1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN ÁN TIẾN SĨ) Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 1986 -

123 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Đổi Mới Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam 1986-2000
Tác giả Lee Kang Woo
Người hướng dẫn GS TS Phùng Hữu Phú
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáng lưu ý là ý kiến của một số học giả sau đây : Trong quyển sách “Đổi mới DNNN ở Việt Nam”Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1997, viện sĩ Võ Đại Lược nghiên cứu bao quát từ sự hình thành v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LEE KANG WOO

Quá trình Đổi mới Doanh nghiệp nhà nước

ở Việt Nam 1986-2000

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2002

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LEE KANG WOO

Quá trình đổi mới Doanh nghiệp nhà nước

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lee Kang Woo

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ

Mục lục 3

Bảng viết chữ tắt 6

Danh mục các bảng 7

Mở đầu 8

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án 8

2 Lịch sử vấn đề 9

3 Các nguồn tài liệu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Nhiệm vụ và đóng góp của luận án 12

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Bố cục luận án 13

Chương 1 : Những tiền đề đổi mới DNNN ở Việt Nam 15

1.1 Lý luận và nhận thức về nhà nước và DNNN trong nền kinh tế thị trường 15

1.1.1 Về quan hệ của nhà nước và thị trường 15

1.1.1.1 Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường theo cách tiếp cận lịch sử kinh tế 15

1.1.1.2 Về sự quản lý của nhà nước đối với kinh tế thị trường 18

1.1.2 Về khu vực DNNN 20

Trang 5

1.1.2.1 Khái niệm về DNNN 20

1.1.2.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của DNNN 23

1.1.2.3 Về đặc trưng của DNNN 25

1.1.2.4 Về tiến trình cải cách của DNNN 26

1.2 DNNN trước Đổi Mới ở Việt Nam - quá trình hình thành, phát triển, thành quả và hạn chế 27

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của DNNN trước Đổi Mới 28

1.2.1.1 Giai đoạn 1945-1954 29

1.2.1.2 Giai đoạn 1955-1975 31

1.2.1.3 Giai đoạn 1976-1985 34

1.2.2 Những thành quả và yếu kém của khu vực DNNN 36

1.2.2.1 Những thành quả và ý nghĩa 36

1.2.2.2 Những yếu kém và nguyên nhân 37

1.2.3 Những cuộc cải tiến DNNN trước Đổi Mới 41

Chương 2 : Đổi mới DNNN 1986-2000 45

2.1 Đổi Mới tư duy về DNNN 45

2.2 Những chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới DNNN 48

2.3 Quá trình đổi mới DNNN 1986-2000 52

2.3.1 Giai đoạn 1986-1990 53

2.3.2 Giai đoạn 1990-2000 57

2.4 Những đặc trưng và nội dung cụ thể của các giải pháp cải cách DNNN 71

2.4.1 Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với DNNN 71

2.4.1.1 Tăng cường quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của DNNN 71

2.4.1.2 Đổi Mới cơ cấu tổ chức quản lý DNNN 72

2.4.2 Sắp xếp lại DNNN 76

Trang 6

2.4.2.1 Những giải pháp cụ thể 77

2.4.2.2 Đánh giá 78

2.4.3 Thành lập các TCT NN 80

2.4.3.1 Tính tất yếu của sự hình thành các TĐKD với quy mô sản xuất kinh doanh khổng lồ 80

2.4.3.2 Sự hình thành của TCT NN ở Việt Nam 81

2.4.3.3 Hệ thống tổ chức và hoạt động của TCT NN 86

2.4.3.4 Đánh giá 90

2.4.4 Cổ phần hoá DNNN 92

2.4.4.1 Khái niệm và ý nghĩa của CPH DNNN 94

2.4.4.2 Phân loại DNNN và quy trình CPH 96

2.4.4.3 Đánh giá 97

2.4.5 Giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê DNNN 102

Chương 3 : Một số nhận xét - kiến nghị 105

3.1 Đổi mới DNNN là sự vận dụng hợp quy luật của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam 105

3.1.1 Đổi mới DNNN là nhu cầu tất yếu 105

3.1.2 Quá trình đổi mới DNNN là sự vận dụng phù hợp với quy luật kinh tế khách quan 105

3.2 Đổi mới DNNN ở Việt Nam là một quá trình tiến hành từng bước, thận trọng; giải quyết các vấn đề kinh tế kết hợp với các vấn đề xã hội 108

3.3 Đổi mới DNNN ở Việt Nam đã có những thành công nhất định nhưng cũng còn những hạn chế đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới 111

3.3.1 Thành quả 112

3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 114

Trang 7

3.3.2.1 Những hạn chế, yếu kém 114

3.3.2.2 Nguyên nhân hạn chế, yếu kém 122

3.4 Một số kiến nghị 126

3.4.1 Sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách 128

3.4.2 Đổi mới TCT NN 135

3.4.3 Thúc đẩy CPH DNNN 140

Kết luận 144

Danh mục công trình của tác giả 151

Tài liệu tham khảo 152

Phụ lục 159

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

CBCNV Cán bộ công nhân viên

CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNVC Công nhân viên chức

CTĐTTCNN Công ty đầu tư tài chính nhà nước

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Tỷ trọng tổng sản phẩm xã hội của khu vực DNNN

Bảng 2: Cơ cấu theo cấp quản lý và theo nhóm ngành hệ thống DNNN giai đoạn 1960-1975

Bảng 3: Một số chỉ tiêu về DNNN giai đoạn 1976-1986

Bảng 4: Tình hình thực hiện giao, bán, khoán, cho thuê DNNN

Bảng 5: Tình hình lạm phát và lãi suất tín dụng

Bảng 6: Nhu cầu vốn đầu tƣ ở một số TCT 91

Bảng 7: Mô hình tổ chức tổng quát của các TCT

Bảng 8: Quy trình chuyển DNNN thành công ty cổ phần

Bảng 9: Cơ chế kiểm soát DNNN Việt nam theo luật và các qui định

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Nhiều nhà khoa học kinh tế-xã hội xác định xã hội hiện đại là xã hội tri thức hoặc kinh tế tri thức Trong quá khứ, người ta thường coi những thứ như : vốn đầu tư, sức lao động, thiết bị máy móc là phương tiện sản xuất quan trọng Nhưng trong xã hội hiện đại, chất lượng lao động, phẩm chất lãnh đạo, khả năng kinh doanh, bố trí, điều hành những phương tiện sản xuất được coi là nhân tố có giá trị hơn Và như vậy những yếu tố cần thiết để tạo nên cơ chế có hiệu quả cao là tri thức, thông tin Trong xã hội hiện đại, giá cả các phương tiện khác tăng lên và giá cả thông tin, tri thức thì giảm xuống nhờ có sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật như máy vi tính, internet

