trở nên yếu đi Do đó, không chỉ những kẻ thích nghi nhất mới tồn tại, mà cả những kẻ không thích nghi nhất, lẽ ra phải chết trong hoàn cảnh trước đây cũng vẫn tồn tại Đó là những người “kém giá trị” và theo họ nguồn gốc của mọi tai họa xã hội là do tình trạng sinh sôi nảy nở của những người đó [57]
Tiêu biểu cho những người theo chủ nghĩa hành vi là B.E.Skinơ Đây
là một hình thức tự nhiên hoá cực đoan đối với các hiện tượng xã hội, theo quan điểm này con người trở thành cỗ máy sinh học tự động B.E.Skinơ cho rằng, có thể giải thích mọi kiểu hành vi của con người, kể cả sự lựa chọn, tư duy, tình cảm thông qua những phản ứng của con người đối với kích thích từ môi trường Theo B.E.Skinơ, tất cả mọi thành công, sai lầm của con người đều do môi trường bên ngoài quyết định [141] Nhà hành vi học K.Lorenz người Áo khi nghiên cứu nguồn gốc của hành vi con người đã đồng nhất hành vi, bản tính con người với hành vi của động vật, theo ông con người có bản năng hiếu chiến Richard Dawkins nhà hành vi học người Mỹ cho rằng, trong con người cái bản năng, bẩm sinh đóng vai trò quyết định Theo ông,
Trang 13con người có bản tính ích kỷ bẩm sinh, nhưng có thể thay đổi một số hành vi của sự ích kỷ khi có sự tác động của giáo dục, của môi trường và hoàn cảnh sống [20]
Một trong những quan điểm triết học nghiên cứu về con người được quan tâm là thuyết “Phân tâm học” của S.Freud Trong đó, ông đã lí giải theo cách riêng của mình về mối quan hệ giữa hành vi vô thức và hành vi bị chế ngự bởi ý thức con người Ý tưởng chính mà S.Freud và cả những người theo thuyết của ông hướng tới đó là xã hội, các thiết chế xã hội, dồn ép những khuynh hướng sơ đẳng (những bản tính tự nhiên) của con người từ khi còn nhỏ, chỉ dồn ép chứ không huỷ diệt hoàn toàn, những khuynh hướng này tồn tại ẩn dưới lớp vỏ những tập quán xã hội và lợi dụng những cơ hội bất ngờ để thể hiện bằng những hình thức, mức độ khác nhau
M.Prarenti giám sát tâm lý chủ yếu dựa vào duy trì “luật pháp trật tự” Ông cho rằng, ở Mỹ “Tất cả những ai thoả mãn với điều kiện sinh tồn thì đều
bị bất ổn về nội tâm và do vậy, cần được chữa trị bằng các phương tiện giám sát tâm lý” [142] Như vậy, theo họ khái niệm về sức khoẻ có sắc thái chính trị Người khoẻ mạnh là người sống hoà bình và sẵn sàng hành động theo mệnh lệnh của chỉ huy, còn người bệnh tật là người được sinh ra từ sự bất bình xã hội
Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, các nhà triết học, khoa học Liên Xô trước đây đã đi sâu nghiên cứu yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội, vai trò
và mối quan hệ của chúng đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người Trong số đó có thể kể đến một số bài viết, một số tác phẩm như: “Bản tính tự nhiên và bản chất xã hội của con người” của E.V.Shôkôlôva [85];
“Hai cách tiếp cận chính của vấn đề “Cái sinh học cái xã hội” của Anđrêi Bruslinxki [13] Khi đề cập đến yếu tố sinh học và yếu tố xã hội của con người trong sự sáng tạo khoa học, viện sĩ B.M.Kêđrốp và viện sĩ N.P.Đubinin đều nhấn mạnh vai trò của các yếu tố xã hội trong mọi hành động của con người, nhưng cũng không coi nhẹ yếu tố sinh học mà các ông gọi đó là những phần của tự nhiên hay là những tiền đề tự nhiên [131, 132]
Các tác giả Kaliugiơnaia và Xêrđiukôpxkaia đi sâu nghiên cứu vai trò
Trang 14của yếu tố sinh học, yếu tố xã hội trong sự hình thành cơ thể và đưa ra những định nghĩa khác nhau về yếu tố sinh học, yếu tố xã hội của con người [128]
Nhìn chung, các nhà triết học, khoa học Liên Xô cũ đã đi sâu nghiên cứu yếu tố sinh học, yếu tố xã hội, vai trò cũng như mối liên hệ giữa chúng trong quá trình hình thành, phát triển của con người Từ đó, họ đi đến kết luận: con người là một thực thể tự nhiên - xã hội, hai mặt này không tách rời nhau, không đối lập nhau mà thống nhất biện chứng với nhau Con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên nhưng được hình thành phát triển qua quá trình lao động và quan hệ xã hội
Ở Việt Nam trước đổi mới, dưới góc độ triết học, con người thường được bàn đến với tư cách là con người mới XHCN mà ở đó chủ yếu đề cập đến nghĩa vụ của công dân đối với đất nước, vấn đề quyền lợi, sự công bằng
xã hội cũng được đề cập đến nhưng còn mang tính tư biện, ít gắn liền với thực tế; những nhu cầu tự nhiên, tất yếu và sức khoẻ của con người chưa được quan tâm thích đáng Trong điều kiện ấy, yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người ít được các tác giả đề cập, một trong những nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này là tác phẩm “Sự hình thành con người” của tác giả Trần Đức Thảo Trong tác phẩm này, mặc dù ông chưa đưa ra khái niệm yếu
tố tự nhiên và yếu tố xã hội, nhưng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử ông đã luận giải sâu sắc mối liên hệ giữa yếu
tố tự nhiên, yếu tố xã hội và yếu tố tâm lý của con người Trong định nghĩa trừu tượng về con người ông đã viết: “động vật hai chân, sản xuất ra các phương tiện sinh sống của mình, biết nói và suy nghĩ trong xã hội Đó là con người” [87, tr 123] Đây là một trong những khái niệm khoa học về con người, góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc tiếp cận, nghiên cứu yếu tố
tự nhiên, yếu tố xã hội cũng như mối quan hệ giữa chúng cho các nhà khoa học nước ta sau này
Từ khi đổi mới (1986) đến nay, trong các Nghị quyết của các kỳ Đại hội, ĐCSVN đã đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách kinh
tế - xã hội, thì việc nghiên cứu về con người ngày càng được chú trọng hơn Các công trình nghiên cứu về con người ở nước ta đã đề cập đến nhiều mặt,
Trang 15nhiều khía cạnh khác nhau, chủ đề được đề cập nhiều hơn trong các công trình nghiên cứu là nguồn gốc, bản chất con người, nhân tố con người trong lực lượng sản xuất, quyền con người, mối liên hệ giữa con người với tự nhiên, cái tự nhiên và cái xã hội hay yếu tố tự nhiên, yếu tố sinh học và yếu
tố xã hội của con người…
Trong đó, có một số công trình có tính chất lý luận góp phần xây dựng
cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, phát triển con người ở nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay, tiêu biểu là một số các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả: Vũ Trọng Dung [22], Lê Quang Hoan [46], Đặng Xuân Kỳ [55], Hồ Sĩ Quí [83], Đặng Hữu Toàn [94], Trần Văn Toàn [95], Nguyễn Anh Tuấn [111], Nguyễn Minh Tâm [114]… Những công trình này
đã đi sâu nghiên cứu, phân tích làm rõ thêm những luận chứng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất con người góp phần xây dựng
cơ sở lý luận cho các nhà triết học cũng như các nhà khoa học chuyên ngành
đi vào nghiên cứu nhằm mục tiêu phát triển con người, vì hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội
Một số công trình nghiên cứu có tính chất tổng hợp, đề cập những vấn
đề mang tính toàn diện xác định cơ sở cho chiến lược con người và sự phát triển xã hội như các đề tài cấp Nhà nước: “Con người Việt Nam mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” mang mã số KX - 07, “Xây dựng văn hóa phát triển con người và nguồn nhân lực thời kỳ CNH - HĐH” do giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm đề tài Bên cạnh đó là các công trình của cá nhân các tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn [16], Phạm Minh Hạc [35, 36], Nguyễn Văn Huyên [51], Vương Thị Bích Thủy [91]… Các công trình này đã khẳng định được vị trí, vai trò của con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong thời kỳ CNH - HĐH và đưa ra một số quan điểm mới về sự phát triển và tiến bộ xã hội Đồng thời khẳng định, triết học phải lấy cái đích đó là vì sự tiến bộ và phát triển, vì hạnh phúc của con người, giúp con người hướng đến những giá trị chân, thiện, mỹ; triết học có nghĩa vụ góp phần làm tăng thêm khả năng của con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới khách quan phục vụ các nhu cầu vật chất và tinh
