1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN án TIẾN sĩ) giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên việt nam hiện nay (qua thực tế các trường cao đẳng, đại học ở hà nội)

179 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Đạo Đức Trong Việc Xây Dựng Lối Sống Cho Sinh Viên Việt Nam Hiện Nay (Qua Thực Tế Các Trường Cao Đẳng, Đại Học Ở Hà Nội)
Tác giả Tạ Thị Thanh Hà
Người hướng dẫn PGS, TS Nguyễn Thế Kiệt, TS Ngô Thị Thu Ngà
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành CNDVBC&DVLS
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,tạo cho thế và lực của nước ta ngày càng lớn mạnh, nâng ca

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TẠ THỊ THANH HÀ

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY (QUA THỰC TẾ CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Hà Nội - Năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TẠ THỊ THANH HÀ

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY (QUA THỰC TẾ CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng

Tác giả luận án

Tạ Thị Thanh Hà

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp mới của luận án 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 4

7 Bố cục của luận án 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về đạo đức, giáo dục đạo đức, lối sống, lối sống sinh viên 5

1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về đạo đức 5

1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về giáo dục đạo đức 10

1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về lối sống, lối sống sinh viên 13

1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng xây dựng lối sống, giáo dục đạo đức trong xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam và sinh viên Hà Nội 16 1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến quan điểm và giải pháp giáo dục đạo đức trong xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam và sinh viên Hà Nội 19

1.4 Khái quát kết quả các công trình liên quan và những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu 24

1.4.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề tài 24

1.4.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu 25

Tiểu kết chương 1 26

Trang 5

Chương 2 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG LỐI SỐNGCHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 272.1 Lối sống và nội dung của việc xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay hiện nay 27

2.1.1 Khái niệm lối sống, tính quy luật của sự hình thành và phát triển lối sống 27 2.1.2 Sinh viên và xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam 35 2.1.3 Nội dung lối sống cần xây dựng cho sinh viên Việt Nam hiện nay 40

2.2 Giáo dục đạo đức cho sinh viên và vai trò của nó trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay 47

2.2.1 Đạo đức, giáo dục đạo đức cho sinh viên 47

2.2.2 Các yếu tố biểu hiện bản chất giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay 51

2.2.3 Vai trò của giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay 65

Tiểu kết chương 2 71Chương 3 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG LỐI SỐNGCHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN (QUA THỰC TẾ CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI) 733.1 Đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Hà Nội ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên và đặc điểm sinh viên Hà Nội 733.2.Thựctrạng giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay (qua thực tế các trường cao đẳng, đại học Hà Nội) 77

3.2.1 Thành tựu và hạn chế của chủ thể trong hoạt động giáo dục đạo đức nhằm xây dựng lối sống cho sinh viên 77 3.2.2 Thành tựu và hạn chế trong việc đổi mới phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức nhằm xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay 100 3.2.3 Thành tựu và hạn chế của bản thân sinh viên Việt Nam trong việc tự giáo dục đạo đức nhằm xây dựng lối sống 106 3.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 112 3.3.1 Nguyên nhân của những thành tựu 112

Trang 6

3.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế 118

Tiểu kết chương 3 122Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾUNHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆCXÂY DỰNG LỐI SỐNG CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 1244.1 Những quan điểm nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay 124

4.1.1 Giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên gắn liền với việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, người trí thức mới 124 4.1.2 Giáo dục đạo đức nhằm xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay bảo đảm thống nhất giữa truyền thống và hiện đại, kế thừa và đổi mới 127 4.1.3 Giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên phải đặt trong mối quan hệ với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo 130

4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay 131

4.2.1 Nâng cao vai trò và trách nhiệm của các chủ thể trong giáo dục đạo đức nhằm xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay 131 4.2.2 Tạo môi trường xã hội, trực tiếp là xây dựng môi trường học đường lành mạnh, để tác động tích cực đến việc giáo dục đạo đức trong xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay 138 4.2.3 Chủ động từng bước chuẩn hóa nội dung các chuẩn mực đạo đức và đa dạng hóa các phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức nhằm xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay 146 4.2.4 Nâng cao tính tự giác học tập, rèn luyện đạo đức, lối sống trong xây dựng lối sống của sinh viên Việt Nam hiện nay 151

Tiểu kết chương 4 156KẾT LUẬN 158DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNHKHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 160DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

SVVN là lực lượng quan trọng trong việckế tục, phát huy nguồn trí tuệ nước nhà, họ sẽ là lực lượng tiên phong trong thời đại kinh tế tri thức và khoa học công nghệ Sinh viên hôm nay, được sống trong thời bình ở một chế độ xã hội ưu việt, được giáo dục, rèn luyện tốt, họ trưởng thành và trở thành lực lượng kế cận, xứng đáng cho các giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước

Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong tất

cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,tạo cho thế và lực của nước ta ngày càng lớn mạnh, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đời sống của người dân được cải thiện đáng kể.Tuy nhiên, trước những tác động mặt trái của nền KTTT, cơ chế mở cửa và hội nhập, cùng nhiều nguyên nhân khác, đã làm xuất hiện sự lệch lạc về lối sống, đạo đức xã hội xuống cấp, tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống ngày càng nghiêm trọng ở nhiều đối tượng, trong đó có một bộ phận không nhỏ sinh viên – những chủ nhân tương lai của đất nước Tình trạng sinh viên sống thiếu lý tưởng, thiếu ý thức rèn luyện, sống thực dụng, ích kỷ, đua đòi, không có trách trách nhiệm với xã hội, thậm chí thiếu trách nhiệm với chính bản thân… có chiều hướng gia tăng, trở thành nỗi lo chung của gia đình, nhà trường và toàn xã hội

Bên cạnh đó, đại đa số sinh viên tuổi đời còn trẻ, thiếu kinh nghiệm sống, rất nhạy cảm, dễ bị cuốn hút bởi cái khác lạ, dễ rơi vào cạm bẫy của cái xấu, cái phản giá trị từ những tác động bên ngoài Sinh viên chưa có đủ bản lĩnh để phân biệt giữa cái tốt và cái xấu, cũng như đấu tranh chống lại cái xấu Để giúp sinh viên có bản lĩnh vững vàng, giúp họ có “sức đề kháng” trước những tác động tiêu cực của nền KTTT và xu thế mở cửa, hội nhập hiện nay, ngày càng trưởng thành, vững vàng hơn trong cuộc sống, để xứng đáng trở thành những trí thức tương lai của đất nước, chúng ta cần tăng cườngGDĐĐ trong việc XDLS cho họ Bởi GDĐĐ trong việc XDLS cho sinh viên là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng, là nền móng, tạo cơ sở xuất phát và định hướng để góp phần xây dựng và phát triển lối sống cho SVVN hiện nay; ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ trí thức và nguồn nhân lực chất lượng cao tương lai của đất nước

Trang 9

Việc GDĐĐ trong việc XDLS cho sinh viên trong những năm qua đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, do những nhân tố khách quan và chủ quan đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến GDĐĐ trong việc XDLS của sinh viên ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực Mặt khác, bản thân công tác GDĐĐ cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải khắc phục cả về nội dung và hình thức giáo dục để không ngừng nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong việc XDLS cho sinh viên Đây là vấn đề vừa cơ bản, vừa có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực tương lai cho sự nghiệp cách mạng nước nhà

Vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay và làm thế nào phát huy được tính tự giác học tập và rèn luyện đạo đức, lối sống của chính bản thân sinh viên, làm thế nào

để sinh viên có đủ “đức”, “đủ tài” đứng vững được trước những tác động của mặt trái KTTT, hội nhập quốc tế, cũng như sự chống phá của các thế lực thù địch

Hà Nội là một trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa, xã hội và là cái nôi lớn đào tạo đội ngũ trí thức tương lai của cả nước, sinh viên ở Hà Nội vừa có những đặc điểm chung của SVVN, vừa có những nét đặc thù Có rất nhiều những thuận lợi và thách thức đặt ra trong công tác GDĐĐ trong việc XDLS cho sinh viên ở đây Từ đó, đặt ra yêu cầu trong công tác lý luận, những nội dung cơ bản cần tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, nhằm mang đến cái nhìn đầy đủ hơn, sâu sắc hơn cho các cấp lãnh đạo, các bộ ngành có liên quan, các tổ chức chính trị - xã hội, các nhà trường, gia đình và chính bản thân mỗi sinh viên về tầm quan trọng của công tác này, để từ đó có chiến lược, hành động cụ thể, thiết thực tạo ra những chuyển biến tích cực hơn trong học tập và rèn luyện đạo đức cho SVVN hiện nay Việc nghiên cứu GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN, qua thực tế các trường CĐ,

ĐH ở Hà Nội sẽ cho chúng ta cơ sở nền tảng để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

Xuất phát từ những lý do nêu trên, NCS đã lựa chọn đề tài “Giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay (qua thực tế các trường CĐ, ĐH ở Hà Nội”làm đề tài luận án tiến sĩ của mình

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Trên cơ sở phân tích vai trò, nội dung, thực trạng GDĐĐ trong XDLS cho SVVN hiện nay (qua thực tế các trường CĐ, ĐH ở Hà Nội), luận án đề xuấtquan điểmvà giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quảGDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

2.1 Nhiệm vụ

Để đạt mục đích trên, luận án phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

- Làm rõ khái niệm lối sống, lối sống sinh viên và nội dung của việc XDLS cho SVVN

- Phân tích vai trò, nội dung, phương thứcGDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

-Phân tích thực trạng GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay (qua thực tế các trường CĐ, ĐH ở Hà Nội)

-Nêu quan điểm và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

XDLS cho sinh viên có nhiều nội dung và khía cạnh khác nhau Trong đó, GDĐĐ là một phương thức quan trọng nhất, chủ lực nhất để XDLS cho sinh viên Trong khuôn khổ đề tài này, luận án chỉ tập trung nghiên cứu vai trò củaGDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

3.2 Phạm vi khảo sát

- Trong khuôn khổ luận án này, NCS chỉ khảo sátGDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN ở một số trường CĐ, ĐH ở Hà Nội hiện nay