Có thể nói, công cuộc Đổi Mới kinh tế ở Việt Nam là một bước chuẩn bị tất yếu để đi lối xây dựng kinh tế tri thức tại Việt Nam Công cuộc Đổi Mới được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên định đi theo con đường XHCN, kiên trì giữ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và vai trò chủ thể hoặc cơ sở của kinh tế công hữu Đồng thời, Việt Nam xoá bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung và mô hình quốc hữu hoá toàn bộ, tích cực hoàn thiện cơ chế kinh doanh của DNNN, điều chỉnh việc sắp xếp và kết cấu tài sản nhà nước và DNNN Những điều này đã góp phần tích cực xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước trở thành lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần, là lực lượng vật chất quan trọng và là một công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, việc cải cách DNNN mới chỉ thu được kết quả bước đầu, bên cạnh những thành tựu đạt được, khu vực DNNN vẫn còn nhiều mặt yếu kém Tiến trình sắp xếp lại DNNN; cổ phần hoá; sáp nhập, giải thể, bán, khoán, cho thuê

Trang 11

một số DNNN đang hết sức khó khăn và chậm lại do chưa xử lý được công nợ, lao động dôi dư và tâm lý xã hội v.v

Chủ thể trực tiếp của nền sản xuất trong xã hội là DN và dưới thể chế XHCN như Việt Nam hiện nay, DNNN là chủ thể chủ yếu của nền kinh tế Vì vậy sức cạnh tranh của DNNN là sức cạnh tranh của nước Việt Nam Trong thế

kỷ 21, DNNN phải tiếp tục củng cố và đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để xứng với cương vị đầu tàu của nền kinh tế quốc dân Việt Nam Đặc biệt, tháng 7 năm

2000 Việt Nam đã ký kết hiệp định thương mại với Mỹ và tháng 12 năm 2001, hiệp định đã bắt đầu có hiệu lực Đây là một cơ hội và đồng thời là thách thức lớn đối với các DNNN Việt Nam trong sự đương đầu với những DN của các nước tiên tiến trên thế giới trên trường quốc tế đầy sự cạnh tranh gay gắt

Nay, cải cách DNNN là con đường có tính tất yếu và có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp Đổi Mới nền kinh tế Việt Nam từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Hy vọng việc nghiên cứu, tổng kết bước đầu quá trình cải cách DNNN, rút ra những bài học kinh nghiệm, làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cải cách DNNN, sẽ góp một phần cho việc hiểu biết rõ và hoạch định chính sách có hiệu quả trong quá trình cải cách DNNN ở Việt Nam

Đó chính là tính cấp thiết của đề tài luận án, và cũng là lý do, để tôi-một nghiên cứu sinh nước ngoài, sau khi bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ về quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, quyết định lựa chọn quá trình cải cách DNNN

ở Việt Nam làm luận án tiến sĩ

2 Lịch sử vấn đề

Từ khi loài người vượt qua thời kỳ mông muội đến nay biết bao nhiêu nhà chính trị và nhà khoa học trăn trở nghiên cứu mưu cầu mang lại tự do và hạnh phúc thật sự cho xã hội, quốc gia của mình và cho toàn nhân loại

Trang 12

Sau cách mạng công nghiệp, nền sản xuất hàng loạt phát triển mạnh, vị thế và vai trò của xí nghiệp càng trở nên quan trọng Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu các nước đã tập trung vào đề tài hoạt động và quản lý DN Ở Việt Nam, hệ thống các xí nghiệp đã và đang trải qua quá trình chuyển đổi và cải cách DNNN

là một vấn đề hết sức quan trọng có thể quyết định tới vận mệnh của quốc gia Nhiều nhà kinh tế Việt Nam và nước ngoài, nhiều nhà quản lý DN và hoạch định chính sách kinh tế đã quan tâm nghiên cứu vấn đề DN để mang lại kết quả thiết thực

Các bài viết về DNNN Việt Nam thường được đăng tải trên “Thời báo kinh tế”, tạp chí “Nghiên cứu kinh tế” hoặc trong các chuyên khảo về đổi mới kinh tế ở Việt Nam Đáng lưu ý là ý kiến của một số học giả sau đây :

Trong quyển sách “Đổi mới DNNN ở Việt Nam”(Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1997), viện sĩ Võ Đại Lược nghiên cứu bao quát từ sự hình thành và phát triển các DNNN Việt Nam tới những giải pháp cụ thể để cải cách DNNN như hạch toán kinh doanh, đổi mới tài chính, sắp xếp và cổ phần hoá và ông kết luận rằng: mục tiêu của công cuộc đổi mới DNNN ở Việt Nam là đảm bảo khu vực DNNN làm công cụ ổn định, điều tiết, định hướng sự phát triển kinh tế

- xã hội, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác với các chi phí thấp nhất chứ không phải đặt hiệu quả kinh doanh đơn thuần của DNNN và mục tiêu tăng lợi nhuận cao là số một

Ông Kwon Yul người Hàn Quốc, trong “Tình trạng và triển vọng của cải cách DNNN Việt Nam”(Trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế đối ngoại, 1997), nói Việt Nam cần phải chia thành DNNN thuộc về lĩnh vực công ích và

DN ngoài quốc doanh mưu cầu tính hiệu suất Cuối cùng, ông nói : để gặt hái được lợi nhuận cao và đảm bảo môi trường đầu tư thuận lợi cho người nước ngoài, Chính phủ Việt Nam phải thực hiện tư nhân hoá DNNN

Trang 13

Ông Tomoo Marukawa, Viện phát triển kinh tế Nhật Bản, trong báo cáo

“Vấn đề cải tổ các TCT và DNNN ở Việt Nam”(Hội thảo hợp tác Việt Nam - Nhật Bản tại Hà Nội, ngày 8-9 tháng 12 năm 2000), nói TCT cần phải giải tán

để tạo ra cạnh tranh, hoặc phải xuất hiện các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Các TCT có thể biểu lộ sức mạnh khi họ đối mặt với cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ khác và khi cạnh tranh nội bộ đã được kiểm soát

PGS.PTS Hoàng Công Thi, Nguyễn Thị Thanh Thảo, “Cải cách DNNN

ở Trung Quốc”(Nhà xuất bản Tài chính, 1999), nhận định rằng sở dĩ cải cách DNNN ở Trung Quốc những năm qua chưa đạt được kết quả như mong muốn là

vì cải cách các DNNN do qúa thận trọng, ban đầu chưa kết hợp được đồng bộ với các cải cách khác như : cải cách thuế, cải cách tài chính, tiền tệ nên dẫn đến tình trạng cải cách DNNN luôn đi sau các cải cách khác, do đó, DNNN phải gánh chịu giá thành của các cải cách khác, tạo thành những khoản nợ lớn, những gánh nặng xã hội khó có thể khắc phục Họ nêu lên cải cách DNNN ở Việt Nam cần phải điều chỉnh nhịp độ cải cách và kết hợp đồng bộ với các cải cách vĩ mô khác