Trang 16thần của con người
Một số tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn [15, tr 13], Trần Đức Long [57, tr 17], Vũ Thiện Vương [125, tr 30], Vũ Tùng Hoa [44], Nguyễn Thừa Nghiệp [74]… đã trực tiếp đi vào nghiên cứu yếu tố tự nhiên, yếu tố sinh học, yếu tố xã hội, mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên, yếu tố sinh học và yếu tố xã hội của con người Dựa trên những luận cứ khoa học, các tác giả
đã đạt được những kết quả nghiên cứu khá sâu sắc, hệ thống về mối liên hệ
và vai trò của yếu tố tự nhiên, yếu tố sinh học và yếu tố xã hội của con người, là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, phát triển con người, đồng thời, đặt ra những vấn đề, những hướng nghiên cứu mới cho các nhà triết học cũng như các nhà tư tưởng, các nhà khoa học nước ta tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu giải đáp
Các tác giả: Trần Phương Hạnh [38], Vũ Trọng Hùng [50], Phạm Thành
Hổ [48], Nguyễn Đình Khoa [54], Phạm Thị Ngọc Trầm [107, tr 26]… trên
cơ sở thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đi sâu nghiên cứu nguồn gốc, cấu trúc sinh thể và những khả năng của con người - sinh vật hoàn chỉnh nhất của thế giới tự nhiên Từ đó, khẳng định con người chính là đối tượng
để triết học và các khoa học khác tiếp tục nghiên cứu, rút ra những cơ sở lý luận khoa học cho mục tiêu phát triển con người toàn diện của Đảng trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Đặc biệt, dưới góc độ y - sinh học, các tác giả: Lê Nam Trà [ 96, 97, 98,
99, 100, 101, 102, 103], Từ Giấy [32], Nguyễn Văn Tường [97, 103], Nguyễn Trần Hiển [103], Đỗ Đức Vân [103]… đã đi sâu nghiên cứu tương đối tổng thể về thể lực, các đặc điểm tăng trưởng, đặc điểm sinh thể, chỉ số sinh học, chỉ số sinh lý, chỉ số sinh hóa, tình trạng dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe, khả năng thích nghi của con người Việt Nam ở cả trạng thái bình thường và bệnh lý với môi trường tự nhiên và xã hội, v.v Các công trình này đã góp phần củng cố và làm rõ thêm nhiều những kết luận khoa học hết sức có ý nghĩa về con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng như: “Các chỉ tiêu sinh học liên quan rất chặt chẽ với các yếu tố di truyền, đặc điểm môi trường và xã hội cũng như tình trạng dinh dưỡng” [96, tr 30];
Trang 17“Tất cả các đặc điểm của môi trường tự nhiên có tác động đến các đặc điểm sinh học, đến tình trạng sức khỏe và mô hình bệnh tật ở Việt Nam” [96, tr 32]; “… nhằm nâng cao sức khỏe, cải tạo giống nòi, trong đó đặc biệt chú trọng là các biện pháp về dinh dưỡng và các biện pháp rèn luyện cơ thể.” [96, tr 50]… là những luận chứng khoa học rất quan trọng cho việc nghiên cứu con người Việt Nam nói chung và quá trình chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho con người ở nước ta hiện nay
Những năm gần đây, lĩnh vực sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ xuất hiện những vấn đề mới có tính chất thời sự, cấp thiết, đã có nhiều tác giả, với các công trình nghiên cứu đề cập về các vấn đề này Dưới góc độ triết học có một số tác giả như: Trần Văn Thuỵ [92, tr 67], Lê Hồng Khánh [53], Nguyễn Hiền Lương [62]… đã đi vào nghiên cứu khía cạnh triết học - xã hội của vấn đề sức khoẻ Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả đã nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh tật của con người, bước đầu đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân Một số tác giả khác
đi vào nghiên cứu những lĩnh vực y tế cụ thể như vấn để bảo hiểm y tế, chính sách y tế, chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, mô hình bệnh tật, vấn đề y đức hay thống kê, tổng kết về bệnh tật ở nước ta hiện nay tiêu biểu là một số bài viết, công trình của cố GS.TS.Đỗ Nguyên Phương, GS.TS.Lê Ngọc Trọng, PGS.TS.Trần Thị Trung Chiến, TS.Lê Thế Thự, BS.Phạm Ngọc Chương
Như vậy, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về yếu tố tự nhiên, yếu tố sinh học, yếu tố xã hội và mối quan hệ của chúng đối với sự hình thành, phát triển của con người; một số công trình đã đi vào nghiên cứu
về sức khỏe dưới góc độ triết học, góc độ y học nói chung nhưng chưa có công trình nào trực diện đi vào nghiên cứu sự ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội đối với sức khỏe để tìm ra những yếu tố cơ bản nổi bật ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khoẻ con người Việt Nam hiện nay
để từ đó đưa ra các luận điểm khoa học làm cơ sở lý luận cho các giải pháp tổng thể, hiệu quả nhằm chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho con
Trang 18người Việt Nam hiện nay, đây là vấn đề luận án quan tâm
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội đối với sức khoẻ con người, luận án đề xuất một số giải pháp nâng cao sức khoẻ con người ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
Một là, trình bày nội dung các khái niệm yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội
và sức khỏe con người
Hai là, phân tích, đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên đến sức
khoẻ con người
Ba là, phân tích, đánh giá ảnh hưởng của yếu tố xã hội đến sức khoẻ con
người
Bốn là, đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao sức khỏe con người
ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng của yếu tự nhiên và yếu tố xã hội đến sức khỏe con người Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ khảo sát các ảnh hưởng của yếu tự nhiên và yếu tố xã hội đến sức khỏe con người Việt nam từ khi đổi mới (1986) đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận của luận án
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối của ĐCSVN về con người và phát triển con người Đồng thời luận án cũng tham khảo các tài liệu, công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề luận án đề cập
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 19Luận án áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; kết hợp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, lịch sử - lôgíc
6 Cái mới của luận án
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội đối với sức khoẻ con người, chỉ ra những yếu tố tự nhiên, xã hội cơ bản tác động mạnh mẽ nhất đến sức khoẻ con người ở nước ta hiện nay
- Trình bày một số giải pháp cơ bản nhằm chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho con người Việt Nam trong điều kiện hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề triết học trong y học tại các trường đại học
- Về mặt thực tiễn: Luận án có thể là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách, giải pháp và đổi mới tư duy thực hiện chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn hiện nay
8 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Phần mở đầu, phần kết luận và phần nội dung
Phần nội dung gồm 3 chương, 7 tiết không kể danh mục tài liệu tham khảo và danh mục chữ viết tắt
Trang 20Chương 1 QUAN NIỆM TRIẾT HỌC VỀ YẾU TỐ TỰ NHIÊN, YẾU TỐ XÃ HỘI
VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI 1.1 Quan niệm triết học về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người
1.1.1 Sơ lược một số quan niệm trong lịch sử
Các nhà triết học cổ đại trong quá trình đi tìm hiểu bản tính con người
đã đề cập đến yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người ở những mức
độ khác nhau Một số nhà triết học phương Đông cổ đại đã có những nhận thức khá sâu sắc về những yếu tố tự nhiên ngự trị trong mỗi con người qui định bản tính con người, họ đưa ra một hệ thống các qui phạm đạo đức để tu dưỡng mình và nhằm giáo dục cho xã hội Một số trường phái triết học đã đề cập đến mặt tự nhiên chi phối hành vi con người như là bản năng, theo họ, trong con người luôn diễn ra sự chế ước lẫn nhau một bên là bản năng, một bên là ý thức con người Các nhà triết học phương Tây cổ đại đã cho rằng bản tính con người là yếu tố tự nhiên tất yếu, là cái giống nhau, cái bẩm sinh trong mỗi con người, còn sự khác nhau giữa con người đó là do môi trường tạo nên Đã có tác giả đưa ra những tiêu chí để phân biệt giữa con người và con vật, tuy chưa chỉ ra được bản tính tự nhiên và bản chất xã hội ở con người nhưng khi nói về con người, các nhà triết học đều đã đề cập đến một trong hai hoặc cả hai yếu tố đó trong tư tưởng triết học của mình
