Trước thực tế này, môt số TCPCP tại Việt Nam đã dẫn đầu xu hướng kết hợp các hoạt động kinh doanh và các dự án xã hội trong cùng một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững..
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ NHƯ ÁI
CHUYỂN ĐỔI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ THÀNH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÌ MỤC TIÊU BỀN VỮNG: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
HÀ NỘI – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ NHƯ ÁI
CHUYỂN ĐỔI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ THÀNH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÌ MỤC TIÊU BỀN VỮNG: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án tiến sĩ “Chuyển đổi tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội vì mục tiêu bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong Luận án
do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Nhƣ Ái
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài Luận án tiến sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự
nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, lãnh đạo và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện Luận án tiến sĩ
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể cán bộ hướng dẫn TS Nguyễn Đình Cung - Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (Bộ
Kế hoạch và Đầu tư), Cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh – chủ nhiệm bộ môn
- Ủy viên thư ký Hội đồng khoa học và đào tạo Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
- Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn theo sát, tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và gửi tặng tôi những tài liệu hết sức quí báu cũng như hỗ trợ kết nối với các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu Tôi cũng xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý Thầy Cô trong khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế, Trung tâm nghiên cứu kinh tế phát triển (CEDS) cũng như Phòng Đào tạo của Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi hoàn thành Luận
án tiến sĩ
Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Trung tâm thông tin tư liệu - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương đã hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi tìm kiếm tài liệu tham khảo trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện Luận án này
Xin chân trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 20
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài 20
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến tổ chức phi chính phủ và tính bền vững của tổ chức phi chính phủ 20
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến doanh nghiệp xã hội và tính bền vững của doanh nghiệp xã hội 24
1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến việc chuyển đổi từ tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội vì mục tiêu bền vững 31
1.2 Sự kế thừa và các đóng góp mới của luận án 37
1.2.1 Sự kế thừa các công trình nghiên cứu trước của luận án 37
1.2.2 Khoảng trống nghiên cứu và các đóng góp mới của luận án 37
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUYỂN ĐỔI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ THÀNH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÌ MỤC TIÊU BỀN VỮNG 39
2.1 Các khái niệm, đặc điểm, vai trò của tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp xã hội 39
2.1.1 Khái niệm liên quan đến tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp xã hội 39
2.1.2 Đặc điểm của tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp xã hội 42
2.1.3 Vai trò tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp xã hội đối với nền kinh tế 47
2.2 Cơ chế huy động nguồn vốn hoạt động của tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp xã hội 49
2.2.1 Cơ chế huy động nguồn vốn của tổ chức phi chính phủ 49
2.2.2 Cơ chế huy động nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp xã hội 51
2.3 Đánh giá sự tương quan giữa tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp xã hội 53
Trang 62.3.1 Phân biệt tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp xã hội 53 2.3.2 Những ưu thế/ hạn chế của doanh nghiệp xã hội so với tổ chức phi chính phủ truyền thống 56 2.4 Tính bền vững và sự cần thiết chuyển đổi từ tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội vì mục tiêu bền vững 58 2.4.1 Về tính bền vững 58 2.4.2 Sự cần thiết chuyển đổi từ tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội
vì mục tiêu bền vững 60 2.5 Yêu cầu và điều kiện để chuyển đổi tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp
xã hội vì mục tiêu bền vững 63 2.5.1 Yêu cầu đối với việc chuyển đổi từ tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp
xã hội 63 2.5.2 Điều kiện để đảm bảo chuyển đổi thành công từ tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội 66 2.6 Những tiêu chí thành công khi tổ chức phi chính chuyển đổi thành doanh nghiệp xã hội 68 2.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội 69 2.7.1 Những nhân tố nội tại tổ chức 69 2.7.2 Những nhân tố bên ngoài tổ chức 71
CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ CHUYỂN ĐỔI TỪ TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ THÀNH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 74
3.1 Xu hướng chuyển đổi từ tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội trên thế giới vì mục tiêu bền vững 74 3.1.1 Bối cảnh 74 3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển từ tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội trên thế giới vì mục tiêu bền vững 76 3.2 Kinh nghiệm tại một số quốc gia 82 3.2.1 Kinh nghiệm tại Anh 82
Trang 73.2.2 Kinh nghiệm tại Trung Quốc 93
3.2.3 Kinh nghiệm tại Campuchia 99
3.3 Đánh giá chung về kinh nghiệm tại các quốc gia 107
3.3.1 Những thành công 107
3.3.2 Những hạn chế 109
3.3.3 Những nguyên nhân của thành công và hạn chế 110
3.4 Đánh giá về kinh nghiệm quốc tế trong mối liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam 111
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHUYỂN ĐỔI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ THÀNH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÌ MỤC TIÊU BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM 119
4.1 Khái quát bối cảnh và xu hướng chuyển đổi từ tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam 119
4.1.1 Giai đoạn trước Đổi mới (1986) 119
4.1.2 Giai đoạn từ năm 1986-2010 120
4.1.3 Giai đoạn từ năm 2010 đến nay 122
4.2 Cơ hội và thách thức đối với các tổ chức phi chính phủ chuyển đổi thành doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam 129
4.2.1 Cơ hội 129
4.2.2 Thách thức 134
4.3 Hàm ý chính sách chuyển đổi tổ chức phi chính phủ thành doanh nghiệp xã hội vì mục tiêu bền vững tại Việt Nam 151
4.3.1 Yêu cầu chung đặt ra đối với Chính phủ Việt Nam cho quá trình chuyển đổi Tổ chức phi chính phủ thành Doanh nghiệp xã hội vì mục tiêu bền vững 152
4.3.2 Các chính sách cụ thể đề xuất 154
KẾT LUẬN 168
TÀI LIỆU THAM KHẢO 171 PHỤ LỤC
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu Nguyên nghĩa Tiếng Việt Nguyên nghĩa tiếng Anh
1 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á Asian Development Bank
3 BRAC Ủy ban Phát triển Nông thôn
Bangladesh
Bangladesh Rural Advancement Committee
4 BotP Nhóm “Đáy Kim Tự tháp” The bottom-of-the-pyramid
5 CIC Công ty vì lợi ích công đồng Community Interest
9 CSR Trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp
Corporate Social Responsibility
10 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
11 DNhXH Doanh nhân xã hội
12 DNXH Doanh nghiệp xã hội
13 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment
14 GDP Tổng sản phẩm nội địa Gross Domestic Product
15 IDA Hiệp hội phát triển quốc tế International
20 MCC Công ty Mental Care Connect Mental Care Connect
21 NGO Tổ chức phi Chính phủ Non-Governmental
Trang 9STT Ký hiệu Nguyên nghĩa Tiếng Việt Nguyên nghĩa tiếng Anh
26 ODA Nguồn viện trợ phát triển chính
thức
Official Development Assistance
29 PPS Tổ chức Phare Ponleu Selpak Phare Ponleu Selpak
33 SCHSA Hiệp hội vì sự an toàn của công
SROI Lợi tức xã hội Social rate of return
36 SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 10DANH MỤC BẢNG
2 Bảng 2.1 So sánh DNXH, TCPCP và Doanh nghiệp truyền
3 Bảng 2.2 Định hướng chuyển đổi TCPCP thành DNXH 63
4 Bảng 2.3 Các mô hình kết nối giữa sứ mệnh xã hội và hoạt
92
6