-Thời gian khảo sát chủ yếu từ năm 2008 trở lại đây

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Trang 11

Luận án được thực hiện trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về giáo dục, giữ gìn và phát

huy các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc trong lối sống Đồng thời,

luận án tham khảo, sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả đã được công bố có

liên quan trực tiếp đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp phương pháp lôgic

và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, cấu trúc hệ thống

- Sử dụng phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu từ các

nguồn, bao gồm các tài liệu có liên quan của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành ở

trung ương và trường CĐ, ĐH các dự án, các công trình, đề tài nghiên cứu khoa

họccó liên quan

5 Đóng góp mới của luận án

Nghiên cứu về đạo đức, về lối sống, mối quan hệ giữa đạo đức và lối sống,

cụ thể làm rõ vai trò của GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay,phân tích

thực trạng GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN qua thực tế các trường CĐ, ĐH ở

Hà Nội Đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ

trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ và hệ thống hóa về mặt lý

luận vấn đề GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án không chỉ là tài liệu tham

khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các trường CĐ, ĐH, học

viện, mà còn là tài liệu tham khảo bổ ích trong lãnh đạo, chỉ đạo, các cơ quan tham

mưu trong công tác sinh viên hiện nay

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố

liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 11 tiết:

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng về vấn đề GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN, tác giả tìm hiểu các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước và thế giới có đề cập về lối sống, đạo đức, GDĐĐ, lối sống sinh viên

và XDLS cho sinh viên

Vấn đề GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở những góc độ, cách tiếp cận khác nhau, căn cứ vào nội dung và logic triển khai trong luận án, tác giả khái quát tổng quan tài liệu

liên quan đến đề tài theo các lát cắt sau:

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về đạo đức, giáo dục đạo đức, lối sống, lối sống sinh viên

1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về đạo đức

Quán triệt sâu sắc quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin, A.Siskin

(1961) trong tác phẩm “Nguyên lý đạo đức cộng sản”[135]đã khẳng định đạo đức

là một hình thái ý thức xã hội và chỉ ra nguồn gốc của đạo đức: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nói đến đạo đức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao dịch với nhau hàng ngày” [131, tr.4] Cũng trong tác phẩm này, A.Siskin cho rằng: “Thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở khoa học của đạo đức cộng sản” [135, tr.66]

G.Bandzeladze (1985) trong cuốn sách “Đạo đức học” tập 1[12], đã làm rõ

nhiều hiện tượng đạo đức và vai trò của đạo đức Học giả này khẳng định, đạo đức

có nguồn gốc từ việc con người quan hệ với người khác cũng như quan hệ với chính mình, bên cạnh đó, ông cũng đi sâu phân tích mối quan hệ giữa đạo đức với tính cách của con người Con người sở dĩ là người bởi nhờ có đạo đức, G.Bandzeladze viết: “Đạo đức là phẩm giá cơ bản của con người, là bản chất của tính người, của nhân phẩm” [12, tr 197] Tác giả chỉ ra đặc trưng cơ bản, bản chất nhất của đạo đức là “chí công vô tư”, là “sự quan tâm tự giác của những con người

Trang 13

đến lợi ích của nhau, đến lợi ích của xã hội Khác với hành động bản năng của loài vật, hành vi đạo đức là ở chỗ: sự quan tâm tự giác đến hạnh phúc của những người khác có tính chất tự nguyện” [12, tr 104]

Trong tập 2 cuốn “Đạo đức học”[13], G.Bandzeladze (1985) đã hệ thống

những vấn đề lý luận chung nhất của đạo đức như: trong chương 1 tác giả làm rõ khái niệm đạo đức học là gì; chương 2 làm rõ quá trình phát sinh, phát triển của đạo đức; ở chương 3 chỉ ra mối quan hệ giữa đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác; trong chương 4, tác giả trình bày lý thuyết đạo đức CSCN Trong tác phẩm này, Bandzeladze tiến hành phân tích một số phạm trù cơ bản của đạo đức học như: lương tâm, hạnh phúc, nghĩa vụ, trách nhiệm Trong phần cuối của cuốn sách, tác giả trình bày và phân tích rõ một số nguyên tắc của đạo đức mới là: chủ

nghĩa tập thể, tinh thần quốc tế, lòng yêu nước và tinh thần yêu lao động

A.G.Xpirkin (1989) trong cuốn sách: “Triết học xã hội, tập 2”[170],đã chỉ ra

đạo đức là: “Hệ thống những chuẩn mực xã hội điều chỉnh sự giao tiếp giữa các cá nhân và hành vi con người nhằm bảo đảm sự thống nhất lợi ích của cá nhân và tập thể” [170, tr.84] Như vậy, theo tác giả này, đạo đức chính là “công cụ” để điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với con người, nhằm tránh khỏi những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với xã hội

Cuốn sách: “Thị trường và đạo đức”[122],Tom G.Palmer (2012) đã tập hợp

nhiều bài viết, nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc, Nga, Hoa Kỳ… Xuất phát từ những quan điểm của mình, mỗi tác giả đề cập đến một khía cạnh

khác nhau về thị trường tự do và đạo đức, cũng như sự biến đổi của đạo đức

Các công trình khoa học nêu trên, đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức: từ khái niệm đạo đức, nguồn gốc ra đời, quá trình phát sinh, phát triển của đạo đức, cũng như mối quan hệ giữa đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác Bên cạnh đó, đề cập đến vai trò của đạo đức trong việc điều chỉnh mối quan

hệ giữa con người với con người, con người với xã hội Đây là nguồn tư liệu quý báu, là cơ sở lý luận quan trọng giúp NCS tiếp tục đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về

đạo đức, cũng như vai trò của các giá trị đạo đức trong việc XDLS cho sinh viên

Trang 14

Đạo đức và các phạm trù cơ bản của đạo đức học mác xít là một nội dung được các học giả Việt Nam quan tâm, nghiên cứu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đời sống, để làm sáng tỏ quan niệm của các nhà mác xít về đạo đức Tiêu

biểu như sau:

Tác giả Vũ Khiêu (1993) với bài viết: “Giá trị đạo đức trong xã hội ta ngày nay”[86] đã chỉ rõ giá trị quan trọng nhất của đạo đức trong xã hội ta hiện nay là

lòng trung thành với Tổ quốc: “Giá trị đạo đức của chúng ta phải là sự thống nhất chặt chẽ giữa động cơ và hiệu quả, phải là sản phẩm cao nhất của lòng trung thành

vô hạn với Tổ quốc, với CNXH và của tinh thần quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ,

đó là: Giá trị đạo đức của những hành vi được con người lựa chọn và đánh giá như việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội…Giá trị đạo đức vì thế có

tính chất thiết yếu đối với đời sống xã hội[86, tr.23]

Trong tác phẩm “Các dạng đạo đức xã hội”[75], tác giả Trần Hậu Kiêm

(1993)đã đưa ra và phân tích các dạng đạo đức trong xã hội nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và XHCN Từ đó, ông đi đến kết luận:

“Đạo đức là một hệ thống các chuẩn mực xã hội, quy định, điều chỉnh sự giao tiếp

và hành vi xử sự của con người trong quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất

lợi ích của cá nhân, tập thể và cộng đồng” [77, tr.112]

Trong cuốn sách “Đạo đức học”[78]của Trần Hậu Kiêm và Bùi Công Trang

(1997) chủ biên đã nêu rõ: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội…Đạo đức học Mác – Lênin là khoa học nghiên cứu đạo đức” [78, tr.7] Cũng trong cuốn sách này, các tác giả còn phân tích một

số phạm trù của đạo đức học, đồng thời phân tích một số nguyên tắc của đạo đức học XHCN và đưa ra yêu cầu của đạo đức trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội

Bài viết: “Quan niệm mác xít về thiện và ác” [148] của tác giả Vũ Văn

Thuấn (1997), đã phát triển quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về phạm trù cái thiện, cái ác Tác giả viết: “Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, thiện và ác là khái niệm

Trang 15

đối lập nhau, hoàn toàn thuộc về lĩnh vực đạo đức, do hình thái ý thức xã hội và tồn tại xã hội quyết định Cho nên, muốn tìm hiểu và đánh giá đúng đắn về thiện

và ác, không thể chỉ dừng lại ở chỗ giải thích nội dung của khái niệm, mà phải đi sâu tìm hiểu nguyên nhân đích thực của nó là tồn tại xã hội, nghĩa là ở trong PTSX của xã hội chứ không phải ở bên ngoài xã hội hay ở trong đời sống tinh thần thuần

túy của xã hội” [148, tr.36-39]

Trong cuốn sách “Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay”[25], các tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc (2003) đã nghiên

cứu những tác động của KTTT đến mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có đạo đức Cuốn sách là tập hợp các bài viết trình bày trong hội thảo khoa học tổ chức vào tháng 8/2001 Kết cấu của cuốn sách gồm 3 phần, phần 1 là các bài viết liên quan

đến Những tác động của KTTT đối với đạo đức; các bài viết về Vai trò của đạo đức trong điều kiện KTTT là nội dung của phần 2; trong phần 3 là các bài viết liên quan đến vấn đề Xây dựng đạo đức trong kiều kiện KTTT ở nước ta hiện nay Nhìn

chung, nội dung cơ bản trong cuốn sách này là lý giải những vấn đề đạo đức nảy sinh trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam; đồng thời chỉ rõ vai trò của đạo đức đối với sự phát triển KT-XH của đất nước; từ đó chỉ ra yêu cầu phải xây dựng

đạo đức phù hợp với nền KTTT định hướng XHCN

Trong cuốn “Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin”[99] do Nguyễn Ngọc

Long, Nguyễn Thế Kiệt (2004) (đồng chủ biên) đã coi đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội Hai tác giả chỉ ra đặc trưng cơ bản của đạo đức là ý thức, hành vi tự nguyện của con người đối với con người và với xã hội Đạo đức có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người, thông qua các chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức giúp cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại, phát triển, đảm bảo hài hòa quan

hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội, hướng con người vươn tới Chân - Thiện, Mỹ:

“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [99, tr.8]

Trang 16

Bài viết “V.I.Lênin bàn về đạo đức cách mạng”[98] của Trần Ngọc Linh

(2005), đã tập trung làm rõ quan niệm của V.I.Lênin về đạo đức cách mạng Với những biểu hiện của đạo đức cách mạng mà Lênin đề cập tới như: tinh thần giác ngộ, lòng trung thành cao độ với lý tưởng cách mạng, sự phấn đấu hết mình cho lý tưởng cách mạng, hy sinh lợi ích bản thân, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả tính mạng

vì sự nghiệp cao cả của cách mạng để biến lý tưởng cách mạng thành hiện thực… Tác giả tiếp tục đề cập đến quan niệm của Lênin về xây dựng đạo đức cách mạng, nhưng tác giả lưu ý rằng, “phải làm cho toàn bộ sự nghiệp giáo dục, rèn luyện, học tập trở thành sự nghiệp giáo dục đạo đức cộng sản và toàn bộ sự nghiệp này không tách rời cuộc sống sôi nổi” [98, tr 5-7]

Trong cuốn sách “Mấy vấn đề về đạo đức học mác xít và xây dựng đạo đức trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay”[83] tác giả Nguyễn Thế Kiệt (2012)

đã khẳng định: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, đặc biệt tác giả chỉ ra quy luật vận động và phát triển của đạo đức Trong cuốn sách này, tác giả đã khái quát những vấn đề lý luận của đạo đức học mác xít, đề cập đến đạo đức mới, chỉ ra vai trò và các nguyên tắc cơ bản của đạo đức mới – đạo đức XHCN; bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến vấn đề xây dựng đạo đức mới trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay

Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài và trong nước kể trên, đã mang đến một cái nhìn tương đối đa dạng, toàn diện về đạo đức Các tác giả không chỉ bàn về khái niệm đạo đức, nguồn gốc ra đời và phát triển của đạo đức, mà còn đi sâu nghiên cứu đạo đức trong thời đại mới, chỉ ra các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức chi phối, điều chỉnh hành vi của con người cũng như mối quan hệ giữa con người và con người, con người với xã hội Đặc biệt, các tác giả

đã chỉ ra tác động của KTTT đến các giá trị đạo đức truyền thống, cũng như vấn

đề xây dựng đạo đức trong điều kiện KTTT Đây là nguồn tư liệu vô cùng quý báu đối với NCS trong quá trình thực hiện luận án, NCS có cái nhìn lịch sử về vấn đề đang nghiên cứu, cũng như dễ dàng khái quát sự biến đổi của thang giá trị đạo đức dân tộc trong bối cảnh mới của dân tộc, từ đó thuận lợi hơn khi lựa chọn nội dung

các giá trị đạo đức cần giáo dục cho sinh viên để XDLS cho họ

Trang 17

1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về giáo dục đạo đức

Trong tác phẩm “Giáo dục con người chân chính như thế nào”[169],V.A.Xukhômlinxki (1981) đã trình bày một cách sinh động, hấp dẫn

các phạm trù, nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức Qua những lời khuyên của các nhà giáo dục với trẻ em, thanh thiếu niên và câu chuyện tác giả trao đổi với các nhà giáo dục,A.Xukhômlinxki đã nêu phương pháp hình thành đạo đức cho đối tượng học sinh Theo ông, phải giáo dục cho học sinh biết thế nào là sống đúng, hành động đúng, giúp cho sinh viên có thái độ đúng đối với bản thân và đối với người khác: “Muốn cho lý tưởng đạo đức trở thành hiện thực, cần dạy cho con người biết sống đúng, hành động đúng, có thái độ đúng đối với bản thân và người khác” [169, tr.17]

V.A.Xukhômlinxki coi giáo dục đạo lý làm người như một điều hệ trọng bậc nhất, đối với thế hệ trẻ, từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục

ĐH Điều quan trọng ấy chính là làm cho mỗi con người, từ khi sinh ra đến khi trưởng thành, bước vào đời, trong lý trí và tâm hồn của họ luôn xuất hiện những tình cảm cao đẹp và luôn hướng tới những gì tốt đẹp nhất, giúp cho “khát vọng nhìn thấy vẻ đẹp của con người và của tâm hồn con người, củng cố cái đẹp trong bản thân mình, khinh ghét sự hèn nhát, sự yếu đuối và sự nhu nhược” [169, tr.470] Học giả này cho rằng, chức năng cơ bản nhất của GDĐĐ chính là phát

triển và hoàn thiện nhân cách của con người

Tháng 8 năm 2001, Viện Triết học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và

Nhân văn quốc gia tổ chức hội thảo “Những vấn đề đạo đức trong điều kiện KTTT

ở nước ta hiện nay” các bài viết trong hội thảo được tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (2003) tập hợp trong cuốn “Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”[26] Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm

của đông đảo các nhà khoa học, đã có nhiều bài viết đề cập tới việc GDĐĐ trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trong đó có tác giả khẳng định:

“GDĐĐ trong cơ chế mới của chúng ta không phải là xây dựng đạo đức trong KTTT bất kỳ, mà là KTTT định hướng XHCN, tức là KTTT dưới sự tác động của kiến trúc thượng tầng XHCN Trong xã hội đó, ý thức đạo đức XHCN giữ vai trò

Trang 18

chủ đạo trong đời sống đạo đức Đây là một đặc thù cơ bản của GDĐĐ trong

KTTT ở nước ta hiện nay”[26, tr.278-279]

Trong cuốn “Giáo trình đạo đức học”[134]của Trần Đăng Sinh, Nguyễn

Thị Thọ(2008)đã khẳng định: GDĐĐ là vấn đề được nêu ra từ rất sớm trong lịch

sử và luôn được quan tâm ở mọi thời kỳ lịch sử Bên cạnh đó, hai tác giả này cũng nêu lên tầm quan trọng của việc GDĐĐ, lối sống có lý tưởng, yêu lao động, sống

có trách nhiệm với cộng đồng trong điều kiện đổi mới đất nước ta hiện nay

Hội thảo “GDĐĐ cho học sinh, sinh viên ở nước ta: thực trạng và giải pháp”[76]do Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam tổ chức năm 2008 Phần

lớn các tham luận của các chuyên gia, các nhà tâm lý học, các nhà giáo dục học đều cho rằng: sự suy thoái đạo đức ở một bộ phận học sinh, sinh viên, thanh niên Việt Nam hiện nay, xuất phát từ nguyên nhân do sự buông lỏng trong công tác quản lý giáo dục con cái của các gia đình và do mặt trái của KTTT tác động đến học sinh, sinh viên Từ đó, các nhà khoa học đã đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động GDĐĐ cho học sinh, sinh viên ở nước ta trong điều kiện mới

Bài viết “Đạo đức học sinh – sinh viên ở nước ta: thực trạng và giải pháp giáo dục[2], của tác giả Phạm Kim Anh (2008) đã chỉ ra: đạo đức và GDĐĐ cho

học sinh, sinh viên là vấn đề cấp bách, đáng báo động đối với không chỉ ngành

giáo dục mà đối với toàn xã hội

Tác giả Phạm Thái Bình (2009) với bài viết “Tăng cường công tác GDĐĐ trong các trường Công an nhân dân trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh” [15],

đưa ra yêu cầu phải có sự đổi mới trong nhận thức và từng bước tăng cường công tác GDĐĐ truyền thống dân tộc cho sinh viên, thanh niên, kết hợp hài hòa giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong GDĐĐ cho học viên Công an nhân dân, để

khắc phục thực trạng suy thoái về đạo đức nghiêm trọng, đáng báo động hiện nay

Đề tài khoa học cấp Bộ “Sự lựa chọn các giá trị đạo đức và nhân văn trong định hướng lối sống” [136] (2009), trên cơ sở khảo sát 874 sinh viên, tác giả

Huỳnh Văn Sơn đã đánh giá sự chọn lựa các giá trị đạo đức, nhân văn của hầu hết các sinh viên chưa rõ ràng, một bộ phận không nhỏ sinh viên còn dao động, nghi

Trang 19

ngờ, chưa nhận thức đúng về giá trị của các giá trị đạo đức truyền thống; ở họ còn

có mâu thuẫn giữa nhận thức với thái độ, hành vi Từ thực trạng đó, đề tài đã đưa

ra kiến nghị phải chú trọng giáo dục những giá trị đạo đức và nhân văn, thực hiện GDĐĐ bằng nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi

của đối tượng được giáo dục

Vấn đề GDĐĐ cũng được bàn đến trong cuốn sách“Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên”[1]của tác giả Hoàng Anh (2012)và trong bài báo “GDĐĐ cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay”[17] của Phan Văn Bính

(2012) Trong cuốn sách của mình, tác giả Hoàng Anh đã chỉ ra tầm quan trọng, nội dung và yêu cầu của việc GDĐĐ cho sinh viên sau khi phân tích thực trạng đạo đức SVVN [1] Tác giả Phan Văn Bính thì nêu rõ: để đảm bảo sự phù hợp của ý thức đạo đức với sự phát triển của xã hội trong điều kiện mới; xuất phát từ mục tiêu, định hướng phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta; cũng như do yêu cầu khắc phục những hạn chế trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của sinh viên hiện nay, nên GDĐĐ cho sinh viên trở thành một yêu cầu tất yếu Từ cơ sở đó, Phan Văn Bính cho rằng cần giáo dục cho sinh viên những giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, giáo dục tinh thần yêu nước, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần độc lập tự chủ, văn hóa giao tiếp Theo tác giả, để GDĐĐ một cách hiệu quả cần: thực hiện

thông qua các môn học lý luận chính trị Mác - Lênin, nêu gương “người tốt việc tốt”; thông qua các hoạt động chính trị - xã hội…