Aristốt (384-322TCN) đã gọi con người là một “động vật chính trị”,
do có thể ông đã nhận thấy trong con người có hai yếu tố khởi nguyên: động vật (tự nhiên) và chính trị (xã hội) Tuy ông không đưa ra khái niệm yếu tố
tự nhiên, yếu tố xã hội, vai trò cũng như mối liên hệ giữa chúng, nhưng trong nhận thức của ông về bản tính con người đã có một sự tiến bộ về chất Trong lĩnh vực y học, Hypôcrát (460-377TCN) cho rằng, con người bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên mình đang sống Người thầy thuốc cần chú ý đến chế độ
ăn uống, cách sinh hoạt, tuổi tác, hoàn cảnh sống của người bệnh, đất đai, nguồn nước, thời tiết địa phương nơi có dịch Tuy chưa chỉ rõ được sự ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội tới sức khỏe con người và vận dụng
Trang 21nó vào trong quá trình điều trị bệnh tật, song ông đã thấy bệnh tật có những nguyên nhân hiện diện ở môi trường xung quanh con người và phát triển theo qui luật tự nhiên [39, tr 9]
Dưới sự thống trị của tôn giáo và thần quyền, triết học thời Trung cổ
đã tuyệt đối hoá yếu tố tinh thần của con người, chính điều này đã kìm hãm con người trong sự khắc kỷ, kìm hãm sự phát triển tự nhiên của con người cả
về mặt thể chất và trí tuệ Do trình độ nhận thức cũng như ý thức tôn giáo mà mặt tự nhiên của con người ít được quan tâm trong thời kỳ này
Vấn đề con người đã được hầu hết các nhà triết học thời kỳ Phục hưng quan tâm nghiên cứu Vào thời kỳ này, một số ngành khoa học về con người như giải phẫu, sinh lý, sinh lý học thần kinh, sinh hoá… phát triển mạnh mẽ, tạo ra những tiền đề khoa học quan trọng cho triết học nghiên cứu về con người, tuy vậy, cách nhìn con người của họ cũng chỉ mới dừng lại ở góc độ thể xác và tinh thần Con người được phân tích, mổ xẻ giống một cái máy đang hoạt động Mặc dù chưa đưa ra khái niệm về yếu tố tự nhiên và yếu tố
xã hội trong con người, song những quan điểm duy vật về “con người tự nhiên” thời kỳ này đã trở thành những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của những quan điểm khoa học về con người sau này
Trong triết học cổ điển Đức vấn đề con người đã được nghiên cứu khá sâu sắc G.W.F.Hêghen trong quá trình chứng minh “ý niệm tuyệt đối” là thực tại duy nhất và bao trùm tất cả, tuy chưa dùng khái niệm yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội nhưng ông đã lí giải khá sâu sắc mối quan hệ giữa yếu
tố tự nhiên và yếu tố xã hội Ông cho rằng, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình hoạt động của chính bản thân chủ thể ấy, hoạt động của con người ngày càng phát triển bao nhiêu thì ý thức càng mang bản chất xã hội bấy nhiêu Như vậy, nếu lược bỏ yếu tố thần bí trong triết học G.W.F.Hêghen thì tư tưởng nổi bật của ông là: con người hoàn thiện chính là nhờ lao động, song G.W.F.Hêghen đã sai lầm ở chỗ biến con người thành tự
ý thức và tự ý thức được được coi là phương thức tồn tại duy nhất của con người
L.Phoiơbắc cũng đã phân biệt con người tự nhiên và con người tự ý thức Theo ông, con người mà trong chừng mực nhất định, là một thực thể
Trang 22hành động một cách không tự chủ và vô ý thức, thì thuộc về thế giới tự nhiên, cũng như ánh sáng, không khí, nước, lửa, đất và cây cối Trong con người, linh hồn và thể xác có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Con người suy nghĩ bằng cái đầu, bằng bộ óc của chính mình, mà đầu óc tồn tại thực sự có cảm tính Ông cũng đã đề cập đến bản tính tự nhiên của con người và cho rằng bản tính tự nhiên của con người là tồn tại thực, tuy nhiên, ông đã không thấy được tính biện chứng, tính năng động của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong quá trình hình thành, phát triển con người
Các nhà khoa học phương Tây hiện đại đã đạt được nhiều tiến bộ trong nghiên cứu con người Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người nhưng chưa thấy tác giả nào đưa ra định nghĩa hay khái niệm về hai yếu tố này
Như vậy, yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội đã được đề cập, nghiên cứu trong lịch sử triết học từ thời cổ đại (cả phương Đông và phương Tây), tuy nhiên, do trình độ nhận thức, ý thức giai cấp và chịu ảnh hưởng của những quan điểm triết học khác nhau mà quan điểm của họ về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội là khác nhau Các tác giả chưa đưa ra khái niệm về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người, chưa nhận thức được rằng tuy yếu tố
tự nhiên và yếu tố xã hội có vị trí, vai trò khác nhau đối với con người nhưng chúng thống nhất với nhau chi phối sự hình thành, phát triển của con người
1.1.2 Quan điểm mác xít
Xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để và phương pháp luận biện chứng, trong quá trình nghiên cứu con người triết học Mác - Lênin đã khẳng định: yếu tố (mặt) tự nhiên, yếu tố (mặt) xã hội cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng chi phối quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của con người
Triết học Mác - Lênin đã xem xét con người hiện thực trong sự phát triển lịch sử, cụ thể của nó Con người trong triết học Mác - Lênin ở một chừng mực nào đó là hiện thân của những quan hệ kinh tế, là đại biểu cho quan hệ giai cấp
và lợi ích nhất định, nhưng không phải vì thế mà khái niệm con người trong triết học Mác - Lênin chỉ gắn liền với các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, mà còn bao gồm trong đó toàn bộ các mặt của đời sống con người, tức là từ khởi
Trang 23nguồn “tổ chức thể chất”, đời sống vật chất cho đến đời sống tinh thần của con người Khi đưa ra luận điểm con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính
xã hội thì con người trong triết học Mác - Lênin là sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội Hai yếu tố này kết hợp chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau, chi phối, tác động lẫn nhau và chúng chi phối, ảnh hưởng đến mọi hoạt động sống của mỗi con người cũng như của cộng đồng và toàn xã hội Sự tiến bộ của triết học Mác - Lênin khi nghiên cứu vấn
đề này là ở chỗ, khi khẳng định được vai trò của yếu tố xã hội của con người thì cũng đồng thời khẳng định được vai trò quan trọng của yếu tố tự nhiên, điều này được thể hiện rõ khi C.Mác khái quát về bản chất con người trong tác phẩm “Luận cương về Phoi ơ bắc”
Trên cơ sở kế thừa những giá trị của học thuyết Đácuyn về nguồn gốc loài người và các tri thức khoa học của nhân loại, triết học Mác - Lênin đã chỉ rõ sự xuất hiện loài người cũng tuân theo qui luật chọn lọc tự nhiên Con người có nguồn gốc từ vượn, nhưng con người khác với vượn về chất Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” C.Mác đã khẳng định rằng, con người có nguồn gốc từ thế giới tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên, gắn bó với tự nhiên cho nên con người luôn chứa đựng những yếu tố của tự nhiên - đó là yếu tố sinh học [65, tr 231-232] Con người cũng có đầy đủ các đặc trưng của sinh vật, tuân theo các qui luật sinh học, qui luật của tự nhiên như: con người phải tìm kiếm thức ăn, nước uống trong thế giới tự nhiên; con người phải đấu tranh để sinh tồn, cơ thể con người cũng phải tuân theo những qui luật thích ứng với môi trường, qui luật di truyền, biến dị, tiến hoá của sinh học… để tồn tại và phát triển, song triết học Mác - Lênin không thừa nhận quan điểm cho rằng cái duy nhất tạo nên bản chất con người là mặt tự nhiên Con người vốn là một sinh vật cho nên có đầy đủ các đặc trưng của sinh vật Song, con người lại có sự khác biệt về chất, so với các sinh vật khác, đó chính là sự xuất hiện mặt xã hội của con người Con người là sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hoá Bộ óc của con người có cấu trúc tinh