Bảng 3.2 Tổng hợp các chính sách tham chiếu tại Anh, Trung
Trang 11DANH MỤC HÌNH
4
Hình 2.2 Mô tả sự khác biệt giữa DNXH và doanh nghiệp truyền
5 Hình 2.3 Nhóm đáy trong mô hình Kim tự tháp 46
6 Hình 2.4 Các tổ chức xã hội có xu hướng được phân loại là
Hình 4.2 Sự sụt giảm nguồn vốn ODA trong “Tổng chi ngân sách
Chính phủ” và “Tổng thu nhập quốc gia” 124
12 Hình 4.3 Sự biến động về nguồn vốn của các TCPCP trước năm
2010 và giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018 128
13 Hình 4.4 Những khó khăn các TCPCP đang đối mặt 134
14 Hình 4.5 Định hướng của các TCPCP trong 3-5 năm tới 135
15 Hình 4.6 Những thách thức khi chuyển đổi thành DNXH 136
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập kỷ qua, các Tổ chức phi chính phủ (TCPCP) đã có vai trò quan trọng tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại các nước đang phát triển, trong
đó có Việt Nam TCPCP đã đóng góp trong việc tìm kiếm và giải quyết nhiều vấn
đề xã hội (giáo dục, y tế cộng đồng, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em, các vấn đề HIV-AIDS, bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu…), trong đó rất nhiều vấn đề xã hội phát sinh là một phần hệ quả không mong đợi của quá trình toàn cầu hóa Bên cạnh các dự án viện trợ trực tiếp, các TCPCP đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm & nghề nghiệp cho những đối tượng hưởng lợi mục tiêu Đặc biệt, sự tham gia của các Tổ chức phi chính phủ quốc tế (TCPCPQT) cùng với quá trình hội nhập quốc tế và nguồn vốn viện trợ xuyên biên giới đã góp phần cân bằng mục tiêu phát triển kinh tế và mục tiêu phát triển xã hội tại các quốc gia đang phát triển và các quốc gia kém phát triển Có thể nói, các TCPCP nói chung và các TCPCPQT nói riêng đã tham gia vào những lĩnh vực xã hội mà cả Nhà nước cũng như khu vực kinh tế tư nhân chưa thể tiếp cận hoặc sẵn sàng giải quyết một cách tổng thể
Cũng trong những thập kỷ qua, thế giới đã trải qua những biến động lớn về chính trị, kinh tế và xã hội Những biến động này đã tạo ra một thế giới cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi các TCPCP phải trang bị để có thể “bán” những ý tưởng dự án phát triển xã hội phù hợp nhằm xin nguồn vốn viện trợ từ các nhà tài trợ và các bên liên quan Chỉ đơn giản có những dự án cấp thiết và chứng minh đủ năng lực thực hiện các dự án đó không còn là những điều kiện cần và đủ để các TCPCP xin nguồn vốn viện trợ không hoàn lại như trước đây Mặt khác, sự canh tranh giữa các TCPCP cùng với sự gia tăng số lượng các TCPCP trong thời gian vừa qua đã làm cho “miếng bánh” nguồn vốn viện trợ không hoàn lại ngày càng nhỏ dần Bên cạnh các TCPCP, số lượng các tổ chức từ thiện tự phát trong cộng đồng ngày càng nhiều, cùng với sự lớn lên về số lượng các tổ chức như trường học ở các vùng sâu vùng xa, bệnh viện … kêu gọi sự hỗ trợ của cộng đồng đã làm cho sự cạnh tranh nhằm thu hút sự chú ý từ các nhà tài trợ ngày
Trang 13càng gay gắt Thực tế này đã ảnh hưởng và gia tăng các thách thức mà các TCPCP phải đối mặt nhằm có thể thu hút sự hỗ trợ tài chính của cộng đồng, trong khi đó các TCPCP vẫn phải duy trì sự tập trung vào các mục tiêu và nhiệm vụ xã hội
Bên cạnh đó, cuộc suy thoái kinh tế sâu sắc năm 2008-2009 và sự suy thoái kép mang tính kỹ thuật lần hai vào năm 2011-2012 đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các TCPCP, làm suy giảm nguồn vốn viện trợ cho các TCPCP một cách đáng kể [66] Có thể nói, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng đến mọi loại hình TCPCP – bao gồm tổ chức có quy mô lớn và nhỏ, tổ chức ở thành thị và nông thôn, TCPCP địa phương và TCPCPQT Một số TCPCP bị ảnh hưởng ngay lập tức và một số khác thì sẽ chịu ảnh hưởng chậm hơn Cuộc khủng hoảng này đòi hỏi các TCPCP cần phải điều chỉnh lại năng lực huy động vốn và xem xét lại mô hình bền vững của tổ chức Tuy chưa có con số thống kê chính xác trên toàn thế giới, nhưng nhiều quốc gia đã công bố con số thống kê các TCPCP phải đóng cửa
do không đủ nguồn vốn để tiếp tục duy trì hoạt động Một vài con số đáng báo động như tại Nam Phi 30% (tương ứng với 36.000 TCPCP) trong số 122.000 các TCPCP phải đóng cừa sau năm 2013 do thiếu nguồn vốn hoạt động [81]; tại New Zealand,
750 TCPCP đã phải đóng cửa trong năm 2014 do nguồn vốn viện trợ phi chính phủ
bị cắt giảm [82] …
Trước thực tế này, một số TCPCP trên thế giới đã dẫn đầu xu hướng thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ để bổ sung nguồn vốn hoạt động Các TCPCP này đã sớm nhận ra nhu cầu thay đổi và một số tổ chức đã thay đổi vai trò của họ một cách ngoạn mục, các hoạt động của họ mang tính kinh doanh và có sức ảnh hưởng nhiều
hơn (Ví dụ: Tổ chức Ân xá Quốc tế, Greenpeace, Oxfam…) Các TCPCP có tư
tưởng cấp tiến đã tăng cường kết hợp một cách linh hoạt giữa vận động nguồn vốn
và các hoạt động kinh doanh Sự kết hợp này đã tạo tiếng vang về cách tiếp cận của các TCPCP nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững, theo đó nguồn vốn bền vững từ hoạt động kinh doanh là tiền đề để đạt được sứ mệnh xã hội bền vững
Tại Việt Nam, khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, đưa Việt Nam trở thành nước
có mức thu nhập trung bình theo công bố của Ngân hàng Thế Giới (WB) năm 2010,
Trang 14cũng là lúc nguồn vốn viện trợ chính thức (ODA) và nguồn vốn viện trợ phi Chính phủ đều bắt đầu xu hướng giảm Một số quốc gia và tổ chức quốc tế đã công bố lộ trình rút dần các chương trình tài trợ ra khỏi Việt Nam để dành cho các khu vực khác có nhu cầu hơn như Ngân hàng Thế giới (WB) đang xem xét ngừng ưu đãi gói viện trợ phát triển chính thức cho Việt Nam; Ngân hàng phát triển Châu Á sẽ
dự kiến sẽ cắt giảm ưu đãi nguồn vốn phát triển chính thức cho Việt Nam từ 1/1/2019; Văn phòng Đại Sứ Quán Anh tại Việt Nam quyết định dừng viện trợ cho
Việt Nam vào năm 2016; Văn phòng Đại Sứ Quán Thụy Điển tại Việt Nam chính thức ngừng viện trợ cho Việt Nam từ cuối năm 2013 Trong thời gian tới, nguồn
vốn viện trợ không hoàn lại sẽ tập trung cho khu vực Châu Phi (Ethiopia hay Bangladesh ), các quốc gia đang bị ảnh hưởng bởi xung đột và nhiều nước Đông
Âu bên ngoài nhóm đồng tiền chung Việt Nam giờ đây được coi là một nền kinh
tế mới nổi đầy năng động Vì vậy, việc thu hẹp viện trợ cho Việt Nam để các nhà tài trợ có thể tập trung giúp đỡ các quốc gia nghèo hơn và cần đến viện trợ hơn là một xu hướng tất yếu
Những khó khăn, thách thức nêu trên đòi hỏi các TCPCP phải tạo ra các dự
án đem lại nguồn thu nhập, cung cấp các dịch vụ có chất lượng và có trách nhiệm hơn nữa với các bên liên quan hướng đến mục tiêu bền vững về nguồn vốn và các hoạt động xã hội trong dài hạn Trước thực tế này, môt số TCPCP tại Việt Nam đã dẫn đầu xu hướng kết hợp các hoạt động kinh doanh và các dự án xã hội trong cùng một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững Một số điển hình thành công của có thể kể đến như các tổ chức Marie Stopes International (MSI), Mekong Plus…Đáng chú ý, xu hướng này rất phù hợp với sự dịch chuyển mối quan tâm hiện nay của các nhà tài trợ đối với Việt Nam theo hướng áp dụng nguyên tắc thị trường phục vụ phát triển bền vững : ADB với dự án thị trường cho người nghèo (M4P) và
dự kiến quỹ đầu tư cùng người nghèo (IBIF), Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) với
mô hình kinh doanh bền vững cùng người nghèo đối với các doanh nghiệp nông nghiệp (inclusive agrifood business), WB với Ngày sáng tạo Việt Nam (VID), một
số nhà tài trợ khác với mô hình tài trợ một phần các sáng kiến/đề xuất dự án vì cộng đồng và có tiềm năng xuất khẩu
Trang 15Tuy việc TCPCP tham gia vào hoạt động kinh doanh và vận hành Doanh nghiệp xã hội (DNXH) là một xu hướng tất yếu ở nhiều quốc gia, việc chuyển đổi này ở Việt Nam lại đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức Thực tế cho thấy, nhận thức của TCPCP về DNXH và sự cần thiết chuyển đổi thành DNXH còn rất hạn chế, chủ yếu do tính mới mẻ của mô hình này tại Việt Nam Mặc dù khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của DNXH lần đầu tiên đã được quy định trong Luật doanh nghiệp 2014 nhưng những quy định này còn sơ khai khiến cho các TCPCP gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi và vận hành DNXH Bên cạnh đó, vốn là bài toán nan giải ở hầu hết các TCPCP có mục tiêu chuyển đổi thành DNXH Các tổ chức này cũng tỏ ra thiếu năng lực quản lý và kinh doanh, tự tạo ra doanh thu trong điều kiện xã hội còn thiếu các dịch vụ hỗ trợ cho các TCPCP chuyển đổi này