Trong cuốn sách “GDĐĐmới cho sinh viên trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay”[9] của Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên), (2013)gồm 3

chương: chương 1 nêu lên tầm quan trọng và nội dung GDĐĐ mới cho sinh viên trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay; chương 2 các tác giả tập trung phân tích thực trạng GDĐĐ mới cho sinh viên; các tác giả đưa ra giải pháp tăng cườngGDĐĐ mới cho sinh viên hiện nay trong chương 3 Có thể nói, trong cuốn sách này, các tác giả đã đưa ra những luận giải khá thuyết phục về các vấn đề liên quan đến GDĐĐ nói

chung và GDĐĐ mới nói riêng trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay

Trong cuốn sách: “GDĐĐ với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [125]của Trần Sỹ Phán (2016), tác giả đã

Trang 20

tập trung làm rõ các khái niệm đạo đức, nhân cách, giáo dục… Sau khi bàn đến khái niệm giáo dục, tác giả lý giải làm rõ thực chất, vai trò, tầm quan trọng của GDĐĐ đối với sự hình thành, phát triển nhân cách của con người nói chung và của SVVN nói riêng trong điều kiện KTTT, hợp tác quốc tế sâu rộng hiện nay Tác giả nêu rõ: “…cần tăng cường hơn nữa công tác GDĐĐ cho sinh viên để hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức, những giá trị nhân cách trong họ,

mà sự phát triển những phẩm chất đạo đức, những giá trị nhân cách là nội dung cơ bản và là mục tiêu trực tiếp của GDĐĐ”[125, tr.39] Bên cạnh đó, tác giả đi sâu phân tích đặc điểm SVVN và một số nội dung đạo đức cần giáo dục cho SVVN hiện nay, cũng như giải pháp nâng cao, phát huy vai trò GDĐĐ đối với sự phát triển nhân cách SVVN

Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích tương đối toàn diện và sâu sắc

về vai trò của GDĐĐ đối với việc hình thành nhân cách, lối sống cho con người nói chung, sinh viên nói riêng Các hình thức, phương pháp GDĐĐ cho sinh viên trong điều kiện KTTT được các nhà khoa học đưa ra, là những tri thức quý báu cho NCS thuận lợi hơn khi lựa chọn định hướng nội dung, cách thức giáo dục phù hợp với

đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên cũng như đáp ứng được yêu cầu của xã hội

1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về lối sống, lối sống sinh viên

Lối sống nói chung và lối sống sinh viên nói riêng là những vấn đề thu hút

sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, tiêu biểu như:

Trong cuốn “Lối sống XHCN”[137]của tập thể tác giả thuộc viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô (cũ) (1982)và tác phẩm trùng tên “Lối sống XHCN”[166], của

X.Visnhiốpxki (1982), tác giả của cuốn sách này đã nêu ra các đặc trưng về chất

và lượng của lối sống, luận giải về đực trưng của lối sống Cơ sở chính trị, kinh tế, quan điểm đạo đức của lối sống XHCN, lối sống và văn hóa tinh thần dưới chế độ XHCN Đồng thời đưa ra phương hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện lối sống XHCN Đây là những tư liệu quý để NCS kế thừa trong việc thực hiện luận án của mình khi bàn về khái niệm lối sống, quan điểm đạo đức về lối sống, cơ sở chính trị, kinh

tế của lối sống

Trang 21

Đề tài nghiên cứu “Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục”[151] do Mạc Văn Trang (1995) làm chủ nhiệm, đã

đưa ra khái niệm lối sống sinh viên và chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong lối sống của sinh viên biểu hiện thông qua quá trình lựa chọn giá trị, qua các hoạt động,

thông qua hành vi trong giao tiếp ứng xử và biểu hiện trong sinh hoạt cá nhân

Đề tài “XDLS và đạo đức mới cho sinh viên Đại học sư phạm phục vụ CNH, HĐH đất nước”[159], do Nguyển Quang Uẩn (1998) làm chủ nhiệm đã trình bày

những biểu hiện của đạo đức và lối sống của sinh viên sư phạm, thông qua điều tra, phân tích thực trạng, công trình đã làm nổi bật những mặt tích cực và tiêu cực trong lối sống của sinh viên sư phạm trong hoạt động học tập, hoạt động đoàn thể, sinh hoạt cá nhân và biểu hiện của lối sống trong cả việc sử dụng thời gian rảnh

rỗi của sinh viên

Cuốn sách “Lối sống XHCN và xu thế TCH”[90] do Thanh Lê (2001) (chủ

biên), tác giả nghiên cứu khái niệm “lối sống” với tư cách là một hình thái ý thức

xã hội, coi lối sống như một “chỉnh thể sinh động cụ thể” Bên cạnh đó, họ chỉ ra lối sống là một đề tài có tính thời sự trong bối cảnh TCH, và trong nghiên cứu cần

chỉ ra được những điểm nổi bật trong “lối sống XHCN”

Cuốn “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội”[165]do

Huỳnh Khái Vinh (2001) (chủ biên) đã chỉ ra lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội là những yếu tố cơ bản trong đời sống của con người, mỗi nền văn hóa, nó gắn với điều kiện kinh tế, chính trị, tư tưởng cũng như mọi mặt trong đời sống vật chất

và tinh thần của cả xã hội Trong đó các tác giả nêu rõ: đạo đức đóng vai trò là lẽ sống, còn lối sống mang biểu trưng văn hóa điển hình và có vai trò định hình văn hóa của con người Một nội dung được đề cập trong cuốn sách này là xu thế biến đổi của đạo đức, lối sống và các chuẩn giá trị xã hội do tác động của TCH và sự nghiệp CNH, HĐH Sau khi phân tích thực trạng đạo đức, lối sống và các chuẩn

giá trị trong điều kiện mới

Cuốn sách “Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay: một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [61], do Nguyễn Ngọc Hà (2001) (chủ biên)

chỉ ra tư duy và lối sống là các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của con

Trang 22

người, và cùng với đó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nền KT-XH nói chung Từ

đó, đề ra yêu cầu phải nghiên cứu để có cái nhìn đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về đặc điểm trong tư duy và lối sống của con người Việt Nam, đồng thời cũng chỉ ra

sự bất cập, những hạn chế của tư duy, lối sống đối với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước trong bối cảnh TCH Nghiên cứu này, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao nhận thức của người dân Việt và cung cấp căn cứ lý luận và thực tiễn đáng kể cho quá trình hoạch định các chính sách phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tác giả Đỗ Huy (2008) trong cuốn sách “Lối sống dân tộc – hiện đại, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”[70], lại nghiên cứu lối sống như là tổng hòa những

dạng hoạt động sống tiêu biểu của con người, nó thống nhất với các điều kiện, hoàn cảnh nhất định Dưới góc độ triết học, tác giả đã nhìn nhận lối sống là sự phản ánh của PTSX, do điều kiện KT-XH quy định, vì thế lối sống mang bản chất

xã hội và phản ánh tồn tại xã hội Đỗ Huy chỉ ra bản chất xã hội của lối sống thể hiện qua mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, nó không chỉ bị quy định bởi PTSX

mà còn chịu sự quy định của tính dân tộc, truyền thống văn hóa và đặc điểm tâm

liên hệ lịch sử

Luận án Tiến sĩ triết học “Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc XDLS mới cho SVVN trong bối cảnh TCH hiện nay”[62]của Nguyễn Thị Thanh

Hà (2013) tác giả nêu ramột số khái niệm về lối sống của một số nhà khoa học, từ

đó, đưa ra một khái niệm tương đối toàn diện về lối sống tương đối toàn diện Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra tầm quan trọng, nội dung của việc XDLS mới cho SVVN hiện nay

Trang 23

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nêu trên chính là sự tổng hợp và luận giải ở nhiều quan điểm, góc độ khác nhau về lối sống, về nội dung và phạm vi của khái niệm lối sống cũng như đã phân tích, đề cập đến các khái niệm gần với lối sống Đây chính là cơ sở lý luận giúp NCS có cơ sở tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề lối sống sinh viên cũng như XDLS cho SVVN nhìn từ góc độ triết học Ngoài ra, sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội cũng như

sự biến đổi đạo đức, lối sống trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; sự kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức dân tộc mà các tác giả tập trung nghiên cứu, đã cung cấp cho NCS nguồn tư liệu quý báu, giúp NCS có cái nhìn đa chiều, biện chứng hơn về lối sống

1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng xây dựng lối sống, giáo dục đạo đức trong xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam và sinh viên Hà Nội

Nghiên cứu về XDLS, GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN, sinh viên ở Hà Nội cũng thu hút sự quan tâm của không ít các nhà khoa học, dưới nhiều phương diện khác nhau Các học giả đã đề cập đến nhiều vấn đề, như:

Các tác giả cuốn sách “Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đất nước” [26], do

Nguyễn Viết Chức (2001) (chủ biên) đề cập đến tầm quan trọng và sự cần thiết của việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà

Nội Tác giả Đỗ Huy (2001) trong cuốn “Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta dưới góc nhìn giá trị học”[71] lại đem đến một cách trình bày khá chi tiết về vấn

đề XDLS dân tộc - hiện đại trong môi trường văn hóa chung của CNXH ở nước ta hiện nay Có thể thấy, các tác giả trong các công trình nghiên cứu kể trên, đã đem đến những nội dung và cái nhìn đa dạng về lối sống, đặc biệt từ góc nhìn văn hóa

Họ cũng đã chỉ ra được tầm quan trọng, sự cần thiết của việc XDLS nói chung, cũng như XDLS XHCN nói riêng, trong điều kiện mới của đất nước

Luận án Tiến sĩ Triết học “Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc XDLS ở Việt Nam hiện nay”[144] của Võ Văn Thắng

(2005) luận giải khoa học việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền

Trang 24

thống dân tộc là tất yếu trong XDLS ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc XDLS của con người Việt Nam, đánh giá thực trạng của việc kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong thời gian qua, từ đó

đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm XDLS ở nước ta

Cuốn sách “XDLS ở Việt Nam hiện nay (từ góc độ văn hoá truyền thống dân tộc)” [145] của tác giả Võ Văn Thắng (2006) tập trung làm rõ những ảnh

hưởng cả tích cực và tiêu cực của nền KTTT đến đời sống xã hội nói chung và đến việc XDLS ở nước ta nói riêng, từ đó tác giả đặt ra vấn đề phải xây dựng, hình thành lối sống mới phù hợp với nhu cầu của quá trình phát triển KT-XH của đất nước nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội

Cũng trong cuốn sách “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”[149], tác giả Phạm Hồng Tung (2011)

đã nêu ra những đặc điểm cơ bản nhất của thanh niên Việt Nam trong thời đại mới

và chỉ ra những vấn đề có liên quan đến quá trình hình thành, hoàn thiện nhân cách

và định hướng lối sống của thanh niên Việt Nam Theo tác giả, vấn đề giáo dục, nhất là giáo dục nghề nghiệp và bảo đảm công việc là hai vấn đề quan trọng và bức xúc nhất hiện nay đối với thanh niên Bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung phân tích thực trạng và xu hướng phát triển của lối sống trong thanh niên, sự ảnh hưởng của lối sống tích cực và lối sống tiêu cực đến thanh niên Việt Nam, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay Tác giả cũng làm sáng tỏ vai trò cũng như mức độ tác động của các nhân tố có tính chất định hướng

trong sự biến đổi lối sống và công tác XDLS của thanh niên hiện nay

Luận án “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong XDLS cho thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay” [28] của tác giả Mai Thị Dung (2014) đã chỉ ra

vai trò, nội dung của việc XDLSM cho thế hệ trẻ Việt Nam, phân tích rõ nội dung và yêu cầu của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong XDLSM cho thế hệ trẻ; đồng thời phân tích các nhân tố tác động và thực trạng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong XDLSM cho thế hệ trẻ ở Việt

Nam hiện nay

Trang 25

Luận án “Giá trị văn hóa truyền thống với sự phát triển lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay” [29] của tác giả Đặng Thị Phương Duyên (2015) đã phân

tích vai trò của giá trị văn hóa truyền thống và phát huy các giá trị ấy đối với sự phát triển lối sống của thanh niên Việt Nam; đồng thời tác giả cũng chỉ ra thực trạng của việc phát huy vai trò giá trị đạo đức truyền thống với việc phát triển lối

sống của thanh niên Việt Nam

Luận án “Giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách SVVN hiện nay(qua thực tế các trường CĐ, ĐH ở Hà Nội)”[66] của tác

giả Phùng Thu Hiền (2015)đã phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống đối với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên, chỉ rõ tầm quan trọng và nội dung của việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong việc hình thành và phát triển nhân cách SVVN hiện nay (qua thực tế các trường CĐ, ĐH ở Hà Nội) Tuy công trình nghiên cứu này không trực tiếp bàn về XDLS, GDĐĐ trong việc XDLS cho sinh viên nhưng trên

cơ sở khảo sát thực tế các trường CĐ, ĐH ở Hà Nội, tác giả đã chỉ ra đặc điểm của sinh viên Hà Nội, cũng như thực trạng phát huy các giá trị đạo đức truyền thống đối với việc xây dựng nhân cách sinh viên, chính là nguồn tư liệu quý báu giúp NCS thuận lợi hơn khi tiến hành khảo sát, phân tích thực tiễn GDĐĐ trong XDLS cho SVVN hiện nay qua thực tiễn ở Hà Nội

Cuốn sách “Phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng lối sống mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay” [11] do Lương Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt (2017) (đồng chủ biên), các tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề lối sống mới của

sinh viên, phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong GDĐĐ nhằm XDLS cho sinh viên Các tác giả đã đi sâu phân tích tầm quan trọng và nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong XDLS mới cho sinh viên trong điều kiện KTTT và hội nhập quốc tế hiện nay

Những kết quả nghiên cứu nói trên của các tác giả đã giúp NCS nhìn nhận, phân tích dòng chảy của các giá trị đạo đức, lối sống của dân tộc theo chiều dài lịch sử từ quá khứ đến hiện tại, thấy được các nhân tố tác động đến lối sống trong

Trang 26

điều kiện mới, để có thể định hướng xây XDLS cho sinh viên trong hiện tại cũng như tương lai

1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến quan điểm và giải pháp giáo dục đạo đức trong xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam và sinh viên Hà Nội

Trong đề tài nghiên cứu “Đạo đức sinh viên trong quá trình chuyển sang nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam - Thực trạng, vấn đề và giải pháp” [129]

của Trương Văn Phước (2003), tác giả đã làm rõ sự chuyển đổi của thang giá trị đạo đức trong nền KTTT và sự tác động của KTTT đến đạo đức của sinh viên Từ

số liệu khảo sát, công trình đã chỉ ra đời sống đạo đức của SVVN khi chuyển sang nền KTTT đến năm 2003 Phần lớn SVVN biết tôn trọng, kế thừa và có tinh thần phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp cận và có năng lực tiếp thu những giá trị đạo đức tiên tiến của nhân loại để phát triển, hoàn thiện nhân cách của bản thân Bên cạnh đó, cũng có một phận sinh viên còn hạn chế: không có ước mơ, hoài bão, không có ý chí vươn lên, không chịu rèn luyện,

tu dưỡng bản thân, phấn đấu vì sự nghiệp của bản thân và cống hiến cho xã hội

Từ thực trạng đó, đề tài đã chỉ ra một số vấn đề đặt ra trong xây dựng nhân cách đạo đức cho SVVN: vấn đề phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức, truyền thống; vấn đề kết hợp giữa truyền thống và hiện đại; vấn đề quốc tế và dân tộc Cuối cùng, nhóm tác giả đề tài tiến hành đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần xây dựng đạo đức mới cho SVVN Các giải pháp mà họ đưa ra gồm: tiến hành đổi mới phương pháp, nội dung giảng dạy các môn lý luận Mác - Lênin nói chung, đạo đức học nói riêng theo phương pháp giáo dục mới tích cực, lấy sinh viên làm trọng tâm của quá trình dạy - học; tiến hành kết hợp giáo dục đạo đức cho sinh viên giữa gia đình - nhà trường - xã hội; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tự giáo dục, rèn luyện của sinh viên; phát huy hơn nữa vai trò của các

tổ chức Đoàn thanh niên, Hội sinh viên trong hoạt động GDĐĐcho sinh viên Mặc

dù, đề tài nghiên cứu của Trương Văn Phước và các cộng sự của ông không trực tiếp bàn về phương hướng và giải pháp trong việc XDLS cho SVVN, nhưng những giải pháp được đưa ra ở trên, là tài liệu tham khảo có giá trị, giúp NCS có

Trang 27

thể kế thừa khi đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quảGDĐĐtrong việc

XDLS cho SVVN hiện nay

Trong quá trình XDLS cho sinh viên, một điều căn cốt không thể bỏ qua chính là kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc Điều này, được tác giả Lê Thị Hoài Thanh (2003)bàn rất kỹ trong luận án tiến sĩ

Triết học với đề tài “Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong GDĐĐ cho thanh niên Việt Nam hiện nay” [138] và luận án “Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc XDLS ở Việt Nam hiện nay”[144] của Võ Văn Thắng (2005) Trên cơ sở phân tích thực trạng GDĐĐ cho

thanh niên Việt Nam khi kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, Lê Thị Hoài Thanh

đã đề xuất một số giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng một môi trường giáo dục thống nhất và tạo môi trường pháp lý cho việc kết hợp giữa hiện đại

và truyền thống trong GDĐĐ cho thanh niên Việt Nam hiện nay Trong luận án của mình, tác giả Võ Văn Thắng đã đưa ra một số giải pháp căn bản nhằm kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong XDLS ở Việt Nam hiện nay, các giải pháp đưa ra gồm: cần nâng cao nhận thức về vai trò của các giá trị văn hóa truyền thống, trong việc XDLS mới; phải tạo môi trường xã hội lành mạnh; kiên quyết đấu tranh chống lại nguy cơ mai một các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc, đồng thời phải chủ động học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; đặc biệt từng bước hiện đại hóa các giá trị ấy Những nội dung trên, là một tư liệu quý đối với NCS, giúp cho NCS kế thừa trong việc đề ra quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quảGDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN

Hội thảo khoa học “GDĐĐ cho học sinh, sinh viên ở nước ta: thực trạng và giải pháp” [76]do Hội khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam tổ chức năm 2008 đã

thu hút sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học với nhiều góc tiếp cận khác nhau Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có một số giải pháp cơ bản được đưa ra nhằm tăng cường công tác GDĐĐ cho học sinh, sinh viên, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế và KTTT Các nhà khoa học đặc biệt coi trọng sự kết hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong việc GDĐĐ và phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của bản thân học sinh, sinh viên Các giải pháp được đưa ra

Trang 28

trong hội thảo chủ yếu nghiêng về tâm lý học nhân cách, nhưng nó giúp NCS có thể tiếp thu, và đưa ra các giải pháp hướng tới các chủ thể GDĐĐ trong việc

XDLS cho SVVN hiện nay

Trên cơ sở phân tích thực trạng đạo đức xã hội trong điều kiện KTTT ở nước

ta, tác giả Trịnh Duy Huy (2009) trong cuốn: “Xây dựng đạo đức trong nền KTTT định hướng XHCN”[69]đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những tác động

tích cực của nền KTTT, đồng thời khắc phục những tác động tiêu cực của nó với việc xây dựng và phát triển đạo đức hiện nay Tuy không trực tiếp đề cập tới việc XDLS cho sinh viên, nhưng đã bàn đến tác động của KTTT tới việc xây dựng đạo đức trong thời đại mới, cũng như ảnh hưởng của nó tới các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, nên có giá trị nhất định đối với tác giả luận án khi đề ra giải pháp

để tăng cường hiệu quả GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

Bàn về cách thức và phương thức GDĐĐ, lối sống cho thanh niên, trong bài

viết “GDĐĐ cách mạng, lối sống văn hóa cho thanh niên trên truyền thông đại chúng” [147], tác giả Ngô Văn Thạo (2010) nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng

của công tác giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng và lối sống cho thanh niên, trong đó nhấn mạnh phương thức giáo dục qua các phương tiện thông tin đại chúng như: tăng cường vai trò chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, phối hợp giữa chỉ đạo nội dung, cách thức, phương thức giáo dục, tiến hành cải tiến, đổi mới các chương trình trên các phương tiện truyền thông nhằm hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của thanh niên, đặc biệt phải quan tâm nhiều hơn đến internet và các nội dung trên các trang mạng cũng như các ấn phẩm dành cho thanh niên Tuy không trực tiếp bàn về giải pháp nhằm XDLS cho sinh viên, nhưng các giải pháp mà bài báo đưa ra đã khơi gợi cho NCS một phương hướng, cách thức và giải pháp khi xây dựng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN một cách hiệu quả, phù hợp với sự phát triển của thời đại kỹ thuật số hiện nay