vi, phức tạp, cùng với đôi tay được giải phóng là tiền đề quan trọng của ý thức: “Bộ não lớn xuất hiện đã tạo ra những tiền đề tự nhiên quan trọng của
Trang 24ý thức” [74, tr 29]
Sự khác biệt lớn nhất giữa con người và các sinh vật khác chính là nhờ vai trò của lao động C.Mác và Ph.Ăngghen đã thấy được vai trò to lớn của lao động đối với con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Con người bắt đầu có sự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra tư liệu sinh hoạt của mình Đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người qui định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [63, tr 29] Sự chuyển biến từ vượn thành người còn được các ông phân tích: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ thế giới
tự nhiên” [65, tr 137]
Như vậy, triết học Mác - Lênin đã khẳng định mặt tự nhiên của con người chưa đủ giải thích một cách khoa học về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển con người, yếu tố hết sức quan trọng có tính chất quyết định sự hình thành, phát triển con người đó là yếu tố xã hội Sự tiến hoá đơn thuần bằng con đường tự nhiên không thể xuất hiện con người có ý thức Sở
dĩ óc vượn có thể chuyển thành bộ óc người, tâm lý động vật có thể chuyển thành ý thức của con người chủ yếu là do nguồn gốc xã hội mà trực tiếp là hai sức kích thích chủ yếu: lao động và ngôn ngữ
Theo khảo cổ học, con người có ý thức xuất hiện khoảng 1,5 đến 2 triệu năm sau khi tổ tiên con người đã được hình thành về mặt tự nhiên [74,
tr 27] Trong tác phẩm “Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến
từ vượn thành người”, Ph.Ăngghen đã khẳng định: nhờ có lao động, có sự thích nghi với những động tác ngày càng mới; nhờ có sự di chuyển và những động tác mới phức tạp, mà bàn tay người đạt đến trình độ hoàn thiện cao, có thể tạo ra những sản phẩm tinh vi mà con vật không thể làm được Chính trong quá trình lao động, con người thường xuyên làm biến đổi các điều kiện tồn tại, nhằm thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt của mình và tạo ra văn hoá
Đồng thời, thông qua quá trình lao động mà con người liên kết với nhau làm biến đổi hàng loạt những đặc tính tự nhiên của con người Hơn thế
Trang 25nữa, lao động còn là điều kiện để xuất hiện những thuộc tính xã hội của con người như ngôn ngữ, chữ viết, ý thức, tư duy và biết định hướng các giá trị Cho nên, có thể nói: con người thực sự trở thành NGƯỜI khi bắt đầu biết
chế tạo công cụ lao động và cùng với lao động con người có ngôn ngữ
Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ph.Ăngghen đã viết: “… lao động là nguồn gốc của mọi cái… nhưng lao động còn là cái gì đó vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [64, tr 641] Trong quá trình tiến hoá đó, yếu tố xã hội bắt đầu nhen nhóm ngay trong những quần thể loài vượn, các bản năng xã hội hay tính xã hội ngày càng phát triển,
nó dần “lọc bỏ” và bao trùm các bản năng sinh vật
Như vậy là, triết học Mác - Lênin luôn xem xét con người trong một chỉnh thể thống nhất giữa hai mặt: mặt tự nhiên và mặt xã hội Hai mặt này
có mối quan hệ biện chứng không tách rời nhau, qui định bản chất và sự phát triển của con người Mặc dù chưa thấy tài liệu nào của C.Mác, Ph.Ăngghen hay V.I.Lênin nêu ra khái niệm riêng biệt về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người, nhưng trong quá trình nghiên cứu, các ông đã trình bày về hai yếu tố này một cách hệ thống và sâu sắc Sau này, các nhà triết học theo chủ nghĩa Mác - Lênin tiếp tục nghiên cứu tư tưởng của các ông, kết hợp với thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội đã đưa ra khái niệm về yếu
tố sinh học và yếu tố xã hội L.X.Vưgốtxki cho rằng, yếu tố sinh học là những quá trình, hiện tượng bị giới hạn bởi tính di truyền hoặc là bởi điều kiện bên trong cơ thể và cuối cùng là qui về các qui luật sinh học đã biết [120] Theo ông, những yếu tố sinh học là quá trình và hiện tượng không nằm ngoài những gì thuộc cơ thể con người Điều này còn khá trừu tượng, chưa thực sự rõ ràng, bởi vì ý thức, tư tưởng của con người cũng là những yếu tố trong con người nhưng nó cũng mang tính xã hội
Theo N.P.Đubinin thì yếu tố sinh học trong cơ thể con người trước tiên thuộc về thiên nhiên, là một phần của thiên nhiên Mặt khác, yếu tố sinh học của con người phải gắn chặt với đặc tính di truyền, với cấu trúc gen, vừa
Trang 26bao gồm cả đặc tính chung của loài lẫn những đặc tính riêng qui định sự khác nhau giữa cá thể này với cá thể kia [131, tr 81] Còn theo B.M.Kêđrốp thì yếu tố sinh học là tư chất thiên nhiên tiềm ẩn trong cá thể như là một tiền
đề, còn yếu tố xã hội như là một điều kiện cần thiết cho tiền đề này được bộc
lộ phát triển và chuyển hoá vào hành động của cá thể đó [132, tr 144] Ông cũng chưa đưa ra khái niệm về yếu tố sinh học và yếu tố xã hội của con người mà chỉ đi vào luận giải về mối liên hệ giữa chúng
Khi bàn về yếu tố xã hội, có nhiều tác giả đưa ra nhiều quan điểm, ở nhiều khía cạnh và nhiều góc độ tiếp cận khác nhau A.T.Lêônôvích cho rằng, yếu tố xã hội bao gồm lao động, quan hệ giữa người với người (mà chủ yếu là quan hệ sản xuất), môi trường đã được con người sáng tạo nên, bao gồm tất cả hình thái kinh tế - xã hội, trừ tôn giáo [131, tr 123] Đây là quan điểm chưa hẳn đúng, vì yếu tố xã hội của con người cần phải hiểu là cái mà cùng với yếu tố sinh học tạo nên chỉnh thể tự nhiên - xã hội trong con người,
là yếu tố kết tinh trong bản chất con người để phân biệt giữa con người với con vật Yếu tố xã hội trong con người không phải chỉ đơn thuần là sự qui định về mặt xã hội hay sự tác động, ảnh hưởng của môi trường sống tạo nên
mà nó còn có khả năng nhận thức, trí nhớ, tư duy lôgic, tình cảm khác nhau của mỗi người tạo nên Nếu chỉ có sự qui định về mặt xã hội và môi trường
xã hội thì không thể tạo nên yếu tố xã hội một cách đầy đủ trong con người
Đối với N.P.Đubinin thì dường như yếu tố xã hội là cái có thể được kế thừa lại cho thế hệ mai sau, là yếu tố đã được chủ thể mã hoá và truyền theo các kênh thông tin mang tính xã hội chứ không đơn thuần là yếu tố tác động vào con người trong quá trình sống, như A.T.Lêônôvích đã liệt kê khi ông cho rằng, bản chất xã hội của con người được thể hiện nhờ lĩnh vực trên sinh học của nó Để truyền đạt nội dung của lĩnh vực này cho thế hệ mai sau xã hội loài người đã tạo ra một phương pháp kế thừa kinh nghiệm đặc biệt, đặc trưng cho riêng mình Sau khi sinh ra, con người rơi vào môi trường xã hội
và ở đó dưới ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần
ở thời điểm đó sẽ hình thành bản chất xã hội của con người Điều đó nói lên rằng, bản chất xã hội của con người là nội dung của lĩnh vực trên sinh học và
Trang 27được truyền theo các kênh nào đó khác hơn so với thông tin di truyền được ghi trong các phân tử ADN [131, tr 82]
Khi bàn về vấn đề này, Luyxiêng Sêvơ cũng có quan điểm tương tự như quan điểm của N.P.Đubinin khi cho rằng, sự quá độ từ tính vật sang tính người có ý nghĩa là sự tích luỹ bên trong của một thể loại kinh nghiệm được
bổ sung dưới hình thức truyền thụ những hành vi có tính chất di truyền, qua