Đã đến lúc Nhà nước và các cơ quan hữu quan tại Việt Nam cần đánh giá đúng vai trò của các DNXH trong giải quyết các vấn đề xã hội, thành lập các cơ quan quản lý chuyên trách, hỗ trợ giải pháp và nguồn vốn đối với các TCPCP có nhu cầu chuyển đổi thành DNXH cũng như áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi cho quá trình chuyển đổi này
Xuất phát từ thực tiễn mang tính cấp thiết này, tác giả lựa chọn đề tài “Chuyển
đổi Tổ chức phi chính phủ thành Doanh nghiệp xã hội vì mục tiêu phát triển bền vững – Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” để thực hiện luận án tiến sỹ
kinh tế, ngành Kinh tế Quốc tế
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Luận án nghiên cứu việc chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH để tạo ra nguồn vốn xã hội bền vững, từ đó hướng đến mục tiêu sứ mệnh xã hội bền vững trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế và một số gợi ý về chính sách cho Việt Nam
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tính bền vững của các DNXH so với tính bền vững của TCPCP
- Nghiên cứu việc TCPCP tham gia hoạt động kinh doanh và vận hành DNXH nhằm đảm bảo nguồn vốn xã hội bền vững
Trang 16- Nghiên cứu xu hướng, chính sách, môi trường pháp lý hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH tại một số quốc gia trên thế giới
- Tham khảo kinh nghiệm quốc tế nhằm đề xuất các chính sách hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH tại Việt Nam vì mục tiêu bền vững
* Câu hỏi nghiên cứu
Luận án sẽ tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Tại sao chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH có thể đạt được mục tiêu nguồn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững Cụ thể, đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:
+ TCPCP và tính bền vững của TCPCP
+ DNXH và tính bền vững của DNXH
+ TCPCP chuyển đổi thành DNXH vì mục tiêu bền vững
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận án nghiên cứu hoạt động của các TCPCP, DNXH tại
Việt Nam và một số quốc gia đi đầu về xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững trên thế giới (Anh, Trung Quốc, Campuchia) để đánh giá, học hỏi kinh nghiệm quản lý vĩ mô nhằm hỗ trợ, thúc đẩy quá trình chuyển đổi này hướng đến mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam
Căn cứ lựa chọn quốc gia tham chiếu cần phải mang tính “đại diện” bao gồm:
Trang 17(i) Đại diện nhóm các quốc gia kinh tế: Đại diện các nước phát triển, đại diện
các nước đang phát triển và đại diện quốc gia có nền kinh tế lớn mới nổi (ii) Đại diện các quốc gia đã/ đang/sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất về xu hướng
chuyển đổi TCPCP thành DNXH: Đại diện quốc gia có lịch sử phát triển
DNXH lâu đời nhất thế giới, đại diện quốc gia có nhiều TCPCP nhất thế giới tính trên đầu người, đại diện quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới làm nảy sinh những vấn đề xã hội nghiêm trọng
(iii) Một số đại diện quan trọng khác: Quốc gia có nhiều điểm tương đồng về
điều kiện kinh tế xã hội với Việt Nam và/hoặc có các chính sách hỗ trợ quá trình chuyển đổi TCPCP thành DNXH có thể tham chiếu áp dụng tại Việt Nam
Trên cơ sở lập luận căn cứ này, tác giả đã lập bộ tiêu chí lựa chọn các quốc gia tham chiếu nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi này tại Việt Nam như sau:
(iv) Loại tiêu chí tham chiếu số 1:
Quốc gia thuộc các nước phát triển
Quốc gia có bề dày lịch sử phát triển DNXH nhất thế giới
Quốc gia có xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH thành công lan rộng
Chính phủ có các công cụ hỗ trợ cụ thể, hiệu quả đối với quá trình chuyển đổi từ TCPCP sang DNXH vì mục tiêu bền vững
(v) Loại tiêu chí tham chiếu số 2:
Quốc gia thuộc nhóm có nền kinh tế lớn mới nổi
Quốc gia có nền kinh tế “tăng trưởng nóng” nhất thế giới
Tăng trưởng kinh tế quá nhanh làm nảy sinh những vấn đề xã hội nghiêm trọng
Có thể hiện xu hướng chuyển đổi từ TCPCP sang DNXH một cách rõ rệt;
Chính phủ kiến tạo cơ chế chính sách và các chương trình nghị sự cải cách xã hội nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH
vì mục tiêu bền vững
Trang 18(vi) Loại tiêu chí tham chiếu số 3:
Quốc gia thuộc các nước đang phát triển
Quốc gia có số lượng TCPCP nhiều nhất thế giới (tính theo đầu người)
Là quốc gia có nhiều điểm tương đồng về điều kiện địa lý và kinh tế với Việt Nam;
Có xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH;
Chính phủ có các chính sách vĩ mô nhằm hỗ trợ chuyển đổi TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững;
Trên cơ sở các tiêu chí nêu trên, tác giả đã lựa chọn các quốc gia sau để nghiên cứu về xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH và tham khảo kinh nghiệm xây dựng chính sách hỗ trợ quá trình chuyển đổi này tại Việt Nam:
Loại tiêu chí tham chiếu số 1: Vương quốc Anh
Loại tiêu chí tham chiếu số 2: Trung Quốc
Loại tiêu chí tham chiếu số 3: Camphuchia
- Về thời gian:
+ Luận án nghiên cứu về xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH và các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước hỗ trợ quá trình chuyển đổi này tại một số quốc gia trên thế giới sau năm 2008 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu luận án (năm 2018)
Năm 2008-2009 là năm đánh dấu cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu sâu sắc trước khi cuộc suy thoái mang tính kỹ thuật lần hai vào năm 2011-2012 Khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm suy giảm nguồn vốn viện trợ cho các TCPCP, kéo theo là sự sụt giảm về số lượng và chất lượng các dự án xã hội trên quy mô toàn cầu Trước thực tế này, các TCPCP buộc phải tìm hướng đi mới, kết hợp giữa các hoạt động kinh doanh và các hoạt động xã hội nhằm duy trì sự bền vững về nguồn vốn và sứ mệnh xã hội của tổ chức Đây là năm đánh dấu sự khởi đầu của xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH tại nhiều quốc gia trên thế giới
+ Luận án nghiên cứu và phân tích sự cần thiết chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH tại Việt Nam sau năm 2010
Trang 19Theo công bố của Ngân hàng Thế Giới, Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010 Do vậy, nguồn vốn viện trợ không hoàn lại dần rút khỏi Việt Nam để ưu tiên cho các quốc gia nghèo và kém phát triển Nhiều TCPCP tại Việt Nam đứng trước nguy cơ dừng hoạt động do không thể duy trì nguồn vốn viện trợ Nguồn vốn bổ sung từ hoạt động kinh doanh và các dự án xã hội có thu phí được nghiên cứu trong luận án này có thể là một trong những giải pháp đem lại
nguồn vốn bền vững cho các TCPCP tại Việt Nam sau thời điểm năm 2010
+ Luận án phân tích, đề xuất các công cụ quản lý Nhà nước hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững tại Việt Nam đến năm
2030 trên cơ sở kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới
Phạm vi thời gian giới hạn đến năm 2030 phù hợp với “Chương trình nghị sự
2030 vì sự phát triển bền vững” của Liên Hợp Quốc, trong đó có Việt Nam tham gia bao gồm 17 mục tiêu như xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, bảo
vệ phụ nữ và trẻ em Đây là những mục tiêu rất cần sự đồng hành bền vững của các tổ chức xã hội bao gồm TCPCP, DNXH
- Về nội dung:
Luận án nghiên cứu việc chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững Phạm vi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong luận án chỉ tập trung vào chính sách vĩ mô của một số quốc gia để tham khảo áp dụng cho Việt Nam và không nghiên cứu kinh nghiệm về “kỹ thuật” thực hiện chuyển đổi trong nội tại của TCPCP
+ Các thuật ngữ “bền vững”, “tính bền vững”, “mục tiêu bền vững”, “phát triển bền vững” đều được xem xét trên khía cạnh “nguồn vốn bền vững” và “sứ mệnh
xã hội bền vững” của một tổ chức xã hội, theo đó “nguồn vốn bền vững” là điều kiện cần để đạt được “sứ mệnh xã hội bền vững” Thuật ngữ “nguồn vốn” và “tài chính” trong luận án được sử dụng thay thế nhưng đều có một mục đích chung là
phản ánh nguồn tiền (bao gồm nhưng không giới hạn nguồn vốn viện trợ không hoàn lại, nguồn vốn từ hoạt động SXKD) nhằm duy trì hoạt động của tổ chức và
thực hiện các mục tiêu xã hội
So với các nghiên cứu về tính bền vững của TCPCP, tính bền vững của DNXH thể hiện rõ ràng sự khác biệt DNXH chủ yếu sử dụng nguồn vốn từ hoạt
Trang 20động kinh doanh của doanh nghiệp (về bản chất là không giới hạn), trong khi đó TCPCP chủ yếu huy động nguồn vốn viện trợ không hoàn lại (về bản chất là khan hiếm và có giới hạn) Do có lợi thế tiếp cận thêm tri thức và kỹ năng kinh doanh, DNXH có cơ hội duy trì được nguồn tài chính bền vững để thực hiện các mục tiêu