Trong cuốn sách “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”[149], tác giả Phạm Hồng Tung (2011) đã

đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm XDLS cho thanh niên Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XXI là: lành mạnh, hiện đại, đậm bản sắc dân tộc Cùng với việc đưa ra các

Trang 29

nhóm giải pháp về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về thanh niên, tác giả đặc biệt coi trọng nhóm giải pháp liên quan đến giáo dục học đường đối với

thanh niên và nhóm giải pháp truyền thông đại chúng

Tác giả Hoàng Anh (2012), trong cuốn sách “Giáo dục với việc hình thành

và phát triển nhân cách sinh viên” [1] cho rằng, muốn tăng cườngGDĐĐ cho sinh viên hiện nay cần phải: một là, tạo lập môi trường KT-XH lành mạnh, văn hóa, tiến

bộ, xây dựng môi trường đại học lành mạnh, tạo điều kiện vật chất và tinh thần

thuận lợi để tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên; hai là, phải nâng

cao chất lượng đội ngũ giảng viên giảng dạy và phương pháp giảng dạy các môn lý

luận chính trị Mác - Lênin trong các trường đại học; thứ ba, tăng cường vai trò của

tổ chức Đoàn thanh niên trong công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho sinh viên

Cũng bàn về giải pháp nhằm XDLS, trong bài viết “Về lối sống và định hướng XDLS mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” [27], của tác giả Mai Thị Dung

(2013) đã đề xuất một số định hướng trong XDLS mới cho thế hệ trẻ trên cơ sở kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, mang hơi thở của thời đại mới Tác giả đưa ra những nội dung cơ bản của lối sống mới mà thế hệ trẻ cần hướng tới như: có tình yêu quê hương đất nước, sống vì cộng đồng, có ý thức trách nhiệm, có ý chí vươn lên, sống có văn hóa,

có lý tưởng sống Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh yêu cầu thế hệ trẻ phải không ngừng rèn luyện đạo đức, cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,

để xây dựng bản lĩnh vững vàng, năng lực làm chủ sẵn sàng kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc Những giải pháp và định hướng mà tác giả đề ra ở trên, là nguồn

tư liệu có giá trị giúp NCS xây dựng được định hướng giá trịkhi XDLS cho SVVN hiện nay

Hội thảo khoa học với chủ đề “Công tác GDĐĐ, lối sống cho học sinh, sinh viên” do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tháng 4 năm 2014, thu hút sự quan tâm

của hơn 40 nhà khoa học tham gia, trong có 10 tham luận đề cập trực tiếp đến giải

pháp GDĐĐ cho sinh viên như: tác giả Nguyễn Thị Thọ với tham luận “GDĐĐ cho sinh viên trong các trường ĐH hiện nay- Thực trạng và giải pháp” (Nguyễn Thị Thọ), tham luận “GDĐĐ, lối sống cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay – Những

Trang 30

vấn đề đặt ra và hướng giải quyết” của tác giả Dương Thị Thúy Nga, Trịnh Huy Hồng, tác giả Nguyễn Thị Phương Thủy với tham luận “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên các trường sư phạm” … [20]

Nhìn chung, các giải pháp được đưa ra trong cuộc hội thảo tập trung vào bốn nhóm gồm: nhóm giải pháp chủ thể giáo dục; nhóm giải pháp thuộc về đối tượng giáo dục; nhóm giải pháp thuộc về nội dung và nhóm giải pháp thuộc về phương pháp

Trong báo cáo tại Hội nghị tổng kết năm học 2014 – 2015 – Thực trạng công tác GDĐĐ, lối sống cho học sinh, sinh viên, Bộ giáo dục và Đào tạo đã đưa

ra 5 nhóm giải pháp lớn đối với công tác GDĐĐ, lối sống cho học sinh, sinh viên Trong đó, Bộ nhấn mạnh đến một số giải pháp cơ bản như: Chủ động, tích cực chuẩn bị các điều kiện để chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; Đổi mới chương trình chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức

công dân nhằm phát triển năng lực và phẩm chất học sinh, sinh viên” [21]

Các công trình nghiên cứu trên đây, đã đưa ra những quan và các giải pháp cơ bản nhằm hướng tới việc trao truyền các giá trị đạo đức, văn hóa truyền

Trang 31

thống của dân tộc trong XDLS mới, xây dựng nhân cách cho sinh viên trong điều kiện TCH, KTTT dưới nhiều góc độ khác nhau Những phương hướng và giải pháp được đưa ra là nguồn tư liệu vô cùng quý giá đối với NCS, giúp NCS tiếp thu, kế thừa, cũng như có định hướng rõ nét hơn khi xác định qua điểm và lựa chọn hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

1.4 Khái quát kết quả các công trình liên quan và những vấn đề đặt

ra tiếp tục nghiên cứu

1.4.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề tài

Một là, trong các công trình khoa học mà tác giả đã khảo cứu, các nhà khoa

học đã đã làm rõ quan niệm về đạo đức và GDĐĐ, xác định các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc và khẳng định vai trò của các giá trị đó đối với sự phát triển nhân cách, lối sống của con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay; các công trình này cũng chỉ ra vai trò của GDĐĐ trong việc XDLS cho thanh niên, sinh viên, trong đó, đặc biệt chú trọng việc giữ vững bản sắc văn hóa và các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Hầu hết các nhà khoa học đều khẳng định

sự cần thiết phải GDĐĐ cho sinh viên, thanh niên trong điều kiện CNH, HĐH đất nước để XDLS cho họ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay

Các công trình khoa học kể trên cũng đã tiếp cận vấn đề sinh viên, lối sống sinh viên đưa ra khái niệm lối sống sinh viên, chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong lối sống của sinh viên và XDLS cho sinh viên hiện nay ở nhiều góc độ như: triết học, xã hội học, văn hóa học, tâm lý học Những nghiên cứu đó, đã đi sâu phân tích đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của sinh viên, đặc điểm phát triển nhân cách thanh niên, sinh viên, khẳng định vai trò quan trọng của sinh viên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Từ đó, các nhà khoa học cũng khẳng định tầm quan trọng của việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống cho thanh niên, SVVN hiện nay

Hai là, các công trình khoa học đã thực hiện khảo sát thực trạng GDĐĐ

trong việc XDLS cho SVVN trong công cuộc đổi mới đất nước, thực trạng vấn đề kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong XDLS; thực trạng phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong GDĐĐ cho thanh niên, sinh viên; phân tích thực trạng và

xu hướng phát triển của lối sống trong thanh niên, sự ảnh hưởng của lối sống tích

Trang 32

cực và lối sống tiêu cực đến thanh niên Việt Nam, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay Nhìn chung, các công trình đều cho thấy khía cạnh thực tiễn của vấn đề phát huy các giá trị đạo đức dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước nói chung và vấn đề xây

dựng nhân cách, lối sống của thanh niên, sinh viên nói riêng

Ba là, trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực tiễn, các công trình khoa

học đã đưa ra các giải pháp thực tiễn trong việc GDĐĐ nhằm XDLS cho sinh viên Nhiều tác giả đã đề cập đến những giải pháp cụ thể, ở góc độ động thái của chủ thể hành động nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong xây dựng nhân cách, đạo đức, lối sống của thanh niên, sinh viên Các công trình nghiên cứu

ở những góc độ, phạm vi và mức độ khác nhau, đã chỉ rõ những định hướng lớn trong việc khai thác, phát huy các giá trị đạo đức dân tộc cho sự phát triển của đất nước trong điều kiện mới, cũng như những định hướng nhằm GDĐĐ trong việc

XDLS cho thanh niên, sinh viên

1.4.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Từ tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, cùng với những kết quả đã khái quát ở trên, có thể nhận thấy một số vấn đề đặt ra cho tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống vai trò, nội dung của

GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay Có thể nói, đây là vấn đề mới, chưa

có công trình khoa học triết học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, căn bản.Nhưng với ý nghĩa thực tiễn của đề tài, NCS sẽ cố gắng trong khả năng tốt nhất để góp phần giải quyết vấn đề này

Thứ hai, cho đến nay chưa có công trình khoa học triết học nào tập trung

nghiên cứu, khảo sát điều tra về GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay Trên nền tảng lý luận về lối sống, XDLS và GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN, NCS sẽ tập trung khảo sát, đánh giá về thực trạng GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay và nguyên nhân của nó

Thứ ba, các công trình kể trên đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu

quảGDĐĐ trong việc XDLS cho thanh niên, sinh viên, nhưng những giải pháp chủ yếu mà các nhà khoa học đưa ra, tập trung vào việc nâng cao vai trò lãnh đạo của

Trang 33

Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, vấn đề tăng cường xây dựng môi trường văn hóa và phát huy năng lực chủ quan của các chủ thể trong việc xây dựng đạo đức, nhân cách, lối sống cho thế hệ trẻ, cho thanh niên, SVVN hiện nay Xuất phát từ vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của GDĐĐ trong việc XDLS cho sinh viên,

từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, cũng như đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên, truyền thống sinh viên ở đây, NCS sẽ đưa ra quan điểm và nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảGDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