sự tiến hoá lâu dài của tự nhiên và dần dần được thay thế bằng một sự tích luỹ bên ngoài, rất mau chóng dưới hình thức một sự di truyền có tính xã hội được tiếp nhận từ các đối tượng và các mối quan hệ Cái mà nhân loại đã tích luỹ được khác hẳn thế giới loài vật, không có tính chất hành vi trực tiếp Sự tích lũy ấy phần lớn là từ những thực tế xã hội, trong đó đời sống tâm lý dần mất đi và bị phủ định về hình thức Qua đó, mỗi cá nhân phải tái hiện nên những hình thức tâm lý đó trước hiện thực, bằng cách tiếp nhận, đồng hoá với những thực tế và để tự giải thoát ra khỏi tính vật để đạt tới hành vi của con người Điều đó, là sự phản ánh bước tiến to lớn về chất của quá trình con người thoát thai từ loài vật mà ra, là quan điểm mà tác giả cho rằng yếu tố xã hội ra đời trên nền tảng yếu tố tự nhiên, đó là một quá trình tiếp nhận phức tạp, chính vì thế đã làm cho con người khác biệt về chất so với các sinh vật khác
Như vậy, các nhà tư tưởng, các nhà khoa học từ trước đến nay đã cố gắng tiếp cận con người dưới góc độ sinh học - xã hội, nhưng do nhiều những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà các tác giả có những quan niệm khác nhau, phần lớn trong số họ không đưa ra khái niệm
về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội Các tác giả chủ yếu đi vào phân tích một
số đặc trưng hoặc trình bày vai trò của hai yếu tố đó của con người Một số nhà triết học Liên Xô cũ đã đưa ra khái niệm về yếu tố sinh học và yếu tố xã hội theo nghĩa chung nhất, coi yếu tố sinh học như là những quá trình sinh vật diễn ra trong con người với tư cách là một sinh vật, còn yếu tố xã hội là cái tiến hoá đặc thù trên nền tảng sinh học nhưng cao hơn về chất và để phân biệt với các sinh vật khác thông qua các quan hệ xã hội đặc thù
Trong những năm qua, các tác giả Việt Nam đã đi vào nghiên cứu về yếu tự nhiên, tố sinh học và yếu tố xã hội của con người Một số tác giả đã
Trang 28đưa ra khái niệm về yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: yếu tố sinh học của con người là những yếu tố hữu hình, hữu cơ, những vấn đề, cái phát sinh gắn bó với tổ tiên động vật của con người, những cái làm cho con người hình thành và hoạt động như một cá thể, như một hệ thống phục tùng các qui luật sinh học hoặc cũng có thể coi đó là toàn bộ tiền đề sinh học của con người [15, tr 13]
Yếu tố xã hội là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnh hưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những sự qui định về mặt xã hội tạo nên cá nhân con người Trong đại đa số các trường hợp nếu thiếu chúng thì nhiều đặc tính, nhiều cấu trúc, ví dụ: ngôn ngữ… sẽ không bao giờ hình thành được [15, tr 13], tác giả Vũ Tùng Hoa trong quá trình nghiên cứu vấn
đề này cũng đã nhất trí với quan điểm trên và đi nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong quá trình hình thành và phát triển con người [44, tr 29] Theo chúng tôi, tại thời điểm hiện nay đây là khái niệm tương đối hoàn chỉnh, khoa học về yếu tố sinh học và yếu tố xã hội của con người, bởi vì: khái niệm đã vạch ra được yếu tố sinh học bao gồm trong
nó cả yếu tố bẩm sinh và yếu tố di truyền, trong mối quan hệ mật thiết với môi trường bên ngoài, trong chỉnh thể sinh học - xã hội Còn yếu tố xã hội trên nền tảng yếu tố sinh học và môi trường xã hội, tạo nên ý thức của con người làm cho con người có khả năng nhận thức, có trí nhớ, có tư duy lôgic, biết quyết định hợp lý, đúng đắn tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể một cách linh hoạt Với nghĩa đó, nó đã góp phần làm cơ sở để triết học và các khoa học về con người đi vào nghiên cứu, vận dụng phục vụ cho quá trình phát triển con người Luận án cũng dựa trên cơ sở của khái niệm này để nghiên cứu vấn đề đặt ra
Do tính chất của vấn đề mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên, yếu tố sinh học và yếu tố xã hội đối với sức khỏe của con người, trong một số trường hợp luận án dùng khái niệm yếu tố sinh học với tư cách là cái đại diện cho yếu tố yếu tố tự nhiên Còn đa số các trường hợp khác luận án dùng khái niệm yếu tố tự nhiên với nghĩa rộng hơn yếu tố sinh học, vì theo chúng tôi, yếu tố tự nhiên của con người là tất cả những tiền đề sinh vật của con người
Trang 29với tư cách là một bộ phận của thế giới tự nhiên, là những tiền đề cho sự xuất hiện con người với tư cách là một chỉnh thể sinh vật - xã hội Với nghĩa đó, yếu tố tự nhiên bao gồm tất cả các cấu trúc tự nhiên của con người với toàn
bộ những cấu trúc giải phẫu, chức năng, các hoạt động sinh lý, các quá trình sinh học như: hô hấp, bài tiết, biến dị, di truyền… diễn ra bên trong con người cũng như các quá trình tương tác giữa con người với môi trường bên ngoài như một cá thể trong chỉnh thể tự nhiên - xã hội
Như vậy, khái niệm yếu tố tự nhiên được dùng trong luận án có nội hàm rộng hơn yếu tố sinh học, nó bao gồm cả yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài con người; bao gồm toàn bộ các cấu tạo tự nhiên và các quá trình sinh học của con người Tuy nhiên, để phân biệt tuyệt đối giữa hai yếu tố này là hết sức khó khăn đòi hỏi sự phối kết hợp của nhiều ngành khoa học, luận án không đi sâu vào vấn đề này Trong luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm yếu tố sinh học với nghĩa là một bộ phận đại diện cho yếu tố tự nhiên Luận
án cũng chỉ nghiên cứu một số yếu tố cần thiết cho việc xem xét mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội và sức khỏe con người Việt Nam mà thôi
1.2 Mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người
1.2.1 Một số quan điểm ngoài mác xít
Các nhà triết học và các nhà khoa học ngoài mácxít chưa hiểu đúng về yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội của con người, họ chưa thấy được mối quan hệ biện chứng và vai trò của chúng trong quá trình hình thành, phát triển của con người, đó là những quan điểm khi xem xét cái tự nhiên không có tính chất xã hội và cái xã hội không có tính chất tự nhiên Nhìn chung, có hai quan điểm cơ bản gần như đối lập nhau, mà đại diện là: quan điểm duy sinh học và quan điểm duy xã hội
1.2.1.1 Quan điểm duy sinh học
Những người theo quan điểm này đã tuyệt đối hoá vai trò yếu tố tự nhiên của con người Họ coi yếu tố sinh học như là yếu tố quyết định trong con người Con người bị chi phối, quyết định bởi bộ gen di truyền, xã hội không thể cải tạo được, từ đó dẫn tới họ đi đến đề cao bản năng con người
Trong triết học Trung Quốc cổ đại khi nghiên cứu vấn đề bản tính con
Trang 30người, các tác giả đưa ra những kết luận rất khác nhau Theo Mạnh Tử, bản tính con người là thiện Tuân Tử cho rằng, bản tính con người là ác Trang
Tử thì quan niệm vì sinh ra từ “đạo” (tự nhiên) nên mỗi người đều có một bản tính, một khả năng, một sở thích riêng sự sống, chết của con người là quá trình tất nhiên Con người không cần cải biến sự vật mà cần phải tuyệt đối phục tùng qui luật khách quan Nhìn chung, các nhà triết học Trung Quốc cổ đại đã đề cập nhiều đến yếu tố tự nhiên của con người và xét đến cùng họ cho đó là yếu tố có sẵn của con người Bản tính tự nhiên bẩm sinh giống nhau được qui định sẵn trong mỗi con người, còn các quan hệ xã hội, văn hóa, giáo dục, v.v (mặt xã hội) có vai trò rất nhỏ trong việc hình thành, phát triển bản chất con người Bản tính sẵn có là cơ sở, nền tảng của mọi tính cách và nó là cái sinh học, tự nhiên chứ không phải là cái xã hội
Khoảng những năm 60 của thế kỷ XIX, thuyết tiến hoá của Đácuyn ra đời (1859), với tác phẩm “Nguồn gốc các loài” đã mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển sinh học Tuy nhiên, một số nhà triết học, xã hội học đã lợi dụng học thuyết này để giải thích các hiện tượng xã hội và hình thành học thuyết Đácuyn xã hội, những người ủng hộ học thuyết này đã cố gắng giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội dựa trên học thuyết của Đácuyn về chọn lọc
tự nhiên và tiến hoá Họ cho rằng, các đại biểu của giai cấp thượng lưu chiếm vị trí lãnh đạo trong xã hội, vì đó là, những người phát triển cao hơn