xã hội một cách bền vững và ngày càng nhân rộng tác động xã hội
+ “Chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH” được hiểu theo hai cách tiếp cận: (i) Chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH và (ii) TCPCP bổ sung một nhánh kinh doanh (hoạt động độc lập như một DNXH) để lấy lợi nhuận tái đầu tư cho hoạt động của TCPCP
+ Bộ tiêu chí lựa chọn chính sách từng quốc gia đưa vào luận án nhằm tham khảo kinh nghiệm chuyển đổi TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững cho Việt Nam như sau:
Chính sách tham chiếu bao gồm (i) Chính sách hỗ trợ tài chính và/hoặc (ii) Chính sách hỗ trợ phi tài chính
Chính sách có thể giải quyết một hoặc một số thách thức về quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH (chính sách hỗ trợ trực tiếp) hoặc chính sách hỗ trợ hoạt động DNXH (chính sách hỗ trợ gián tiếp)
Chính sách phải hướng tới mục tiêu nguồn vốn xã hội bền vững cho các TCPCP
Chính sách không có những rủi ro tiềm tàng về sự bất bình đẳng hoặc giảm khả năng quản lý, kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước
Chính sách đã được thử nghiệm và phát huy hiệu quả nhất định tại các quốc gia nghiên cứu (Anh, Trung Quốc, Campuchia)
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
4.1 Đóng góp về lý luận
- Hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về TCPCP, DNXH, sự tương quan giữa TCPCP
và DNXH và sự cần thiết của việc chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững
- Nghiên cứu tính bền vững của TCPCP và tính bền vững của DNXH trong mối quan hệ với quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH
Trang 21- Phân tích các yêu cầu, điều kiện, các nhân tố ảnh hưởng, cơ hội và thách thức của việc chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH
5.1.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Phương pháp tiếp cận hệ thống nhằm đảm bảo luận án có tính chặt chẽ và logic Một hệ thống bao gồm các nội dung nghiên cứu riêng rẽ mang tính độc lập tương đối (TCPCP, DNXH) nhưng có mối quan hệ tương tác chặt chẽ (sự tương đồng
và mối quan hệ giữa TCPCP và DNXH) nhằm thể hiện mục tiêu tổng thể của luận án (chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH)
Phương pháp tiếp cận này cũng đòi hỏi việc phân tích không chỉ căn cứ trên một vài trường hợp cá biệt nhỏ lẻ mà cần căn cứ trên tầm nhìn tổng thể có tính hệ thống khi nghiên cứu thực trạng và giải pháp của quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững
5.1.2 Phương pháp tiếp cận lịch sử và logic
Phương pháp tiếp cận lịch sử và logic là cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu (TCPCP) qua các chuỗi sự kiện diễn ra trong quá khứ Mỗi sự kiện trong quá khứ xảy
ra ngẫu nhiên nhưng chuỗi sự kiện tổng hợp lại hàm chứa một quy luật tất yếu, từ đó
Trang 22nhận biết được quy luật vận động và phát triển từ TCPCP thành DNXH trên thế giới sau thời điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008-2009; đồng thời dự báo xu hướng này tại Việt Nam, đặc biệt khi Việt Nam được chính thức công nhận là quốc gia
có thu nhập trung bình thấp từ năm 2010
5.1.3 Phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh
Tiếp cận cá biệt là quan sát loại hình tổ chức nghiên cứu (TCPCP) một cách biệt lập đối với loại hình tổ chức khác (DNXH) Phương pháp tiếp cận so sánh cho phép quan sát các tổ chức nghiên cứu (TCPCP, DNXH) trong mối tương quan, từ
đó phân tích tính cá biệt của TCPCP tham gia vào hoạt động SXKD hướng đến mục tiêu phát triển bền vững
5.1.4 Phương pháp tiếp cận kinh tế phát triển
Đây là phương pháp tiếp cận sử dụng tích cực các kiến thức của kinh tế học
vĩ mô khi nghiên cứu các chính sách của Chính phủ nhằm quản lý và thúc đẩy sự thay đổi của TCPCP theo mô hình hoạt động của DNXH nhằm góp phần kiến tạo một nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
5.1.5 Phương pháp tiếp cận liên ngành
Phương pháp tiếp cận liên ngành đòi hỏi việc nghiên cứu chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH phải đươc xem xét trên góc độ của liên ngành kinh tế (lợi nhuận của DNXH) và ngành xã hội (sứ mệnh xã hội của DNXH) Phương pháp tiếp cận liên ngành là rất cần thiết để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về sự giao thoa và cân bằng mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội của TCPCP chuyển đổi thành DNXH
5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu là một giai đoạn quan trọng đối với quá trình nghiên cứu chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH Đây là quá trình thu thập và xử lí thông tin với mục đích đi tìm luận cứ để phục vụ cho việc chứng minh tính bền vững của TCPCP khi chuyển đổi thành DNXH Việc thu thập thông tin trong luận án này bao gồm nghiên cứu tài liệu về TCPCP/ DNXH, việc chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH, gửi bảng câu hỏi khảo sát cho các TCPCP, hoặc phỏng vấn các chuyên gia trong ngành để tiếp thu những ý kiến chuyên môn và quan điểm có liên quan đến phạm vi nghiên cứu
Trang 23Việc chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH là một khái niệm mới ở Việt Nam
và vẫn còn sơ khai ở các quốc gia trên thế giới Do vậy, việc thu thập dữ liệu còn nhiều khó khăn Việc thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp cho luận án được sắp xếp theo thứ tự sau:
Xác định dữ liệu cần có của cuộc nghiên cứu
(tổng quan các nghiên cứu viết về TCPCP, DNXH, việc chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH, kinh nghiệm chuyển đổi thành DNXH tại một số quốc gia trên thế giới)
Xác định dữ liệu sơ cấp và thứ cấp có thể thu thập
(Bảng câu hỏi điều tra gửi cho các TCPCP ; Phỏng vấn các chuyên gia đầu ngành; Thư viện sách tham khảo và sách thống kê; Sách báo tạp chí thương mại; Các đề tài nghiên cứu liên quan; các báo cáo thường niên; các nghiên cứu chuyên đề trong
và ngoài nước; website uy tín của Chính phủ và của các tổ chức lớn )
Tiến hành thu thập dữ liệu
Tiến hành nghiên cứu chi tiết giá trị dữ liệu
(Xác định giá trị dữ liệu trong mối liên hệ với mục tiêu nghiên cứu, từ đó đánh giá phương pháp thu thập dữ liệu đã thực hiện, xác định và xếp loại dữ liệu cũng như mức độ tin cậy của dữ liệu)
Hình thành các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đƣợc đƣa vào luận án
Hình 1.1 Quy trình thu thập dữ liệu
Các bước phân tích tổng hợp tài liệu trong quá trình nghiên cứu luận án được thực hiện theo nguyên tắc sau:
Trang 24+ Lựa chọn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp liên quan đến muc tiêu nghiên cứu
+ Sắp xếp tài liệu, theo lịch đại (tức theo tiến trình xuất hiện sự kiện) + Làm tái hiện quy luật: Đây là bước quan trọng nhất trong nghiên cứu tài liệu, chính là mục đích tiếp cận lịch sử để phân tích làm rõ xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững
+ Giải thích quy luật: Sử dụng thao tác logic để đưa ra các phán đoán về bản chất hiện tượng TCPCP tham gia hoạt động kinh doanh nhằm duy trì nguồn vốn
tự chủ và bền vững
5.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.3.1 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp sử dụng kỹ thuật phỏng vấn đã được tiêu chuẩn hóa câu hỏi
Kỹ thuật này giúp thu thập thông tin của đối tượng nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng môi trường sinh thái hoạt động của các TCPCP hiện nay tại Việt Nam, những thách thức, khó khăn về nguồn vốn các TCPCP đang đối mặt và nhu cầu chuyển đổi sang DNXH- nếu có “Bảng hỏi khảo sát dành cho TCPCP” đã được chuẩn hóa trong Phụ lục 2 đính kèm Phiếu hỏi được gửi qua email hoặc gọi điện trực tiếp Do những cản trở về khoảng cách điạ lý, tác giả đã không đến phỏng vấn tại thực địa
mà chủ yếu dùng phương pháp gọi điện trực tiếp đối với các tổ chức không trả lời email Do tỷ lệ các tổ chức tham gia khảo sát trả lời email tương đối thấp , tác giả đã gọi điện trực tiếp để khảo sát bao gồm các bước (i) giới thiệu, (ii) mời tham gia khảo sát, (iii) thúc đẩy trả lời phiếu khảo sát, (iv) thu phiếu, rà soát và (v) xác minh thông tin chưa rõ nếu cần
Tuy nhiên, trong quá trình phỏng xác minh thu thập thông tin, tác giả vẫn đưa ra một số câu hỏi bổ sung để làm rõ những mâu thuẫn trong quá trình trả lời và gợi ý thêm các phương án trả lời cho câu hỏi mở