Tiểu kết chương 1

Đạo đức và lối sống có mối quan hệ với nhau là điều không ai nghi ngờ Thực tế từ trước đến nay, vấn đề GDĐĐ, lối sống, lối sống sinh viên, vai trò GDĐĐ trong việc XDLS cho sinh viên đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và đạt được những thành tựu nhất định NCS nghiên cứu những vấn đề trên theo nhiều góc độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau và ngày càng nhận thức được một cách toàn diện, sâu sắc và mang tính hệ thống hơn Tuy nhiên, đây là vấn đề đang diễn biến hết sức phức tạp, các giá trị đạo đức truyền thống đang biến đổi, một số giá trị đạo đức mới đang hình thành và phát triển gắn với tình hình thực tế đất nước Quan hệ đạo đức và lối sống của sinh viên cũng đang biến đổi và phát triển Vì thế, vấn đề đặt ra cần tiếp tục đi sâu, làm rõ thêm về GDĐĐ trong việc XDLS cho SVVN hiện nay

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, hầu hết các công trình đề cập đến vấn đề này theo các góc độ khác nhau, nhưng chỉ đề cập đến các giá trị đạo đức, lối sống, lối sống sinh viên, XDLS sinh viên mà chưa đề cập một cách có hệ thống vai trò GDĐĐtrong việc XDLS cho sinh viên dưới góc độ triết học Tuy nhiên, các công trình khoa học đó là nguồn tư liệu quý giá, có ý nghĩa nhất định đối với đề tài mà NCS lựa chọn, để cho NCS kế thừa và xác định những vấn đề cần được nghiên cứu sâu sắc có tính hệ thống GDĐĐtrong việc XDLS sinh viên hiện nay và đề ra những giải pháp để giải quyết tốt vấn đề đó dưới góc độ triết học

Trang 34

Chương 2 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG LỐI SỐNG

CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1 Lối sống và nội dung của việc xây dựng lối sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay hiện nay

2.1.1 Khái niệm lối sống, tính quy luật của sự hình thành và phát triển lối sống

2.1.1.1 Khái niệm lối sống

Lối sống từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như giáo dục học, đạo đức học, văn hóa học, tâm lí học, triết học, xã hội học… Trong tiếng Anh, người ta sử dụng những thuật ngữ khác nhau để diễn đạt cách hiểu về lối

sống, trong đó hai cách diễn đạt chủ yếu là “Way(s) of Living” và “Way(s) of Life” Ngoài ra, còn có một số thuật ngữ gầngũi khác cũng được sử dụng như “Life Style”,

“Mode of life” hoặc “Life Form” Trong tiếng Đức, cũng có một số thuật ngữ thường được dùng để chỉ “lối sống” với những sắc thái khác nhau, như “Lebensfuehrung”,

“Lebensweise”, “Lebenshaltung” Từ “lối sống” trong tiếng Pháp là “Mode de vie”

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài nghiên cứu về lối sống, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, đã từng đề xuất

nhiều cách định nghĩa khác nhau về “lối sống”, tuy nhiên, chưa có một định nghĩa

tương đối thống nhất về vấn đề này Có thể khái quát một số cách tiếp cận như sau:

Thứ nhất, khi nghiên cứu về lối sống, C.Mác và Ph Ăngghen đã đặt nó

trong quan hệ với PTSX và hình thái KT-XH, trước hết là PTSX C.Mác và Ph.Ăngghen trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức cho rằng: “Không nên nghiên cứu PTSX ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ” [103, tr.30]

Có thể thấy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra PTSX là yếu tố quyết định sự tồn tại của cá nhân và nó là hình thức hoạt động cơ bản của con người, là phương

Trang 35

thức sinh sống của con người, là mặt cơ bản của lối sống, cũng là điều kiện

KT-XH của lối sống C.Mác cho rằng, lối sống chính là phương thức, là dạng hoạt động của con người, nó bị quy định bởi PTSX và toàn bộ những điều kiện sinh sống của con người C.Mác cũng cho rằng, ở những hình thái KT-XH khác nhau

sẽ có lối sống tương ứng, trong xã hội có giai cấp, lối sống cũng mang tính giai cấp Vì thế, trong mỗi giai đoạn lịch sử của từng dân tộc, từng cá nhân có lối sống riêng, tức là không có lối sống cho mọi thời đại, nhất là trong xã hội có giai cấp,

do đó trong một hình thái KT-XH cũng tồn tại nhiều lối sống khác nhau thậm chí đối lập nhau

Cùng với cách tiếp cận coi lối sống là phương thức, là dạng hoạt động của con người và chịu sự quyết định của PTSX, VS.Rútkêvích đưa ra quan niệm “lối sống” và “PTSX” có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Ông viết như sau: “Lối sống là một trong những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nó liên quan chặt chẽ với một khái niệm có ý nghĩa mấu chốt với nó là PTSX của cải vật

chất”[137, tr.12]

Thứ hai, tiếp cận lối sống trên phương diện phương thức hoạt động và tổng

thể các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của những cá nhân trong một hình thái KT-XH VS.Rútkêvích chỉ ra rằng: “Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái KT-XH nhất định”[166, tr.45] Còn G.Glezerrman lại cho rằng: “lối sống là tổng hòa những nét

cơ bản, nói lên những đặc điểm của các hoạt động sống của xã hội, dân tộc, các nhóm xã hội, các cá nhân trong một hình thái KT-XH nhất định”[166, tr.18] V.I Tônxtưkhơ thì lại xem xét lối sống gắn liền hoạt động sống của con người với các lĩnh vực lao động, hoạt động chính trị xã hội, sinh hoạt giao lưu, ông viết: “lối sống là những hình thức cố định, điển hình của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người; những hình thức ấy nói lên các đặc điểm về sự giao tiếp, hành vi và nếp nghĩ của họ trong các lĩnh vực lao động, hoạt động xã hội - chính trị, sinh hoạt và giải trí”[166, tr.18-19] Cũng quan niệm lối sống là một phương thức hoạt động, IV.Bextugiep cho rằng: “lối sống được kiến giải như là một

Trang 36

phương thức hoạt động sống của con người, thì điều hợp lý là lấy các lĩnh vực hoạt động sống quan trọng nhất làm nền tảng cho cơ cấu của lối sống, các lĩnh vực

đó ta đều biết là: lao động, sinh hoạt, hoạt động chính trị - xã hội và văn hóa – xã

hội” [dẫn theo 67; tr.19]

Thứ ba, trong tiếng Việt, lối sống là một danh từ ghép gồm lối và sống Trong đó, “Lối” dùng để chỉ lề lối, thể thức, kiểu cách, phương thức, còn “Sống”

là sinh hoạt, là quá trình hoạt động sinh vật và xã hội của con người

Trên cơ sở tiếp cận quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng ta về lối sống, các nhà khoa học Việt Nam cũng quan tâm nghiên cứu vấn đề này Tiêu biểu là đề tài cấp Nhà nước KX-06-13, được nêu khái quát trong Báo cáo tổng kết chương trình nghiên cứu KX-06 (1991-1995) như sau: lối sống, trong chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những người cụ thể trước những điều kiện, hoàn cảnh

cụ thể của môi trường sống Môi trường là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư [155] Định nghĩa này một lần nữa đã tiếp cận lối sống như một phương thức hoạt động thực tiễn của con người trong môi trường nhất định và lối sống có mối quan hệ trực tiếp với môi trường sống và chịu sự quy

định của môi trường sống

Trong tác phẩm “Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người”, tác giảVũ Khiêu

đã định nghĩa: “Lối sống là phạm trù xã hội, khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái KT-XH nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người; trong sinh hoạt tinh thần

và văn hóa”[86; tr.514] Với định nghĩa này, tác giả đã khái quát được những nét đặc trưng cơ bản của lối sống, từ phương diện vật chất của lối sống như: PTSX vật chất và hình thái KT-XH cho đến phương diện sinh hoạt tinh thần Lối sống được hiểu chính là phương thức, là dạng hoạt động của con người, nó chịu sự quy định

của PTSX

Tác giả Thanh Lê lại xét lối sống gắn liền với hoạt động sống của con người và gắn liền với một hình thái KT-XH, ông viết: “lối sống là một hệ thống

Trang 37

những nét căn bản nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một một hình thái KT-XH hội nhất định” [90; tr.24]

Cũng bàn về vấn đề này, tác giả Nguyễn Văn Huyên xem xét lối sống dưới góc độ tổng hòa các mặt cơ bản những đặc điểm cá nhân, tập thể, giai cấp và cộng đồng: “lối sống là tổng hợp toàn bộ các mô hình, cách thức và phong thái sống của con người thể hiện trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ hình vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa người với người, giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và mục đích

sống” [73; tr 29]

Từ những định nghĩa về lối sống trên đây, chúng ta có thể nhận thấy những điểm tương đồng khi các tác giả cho rằng: lối sống là sự khái quát hay tổng hòa toàn bộ hoạt động sống của con người trong những điều kiện của một hình thái KT-XH nhất định và biểu hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống từ lao động sản

xuất, trong sinh hoạt vật chất và tinh thần, trong quan hệ giữa người với người

Từ đây, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về lối sống như sau: Lối sống là cách thức sống, phương thức sống của con người trong một chế độ xã hội nhất định được biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống như lao động sản xuất, hoạt động

chính trị, hoạt động văn hóa tinh thần và hoạt động hàng ngày

Từ định nghĩa trên, cần chú ý mấy điểm sau đây:

Một là, lối sống là tổng hòa những hoạt động sống của con người trong hệ

thống xã hội với các điều kiện của một hình thái KT-XH nhất định và suy cho cùng nó bị quyết định bởiPTSX và các điều kiện sống của họ Lối sống của con người trong mỗi quốc gia, dân tộc được hình thành trên cơ sở của điều kiện tự nhiên và các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng, truyền thống Trong các yếu tố đó thì điều kiện xã hội có vai trò quyết định Ở đây, PTSX giữ vai trò quyết định đối với chính trị xã hội và văn hóa tư tưởng của mỗi quốc gia, dân tộc Khẳng định điều đó là do, lối sống là một thể thống nhất biện chứng giữa tự nhiên - cá nhân và xã hội, lối sốngcủa con người được hình thành trong quá trình con người tham gia vào các hoạt động, trước tiên là lao động sản xuất, hoạt động chính trị xã hội và các hoạt động khác đồng thời chịu sự chi phối