về mặt sinh học Tiêu biểu trong số đó là Langhê, người đã lấy qui luật chọn lọc tự nhiên của Đácuyn và học thuyết của Mantuýt về dân số để lí giải cho cuộc đấu tranh trong xã hội Ông cho rằng, các cuộc đấu tranh trong xã hội là cuộc đấu tranh sinh tồn, là qui luật tất yếu sinh học Như vậy, học thuyết Đácuyn xã hội coi đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên là động lực chủ yếu của sự phát triển xã hội Thuyết này đã có sự ảnh hưởng tương đối mạnh
mẽ ở phương Tây cuối thế kỷ XIX đầu XX và hiện nay
Những người theo quan điểm chủ nghĩa hiện thực khoa học, mà tiêu biểu là nhà di truyền học người Anh Đarlingtơn, nhà hành vi học người Áo K.Lorenz và Uynxơn đã đề cao quá mức dẫn đến tuyệt đối hoá yếu tố tự nhiên [138] Theo Đarlingtơn, ngay cả sự phân chia xã hội thành giai cấp, sự
Trang 31xuất hiện của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc… đều được định trước trong gen của con người [140, tr 233] Còn Uynxơn thì coi sinh học là phương thức vạn năng để giải thích toàn bộ hiện thực Ông đã đi vào nghiên cứu ranh giới giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong con người nhưng cuối cùng lại đi đến tuyệt đối hoá mặt sinh học trong con người Theo ông, khả năng của con người chủ yếu là do tính di truyền quyết định còn vai trò của yếu tố xã hội là rất nhỏ [139] K.Lorenz trên cơ sở nghiên cứu hành vi của một số loài động vật trong điều kiện tự nhiên đã thấy rằng, trong những điều kiện nhất định phần lớn động vật dường như có một cơ chế bản năng hiếu chiến và chúng tấn công vào các đại diện khác cùng loài Từ đó, ông đi đến kết luận, con người cũng có bản năng hiếu chiến như con vật, đấu tranh nhằm chống lại đồng loại của mình [139] Theo ông, trong quá trình phát triển của mình, con người không phải phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố xã hội mà các hành động của con người là do cấu trúc gen di truyền từ tổ tiên qui định
Thuyết “Phân tâm học” của S.Freud thể hiện sự cực đoan về vai trò của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người Thực chất quan điểm của
“Phân tâm học” về tương quan giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội là ở chỗ:
nó cho rằng, toàn bộ mặt xã hội trong tâm lý người chỉ là mặt khác của giới tính, biểu hiện của những đam mê bẩm sinh Do vậy, nhiệm vụ của “Phân tâm học” chỉ là làm sao nhìn nhận được cơ sở sinh học của toàn bộ những biểu hiện của nhân cách, vạch ra hạt nhân tự nhiên của mỗi hình thức văn hoá của hành vi, đi tìm cái cơ sở bẩm sinh vô thức của văn hoá cá nhân và văn hoá xã hội Qua đó, nó qui giản chúng về khởi nguyên của đời sống tâm
lý, chuyển dịch văn hoá sang ngôn ngữ của tự nhiên, đem tự nhiên hoá những cái thuộc về tâm lý học của con người, đem tự nhiên hoá những cái thuộc về con người, đem tâm lý hoá những cái thuộc về xã hội và tuyệt đối hoá cái tâm lý trong đời sống của con người [85, tr 158]
Richard Dawkins cũng là một trong những đại biểu của trường phái duy sinh học khi ông đề cao mặt tự nhiên của con người và cho rằng bản chất con người là do một loại gen qui định - “Gen vị kỷ” Trong phần mở đầu của cuốn sách “Gen vị kỷ”, ông viết: “Chúng ta cũng như tất cả các động vật
Trang 32khác, đều là những cỗ máy được hình thành nên từ các gen… Sự vị kỷ của gen luôn làm tăng sự vị kỷ trong tập tính của cá thể… mặc dù chúng ta muốn tin vào điều ngược lại, nhưng tình yêu bao la và sự bảo vệ các loài nói chung chỉ là những khái niệm chẳng có ý nghĩa gì trong tiến hóa” [20, tr 3] Như vậy, theo lý thuyết vị kỷ thì tất cả những cá thể mang bản chất xấu cũng không đáng bị phê phán, vì nó là sản phẩm của tạo hóa thông qua các bản sao được di truyền lại trong gen của con người
Tóm lại, quan điểm duy sinh học tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, một số cho rằng con người chỉ chịu sự chi phối, qui định của yếu tố sinh học, một số khác thì lại khẳng định ở con người luôn tồn tại hai yếu tố sinh học và
xã hội, ở đó yếu tố sinh học đóng vai trò chi phối, quyết định yếu tố xã hội cũng như quá trình hình thành, phát triển con người Điểm chung của các quan điểm này là họ đã qui yếu tố xã hội vào yếu tố sinh học; qui bản chất xã hội, qui luật sự phát triển của con người vào thuộc tính tự nhiên mà không chú ý hoặc coi trọng đến các đặc trưng hoàn toàn khác về chất của hình thức vận động xã hội so với hình thức vận động sinh học của vật chất; qui những hiện tượng xã hội vào hành động của một số cá nhân Một số cá nhân ấy lại được qui tụ vào một lĩnh vực khoa học cụ thể nào đấy như hành vi, tâm lý…
và những hành vi, những cái tâm lý ấy lại được qui tụ vào yếu tố sinh học, như vậy, có nghĩa là hiện tượng xã hội được qui định bởi yếu tố di truyền, những cái bản năng, cái tự nhiên của con người
1.2.1.2 Quan điểm duy xã hội
Ngược lại với quan điểm duy sinh học, quan điểm duy xã hội lại đem qui các yếu tố tự nhiên của con người vào yếu tố xã hội Những người theo quan điểm này coi yếu tố sinh học, yếu tố tự nhiên không có vai trò gì trong đời sống của con người (kể cả sức khỏe và tài năng), tất cả đều chỉ phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội Họ cho rằng, xã hội đóng vai trò quyết định tất thảy trong con người Nó hoàn toàn có thể biến con người kém thông minh thành tài ba, yếu và kém phát triển trở thành khỏe mạnh Từ đó, họ đi đến phủ nhận vai trò của yếu tố tự nhiên của mỗi con người và tước bỏ tính hữu cơ, tính tự nhiên của con người Họ đã mắc sai lầm khi cho rằng, con
Trang 33người và sự phát triển của con người chỉ chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế - xã hội, đạo đức và văn hoá Do đó, họ đã quá nhấn mạnh, đề cao mặt xã hội của con người mà không thấy được con người là một thực thể tự nhiên mang bản tính xã hội Thực tế cho thấy, những người theo quan điểm này thường bị ảnh hưởng bởi một mục đích chính trị, một lợi ích giai cấp nào
đó Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân của những kết luận duy
ý chí về con người
Các nhà xã hội học Pháp mà tiêu biểu là E.Durkheim, P.Holbach, M.Blondel… đại diện cho khuynh hướng duy xã hội Các ông đã có cái nhìn phiến diện và xét cho cùng là duy tâm về vấn đề mối quan hệ giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người [85, tr 157] Chẳng hạn, theo E.Durkheim sự kiện xã hội phải là những gì ở bên ngoài cá nhân Điều này thể hiện ở chỗ, ông cho rằng các cá nhân sinh ra đã có sẵn các thiết chế, cơ cấu xã hội, chuẩn mực, giá trị, niềm tin và phải học tập tiếp thu, chia sẻ, cũng như tuân thủ các chuẩn mực giá trị xã hội Ngay cả khi các cá nhân chủ động tạo dựng ra các thành phần của cơ cấu xã hội, các chuẩn giá trị, các qui tắc xã hội… thì tất cả những cái đó cũng đều trở thành các sự kiện xã hội, tức là hiện thực bên ngoài cá nhân [30, tr 91] Sự duy tâm của các ông được thể hiện ở sự coi nhẹ các nhân tố tự nhiên và quá đề cao các nhân tố xã hội
Từ cơ sở triết học như vậy, các nhà xã hội học Pháp đã chưa giải thích được một cách khoa học về mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người
Một nhà triết học khác là M.Sêlê cũng rơi vào tuyệt đối hoá yếu tố xã hội khi lý giải bản chất và sự phát triển của con người Trong tác phẩm “Vị trí của con người trong vũ trụ” khi bàn về lý luận triết học nhân bản, ông cho rằng, nhiệm vụ của một nền triết học nhân bản là chỉ rõ mọi cái tột đỉnh, đặc thù, mọi thành tựu và giá trị của con người bắt nguồn từ kết quả chủ yếu của
sự tồn tại của con người; chẳng hạn như: ngôn ngữ, lương tâm, công cụ, vũ khí, ý niệm về chính trị và bất công, nhà nước, sự lãnh đạo, các chức năng biểu hiện của nghệ thuật, thần thoại, tôn giáo, khoa học, lịch sử và xã hội Đây là quan điểm không đúng, vì nó đã tách rời yếu tố sinh học trong con
Trang 34người ra khỏi yếu tố xã hội, đã tuyệt đối hoá yếu tố xã hội, coi yếu tố xã hội chi phối mọi quá trình tồn tại và phát triển của con người