Những kết quả nghiên cứu trên tạo cơ sở để tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu quá trình chuyển đổi của DNNN ở Việt Nam từ góc độ lịch sử kinh tế

3 Các nguồn tài liệu

Về tư liệu luận án, bởi vì công cuộc Đổi Mới nói chung, cải cách DNNN nói riêng đều được đề ra phương hướng và triển khai thực hiện do Đảng và Nhà nước nên rất cần thiết hiểu biết đường lối và chủ trương Đảng Cộng sản và Chính phủ Tôi tham khảo những văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII và IX; nghị quyết, nghị định, quyết định, điều lệ, báo cáo của Đảng, Chính phủ, bộ, ngành, địa phương; tạp chí khoa học, báo chí; sách, luận văn do tác giả Việt Nam và nước ngoài, trong đó có Hàn Quốc Trong những tư liệu này, không ít tư liệu được Sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam cung cấp, nhiều tư liệu được lưu giữ

Trang 14

tại Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Cục lưu trữ Nhà nước, lưu trữ Trung ương Đảng, lưu trữ các tỉnh thành, bộ ngành

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình cải cách DNNN Phạm vi nghiên cứu của luận án là khu vực DNNN ở Việt Nam, từ năm 1986 đến năm

2000 Nhưng để có cái nhìn toàn diện về những nội dung của đổi mới, cần phải xem xét tình hình trước đổi mới, bởi vì đổi mới là sửa chữa những sai sót trước

đó trên quan điểm kế thừa và phát triển chọn lọc kinh nghiệm trong nước và quốc tế Đồng thời, tác giả cũng tham khảo những số liệu sau năm 2000 để phân tích kết quả và định hướng cải cách DNNN

5 Nhiệm vụ và đóng góp của luận án

5.1 Trình bày hệ thống quá trình phát triển và đổi mới DNNN ở Việt Nam

5.2 Đánh giá những thành quả, hạn chế của quá trình cải cách DNNN 5.3 Bước đầu rút ra một số nhận xét về quá trình đổi mới DNNN ở Việt Nam thông qua nhận thức của một nghiên cứu sinh người nước ngoài

Qua việc làm tròn những nhiệm vụ trên, luận án sẽ đóng góp như sau:

Về phương diện khoa học, ở thời điểm mà từ cuối thập kỷ 80, Liên Xô và các nước Đông Âu bị tan rã và đã chuyển sang kinh tế thị trường, cùng với Trung Quốc, Việt Nam đang triển khai thực hiện Đổi Mới kinh tế để xây dựng một mô hình kinh tế mới mẻ là kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Như trọng tâm của Đổi Mới, việc nghiên cứu về cải cách DNNN sẽ nâng cao sự hiểu biết về tính chất và nội dung của đường lối Đổi Mới mà Việt Nam đang thực hiện

Về phương diện thực tiễn, luận án sẽ cung cấp những nội dung thiết thực

và số liệu mới cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới, và chừng mực nào đó, cho nhà hoạch định chính sách và nhà kinh

Trang 15

doanh, kẻ cả các nhà đầu tư nước ngoài

6 Phương pháp nghiên cứu

Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo và tập hợp sức lực tổng thể của nhân dân Việt Nam mà giành được thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, và hiện đang được toàn dân tin cậy và ủng hộ Cải cách DNNN cũng như công cuộc Đổi Mới đều được triển khai thực hiện theo mục tiêu, đường lối do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra Vì vậy, luận án này coi trọng nghiên cứu đường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam Điều này không có nghĩa là quá trình cải cách DNNN ở Việt Nam chỉ được nhìn nhận và phân tích thuần tuý trên phương diện lý thuyết, mà quá trình trên được phân tích

và đánh giá chủ yếu dựa vào các diễn biến thực tế Phương pháp lịch sử, logic và

so sánh đối chiếu sẽ được vận dụng chủ yếu trong luận án Trên nền lịch sử, tác giả coi trọng việc đi sâu phân tích những khai niệm và giải pháp liên quan đến đổi mới DNNN ở Việt Nam

7 Bố cục luận án

Luận án này bao gồm 3 chương như sau :

Chương I : Những tiền đề đổi mới DNNN ở Việt Nam

Chương II : Đổi mới DNNN 1986-2000

Chương III : Một số nhận xét - kiến nghị

Chương I Những tiền đề đổi mới DNNN ở Việt Nam

Ở chương này, luận án sẽ tập trung làm rõ cơ sở thực tiễn và lý luận tạo tiền đề để Việt Nam tiến hành đổi mới các DNNN, đặc biệt đi sâu phân tích thực trạng các DNNN trước đổi mới và những yêu cầu bức xúc đặt ra ở thời điểm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 thế kỷ XX

Trang 16

Chương II Đổi mới DNNN 1986-2000

Trong chương trọng tâm này, luận án trình bầy những tư tưởng Đổi Mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam và quan niệm, chủ trương mới của Đảng và Nhà nước về DNNN Làm rõ quá trình thực hiện nội dung cụ thể của đổi mới DNNN và đánh giá kết quả trên các khía cạnh chủ yếu

Chương III Một số nhận xét - kiến nghị

Ở chương này, luận án đánh giá tổng quát quá trình cải cách DNNN bằng cách phân tích những mặt tích cực, những mặt tiêu cực, làm rõ những nguyên nhân và đề ra một số nhận xét, kiến nghị để tiếp tục đổi mới DNNN

Kết luận

Trình bày khái quát những luận điểm chủ yếu của luận án gắn với việc phát triển những tư tưởng nổi bật của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới DNNN Việt Nam trong thời kỳ mới, trong đó có Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX

Trang 17

CHƯƠNG 1

NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỔI MỚI DNNN Ở VIỆT NAM 1.1 Lý luận và nhận thức về nhà nước và DNNN trong nền kinh tế thị trường

1.1.1 Về quan hệ của nhà nước và thị trường

1.1.1.1 Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường theo cách tiếp cận lịch

sử kinh tế

Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường đã trở thành một chủ đề quan trọng xuyên suốt lịch sử kinh tế, và xuất hiện rất nhiều lý thuyết và trường phái kinh tế với những quan điểm khác nhau và mâu thuẫn nhau gay gắt Các trường phái được tập hợp lại thành hai dòng chủ yếu Một là, thị trường tự bản thân nó

có thể hoạt động một cách tối ưu Dòng nhận thức này còn được gọi là dòng cổ điển Hai là, thị trường có những khiếm khuyết cần phải được bổ sung bằng sự can thiệp của nhà nước và sự can thiệp đó có thể cải thiện một cách đáng kể hoạt động kinh tế