Trang 38

của các hoạt động đó Sự hình thành lối sống của con người là sự thống nhất biện chứng giữa cá nhân và xã hội; là quá trình thống nhất của những điều kiện khách

quan và các nhân tố chủ quan; giữa giáo dục và tự giáo dục

Hai là, lối sống nói chung đều mang tính văn hóa, nhận thức, tình cảm, hoạt

động của con người là đặc thù của xã hội loài người, nên những hoạt động xã hội đều mang ý nghĩa văn hóa, đạo đức, luôn hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp Nói cách khác, lối sống nói chung mang giá trị văn hóa chung của lịch sử nhân loại, hướng tới chân - thiện - mỹ vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù Bởi

vì, phạm vi và nội dung của lối sống bao gồm: các khuôn mẫu ứng xử, các thiết chế xã hội vận hành theo một bảng giá trị trong toàn bộ các hoạt động sống của dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái KT-XH nhất định, và biểu hiện trong các lĩnh vực đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa con người với con người trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa hàng ngày Từ đó, suy rộng ra các quốc gia, dân tộc, giai cấp khác nhau trong các giai đoạn khác nhau có lối sống khác nhau

Ba là, lối sống là tổng hòa các mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần, cá

nhân và xã hội, dân tộc và quốc tế Do đó, các đặc điểm của lối sống được thể hiện qua tất cả các hình thức hoạt động sống của con người Lối sống bao gồm toàn bộ mọi lĩnh vực hoạt động của con người trong một xã hội nhất định, lối sống được biểu hiện qua quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong lao động sản xuất, trong lĩnh vực chính trị, trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa, trong ứng xử giao tiếp hàng ngày

Tóm lại, lối sống được hiểu như là một phương thức hoạt động sống của con người thì ta phải lấy các lĩnh vực hoạt động sống quan trọng nhất làm nền tảng cho cơ sở của lối sống, các lĩnh vực ấy bao gồm: lao động, sinh hoạt, hoạt

động chính trị - xã hội và văn hóa - xã hội

2.1.1.2 Phân biệt lối sống với lẽ sống, nếp sống

Trang 39

Nó chi phối và liên quan mật thiết đến những định hướng hết sức cơ bản của con người như: lý tưởng, niềm tin, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc, thiện, ác

Lẽ sống là biểu hiện của tự ý thức cao nhất ở con người về cuộc sống của mình, là hội tụ của sự trưởng thành và phát triển nhân cách, trí tuệ, tri thức và kinh nghiệm Đối với mỗi con người, lẽ sống là cơ sở, nền tảng để xây dựng lý tưởng sống, hướng con người xác định đúng mục đích cuộc sống Người có lẽ sống đúng đắn sẽ góp phần hình thành lối sống tốt đẹp và sẽ có khả năng vượt qua khó khăn để vươn lên trong cuộc sống Ngược lại, sự khủng hoảng về quan niệm lẽ sống sẽ có thể dẫn con người tới đổ vỡ niềm tin, lệch hướng trong lối sống Vì thế, giáo dục đạo đức để

xây dựng lối sống, phải đặc biệt coi trọng giáo dục lẽ sống cao đẹp cho con người

Như vậy, lẽ sống đề cập tới mục đích, ý nghĩa, lý tưởng của cuộc sống, là ý chí, khát vọng của con người Lẽ sống phản ánh mục đích của lối sống, định hướng của cuộc sống Lẽ sống gắn liền với hệ tư tưởng, là thế giới quan, nhân sinh quan của con người, nó có vai trò như “kim chỉ nam” cho cá nhân điều chỉnh hành

vi của mình, vì hạnh phúc cá nhân, vì cộng đồng xã hội Lẽ sống biểu hiện ở quan điểm sống, mục đích sống, động cơ, thái độ lựa chọn các hoạt động và các mối quan hệ trong cuộc sống Đối với giáo dục đạo đức trong việc XDLS cho sinh viên, lẽ sống và lối sống không tách rời nhau Khi sinh viên hướng đến một lẽ sống cao đẹp thì lối sống cũng được dẫn dắt theo hướng lành mạnh Do vậy, có thể

coi “lẽ sống là mặt lý tưởng của lối sống, là nhân lõi của lối sống”

Lối sống và nếp sống

Nếp sống là những cách thức, quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất, sinh hoạt, trong tổ chức đời sống xã hội và trong đời sống gia đình Những hành vi được lặp đi lặp lại thành một quy định, nền nếp, một thói quen, phong tục, tập quán, lễ nghi…thì được gọi là nếp sống, điều này đã được Thanh Lê khẳng định: “Nếp sống là những quy ước được lặp đi lặp lại trở thành một thói quen trong sinh hoạt, phong tục tập quán, hành vi đạo đức Nói đến nếp sống là nói đến

một mặt nào đó của lối sống”[90]

Theo tác giảVũ Khiêu: “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất,

Trang 40

chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi con người Những thói quen ấy còn được gọi là tập quán” [85; 135] Nếp sống là sự biểu hiện sinh động của lối sống, nó không phải là cái vĩnh hằng mà có sự biến đổi Khi nếp

sống thay đổi đến một độ nhất định thì lối sống sẽ biến đổi

A P.Butenco lại khẳng định: “Nếp sống không phải là một phần mà là một trong những hình thức biểu hiện của lối sống” [dẫn theo 67; tr23] Chẳng hạn, lối sống của sinh viên biểu hiện qua nền nếp học tập, nếp sinh hoạt, nếp sống ở ký túc

xá, cách thức nói chuyện hay chào mời…

Như vậy, lối sống và nếp sống không tách rời nhau nhưng cũng không đồng nhất với nhau, nếp sống làm cho lối sống được ổn định và lẽ sống dìu dắt cho lối sống, nếp sống có ngoại diên hẹp hơn lối sống

2.2.1.3 Tính quy luật của sự hình thành, phát triển lối sống

Với tính cách làphương thức sống của con người trong một chế độ xã hội nhất định, lối sống chính là kết quả của quá trình tích lũy tri thức, rèn luyện thói quen cùng sự trưởng thành về thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân hay cộng đồng

xã hội Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trước

đó, có thể khái quát quy luật hình thành và phát triển lối sống như sau:

Thứ nhất, sự hình thành và phát triển lối sống là quá trình thống nhất biện chứng giữa cá nhân và xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: Cá

nhân không chỉ là sản phẩm của xã hội mà còn là chủ thể của sự phát triển xã hội, của hoạt động sản xuất và các hoạt động xã hội khác Với tư cách là chủ thể của lịch sử, cá nhân hành động không phải riêng rẽ mà với tư cách là một bộ phận của tập thể, của xã hội Con người, không bao giờ sống tách rời, cô lập với nhau trong

quá trình sản xuất và tiêu dùng, bao giờ cũng có quan hệ với nhau

Con người là một thực thể sinh vật - xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn

và hoạt động xã hội, con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình Điều đó cũng có nghĩa là thông qua hoạt động thực tiễn con người tiếp nhận bản chất xã hội của mình, trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác từng nói: “ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”[103; tr.11] Do đó, quá trình con người hoàn thiện

Ngày đăng: 29/06/2022, 06:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2012), Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2012
2. Phạm Kim Anh (2008), “Đạo đức học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp giáo dục”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay (9), tr.4-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp giáo dục”", Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Phạm Kim Anh
Năm: 2008
3. Lê Trọng Ân (2005),“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, Tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Lê Trọng Ân
Năm: 2005
4. Ban Tuyên giáo TƯ (2013), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu BCHTƯ ĐCSVN khóa XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu BCHTƯ ĐCSVN khóa XI
Tác giả: Ban Tuyên giáo TƯ
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2013
5. Ban Tư tưởng - Văn hóa TƯ (2002), Văn hóa với thanh niên - thanh niên với văn hóa - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa với thanh niên - thanh niên với văn hóa - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa TƯ
Năm: 2002
6. Ban Tư tưởng - Văn hóa TƯ (2004), Tài liệu nghiên cứu Hội nghị lần thứ chín, BCHTƯ Đảng khóa IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Hội nghị lần thứ chín, BCHTƯ Đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa TƯ
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2004
7. Ban Tư tưởng - Văn hóa TƯ (2004), Tài liệu nghiên cứu kết luận Hội nghị lần thứ mười, BCHTƯ Đảng khóa IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu kết luận Hội nghị lần thứ mười, BCHTƯ Đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa TƯ
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2004
8. Ban Tư tưởng – Văn hóa TƯ (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa TƯ
Năm: 2005
9. Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên) (2013), GDĐĐ mới cho sinh viên trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDĐĐ mới cho sinh viên trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2013
10. Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên) (2013), Giá trị văn hóa truyền thống với việc xây dựng nhân cách SVVN hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị văn hóa truyền thống với việc xây dựng nhân cách SVVN hiện nay
Tác giả: Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2013
11. Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên) (2017), Phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng lối sống mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng lối sống mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2017
12. G.Bandzeladze (1985), Đạo đức học, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: G.Bandzeladze
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
13. G. Bandzeladze (1985), Đạo đức học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: G. Bandzeladze
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
14. Hoàng Chí Bảo (1998), “Vài nét chung về nhân cách và nhân cách Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận,(6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét chung về nhân cách và nhân cách Hồ Chí Minh”
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1998
15. Phạm Thái Bình (2009) “Tăng cường công tác GDĐĐ trong các trường Công an nhân dân trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh”,Tạp chí Công an nhân dân (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tăng cường công tác GDĐĐ trong các trường Công an nhân dân trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh”,Tạp chí Công an nhân dân
16. Trần Văn Bính (2013), “Xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa trong điều kiện KTTT và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lý luận chính trị (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa trong điều kiện KTTT và hội nhập quốc tế”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Trần Văn Bính
Năm: 2013
17. Phan Văn Bính (2012), “GDĐĐ cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Văn Bính (2012), “GDĐĐ cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay”
Tác giả: Phan Văn Bính
Năm: 2012
18. Nguyễn Duy Bắc (2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học các môn Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường ĐH, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học các môn Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường ĐH
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2004
19. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1993), Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
20. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Công tác GDĐĐ, lối sống cho học sinh, sinh viên, Hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác GDĐĐ, lối sống cho học sinh, sinh viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w