Tác giả Hơbớt Máccusơ đại diện cho một xu hướng mới của trường phái duy xã hội khi đi vào tuyệt đối hoá yếu tố xã hội của bệnh tâm thần Ông cho rằng, cần xét lại khái niệm bệnh tâm thần, không nên coi người mắc bệnh tâm thần là những người bệnh mà chỉ coi là người có sự trục trặc về sinh học trong hoạt động của bộ não Theo ông, cần phải giải thích bệnh tâm thần trên lập trường của trường phái xã hội học, bởi vì, người mắc bệnh tâm thần không phải tuyệt đối có bệnh mà đó chỉ là sự phản đối xã hội tư bản hiện đại, nên yêu cầu cần phải xem xét lại bệnh tâm thần và thay đổi phương pháp chẩn đoán, điều trị Ở đây, họ đã không coi sự thay đổi chức năng của
hệ thần kinh (yếu tố tự nhiên) là yếu tố ảnh hưởng, chi phối hay quyết định quá trình phát sinh bệnh tâm thần mà coi đó chỉ là điều kiện của sự phát sinh bệnh Yếu tố quyết định căn bệnh này chính là điều kiện xã hội
Bên cạnh đó, một số lý thuyết triết học hiện đại lại quá đề cao, thổi phồng sự tác động của yếu tố môi trường đối với con người Theo họ, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã làm “méo mó” con người
Nó đẩy con người đến chỗ đóng kín, lẩn trốn vào cuộc sống nội tâm Con người sống trong cuộc sống khủng hoảng, tức là sống trong cái “phi bản sắc” phải tìm đến cái “bản sắc” của nó trong “cuộc sống tôn giáo” hay con người
“siêu thoát” Kierkegaad (1813-1855) cảm thấy thời đại của chúng ta là “thời đại của sự thất vọng” Còn Nietzsche (1844-1900) tin rằng thế giới của chúng ta đang sống chỉ là giả dối K.Jaspers (1883-1969) lại cho rằng, tri thức khoa học không thể đem lại hạnh phúc cho con người mà ngược lại, nó chi phối con người Con người khổ vì không hiểu biết thì ít, mà chủ yếu là
do hiểu biết quá nhiều Những nhà “phê phán xã hội” ở Frankfurt Đức lí giải rằng, mọi nguồn gốc của cái ác và bất hạnh là ở trong “tính duy lý” của khoa học và kỹ thuật [14, tr 27-28] Như vậy, các tác giả này đã tuyệt đối hoá yếu
tố xã hội và cho yếu tố xã hội chi phối toàn bộ cuộc sống của con người, yếu
tố tự nhiên có ảnh hưởng rất ít hoặc không có vai trò gì đối với con người Một số nhà nghiên cứu mácxít trước đây khi nghiên cứu quan điểm:
Trang 35“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan
hệ xã hội”; luận điểm “Xã hội sản sinh ra con người” hay luận điểm “Lao động đã sáng tạo ra con người” đã lầm tưởng rằng C.Mác và Ph.Ăngghen đã
có những sai lầm mang tính siêu hình, phiến diện, nhìn nhận con người như một thực thể “cằn cỗi” chỉ chứa yếu tố xã hội và chỉ phụ thuộc vào các qui luật xã hội Từ cái nhìn sai lầm đó, họ đã rơi vào quan điểm duy xã hội một cách đáng tiếc trong các hoạt động của mình [13, tr 3]
Một số tác giả lại cho rằng, con người vừa có bản chất xã hội, vừa có bản tính tự nhiên, tức là họ đã đồng nhất bản chất với những yếu tố tạo nên một chỉnh thể chứa đựng bản chất ấy Một số khác lại mắc vào sai lầm rất nguy hiểm khi muốn tách rời tuyệt đối giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người, từ đó dẫn đến tuyệt đối hoá yếu tố xã hội Sở dĩ như vậy là do các tác giả này đã nhầm lẫn hai vấn đề: vấn đề đặc điểm của các hình thức vận động và vấn đề mối liên hệ giữa các hình thức vận động đó, về sự chuyển biến và tác động biện chứng giữa các hình thức vận động [13, tr 1]
Như vậy, các nhà triết học, xã hội học ngoài mácxít trong quá trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người còn mang tính chủ quan Do những nhận thức sai lầm về tư tưởng mà
họ đã quan niệm không đúng về vị trí, vai trò của yếu tố tự nhiên và yếu tố
xã hội của con người Họ đã đi đến tuyệt đối hoá vai trò của yếu tố xã hội của con người ở mức độ và khía cạnh khác nhau Bởi vậy, họ chưa thấy được nguồn gốc tự nhiên của các hiện tượng tâm lý, ý thức dẫn đến coi nhẹ, thậm chí phủ nhận vai trò của yếu tố sinh học, kể cả quá trình di truyền và rơi vào tuyệt đối hoá môi trường, hoàn cảnh, điều kiện xã hội… đến mức người ta thấy chỉ có hoàn cảnh, điều kiện xã hội chi phối quá trình vận động phát triển cũng như các hoạt động sống khác của con người
Bên cạnh đó, quan điểm nhị nguyên về vấn đề này cho rằng, ở con người tồn tại cả hai yếu tố tự nhiên và xã hội, hai yếu tố này tách biệt nhau, không tạo thành một chỉnh thể tự nhiên - xã hội Ngay bản thân L.X.Vưgốtski cũng cho rằng, kể từ khi đứa trẻ biết nói, tất cả sự phát triển bên trong của nó chuyển từ giai đoạn động vật (tự nhiên) sang giai đoạn thực
Trang 36sự là người (xã hội) [120, tr 205] Vì vậy, cần đặt ra một sự lựa chọn hoặc là cái này hoặc là cái kia, đây là quan điểm sai lầm dựa trên những quan điểm
cơ học, máy móc Điều này không thể áp dụng vào con người để phân biệt yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội một cách máy móc như vậy
1.2.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người
Xuất phát từ nguyên lý quan trọng cho rằng, ngay bản chất con người cũng có tính lịch sử, triết học Mác - Lênin đã nhận thấy trong diễn biến của lịch sử, hoạt động chung của con người mà trước hết là lao động, yếu tố xã hội đã làm cho yếu tố tự nhiên của con người được trung gian hoá, biến đổi
và phát triển, tức là yếu tố tự nhiên không còn độc lập mà nó đã hàm chứa cả yếu tố xã hội Chúng ta đã từng biết luận điểm quen thuộc của C.Mác - con người trong khi biến đổi thế giới bên ngoài thì cũng đồng thời làm biến đổi chính bản thân mình, sự trung gian hoá giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội
đã xoá bỏ những quan niệm sai lầm về mối quan hệ giữa hai yếu tố này Nhờ lao động mà yếu tố xã hội được hình thành, phát triển, yếu tố tự nhiên dần bị
“lọc bỏ’ bởi yếu tố xã hội, tạo nên một chủ thể tồn tại toàn vẹn, một thực thể
tự nhiên - xã hội Khi nghiên cứu vấn đề con người cần xuất phát từ quan điểm thống nhất biện chứng giữa hai yếu tố đó
Nói đến con người là đã hàm chứa cả hai mặt tự nhiên và xã hội trong một chỉnh thể, không thể có một ranh giới vô hình nào đó qui định một bên
là bản năng của con người, một bên là bản chất xã hội của nó, nhưng khi xét đến vai trò trong mối quan hệ này, yếu tố xã hội là yếu tố quyết định chi phối yếu tố tự nhiên, yếu tố tự nhiên là cơ sở, là tiền đề, là điều kiện cho sự phát triển của yếu tố xã hội Mối quan hệ này được xây dựng trên cơ sở học thuyết về các hình thức vận động cơ bản của vật chất mà Ph.Ăngghen đã trình bày trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Trong đó, các dạng vận động thấp không còn nguyên tính chất mà tồn tại dưới dạng bị “lọc bỏ” bởi hình thức vận động cao; như vậy có thể nói, hình thức vận động cao bao hàm các hình thức vận động thấp dưới dạng kế thừa và cải tiến cho phù hợp với
nó Mỗi hình thức tồn tại của sự vật bao giờ cũng chứa đựng một hình thức
Trang 37vận động cơ bản, vận động sinh học là đặc trưng cơ bản của thế giới sinh vật, vận động xã hội là đặc trưng cơ bản của con người và xã hội loài người Học thuyết về sự vận động của Ph.Ăngghen đã góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người
Thừa nhận con người là một động vật xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng thừa nhận sự phát triển mọi mặt của con người tuân theo các qui luật tự nhiên, qui luật tâm lý và qui luật xã hội Ở con người, vai trò của các yếu tố này cũng có sự thay đổi cả về cường độ và thời gian tác động Yếu tố tự nhiên tác động mạnh ở giai đoạn đầu trong sự phát sinh và phát triển của con người, từ khi là hợp tử đến lọt lòng… càng về sau vai trò của yếu tố xã hội càng chi phối và quyết định mạnh hơn, nhất là việc hình thành nhân cách Vai trò này của yếu tố xã hội được C.Mác nhấn mạnh qua luận điểm của ông
về bản chất con người Chúng ta cần hiểu con người ở đây là cụ thể, cảm tính với toàn bộ cơ thể sinh vật cùng với các các quá trình sinh lý, sinh hoá diễn
ra trong đó như: hô hấp, bài tiết, biến dị, di truyền… đó là những điều kiện, tiền đề cần thiết để tạo nên mặt xã hội Nếu thiếu những điều kiện sinh học
đó thì không thể có quá trình phát triển thành con người một cách đầy đủ, như vậy, về mặt thời gian, yếu tố tự nhiên là có trước để hình thành nên yếu