Trường phái kinh tế cổ điển xuất hiện vào thế kỷ 18, mà đại diện đầu tiên

là Adam Smith đã đưa ra lý thuyết về “bàn tay vô hình” và nguyên lý “nhà nước không can thiệp” vào hoạt động của nền kinh tế Adam Smith lý giải rằng, những hành động xuất phát từ lợi ích cá nhân của con người như được điều khiển bởi một bàn tay vô hình dẫn dắt sản xuất, buôn bán và tiêu dùng, chúng sẽ cùng nhau phụng sự cho phúc lợi chung, cho hạnh phúc của một xã hội hay một dân tộc nhất định Từ việc lý giải như vậy, trường phái kinh tế cổ điển cho rằng mọi sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, vào hoạt động của các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp) sẽ làm méo mó sự phân bổ các nguồn lực của xã hội Vì vậy, theo họ, nhà nước chỉ nên thực hiện một chức năng duy nhất là điều chỉnh

để duy trì các luật chơi của thị trường Tư tưởng như vậy đã thống trị ở các nước

Trang 18

TBCN trong suốt 200 năm, từ cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trong thế kỷ

19 đến những năm 30 của thế kỷ 20

Song, lý thuyết về bàn tay vô hình của trường phái kinh tế cổ điển đã tỏ

ra bất lực khi nền kinh tế của các nước phương Tây rơi vào tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp diễn ra thường xuyên và nghiêm trọng vào những năm 30 của thế kỷ này Lý thuyết Keynes ra đời trong bối cảnh này, mà tư tưởng cơ bản của

nó là phủ nhận vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô ngắn hạn của cơ chế thị trường tự

do và đề cao vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước nhằm kích thích nhu cầu xã hội bằng cách tăng chi tiêu của chính phủ trong việc mua sắm và xây dựng các công trình công cộng, qua đó tạo động lực cho phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp và bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định của nền kinh tế

Tuy nhiên, việc áp dụng lý thuyết Keynes vào thực tiễn cũng không làm giảm tình trạng thất nghiệp và lạm phát trong nền kinh tế TBCN Mặt khác, trong thập niên 70, thế kỷ XX, những thất bại của các chương trình can thiệp của chính phủ đã thu hút các nhà khoa học kinh tế và chính trị nghiên cứu sự thất bại của chính phủ Chính những thất bại của chính phủ đã khích lệ sự phục hồi của dòng kinh tế cổ điển.[47, 12-14]

Hiện nay, lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp ra đời bởi sự kết hợp giữa hai trường phái Keynes và Tân cổ điển Trường phái nền kinh tế hỗn hợp cho rằng nền kinh tế hiện đại muốn phát triển phải dựa vào cả hai cơ chế: thị trường và sự quản lý của nhà nước Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp đang là nền tảng lý luận trong thực tiễn quản lý nhà nước ở nhiều nước với mức độ “hỗn hợp” khác nhau Đây là một lý thuyết đang đựoc áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.[34, 83]

Quan điểm của Mác-Lê-nin về nhà nước và thị trường, tháng 3-1922, tại Đại hội XI Đảng Cộng sản Nga, V.I Lê-nin đã nêu bài học về CNTB nhà nước

Trang 19

dưới CNXH của giai đoạn chuyển đổi từ chủ nghĩa cộng sản thời chiến sang chính sách kinh tế mới.[32, 25]

Cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, CNTB nhà nước được hiểu như

là sự liên minh kinh tế giữa nhà nước với giai cấp tư sản dưới CNTB Các cán

bộ lãnh đạo đảng, các nhà kinh tế như N.I Bu-kha-lin, E.A Prê-ô-bra-gien-xki quan niệm rằng CNTB nhà nước là CNTB Hiểu như thế có nghĩa CNTB nhà nước là kẻ thù của CNXH, của giải cấp vô sản và sẽ là đối tượng của chuyên chính vô sản Lê-nin cho rằng, đó là cách hiểu “sai lầm nhất” một cách hiểu kinh viện Lê-nin nói, “Giai cấp vô sản nắm chính quyền, lúc đầu sẽ tìm cách tổ chức sản xuất lớn và việc phân phối cho nông dân, nhưng sau đó, do những điều kiện văn hoá nên không thể hoàn thành được nhiệm vụ đó, giai cấp vô sản buộc phải

để CNTB tham gia vào sự nghiệp của mình”[36, 141]

Những hình thức mà CNTB tham gia trong nền kinh tế XHCN là:

- Tô nhượng đối với tư bản nước ngoài

- Kinh tế tư bản nhà nước đối với tư bản trong nước

- Kinh tế HTX

Tô nhượng, theo Lê-nin là hình thức hoạt động kinh tế khi chính quyền nhà nước XHCN giao cho nhà tư bản tư liệu sản xuất của mình; nhà tư bản tiến hành kinh doanh với tư cách là một bên ký kết, là người thuê tư liệu sản xuất XHCN, và thu lợi nhuận do tư bản mà mình bỏ ra, rồi nộp cho nhà nước XHCN một phần sản phẩm Lê-nin cho rằng không có sự liên minh kiểu tô nhượng với các tơ-rớt quốc gia của những nước tiên tiến thì Nga lạc hậu và bị tàn phá không thể khôi phục và phát triển nền kinh tế được Khi gặp phải sự phản đối của nhiều đảng viên và quần chúng, Lê-nin nói “Tô nhượng không đáng sợ, nếu chúng ta chỉ giao cho một vài nhà máy, còn đa số nhà máy thì vẫn giữ lại”.[36, 191]

Đối với kinh tế tư bản tư nhân, Lê-nin cho rằng từ trình độ xuất phát về kinh tế, kỹ thuật thấp như nước Nga, đi lên CNXH là môt quá trình lâu dài, vì

Trang 20

thế cách tốt nhất để phát triển kinh tế là làm cho kinh tế tiểu tư sản và tư bản tư nhân phát triển, nhưng phải tìm cách hướng nó vào con đường CNTB nhà nước

và sau đó là bảo đảm chuyển biến từ CNTB nhà nước sang CNXH trong tương lai Trong sự nghiệp này, người nào thu được nhiều kết quả nhất, dù là bằng con đường tư bản tư nhân, thì người đó giúp ích nhiều hơn cho công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga so với những người chỉ ngồi lo cho sự thuần tuý của chủ nghĩa cộng sản mà không thúc đẩy cho sự trao đổi tiến lên Như vậy, CNTB tư nhân lại đóng vai trò trợ thủ cho CNXH.[32, 27]

Vấn đề HTX được Lê-nin chú ý đặc biệt Lê-nin cho rằng, phương tiện tốt nhất giúp cho việc lưu thông kinh tế là HTX: “bộ máy phân phối tốt nhất là HTX mà CNTB đã để lại cho chúng ta, và chúng ta cần phải giữ lấy bộ máy đó”.[36, 77] Lê-nin coi HTX như là một phương thức cơ bản để tiến lên CNXH

ở một nước mà đa số dân cư là nông dân: “khi nhân dân đã vào HTX tới một mức đông nhất, thì CNXH từ nó sẽ được thực hiện”[36, 45]