Quy mô tổng thể lấy mẫu và chọn mẫu điều tra: Hiện nay, tại Việt Nam có khoảng 1000 TCPCP [3] Tuy nhiên, do những hạn chế khi tiếp cận các TCPCP trên phạm vi cả nước và những TCPCP chọn mẫu cần phải được xác định có hoạt động phù hợp với tiêu chí nghiên cứu nên chỉ có 286 TCPCP được gửi phiếu phỏng vấn
Trang 25trên cả nước, trong đó, các địa bàn có lượng mẫu tham gia nghiên cứu cao hơn là
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Công thức chọn mẫu được áp dụng như sau:
Trong đó:
n là cỡ mẫu,
N là số lượng tổng thể,
e là sai số tiêu chuẩn (5%)
Đặc điểm mẫu điều tra như sau:
Bảng 1.1: Đặc điểm mẫu điều tra
Địa bàn Tổng cộng
Hồ Chí Minh city 55 Tỉnh thành khác 124
Quy trình xử lý phiếu được làm chặt chẽ từ khâu (i) làm sạch dữ liệu, xác minh dữ liệu còn trống, chưa rõ hoặc có mâu thuẫn; (ii) phân tích dữ liệu.; (iii) kết xuất thông tin phục vụ cho nghiên cứu Sau khi thực hiện các khâu phân tích, có 38
tổ chức bị loại do không phản hồi thông tin hoặc thông tin không đủ độ tin cậy theo đánh giá của tác giả nghiên cứu Còn lại 248 phiếu được đưa vào phân tích
Các câu hỏi thiết kế trong Bảng hỏi khảo sát dành cho các TCPCP được thiết kế trên cơ sở đánh giá sự biến động nguồn ngân sách viện trợ phi Chính phủ trước và sau năm 2010 khi Việt Nam chính thức được WB công nhận là quốc gia có thu nhập bình quân Các câu hỏi cũng nhằm tập trung khảo sát chuyên sâu về những khó khăn các TCPCP đang phải đối mặt; định hướng nguồn ngân sách của các TCPCP trong 20 năm tới; định hướng phát triển của các TCPCP trong thời gian tới
và những thách thức nào các TCPCP tin rằng sẽ phải đối mặt nếu họ chuyển đổi thành DNXH Chi tiết bảng hỏi khảo sát được trình bày trong Phụ lục 2 của Luận
án Kết quả phương pháp nghiên cứu điều tra xã hội học sẽ được trình bày trong Chương 4 của luận án
5.3.2 Phương pháp chuyên gia
Luận án sử dụng "phương pháp phỏng vấn chuyên gia" nhằm thu thập và xử
lý những đánh giá của các chuyên gia về sự sụt giảm của nguồn vốn viện trợ phi
Trang 26chính phủ, dự báo về xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH tại Việt Nam… bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến của các chuyên gia thuộc các lĩnh vực liên quan Quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia có thể chia thành 3 giai đoạn lớn:
(i) Giai đoạn lựa chọn chuyên gia
Trong khuôn khổ luận án, do hạn chế về điều kiện nguồn lực và không thể tiến hành tham vấn được tất cả các bên liên quan, nghiên cứu sinh đã dựa trên các
tiêu chí mang tính đại diện để lựa chọn chuyên gia tham vấn bao gồm: Chuyên gia làm việc trong lĩnh vực quản lý các TCPCP; Chuyên gia tại các Bộ ngành liên quan đến nguồn vốn ODA, nguồn vốn viện trợ phi Chính phủ; Các đơn vị nghiên cứu về DNXH; Các tổ chức ươm tạo DNXH; Cơ quan cấp nguồn vốn viện trợ ODA tại Việt Nam Trên cơ sở tiêu chí đại diện này, nghiên cứu sinh đã tiến hành xác định thông
tin liên hệ để đặt lịch tham vấn
Về phương pháp triển khai: sau khi đã có lịch tiếp xúc, nghiên cứu sinh tiến hành gặp trực tiếp và thông tin cho người được tham vấn các nguyên tắc làm việc bao gồm: người trả lời có thể trả lời hoặc không trả lời các câu hỏi; đảm bảo nguyên tắc khuyết danh khi sử dụng thông tin và người trả lời có thể quyết định tham gia hay rút khỏi cuộc khảo sát nếu không cảm thấy phù hợp Kết quả, nghiên cứu sinh
đã thực hiện được 15 cuộc phỏng vấn bao gồm các chuyên gia theo tiêu chí nêu trên
và được mô tả tại Bảng 1 của Phụ lục 3
(ii) Giai đoạn xây dựng biểu câu hỏi và trưng cấu ý kiến chuyên gia
Các câu hỏi được xây dựng trên các khía cạnh sau:
Đánh giá sự tác động của nguồn vốn viện trợ phi chính phủ đối với Việt Nam sau thời điểm Việt Nam được công nhận là quốc gia có thu nhập bình quân vào năm 2010;
Đánh giá khả năng tham gia hoạt động SXKD của các TCPCP;
Đánh giá mối tương quan giữa Luật Doanh nghiệp 2014 (thừa nhận chính thức thành phần kinh tế “DNXH”) và xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH tại Việt Nam;
Đánh giá vai trò của Nhà nước nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững;
Trang 27 Các chính sách kiến nghị/đề xuất để quá trình chuyển đổi đạt được mục tiêu bền vững;
(iii) Giai đoạn thu thập và xử lý các đánh giá, các dự báo của các chuyên gia
Căn cứ trên ý kiến của các chuyên gia phỏng vấn, nghiên cứu sinh đã sử dụng phương pháp thủ công, trực tiếp phân tích ý kiến của từng chuyên gia theo khung phân tích đã có Việc xử lý thông tin sau phỏng vấn bao gồm phân tích và phân loại các thông tin phù hợp với khung phân tích đã có và phù hợp với ý đồ nghiên cứu của luận án, loại bỏ các thông tin ko phù hợp; sắp xếp phân tích các dữ liệu có được theo yêu cầu, tiêu chí của Bảng câu hỏi một cách khoa học, chính xác, khách quan nhằm cung cấp những cơ sở để xem xét đánh giá khả năng tham gia vào hoạt động SXKD của các TCPCP; đánh giá mối tương qua giữa Luật Doanh nghiệp
2014 và xu hướng chuyển đỏi từ TCPCP thành DNXH, đánh giá về vai trò của Nhà nước nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi, các ý kiến/kiền nghị/đề xuất của chuyên gia
về các chính sách để hồ trợ quá trình chuyển đổi Kết quả phương pháp chuyên gia chủ yếu được trình bày trong Chương 4 của luận án Bảng kết quả phòng vấn chuyên gia được trình bày tại Bảng 2 Phụ lục 3 của Luận án
5.3.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Nghiên cứu điển hình hay điển cứu tức nghiên cứu dựa trên những trường hợp đặc trưng về TCPCP tham gia hoạt động kinh doanh hoặc vận hành như một DNXH để đánh giá mối liên hệ giữa thực tiễn và cơ sở lý luận trình bày trong luận án
Một số điển hình được đưa vào nghiên cứu bao gồm:
+ Tại Anh: Tổ chức “Centre for Better Health”, Tổ chức “London Early
Years Foundation (LEYF)”; Tổ chức “The Salvation Army”
+ Tại Trung Quốc: Tổ chức “Mental Care Connect (MCC)”; Hiệp hội Phúc
lợi Hetong; Hiệp hội vì sự an toàn của công dân (SCHSA)
+ Tại Campuchia: Tổ chức “Artisans d‟Angkor”; Tổ chức “Food4Good”; Tổ
chức “Enfants du Mekong (EDM)”; Tổ chức “SGFE”; Tổ chức “Phare Ponleu Selpak (PPS)”
Trang 28+ Tại một số quốc gia khác: Tổ chức “Les Centres pour le Developpement et
la Sante (CDS)” tại Haiti; Tổ chức “Sarvodaya Shramadana Movement” tại Tại Sri Lanka …
+ Tại Việt Nam: Tổ chức “Marie Stops”, Tổ chức «Mekong Plus »…
5.3.4 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
Phương pháp này đòi hỏi sắp xếp tài liệu một cách logic và khoa học về TCPCP, DNXH theo chủ đề, từng đơn vị kiến thức có cùng một dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển như khái niệm, đặc điểm, vai trò, phương thức huy động vốn…Phương pháp này được áp dụng nhiều trong Chương 1 và Chương 2 Phân loại giúp nhận thấy quy luật phát triển của TCPCP và DNXH qua các giai đoạn, giúp nhận biết và phát hiện quy luật vận động (TCPCP tham gia SXKD) để dự đoán xu hướng tiếp theo của TCPCP (xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH)
Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết là phương pháp sắp xếp những thông tin
đa dạng thu thập được từ các nguồn, các tài liệu khác nhau thành một hệ thống với một kết cấu chặt chẽ để từ đó xây dựng một lý thuyết mới về chuyển đổi TCPCP thành DNXH hoàn chỉnh, giúp luận cứ được đầy đủ và sâu sắc hơn
5.3.5 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp kết hợp lý luận với thực tế chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu phát triển bền vững, đem lý luận phân tích thực tế, từ phân tích thực tế lại rút ra lý luận cao hơn về quy luật phát triển và vận động của quá trình chuyển đổi này
Phương pháp này nhằm phân tích quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH tại một số quốc gia trên thế giới (Anh, Trung Quốc, Campuchia…) để rút ra những kinh nghiệm có giá trị về lý luận và thực tiễn tại Việt Nam
5.3.6 Phương pháp SWOT
Phương pháp SWOT nhằm phân tích “Điểm mạnh” và “Điểm yếu”, “Cơ hội”
và “Thách thức” của đối tượng nghiên cứu được sử dụng trong một số Chương của Luận án nhằm làm rõ “Điểm mạnh” và “Điểm yếu” của TCPCP so với DNXH (Chương 2), “Cơ hội” và “Thách thức” để có thể chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH tại Việt Nam (Chương 4)
Trang 296 Khung phân tích
Hình 1.2 Khung phân tích của luận án
(1) Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc chuyển đổi TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững, tác giả đã phân tích TCPCP và tính bền vững của TCPCP cũng như DNXH và tính bền vững của DNXH Phân tích bối cảnh và thách thức đối với tính bền vững của TCPCP, tác giả đã đưa ra luận chứng về việc DNXH có thể là một lựa chọn phù hợp cho các TCPCP chuyển đổi