tố xã hội
Các thành tựu của khoa học ngày nay đã chứng minh được những trường hợp bị rối loạn cơ chế di truyền hay hệ thần kinh bị tổn thương (những người phát triển không bình thường về mặt tự nhiên) sẽ bị rối loạn về mặt tâm lý và mặt xã hội Mọi quá trình ý thức xảy ra trong cơ thể con người cũng phải dựa trên tiền đề vật chất tự nhiên tương ứng Lý luận phản ánh đã luận giải, ý thức được hình thành và phát triển trên cơ sở hoạt động sinh lý bình thường của một dạng vật chất có tổ chức cao, đó là bộ não người Bộ não người là cơ quan đặc biệt, là tiền đề tự nhiên của hoạt động ý thức Tỷ lệ giữa khối lượng của não với khối lượng cơ thể ở con người là lớn nhất 1/45 Trong khi đó, ở tinh tinh tỷ lệ này là 1/90, đười ươi là 1/80, khỉ dạng người
là 1/230, sư tử và voi là 1/500 chó là con vật tinh khôn cũng chỉ có tỷ lệ là 1/250 [38, tr 219] Với khoảng 14 - 15 tỉ nơ ron thần kinh, não người có hơn
Trang 3850 vùng định khu chức năng khác nhau, mỗi vùng có cấu tạo riêng và đảm nhiệm một chức năng rõ rệt [38, tr 223]
Nhìn chung, bộ não người gồm ba phần lớn Phần não gốc là trung tâm điều khiển quá trình trao đổi chất cần thiết cho cuộc sống con người Phần não giữa trẻ hơn, được phát triển về sau, ở đây tập trung toàn bộ cơ sở
hệ thống hành vi, từ bẩm sinh và được phát triển thành bản năng Phần chủ yếu chiếm 7/8 bộ não là vỏ đại não, là phần não trẻ nhất và là cơ sở của hoạt động ý thức Phương thức hoạt động của nó là vô cùng phức tạp, những kích thích từ môi trường thông qua các cơ quan cảm thụ sẽ phản ánh vào não những dấu hiệu nhất định, sự kích thích đó tạo nên mối liên hệ giữa thông tin
từ bên ngoài với những phản ứng của cơ thể - đó là cơ sở tạo nên khả năng tư duy, ý thức Đây chính là tiền đề tự nhiên quan trọng để tạo nên ý thức và mặt xã hội của con người, nhưng điều khác biệt quan trọng ở chỗ các phản
xạ có điều kiện ở người thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai bao gồm tiếng nói và chữ viết có vai trò rất quan trọng đối với ý thức Ngôn ngữ, chữ viết tạo điều kiện cho sự truyền bá kiến thức từ người này sang người khác, rút ngắn thời gian cần thiết cho sự tìm hiểu những qui luật của thế giới vật chất Vậy là, hoạt động của não người không còn mang tính chất cá thể, mà đã trở thành một hoạt động liên tục từ cá nhân này đến cá nhân khác, từ tập thể này đến tập thể khác vượt qua giới hạn không gian và thời gian, đó chính là những điều kiện, tiền đề của các mặt hoạt động khác, để con người có sự phát triển cao hơn về chất so với loài vật
Là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người và đặc biệt bộ não người
là cơ sở cho sự xuất hiện NGƯỜI Ở người, yếu tố tự nhiên không còn tồn tại theo nguyên nghĩa mà có sự liên hệ khăng khít, chịu sự ảnh hưởng chi phối của yếu tố xã hội Điều này được thể hiện ngay cả trong các hoạt động đơn giản nhất của con người Con người và các động vật khác đều có nhu cầu ăn uống, hoạt động, sinh con đẻ cái… nhưng cũng có sự khác biệt hoàn toàn về bản chất giữa người và động vật ngay cả ở những nhu cầu ấy Ở các loài động vật khác, những hoạt động đó có tính bản năng còn ở con người là
có ý thức, con vật có nhu cầu ăn uống khi đói nó đòi ăn tất cả những gì mà
Trang 39nó có thể ăn được, còn con người cũng có nhu cầu ăn uống, song con người không xử sự như vậy Hoạt động đó của con người không chỉ để thoả mãn nhu cầu sinh lý trực tiếp của mình mà còn vì nhu cầu của người khác, của đồng loại; vì sự tồn tại không những ở trước mắt mà cho cả sự tồn tại lâu dài của mình
Trong mối quan hệ với yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội thể hiện một vai trò kép: một mặt, nó hạn chế yếu tố tự nhiên, làm cho yếu tố tự nhiên có tính
xã hội không còn là yếu tố tự nhiên thuần tuý; mặt khác, nó lại tạo ra những điều kiện, những môi trường mới - môi trường xã hội rộng lớn giúp cho yếu
tố tự nhiên phát triển hơn nữa, thể hiện tốt nhất khả năng của mình trong mối liên hệ với yếu tố xã hội Triết học Mác - Lênin coi con người như một thực thể tự nhiên tự hoạt động với tư cách là một chủ thể tích cực sáng tạo Theo
đó, sự biến đổi của con người, một mặt chịu sự quy định bởi yếu tố tự nhiên, mặt khác lại do chính những hoạt động xã hội của con người qui định: “Con người vừa là sản phẩm của lịch sử lại vừa là chủ thể của lịch sử”, đó là một quá trình biến đổi có sự định hướng, có vai trò của ý thức và xã hội Cho nên, sự thay đổi bản tính riêng của con người không phải chỉ là sự thay đổi bản tính tự nhiên mà quan trọng hơn, đó là sự phát triển các khả năng về xã hội của con người trên cơ sở một sinh vật phát triển cao, ngược lại, hoạt động của con người nhằm tạo ra môi sinh cho mình cũng có tác động rất mạnh mẽ đến đặc tính tự nhiên
Con người không thể xuất hiện nếu không dựa trên một tiền đề tự nhiên, song nếu chỉ riêng sự hoạt động của các qui luật tự nhiên thì con người không thể có được bản chất xã hội Có được điều này là vì con người chịu sự tác động của các qui luật xã hội chứ không phải chỉ do các qui luật tự nhiên Sự phủ định biện chứng của yếu tố xã hội đối với yếu tố tự nhiên không có nghĩa là sự hoà tan, sự tiêu diệt làm mất đi yếu tố tự nhiên, ngược lại, tính chất của sự phủ định đó là quá trình chuyển biến từ thấp đến cao Khi yếu tố xã hội được khẳng định, nó lại là cơ sở để yếu tố tự nhiên có thể phát huy hết tiềm năng của nó Điều này có nghĩa là, ở con người yếu tố tự nhiên đã dần mất đi tính độc lập và càng ngày nó càng gắn bó chặt chẽ với
Trang 40sự vận động của yếu tố xã hội Trong đó, yếu tố xã hội là cái bao trùm, có chức năng là động lực hợp nhất và định hướng, còn yếu tố tự nhiên, một mặt được “lọc bỏ” những cái không còn phù hợp với điều kiện phát triển mới, mặt khác, nó lại được phát huy những tiềm năng tích cực, tốt đẹp và nếu không có mặt xã hội thì không thể thực hiện tiềm năng này Tiền đề tự nhiên chỉ là điểm xuất phát góp phần tạo nên bản chất con người Theo Ph.Ăngghen, con người nhục thể là cơ sở thực tế, là điểm xuất phát thực sự của bản thân con người Điều đó cho thấy, triết học Mác - Lênin đã không tuyệt đối hoá sự đối lập giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người hay tuyệt đối hoá một yếu tố nào trong chỉnh thể ấy mà cho thấy, con người
là động vật duy nhất nhờ lao động đã thoát khỏi tình trạng loài vật Việc con người thoát khỏi tình trạng loài vật không có nghĩa là đi đến đối lập tuyệt đối với thế giới tự nhiên mà là sự thống nhất với tự nhiên ở một trình độ khác cao hơn, trong quá trình lao động sự thống nhất ấy mới được biểu hiện một cách triệt để Quá trình lao động để chế tạo ra các công cụ lao động và thoả mãn các nhu cầu của mình trong sự thay đổi môi trường, con người đã khẳng định bản chất loài của mình và tự biến đổi thành một thực thể xã hội
Con người được hình thành từ thế giới tự nhiên song, khi ra đời con người đã tạo ra lịch sử của mình và lịch sử xã hội càng phát triển thì sự tác động qua lại với giới tự nhiên càng do các quan hệ xã hội quyết định Điều này cũng là một trong những luận điểm quan trọng để bác bỏ luận điểm của các nhà triết học tư sản khi họ cho rằng chủ nghĩa Mác không chú ý đến bản tính tự nhiên của con người Nó cũng cho thấy chủ nghĩa Mác đã nhận thức được: thông qua tính xã hội, tính tự nhiên được thay đổi, yếu tố xã hội nảy sinh trên cơ sở yếu tố tự nhiên tách ra thành một yếu tố đặc trưng của con người Nó tiếp tục phát triển theo các qui luật riêng, thông qua sự phát triển
kế tiếp nhau của các qui luật xã hội cụ thể Mặc dù có nguồn gốc từ tự nhiên nhưng bản chất con người khác hẳn con vật Con người là một động vật đặc biệt, đặc điểm sinh học của con người chính là ở chỗ con người đã được chuẩn bị về mặt di truyền sinh vật để tiếp thu hình thái xã hội của sự vận động vật chất Con người ngoài chương trình di truyền sinh học còn có