Có thể nói, quan niệm kinh tế chủ yếu của Lê-nin là phát triển lực lượng sản xuất trên cơ sở những quan hệ thị trường trong chế độ tư bản độc quyền nhà nước

1.1.1.2 Về sự quản lý của nhà nước đối với kinh tế thị trường

Sự quản lý của nhà nước thể hiện qua hai chức năng : điều chỉnh thị trường và phát triển kinh tế

Về sự điều chỉnh thị trường, theo lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp, một

cơ chế thị trường dù tự do đến đâu cũng có những khiếm khuyết :

- Sự phân hoá giàu nghèo

- Sự thiếu quan tâm đến các công trình công cộng, hay không đáp ứng nổi một số nhu cầu cơ bản của xã hội

- Các vấn đề xã hội như : thất nghiệp, người về hưu, người tàn tật không được chú ý

Trang 21

- Thị trường tự do dẫn đến độc quyền, buôn gian bán lận, đầu cơ làm giảm tính cạnh tranh là động lực phát triển

- Cơ chế thị trường trong nhiều trường hợp kìm hãm sự tiến bộ của khoa học và công nghệ

- Vấn đề môi trường xã hội không được giải quyết

Do nhận thức được những nhược điểm của hệ thống kinh tế thị trường, nên đến nay hầu hết các nước đều tăng cường vai trò của nhà nước trong điều tiết vĩ mô như sau:

- Thiết lập khuôn khổ pháp lý : Nhà nước phải thiết lập một khuôn khổ pháp lý đảm bảo cho nền kinh tế vận hành thuận lợi Các hộ gia đình, các DN và chính phủ đều phải tham gia và tôn trọng các luật chơi này

- Duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô : Chính phủ sử dụng các chính sách tài chính-tiền tệ, thương mại nhằm điều tiết cung cầu, tác động đến sản lượng, đến công ăn việc làm và giá cả của nền kinh tế với mục đích tạo ra môi trường kinh tế ổn định

- Giải quyết các vấn đề công bằng và bảo hiểm xã hội : Nhà nước sử dụng hệ thống thuế luỹ tiến để phân phối lại thu nhập, hỗ trợ người tàn tật, người phải nuôi con, cũng như bảo hiểm thất nghiệp cho người không có công

ăn việc làm và cung cấp các dịch vụ cho người nghèo

- Cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng

Về sự phát triển kinh tế, trong nền kinh tế hỗn hợp của các nước đang

phát triển, ngoài chức năng bảo đảm luật chơi, sửa chữa những khiếm khuyết của thị trường, Chính phủ còn có chức năng tác động vào việc phân bổ lại các nguồn lực phát triển của đất nước, để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá Hay nói cách khác, là bảo vệ và khuyến khích các ngành công nghiệp non trẻ nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu phát triển

Trang 22

Theo kinh nghiệm của các nước Đông-Đông Nam Á, chính phủ can thiệp vào quá trình phát triển kinh tế bằng việc đề ra và thực hiện chính sách công nghiệp thông qua hệ thống kế hoạch định hướng Chính sách công nghiệp

đã trở thành một công cụ quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở các nước NIEs châu Á.[47, 17-19]

Khi can thiệp vào kinh tế thị trường như trên, Chính phủ các nước đều sử dụng hai cách : trực tiếp và gián tiếp Phương pháp gián tiếp là nhà nước dùng các công cụ kinh tế vĩ mô và chính sách để điều tiết và thúc đẩy nền kinh tế Phương pháp trực tiếp là nhà nước với tư cách là một nhà công nghiệp (DNNN) trực tiếp đầu tư thực hiện quá trình kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm thúc đẩy các ngành, các khâu của quá trình tái sản xuất, hay thoả mãn những nhu cầu cụ thể của xã hội Trong thực tế, nhà nước luôn kết hợp cả hai phương pháp để thúc đẩy và điều tiết nền kinh tế.[25, 29]

1.1.2 Về khu vực DNNN

Để điều chỉnh thị trường và đẩy nhanh phát triển kinh tế, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế, và khu vực DNNN là một trong những công cụ quan trọng nhất để nhà nước đạt tới mục tiêu của mình Lịch sử phát triển của các nền kinh

tế trên thế giới cho thấy, khu vực DNNN luôn giữ vai trò quan trọng, và tầm quan trọng của nó bắt nguồn từ yêu cầu giải quyết các mục tiêu xã hội và yêu cầu điều tiết kinh tế vĩ mô trong các nền kinh tế thị trường Một mặt khác, chính

vì vậy, các DNNN trong nhiều lúc, ở nhiều nơi thường kém hiệu quả hơn các

DN tư nhân, hạn chế tính năng động của toàn bộ nền kinh tế Nhưng người ta vẫn không thể nào xoá bỏ chúng một cách dễ dàng Ngược lại làm sao nâng được hiệu suất của các DNNN trở thành chủ đề nóng bỏng của nhiều quốc gia

1.1.2.1 Khái niệm về DNNN

DNNN là những cơ sở kinh doanh do nhà nước sở hữu hoàn toàn hay một phần Quyền sở hữu thuộc về nhà nước là đặc điểm phân biệt DNNN với

Trang 23

DN trong khu vực tư nhân, còn hoạt động kinh doanh là đặc điểm phân biệt chúng với các tổ chức và cơ quan khác của chính phủ

Trên thực tế, tiêu thức cụ thể về DNNN ở nhiều nước trên thế giới còn rất khác nhau Năm 1956 khi nước Anh thành lập Uỷ ban đặc biệt về quốc hữu hoá công nghiệp đã quy định các DNNN gồm 3 điều kiện : 1 Hội đồng quản trị

DN do chính phủ bổ nhiệm; 2 Uỷ ban quốc hữu hoá công nghiệp kiểm tra tài khoản kinh doanh của DN; 3 Thu nhập của DN phần lớn không dựa vào sự cung cấp của quốc hội hoặc của các cơ quan tài chính nhà nước

Ở Pháp, DNNN được xác định là những DN thoả mãn đủ 3 điều kiện : một là, tính công hữu của quyền sở hữu DN, nhờ đó chính phủ xác lập được địa

vị lãnh đạo của nhà nước đối với DN; hai là, có địa vị pháp nhân độc lập, nghĩa

là địa vị của nó trong quá trình kinh tế giống như các DN pháp nhân khác; ba là, thực hiện các hoạt động công thương độc lập, quy định nó là tổ chức kinh tế có hạch toán lỗ lãi chứ không phải là đơn vị hành chính sự nghiệp của chính phủ.[38, 8-9]

Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra 3 quan niệm tiêu biểu về DNNN, đó là: 1 Chính phủ là cổ đông chính trong DN hoặc nếu không thì chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung

mà DN theo đuổi và bổ nhiệm hoặc cách chức ban quản lý DN; 2 DN có nhiệm

vụ sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ bán cho công chúng, hoặc cho các DN tư nhân, DNNN khác; 3 DN phải chịu trách nhiệm về thu chi trong hoạt động về sản xuất kinh doanh.[66, 8]