(2) Tuy nhiên, lý luận chuyển đổi đòi hỏi một số yêu cầu, điều kiện cần được đáp ứng cho quá trình tái cấu trúc từ TCPCP thành DNXH Ngoài ra, việc chuyển
Trang 30đổi này còn chịu nhiều sự tác động của các nhân tố bên trong thuộc về nội tại tổ chức và nhân tố bên ngoài thuộc về môi trường vĩ mô
(3) Trên cơ sở lý luận được phân tích tại (1) & (2) nêu trên, tác giả nghiên cứu bối cảnh và xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH trên thế giới xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm nguồn vốn bền vững
(4) Dựa trên các tiêu chí lựa chọn quốc gia tham chiếu, tác giả đã lựa chọn
ba quốc gia (Anh, Trung Quốc, Campuchia) để đánh giá xu hướng chuyển đổi này cũng như các chính sách trực tiếp và gián tiếp nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH
(5) Cũng trên cơ sở lý luận được phân tích tại (1) & (2) nêu trên, tác giả nghiên cứu về bối cảnh và xu hướng, cơ hội và thách thức chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững tại Việt Nam
(6) Phân tích bối cảnh Việt Nam tại (5) và những bài học kinh nghiệm hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH vì mục tiêu bền vững tại (4), tác giả
đã đề xuất, khuyến nghị một số chích sách tài chính và chính sách phi tài chính nhằm hỗ trợ, thúc đẩy quá trình chuyển đổi này tại Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Bên cạnh phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được kết cấu thành bốn chương dưới đây:
Chương 1 – Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 – Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi từ Tổ chức phi chính phủ thành Doanh nghiệp xã hội vì mục tiêu bền vững
Chương 3 – Kinh nghiệm quốc tế về chuyển đổi từ Tổ chức phi chính phủ thành Doanh nghiệp xã hội vì mục tiêu bền vững
Chương 4 – Hàm ý chính sách chuyển đổi từ Tổ chức phi chính phủ thành Doanh nghiệp xã hội vì mục tiêu bền vững tại Việt Nam
Trang 31CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài
Tại Việt Nam và trên thế giới, hoạt động của các TCPCP và DNXH được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu do ý nghĩa và vai trò của các tổ chức xã hội này ngày càng quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
Các nghiên cứu này được thể hiện dưới dạng đề tài khoa học, luận án, bài báo nghiên cứu, sách tham khảo, báo cáo tham luận trong các hội nghị, hội thảo… Tính đến năm 2018 đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố có liên quan đến hoạt động của các TCPCP, DNXH, TCPCP chuyển đổi thành DNXH, trong đó các công trình nghiên cứu được phân chia thành ba nhóm chính sau đây:
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến tổ chức phi chính phủ và tính bền vững của tổ chức phi chính phủ
Các nghiên cứu về TCPCP trên thế giới chủ yếu tập trung phân tích khái niệm, tính chất, nguồn vốn, vai trò, các giai đoạn phát triển của các TCPCP trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại các quốc gia Theo Báo cáo các TCPCP hoạt động xã hội năm 1999 [27], sự bùng nổ phát triển của các TCPCP trong những năm của thập kỷ 90 đã tạo ra một hiện tượng mang tính toàn cầu Có mặt trên mọi quốc gia, các TCPCP đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống xã hội Báo cáo đặc biệt nêu lên vai trò quan trọng của các TCPCP tại Việt Nam đối với các sứ mệnh xóa đói, giảm nghèo, y tế cộng đồng, bảo vệ phụ nữ và trẻ em…Họ đã và đang góp một phần không nhỏ hỗ trợ Chính phủ Việt Nam giải quyết các vấn nạn xã hội
Cũng nghiên cứu về nguồn vốn viện trợ phi chính phủ, Trung tâm nghiên cứu và đào tạo TCPCPQT (International NGO Training and Research Centre- INTRAC) đã phát hành cuốn sách “Official Agency Funding of NGOs in Seven
Countries: Mechanisms, Trends and Implications” vào năm 2006 [56] Nghiên cứu
này tập trung vào các chính sách tài trợ của Chính phủ các nước châu Âu liên quan đến xã hội dân sự và các TCPCP tại 7 quốc gia: Đan Mạch, Phần Lan, Ailen, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Vương quốc Anh Nghiên cứu cho thấy, cơ chế cấp phát
Trang 32nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho các TCPCP trong nước thông qua các cơ quan chính thức của các nước liên minh Châu Âu đang liên tục thay đổi theo hướng “tài trợ cần câu thay vì tài trợ con cá” Những thay đổi này mang lại những tác động không nhỏ đối với các TCPCP, không chỉ về tài chính mà còn về cách thức hoạt động của họ Bài nghiên cứu này phân tích các cơ chế mà các cơ quan Chính phủ của các quốc gia ở Châu Âu phân phối nguồn vốn ODA cho các TCPCP trong nước, sự phát triển và thay đổi của nguồn tài trợ chính thức cho các TCPCP, những ảnh hưởng của sự thay đổi cơ chế tài trợ đến các TCPCP và xã hội dân sự Tuy nhiên, tài liệu này chỉ nghiên cứu trong phạm vi một số quốc gia phát triển và chưa xem xét trên quy mô toàn cầu, đặc biệt tại các nước đang phát triển
Mặc dù không thể phủ nhận vai trò của các TCPCP nhưng những thách thức
mà các TCPCP đang đối mặt, đặc biệt vấn đề nguồn vốn đã được tác giả Ali Akbar Bromideh nghiên cứu trong cuốn sách “The widespread challenges of NGOs in developing countries: Case studies from Iran” phát hành năm 2011 [34] Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn khái quát về các khó khăn và thách thức chủ yếu trong quản lý hoạt động của TCPCP Tác giả đã thu thập dữ liệu qua các cuộc phỏng vấn với thành viên của các TCPCP tại Iran – một quốc gia đang phát triển Qua phân tích và tổng hợp những dữ liệu thu được, nghiên cứu cho thấy các TCPCP đang gặp những thách thức cả bên trong lẫn bên ngoài tổ chức Nguồn nhân lực, tài chính, hệ thống tổ chức là những vấn đề đầy thách thức trong nội bộ các TCPCP Trong khi đó, sự tương tác giữa các TCPCP, giữa TCPCP với khu vực tư nhân và Chính phủ; khủng hoảng tài chính đang là những vấn đề thách thức từ bên ngoài đối với các TCPCP Theo tác giả, các hoạt động của các TCPCP dường như phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn viện trợ và định hướng của các nhà tài trợ Một số TCPCP phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăng từ khu vực tư nhân và các quốc gia thành viên nhất định Do đó, hoạt động của TCPCP ở các nước đang phát triển nói chung và tại Iran nói riêng dường như đang đối mặt với thách thức về tính bền vững Tài liệu nghiên cứu được kết cấu gồm 3 phần chính: (i) TCPCP tại các nước đang phát triển và những thách thức họ đang đối mặt; (ii) Phương pháp nghiên cứu
Trang 33và các phát hiện; (iii) Kết luận Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập đến nguồn vốn thay thế, bổ sung nguồn vốn viện trợ khan hiếm của các TCPCP tại các nước đang phát triển trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu
Nghiên cứu về TCPCP tại Việt Nam nói riêng và xã hội dân sự ở Việt Nam nói chung, Cơ quan đại diện thường trú của ADB ở Việt Nam (ADB) đã phát hành
“Báo cáo tóm tắt về xã hội dân sự ở Việt Nam” trong năm 2011 [16] Trong phần cơ
sở lý luận, Báo cáo cho biết, tại Việt Nam hiện có bốn loại tổ chức xã hội dân sự bao gồm: (i) tổ chức cộng đồng (HTX, các tổ nhóm hợp tác nông thôn…); (ii) tổ chức quần chúng (Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên…); (iii) các hội nghề nghiệp (hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội nhà báo…); (iv) các TCPCP Việt Nam (các
tổ chức phi lợi nhuận cam kết cho sự phát triển chung của quốc gia, với trọng tâm cung cấp dịch vụ và hoạt động tình nguyện trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, cứu trợ nhân đạo, bảo vệ môi trường …) Báo cáo nghiên cứu tập trung một số nội dung gồm: (i) Bối cảnh quốc gia và Chính phủ Việt Nam; (ii) Tổng quan về xã hội dân sự; (iii) Quan hệ Chính phủ - Xã hội dân sự; (iv) Các khuôn khổ pháp lý đối với xã hội dân sự; (v) Các cơ quan điều phối và đầu mối; (vi) Các nguyên tắc, nhiệm vụ và tiêu chuẩn TCPCP; (vii) Ngân sách của các tổ chức xã hội dân sự Mục đích của ADB trong Báo cáo này là nghiên cứu xã hội dân sự ở Việt Nam, đặc biệt tập trung vào các TCPCP Việt Nam được ADB công nhận là đối tác phát triển ADB ghi nhận những nỗ lực của các TCPCP tại Việt Nam do những đóng góp to lớn của họ trong những năm qua nhằm bổ sung nguồn lực cho khu vực Chính phủ và khu vực