Từ những sự xác định ít nhiều khác nhau trên, có thể khái quát ra những điểm chung của các DNNN Nhà nước chiếm trên 50% vốn của DN, nhờ đó chính phủ có thể gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các DN, các DN đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân, nguồn thu

Trang 24

chủ yếu đều từ hoạt động kinh doanh và thường phải thực hiện song song cả mục tiêu sinh lợi lẫn mục tiêu xã hội

DNNN thường được phân loại theo mức độ sở hữu và mục tiêu kinh

tế-xã hội

Xét theo mức độ sở hữu, DNNN có 2 loại : loại DNNN chỉ có một chủ

sở hữu vốn duy nhất là nhà nước; Loại DNNN có nhiều chủ sở hữu vốn, trong

đó nhà nước nắm giữ một phần sở hữu nhất định (tuỳ theo quy định của mỗi nước)

Xét theo mục tiêu kinh tế-xã hội, DNNN có 2 loại : DN hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (hoạt động công ích); DN hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận (hoạt động kinh doanh)[25, 35]

Ngoài ra, căn cứ vào sự khác nhau về địa vị pháp luật, DNNN có thể chia thành 3 loại :

- DNNN do chính phủ trực tiếp quản lý, không có đầy đủ địa vị pháp nhân độc lập

Loại DNNN này có nguồn vốn từ ngân sách của các cơ quan chủ quản thuộc chính phủ và các đại biểu chính phủ tham gia vận hành kinh tế, và chủ yếu

là xí nghiệp liên quan đến quốc kế dân sinh như điều trị y tế, giao thông công cộng, điện nước, bưu điện, đường sắt, sản xuất vũ khí Hiện nay, DNNN này không còn thấy nhiều ở các nước nữa

- DNNN có đầy đủ địa vị pháp nhân và toàn bộ tài sản thuộc về nhà nước

Có thể thấy rằng, các DNNN mà toàn bộ tài sản do nhà nước đầu tư và

có đầy đủ địa vị pháp nhân độc lập, ở các nước trên thế giới đều thuộc các lĩnh vực công cộng lấy việc phục vụ xã hội làm mục tiêu cơ bản, như đường sắt, bưu chính, điện, khí ga, nước sạch Loại DNNN này là những thực thể kinh tế được lập ra và kinh doanh dựa theo một pháp quy cụ thể nào đó của nhà nước đồng

Trang 25

thời lệ thuộc vào một cơ quan quản lý đó của nhà nước Tuy có đầy đủ địa vị pháp nhân độc lập đồng thời có quyền tự chủ kinh doanh nhất định trong phạm

vi đã xác định riêng, nhưng các DN này đều phải lấy một mục tiêu cụ thể nào đó của nhà nước làm tôn chỉ hoạt động kinh doanh, và chấp hành sự điều tiết kinh

tế và chức năng quản lý nhất định từ chính phủ

- DNNN hỗn hợp có địa vị pháp nhân độc lập và nhà nước có quyền sở hữu một phần tài sản

Phần lớn ở các nước tư bản, DNNN hỗn hợp là hình thức chủ yếu nhất trong mọi loại hình DNNN Đặc điểm lớn nhất của loại DNNN này là nhà nước tham dự cổ phần, nhờ đó có thể khống chế chúng Nhưng DNNN này hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc của DN tư nhân, thu lợi ích kinh doanh qua cạnh tranh với các DN khác Đồng thời, bằng chế độ tham dự, nhà nước có thể triển khai các hoạt động mà nhà nước cho là có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự phát triển của cả nước, gồm những công trình cơ sở hạ tầng như ngân hàng, đường sắt, đường bộ, vận tải biển , và cũng có thể triển khai mở rộng vào trong các ngành công nghiệp mới DNNN theo chế độ nhà nước tham dự ngày càng tỏ

ra là loại hình DNNN có hiệu quả nhất.[38, 10-14]

1.1.2.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của DNNN

Khu vực DNNN có mặt ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới và đã trở thành một bộ phận tất yếu quan trọng để bù đắp những thiếu hụt của kinh tế thị trường Tuy nhiên, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và điều kiện chính trị cụ thể ở mỗi nước mà chính phủ các nước xây dựng khu vực DNNN với phạm vi

và quy mô khác nhau

Các nước phát triển:

Các nước phát triển đã hình thành khu vực DNNN như một phương tiện

để chính phủ thực hiện những mục tiêu kinh tế vĩ mô và điều chỉnh thất bại của thị trường Nội dung cụ thể là :

Trang 26

- Cung cấp các hàng hoá và dịch vụ công cộng cho dân chúng

- Xác lập sở hữu của nhà nước trong các ngành dễ nảy sinh độc quyền tự nhiên Đó là cách để chính phủ điều chỉnh tình trạng độc quyền

- Tạo công ăn việc làm, khắc phục sự mất cân bằng về phát triển kinh tế vùng

- Để chính phủ có công cụ đưa nền kinh tế vào kiểm soát và hoạt động theo kế hoạch[47, 24-25]

Trong những năm 50, 60, mức độ sở hữu công cộng chiếm tỷ trọng rất lớn

ở các nước phát triển Nhưng vào những năm 80, lại diễn ra một xu hướng ngược lại : xu hướng tư nhân hoá Nguyên nhân chính của nó là do tính kém hiệu quả của DNNN và những thất bại của các chương trình can thiệp của chính phủ

Các nước đang phát triển:

Các nước đang phát triển, vì đi sau, muốn tiến nhanh, đuổi kịp các nước tiên tiến, chính phủ các nước đang phát triển thường dựa nhiều hơn vào các DNNN, xem chúng như những công cụ chủ yếu để tăng trưởng Do vậy, phạm

vi hoạt động của các DNNN không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực công cộng hay các lĩnh vực độc quyền tự nhiên như ở các nước phát triển, mà chúng còn tham

dự vào hoạt động sản xuất kinh doanh Các DNNN ở các nước Đông-Đông Nam

Á có mặt trong các ngành được coi là mũi nhọn và then chốt để duy trì lợi thế cạnh tranh của đất nước trên thị trường quốc tế.[47, 29]

Hoàn cảnh lịch sử của các nước đang phát triển cũng đã góp phần vào việc phát triển khu vực DNNN Vì những nước này đã từng chịu ách thống trị thực dân trong quá khứ, khi giành được độc lập, họ đã quốc hữu hoá những DN của các cường quốc thực dân cũ Sự tập trung sản xuất vào trong tay chính phủ

là cách bảo vệ, chống lại nguy cơ một lần nữa bị sở hữu của nước ngoài xâm nhập và kèm theo đó là sự đe doạ của chủ nghĩa thực dân mới về kinh tế, xây

Trang 27

dựng và củng cố nền kinh tế dân tộc độc lập

Các nước XHCN:

Xuất phát từ lý tưởng xây dựng CNXH dựa trên cơ sở công hữu hoá về tư liệu sản xuất, chính phủ các nước này sau khi giành được chính quyền đã ra sức xây dựng các thành phần kinh tế XHCN, bao gồm một loạt các DNNN và HTX Chỉ sau một thời gian quốc hữu hoá và xây dựng mới, hệ thống DNNN đã có mặt ở hầu khắp các ngành kinh tế và chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế

Sự thống trị của hệ thống DNNN ở các nước XHCN kéo dài suốt từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến đầu những năm 1990.[47, 26]

Trang 28

lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích bao trùm thì các DNNN nhiều khi phải đầu tư phù hợp với kế hoạch quốc gia hoặc phải hy sinh lợi nhuận để thực hiện những mục tiêu xã hội Một hệ quả khác của quyền sở hữu thuộc nhà nước là chủ thể

sở hữu không có mối liên hệ lợi ích bao nhiêu đối với sự thành công hay thất bại của DN, điều này cũng dẫn đến sự kém hiệu quả của DNNN

Một hệ quả đáng lưu ý khác là mặc dù có những hạn chế như trên nhưng

sở hữu thuộc về nhà nước vẫn mang lại cho các DNNN một thế mạnh vượt trội các DN tư nhân, do đó DNNN không nỗ lực để tự vượt qua khó khăn mà nương nhờ vào nhà nước

1.1.2.4 Về tiến trình cải cách của DNNN

Những đặc trưng của DNNN như trên cho thấy DNNN gần như thiếu những điều kiện cần thiết cho sự kinh doanh có hiệu quả như các DN tư nhân trong một nền kinh tế thị trường Thế thì DNNN liệu phải biến mất khỏi nền kinh tế thị trường chăng? Tại sao DNNN vẫn tồn tại và phát triển, cho dù đó là

sự phát triển không đều trong từng thời điểm khác nhau của quá trình vận động của một nền kinh tế?

Như đã phân tích ở phần trước, lịch sử thế giới cho thấy khu vực DNNN

có nhiều chức năng tích cực như điều chỉnh thất bại của thị trường, làm ổn định đời sống kinh tế-xã hội và thúc đẩy công nghiệp hoá mà khu vực kinh tế tư nhân không thể và không muốn đảm nhận Vấn đề đặt ra là phải tiến hành cải cách để nâng cao hiệu quả của khu vực DNNN như thế nào? Các nước trên thế giới đã và đang phấn đấu để có được những biện pháp nâng cao tính năng động

và hiệu suất của DNNN Theo kinh nghiệm đó, cải cách DNNN thường gồm ba quy trình cơ bản:

- Tiến hành phân loại, sắp xếp hợp lý toàn bộ khu vực DNNN Chính phủ các nước đều rà soát lại xem những DNNN nào cần giữ lại, DNNN nào cần loại

bỏ và làm thế nào để loại bỏ được những DN xét thấy không cần thiết Điều này

Trang 29

liên quan trước hết đến sự nhận định về vai trò mà các DNNN cần phải có trong một nền kinh tế, đi đôi với sự đánh giá những nguồn lực mà chính phủ sẽ phải

bỏ ra để giám sát, theo dõi và cung cấp tài chính cho chúng về lâu dài

- Cải tiến tổ chức, nâng cao hiệu suất của từng DNNN Những DN được chính phủ giữ lại đều phải đổi mới theo chương trình cải cách Nội dung chủ yếu của chương trình này là tăng cường quyền tự chủ và đổi mới cơ chế tổ chức quản lý của DNNN để nâng cao tính hiệu suất sản xuất kinh doanh

- Thay đổi thể chế kinh tế, tạo ra môi trường cạnh tranh bằng cách khuyến khích phát triển khu vực tư nhân, đặt các DNNN trong sự cạnh tranh bình đẳng với khu vực kinh tế tư nhân là một biện pháp kinh tế vĩ mô quan trọng để thúc đẩy các DNNN làm ăn có hiệu quả.[38, 36-46]

Khi tiến hành cải cách khu vực DNNN, ba bộ phận này cần được thực hiện đồng bộ và hữu cơ Trải qua những quá trình cải cách như trên, khu vực DNNN các nước trên thế giới đang được bổ sung những thiếu sót và được biến thành DN hoàn hảo hơn nữa để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đã được giao

1.2 DNNN trước Đổi Mới ở Việt Nam - quá trình hình thành, phát triển, thành quả và hạn chế

Kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam luôn bị nằm trong tình trạng chiến tranh và sự chia cắt Trong tình hình chiến tranh lâu dài, kinh tế Việt Nam, đặc biệt kinh tế hàng hoá không phát triển Nền kinh tế bao cấp XHCN theo mô hình Liên Xô trước đây (kinh tế sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) có điều kiện tồn tại lâu dài ở Việt Nam

Lý luận và mô hình kinh tế của Liên Xô là xây dựng chế độ sở hữu đơn nhất, sự bao biện và độc quyền của chính phủ đối với kinh tế ở thành phố; kế hoạch có tính mệnh lệnh chỉ huy và tập quyền cao độ; chế độ làm thay hoặc chế

độ bao cấp trong DN; chế độ quản lý hành chính toàn diện và chế độ bao cấp từ

Trang 30

trên xuống dưới Còn nữa, mối quan hệ hàng hoá-tiền tệ và cơ chế thị trường đều bị coi là những phạm trù kinh tế TBCN đối lập với kinh tế XHCN

Phương thực tổ chức, quản lý điều hành sản xuất, mô hình kinh tế và chế

độ quản lý tập trung bao cấp, phân phối sản phẩm của thời kỳ ấy tạo cho xã hội

có độ ổn định cao trong chiến tranh Tổ chức HTX nông nghiệp cho phép huy động nhân lực tối đa ở khu vực kinh tế này cho tiền tuyến Mặt khác, nó không

có hiệu quả cao về mặt kinh tế, người lao động không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của mình Nhưng trong điều kiện đất nước có chiến tranh lâu dài, những trạng thái bất ổn ấy có thể chưa bộc lộ hết hậu quả, bởi vì chiến tranh có những quy luật, những nhân tố phi kinh tế của nó

Trong bối cảnh lịch sử như trên, mô hình kinh tế bao cấp XHCN du nhập vào, phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh lâu dài của Việt Nam Việt Nam đã triệt tiêu kinh tế cá thể ở thành phố và nông thôn; quy mô HTX nông nghiệp ngày một lớn, nhà nước ngày càng can thiệp nhiều hơn, kinh tế tập thể dần dần phát triển thành kinh tế gần như quốc doanh; chế độ bao cấp được thực hiện trong kinh tế ở thành phố, đặc biệt là ở các DNNN, trên thực tế là một chế độ cung cấp thời chiến Trong tình trạng này, mối quan hệ hàng hoá-tiền tệ, sự hạch toán kinh tế và kinh doanh lấy lãi trên thị trường, thậm chí cả trong các DN đều bị mất chỗ đứng