tư nhân Có thể nói, các TCPCP đã đóng một vai trò quan trọng cho mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam Một số nội dung quan trọng của Báo cáo nghiên cứu đã được tham khảo trong luận án bao gồm: (i) bối cảnh quốc gia và Chính phủ Việt Nam; (ii) về vai trò của các tổ chức xã hội dân sự, trong đó phân tích chuyên sâu vai trò của TCPCP; (iii) ngân sách của tổ chức xã hội dân sự và mối quan hệ hợp tác của Chính phủ với tổ chức xã hội dân sự để cùng giải quyết các vấn đề về xã hội môi trường ở Việt Nam (iv) Những nhận định ban đầu về sự suy giảm nguồn vốn viện trợ phi Chính phủ tại Việt Nam (khi Việt Nam chính thức chuyển sang một
Trang 34nước thu nhập trung bình thấp vào năm 2010) Theo báo cáo, dự kiến rằng sẽ nguồn ngân sách dành cho các TCPCP tại Việt Nam sẽ giảm nhanh trong thời gian tới đây Thực tế này dẫn đến sự rút lui của một số nhà tài trợ và/hoặc sự thay đổi về chiến lược tiếp cận đối với các nhà tài trợ song phương và/hoặc chuyển đổi từ TCPCP sang vai trò tổ chức cung cấp dịch vụ Báo cáo cũng đã chỉ ra xu hướng mới, theo
đó các TCPCP ngày càng đổi mới sáng tạo, tiếp cận cơ chế viện trợ mới, bao gồm việc hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân, hoạt động như một doanh nghiệp, cung cấp dịch vụ, hàng hóa ra thị trường nhằm duy trì nguồn vốn bền vững cho tổ chức
Nghiên cứu về nguồn vốn viện trợ phi chính phủ quốc tế trong mối quan hệ với mục tiêu hợp tác phát triển, Bill Morton đã viết cuốn sách “An overview of International NGOs in development cooperation” năm 2013 [39] về nguồn viện trợ thông qua các tổ chức xã hội dân sự, cụ thể là các TCPCPQT Theo nghiên cứu, các
tổ chức này là một lực lượng quan trọng trong việc cung cấp viện trợ, liên kết phát triển quốc tế tại các quốc gia đang phát triển Theo tác giả, các TCPCPQT đang đóng vai trò quan trọng và là một nhân tố ngày càng ảnh hưởng đến chính sách quản lý nguồn viện trợ của mỗi quốc gia Với mong muốn đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về các TCPCPQT, sách nghiên cứu được chia làm 4 phần chính: (i) Sự khác biệt giữa các TCPCPQT và các tổ chức xã hội dân sự; (ii) Vai trò của các TCPCPQT trong vấn đề hợp tác phát triển quốc tế; (iii) Các đặc điểm chính của TCPCPQT; (iv) Mối quan hệ giữa các TCPCPQT với các nhà tài trợ; (5) Mối quan hệ giữa các TCPCPQT và Chính phủ các nước nhận viện trợ, các tổ chức xã hội dân sự Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn trong phạm vi các TCPCPQT (các TCPCP hoạt động tại các quốc gia khác quốc gia mà TCPCP được thành lập về mặt pháp lý) Tác giả chưa nghiên cứu đến hoạt động và vai trò của các TCPCP nói chung, đặc biệt các TCPCP địa phương (các TCPCP hoạt động tại chính quốc gia mà TCPCP được thành lập về mặt pháp lý)
Nghiên cứu về tính bền vững của TCPCP, tác giả John Hailey, năm 2014 đã viết một bài báo nghiên cứu với tiêu đề “The sustainable NGO: Why resourcing matters” Theo tác giả, một TCPCP bền vững là một TCPCP có thể tiếp tục thực hiện
Trang 35sứ mệnh của mình theo thời gian và đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan, đặc biệt là
những đối tượng hưởng lợi Tính bền vững được hiểu như là một quá trình hoạt động
liên tục của TCPCP Đó là một quá trình liên quan đến sự tương tác giữa các yếu tố chiến lược, tổ chức, lập trình, sứ mệnh xã hội và nguồn tài chính Tuy nhiên, theo tác giả, tính bền vững tài chính rất quan trọng cho sự tồn tại lâu dài và hiệu quả của tất cả các TCPCP và các tổ chức xã hội dân sự Thách thức đặt ra là làm thế nào để đạt được sự bền vững về tài chính Theo tác giả, các TCPCP chỉ có thể đạt được tính bền vững nếu có thể tiếp cận được nhiều nguồn vốn khác nhau, đặc biệt là khả năng tự tạo
ra nguồn vốn thay vì thụ động trông chờ vào nguồn vốn viện trợ Nói cách khác, tính bền vững tài chính của một TCPCP phụ thuộc vào khả năng đa dạng hóa thu nhập và tiếp cận các nguồn vốn mới Một số tác giả khác như Durst,S.L., and Newell, C [45] cũng cùng quan điểm khi đánh giá về tính bền vững của TCPCP Nghiên cứu về quản trị TCPCP, tác giả đã đưa ra các quan điểm, lập luận về sự cần thiết đổi mới trong quản lý các TCPCP vì mục tiêu bền vững, theo đó nguồn vốn bền vững là tiền đề của
sứ mệnh xã hội bền vững Tác giả cũng cho rằng sự đổi mới trong quản trị TCPCP phải bắt đầu từ sự thay đổi về tư duy quản trị, khuyến khích thương mại hóa dịch vụ
và đổi mới sáng tạo nhằm tạo ra nguồn vốn bền vững
Các phương pháp nghiên cứu chính được áp dụng trong nhóm các nghiên cứu về TCPCP và tính bền vững của TCPCP nêu trên bao gồm: Phương pháp phân tích, so sánh; Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết; Phương pháp nghiên cứu lịch sử; Phương pháp quan sát; Phương pháp nghiên cứu điển hình; Phương pháp điều tra xã hội học; Phương pháp chuyên gia …
Luận án đã kế thừa những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về TCPCP, đặc biệt các nghiên cứu về các thách thức về nguồn vốn của TCPCP trong mối quan hệ với sứ mệnh xã hội bền vững của TCPCP trong bối cảnh hiện nay
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến doanh nghiệp xã hội và tính bền vững của doanh nghiệp xã hội
Nghiên cứu về DNXH dường như là chủ đề “nóng” của nhiều quốc gia trên thế giới Có thể nói, DNXH là một lĩnh vực mới, nơi “giải phóng” niềm đam mê và
Trang 36sáng tạo của các doanh nhân, cho phép các doanh nhân xã hội sử dụng công cụ quản
lý và mô hình kinh doanh năng động để có thể giải quyết những vấn đề khó khăn nhất
của xã hội
Theo tác giả Trexler tại cuốn sách Social Entrepreneurship as an Algorithm -
Is Social Enterprise Sustainable phát hành năm 2008 [76], đo lường hiệu quả xã hội được xem là một trong những khó khăn chính liên quan đến chủ đề đo lường thành công và tính bền vững của DNXH DNXH cố gắng đo lường lợi tức đầu tư về mặt xã hội (SROI) Việc đánh giá thích hợp tác động về mặt xã hội của DNXH là khá khó Việc chuyển nó thành thuật ngữ kinh tế là không dễ dàng Hơn nữa, việc so sánh các loại giá trị xã hội khác nhau do DNXH tạo ra là phức tạp Các vấn đề như tính vô hình, quan hệ nhân quả trực tiếp và không chú ý đến các tác động dài hạn dẫn đến những khó khăn trong việc ra quyết định đúng đắn về đầu tư, phân bổ các nguồn lực hiện có Ngoài ra, một khó khăn nữa là nhân viên của DNXH phải có năng lực trong
cả lĩnh vực kinh doanh và lĩnh vực xã hội Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, các áp lực từ những đối tác khác nhau có thể khiến DNXH thỏa hiệp hoặc là mục tiêu xã hội hoặc là mục tiêu thương mại Trexler cũng có sự hoài nghi về tính bền vững dài hạn của DNXH Tác giả còn so sánh việc chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH để đảm bảo có thể bền vững về tài chính chẳng khác nào bong bóng trên thị trường cổ phiếu và dự đoán tương lai tương tự cho xu hướng mới này do mục tiêu thương mại và mục tiêu xã hội thường không tương thích với nhau
Mặc dù có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về tính bền vững của DNXH nhưng phần lớn các nghiên cứu đều cho rằng, DNXH khi nói đến tính bền vững là phải xem xét trên hai khía cạnh, theo đó khía cạnh đầu tiên là “tính bền vững tài chính” thể hiện sự ổn định nguồn vốn hoạt động theo thời gian, khía cạnh thứ hai liên quan đến “tính bền vững xã hội” hay tác động bền vững của DNXH đối với cộng động và đối tượng hưởng lợi Trên thực tế, mục tiêu lợi nhuận tối đa có thể sẽ “lấn át” hoặc che lấp “sứ mệnh xã hội” của DNXH do hai khía cạnh này (“tính bền vững tài chính” và
“tính bền vững xã hội”) không phải lúc nào cũng dễ dàng song hành và thậm chí có thể đối kháng nhau trong một số trường hợp Do vậy, việc duy trì và củng cố tác động của DNXH cũng là một yếu tố quan trọng cần được xem xét
Trang 37Nghiên cứu về DNXH tại Việt Nam, dưới sự tổ chức và phối hợp của Hội đồng Anh tại Việt Nam, Trung tâm Tia Sáng và Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) triển khai dự án “Báo cáo kết quả khảo sát DNXH tại Việt Nam” năm 2011 [13] Dự án này nhằm thu thập nguồn thông tin đầy đủ và xác thực về các DNXH đang hoạt động tại Việt Nam vào thời điểm 31/12/2010 và thiết lập cơ sở dữ liệu đầu vào cho Danh bạ DNXH Việt Nam 2011 Với độ dày 41 trang, báo cáo khảo sát gồm 3 phần: (i) Tổng quan; (ii) Các phát hiện chính; (iii) Kết luận và kiến nghị Trong phần đầu tiên, tác giả giới thiệu về bối cảnh các DNXH ở Việt Nam, các phương thức tiến hành, mục tiêu cuộc khảo sát, các khái niệm và tiêu chí về DNXH Sau khi đã thực hiện cuộc khảo sát, tác giả tổng hợp các phát hiện chính về DNXH vào phần thứ hai của bài báo cáo Trong hơn 100.000 tổ chức được rà soát, nhóm tác giả xác định trên 500 tổ chức có nhiều đặc điểm trùng với DNXH để đi phỏng vấn trực tiếp Kết quả đã xác định đước 167 tổ chức thực sự là DNXH đang hoạt động tại thời điểm 31/12/2010 Từ đó, nhóm tác giả tổng hợp các đặc điểm về tổng vốn đầu
tư, tổng tài sản, các giá trị kinh tế và giá trị xã hội cũng như các điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thách thức mà các DNXH đang phải đối mặt Theo báo cáo, tại thời điểm năm 2010, một số DNXH tại Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, các DNXH đều hoạt động tự phát, chưa kết nối được với cộng đồng các DNXH trong và ngoài nước Vì vậy, chưa nhận được nhiều sự công nhận và giúp đỡ từ các tổ chức và đơn vị hỗ trợ, cũng như tham khảo được nhiều kinh nghiệm
và bài học của các “thế hệ” đi trước Trong phần cuối của báo cáo, nhóm tác giả đưa
ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hỗ trợ các DNXH khởi nghiệp, thúc đẩy, tăng cường năng lực cho các DNXH Việt Nam Tuy nhiên, số liệu khảo sát về DNXH trong Báo cáo này đã thiếu một loại hình tổ chức mang tính hỗn hợp, đó là các tổ chức ban đầu hoạt động như TCPCP, sau đó chuyển sang SXKD và hoạt động theo
mô hình DNXH Do vậy, báo cáo thiếu nguồn dữ liệu thực tế quan trọng để có thể đánh giá xu hướng chuyển đổi từ TCPCP thành DNXH tại Việt Nam
Năm 2012, Hội đồng Anh tại Việt Nam đã hợp tác Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng
Trang 38(CSIP) đã thực hiện báo cáo nghiên cứu “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - Khái niệm, bối cảnh và chính sách” [14], nhằm hai mục tiêu chính là: (i) thúc đẩy nhận thức của xã hội về DNXH; và (ii) đặt những viên gạch đầu tiên cho một cuộc thảo luận về chính sách phát triển DNXH ở Việt Nam.Với độ dày 70 trang, Báo cáo nghiên cứu được thiết kế với hai phần tương ứng: (i) Phần I “DNXH là gì”; (ii) Phần II “Làm thế
nào để phát triển DNXH tại Việt Nam” Trong Phần I, nhóm tác giả đã nghiên cứu một
cách toàn diện về quá trình hình thành phát triển DNXH trên thế giới và tại Việt Nam; khái niệm, đặc điểm, phân loại DNXH và nêu rõ sự khác biệt giữa DNXH và các tổ chức/ phong trào xã hội khác Đặc biệt, nhóm tác giả đã có những phân tích đánh giá ban đầu về một số tổ chức tại Việt Nam có thể chuyển đổi thành DNXH, trong đó có TCPCP Trong Phần II, nhóm tác giả đã phân tích chuyên sâu về kinh nghiệm phát triển DNXH tại một số quốc gia trên thế giới, bao gồm: Vương Quốc Anh, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore Trên cơ sở kinh nghiệm của các quốc gia và những thách thức, cơ hội phát triển DNXH tại Việt Nam, nhóm tác giả đã đưa ra các khuyến nghị, chính sách nhằm phát triển DNXH ở Việt Nam Tuy nhiên, do Báo cáo được viết năm 2012 - thời điểm Luật Doanh nghiệp 2014 chưa ban hành nên một số kiến nghị trong Báo cáo vào thời điểm hiện tại đã được thực hiện tại Luật Doanh
nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Doanh Nghiệp 2014
Trong bối cảnh các vấn đề xã hội phát sinh tỷ lệ thuận với sự phát triển nóng của nền kinh tế toàn cầu, vai trò và ý nghĩa của DNXH trong các thành phần kinh tế càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết Tuy nhiên, DNXH cũng như các doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận khác, phải đối mặt rất nhiều thách thức để có thể cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, nhằm đem lại lợi nhuận và nguồn vốn bền vững thực hiện các mục tiêu xã hội Thậm chí, DNXH phải đối mặt với những thách thức lớn hơn nhiều khi phải vừa theo đuổi “mục tiêu lợi nhuận” vừa phải đảm bảo cân bằng “mục tiêu xã hội” trong suốt quá trình hoạt động Những thách thức này có thể làm cho DNXH thất bại và không thể theo đuổi con đường kinh doanh và thực hiện sứ mệnh xã hội bền vững Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Henry Ford đã viết cuốn sách “Failure in Social Enterprises” phát
Trang 39hành năm 2013 [55] Mục đích của cuốn sách này là để đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi: Tại sao DNXH thất bại? Tại sao nghiên cứu về sự thất bại của các DNXH sẽ
có ích cho việc phát triển các DNXH hiện nay? Bằng cách xác định các vấn đề mà các DNXH phải đối mặt, nghiên cứu đã xác định những điểm tương đồng trong câu chuyện kinh doanh đằng sau sự thất bại của DNXH Nghiên cứu đã so sánh các tiêu chuẩn định nghĩa sự thất bại của DNXH (thất bại về mục tiêu kinh tế hoặc thất bại về mục tiêu xã hội) với doanh nghiệp thông thường khác (thất bại về mục tiêu kinh tế đơn thuần), từ đó cho thấy sự khác biệt giữa các tổ chức hoạt động phi lợi nhuận và các tổ chức hoạt động vì lợi nhuận Những bài học về sự thất bại của DNXH trong cuốn sách này được tham chiếu trong luận án nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm hạn chế sự thất bại của TCPCP sau khi chuyển đổi thành DNXH
Trong bối cảnh DNXH ở Việt Nam là một thành phần kinh tế mới trong chính sách của Nhà nước và trong cả nhận thức, hiểu biết của người dân, công trình nghiên cứu “Giải pháp để phát triển bền vững DNXH trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020” của tác giả Đặng Thị Hồng Hạnh được thực hiện năm 2014 [17] đã đưa ra các khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển của các DNXH trong thành phố
Hà Nội, cũng như một số đề xuất giải pháp mang tính thực tiễn nhằm mục đích giúp
các DNXH tồn tại và phát triển Nội dung của bài nghiên cứu gồm 3 phần: (i) Một
số vấn đề cơ sở lý luận về DNXH, (ii) Thực trạng DNXH ở Hà Nội hiện nay, (iii) Phương hướng và giải pháp phát triển bền vững loại hình DNXH ở Hà Nội đến năm
2020 Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội và tập trung vào các nhóm đối tượng như: (i) cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến hoạt động của DNXH; (ii) các DNXH hoặc các tổ chức tương ứng và người dân sinh sống/hoạt động trên địa bàn Trong nghiên cứu, thực trạng hoạt động hiện nay của các DNXH sẽ được tìm hiểu thông qua phỏng vấn bảng hỏi với các chủ DNXH Các
tổ chức được lựa chọn cho bảng phỏng vấn có thể (i) các DNXH phi lợi nhuận thường là các TCPCP; (ii) các DNXH không vì lợi nhuận là các DNXH mới hoạt động chủ yếu dưới các hình thức công ty; (iii) DNXH định hướng xã hội, có lợi nhuận thường là các HTX, Quỹ tín dụng…Từ các nguồn dữ liệu sơ cấp trên, cộng
Trang 40thêm các dữ liệu thứ cấp lấy từ các nguồn tài liệu trong và ngoài nước, nghiên cứu đưa ra một hệ thống giải pháp cho cả hai nhóm đối tượng là cơ quan quản lý nhà nước và DNXH Đối với cơ quan quản lý nhà nước, đề tài nghiên cứu đề xuất về cơ chế chính sách hỗ trợ các DNXH phát triển nhằm góp phần trong việc tạo ra các phúc lợi xã hội cho cộng đồng Còn đối với các DNXH, đề tài nghiên cứu chỉ ra các hạn chế, yếu kém trong quá trình hoạt động của DNXH từ đó rút ra các biện pháp khắc phục Tuy nhiên, Đề tài này nghiên cứu trong phạm vi của một thành phố (Hà
Nội) nên chưa đưa ra được bức tranh tổng thể về sự phát triển DNXH tại Việt Nam
Cũng nghiên cứu về DNXH tại Việt Nam, tác giả Lê Thanh Tú (Cục quản lý đăng ký kinh doanh – Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư) [18] đã nghiên cứu công trình
“Kinh nghiệm quốc tế và áp dụng vào Việt Nam trong thành lập, hoạt động và hỗ trợ DNXH” công bố năm 2015 Công trình nghiên cứu được chia làm 3 phần: (i) Phần I “Khái niệm về DNXH”; (ii) Phần II “Kinh nghiệm quốc tế về DNXH”; (iii) Phần III “Liên hệ với Việt Nam và một số đề xuất” Nghiên cứu được thực hiện vào thời điểm khi Luật Doanh Nghiệp 2014 đã ban hành và áp dụng chính thức từ ngày 1/7/2015 Tuy nhiên, do khái niệm của Việt Nam về DNXH và một số quyền, nghĩa
vụ cơ bản liên quan mới chỉ được quy định một cách khái quát và mang tính nguyên tắc tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 nên không khỏi phát sinh các hạn chế liên quan đến quá trình tổ chức, thành lập và hoạt động của DNXH Tác giả đã đánh giá 3 hạn chế bao gồm: (i) Sự nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của DNXH chưa được đầy đủ và toàn diện; (ii) Khung pháp lý điều chỉnh về thành lập, hoạt động và các chính sách hỗ trợ phát triển cho DNXH chưa có và bước đầu đang được xây dựng; (iii) Quá trình thành lập và hoạt động của DNXH tại Việt Nam đã diễn ra
từ nhiều năm trước và nay cần có sự phối hợp, đồng bộ của các cơ quan quản lý nhà nước để quản lý và phát triển loại hình này cả về chất và lượng Do vậy, tác giả đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tại một số quốc gia có khung pháp lý hoàn thiện về DNXH hoặc có nhiều chính sách hỗ trợ DNXH (Vương Quốc Anh, Italy, Phần Lan, Hàn Quốc, Singapore) Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị về chính sách nhằm hoàn thiện, phát triển DNXH tại Việt Nam Nghiên cứu