1.2.1 Qúa trình hình thành và phát triển của DNNN trước Đổi Mới

Trong thời kỳ đầu cải tạo và xây dựng CNXH ở Việt Nam, các DNNN được hình thành từ ba nguồn sau đây:

- Nhà nước thực hiện chính sách quốc hữu hoá các tư liệu sản xuất nằm trong tay đế quốc, tư sản mại bản Từ nền tảng vật chất đó nhà nước tổ chức lại thành các cơ sở kinh tế quốc doanh, thực chất là DN công nghiệp nhà nước nhưng hồi ấy gọi là xí nghiệp công nghiệp quốc doanh

Trang 31

- Nhà nước thực hiện cải tạo các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư sản dân tộc, biến thành xí nghiệp công tư hợp doanh và cuối cùng biến thành các xí nghiệp quốc doanh

- Nhà nước đầu tư xây dựng thêm nhiều DNNN bằng các nguồn vốn viện trợ của nước ngoài (Liên Xô cũ, Trung Quốc và một số nước XHCN khác)

và bằng nguồn vốn NSNN Đây là con đường ra đời quan trọng nhất của các DNNN Việt Nam.[73, 65]

Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, hệ thống DNNN đã được hình thành Trong khoảng thời gian trên 40 năm (1945-1986), hệ thống DNNN đã trải qua mấy giai đoạn lớn :

1.2.1.1 Giai đoạn 1945-1954:

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Sau một tháng, thực dân Pháp trở lại xâm lược Toàn dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc kéo dài 9 năm, kết thúc vào năm

1954, giải phóng hoàn toàn miền Bắc

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Việt Nam thực hiện chủ trương

“vừa kháng chiến vừa kiến quốc” Để phù hợp với điều kiện kháng chiến, các cơ

sở công nghiệp được thành lập theo quy mô nhỏ, phân tán bí mật Công nghiệp quốc phòng phát triển với tốc độ nhanh Nhà nước đã thành lập các xưởng sản xuất vũ khí, cơ sở quân nhu, quân dược bảo đảm nhu cầu cơ bản cho quân đội Đáng lưu ý là một số xưởng vũ khí như xưởng Phan Đình Phùng ở Bắc Bộ, xưởng Cao Thắng ở Thanh Hoá và xưởng Đặng Thái Thân ở Nghệ An đã được nhân dân góp vốn xây dựng.[56, 31] Điều này cho thấy tình hình lịch sử lúc bấy giờ là sau Cách mạng tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã chủ động đối phó trước

sự đe doạ của chiến tranh và tính chất của chính quyền Việt Nam Những xưởng chế tạo vũ khí ấy cũng là công xưởng chế tạo cơ khí đầu tiên, đặc biệt đã tiêu biểu cho nền công nghiệp chế tạo cơ khí mới phôi thai ở Việt Nam

Trang 32

Song song với công nghiệp quốc phòng, nhà nước cũng đã xây dựng và phát triển công nghiệp dân dụng trong những ngành như than, khai khoáng, cơ khí, hoá chất, dệt, thuốc lá, xà phòng, giầy da, diêm Các xí nghiệp dân dụng của nhà nước có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm cho nhu cầu tối thiểu của dân, cung cấp phân bón và nông cụ cho nông nghiệp, cung cấp máy móc thiết bị cho công nghiệp

Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo đã sản xuất ra từ những ngày đầu của kháng chiến máy in, máy hơi, máy nổ Khi nhu cầu đòi hỏi, xưởng ấy đã chuyển sang sản xuất cân treo và máy xay gạo cho Kho thóc, hòm gỗ để cung cấp cho Ngân hàng và Quân giới Khi bộ phận đúc và rèn rỗi việc, xưởng lại làm chảo gang, nồi đồng, lưỡi cày Ngoài ra, xưởng đó còn sản xuất máy nghiền, máy thái sắn, quạt lò ga

Mỏ than Lam Sơn, Làng Cẩm và Tân Thành sản xuất than cám, đồng thời cũng sản xuất than cốc để cung cấp cho quân giới, nhà máy giấy Việt Nam, các xưởng nông cụ, xưởng thuỷ tinh

Mỏ chì Bắc Sơn vừa tổ chức khai thác, vừa tổ chức luyện kim, vừa sản xuất ra chì là sản phẩm chính, vừa sản xuất được ăng-ti-moan

Nhà máy giấy Hàng Văn Thụ đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp giấy để in bạc, cung cấp giấy cho các cơ quan và nhân dân Với độ ba nghìn tấn thiết bị cũ của nhà máy giấy Đáp Cầu của Pháp di chuyển lên Việt Bắc trên một quãng đường dài trên 150 cây số, công nhân đã xây dựng nên nhà máy giấy lớn nhất ấy của thời kháng chiến

Xí nghiệp dệt Thống Nhất với 70 khung dệt và xí nghiệp dệt Tháng Tám với 50 khung dệt đã cung cấp một số lượng tương đối khá về vải màn cho Quân nhu [56, 39]

Nói chung các DNNN hoạt động theo chế độ cung cấp DN sản xuất theo

kế hoạch cụ thể của nhà nước, được nhà nước cấp vốn, trả lương, lãi lỗ nhà nước

Trang 33

chịu Cơ sở pháp lý đầu tiên quy định về tổ chức DNNN là Sắc lệnh số 104-SL

về “ấn định nguyên tắc căn bản của DN quốc gia” do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 1-1-1948.[42, 740] Một năm sau, Sắc lệnh này được bổ sung bằng Sắc lệnh 9-SL ban hành ngày 25-2-1949 về phân cấp thành lập các DN Hoạt động của các DNNN được thực hiện theo điều lệ tạm thời số 214-TTg, do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 30-12-1952.[25, 75]

Vai trò của DNNN trong giai đoạn này là trực tiếp phục vụ kháng chiến

và dân sinh, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế kháng chiến, mặc dù trình độ kỹ thuật rất thô sơ lạc hậu song đã góp phần bảo đảm thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến

1.2.1.2 Giai đoạn 1955-1975:

Sau khi hoà bình lập lại, miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế XHCN Thành phần kinh tế nhà nước được xây dựng từ trong kháng chiến phát triển nhanh chóng ở những ngành như công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp, nông nghiệp Nhờ sự giúp đỡ của các nước XHCN khác, DNNN phát triển mạnh trong ngành công nghiệp nặng Mặt khác, DNNN được hình thành do Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp quản, quốc hữu hoá của chính quyền thực dân ở miền Bắc, các công ty nước ngoài (Pháp) và do Nhà nước đầu tư từ vốn ngân sách Hầu hết các đơn vị ở nhóm thứ 2 này thuộc các ngành công nghiệp nhẹ Do yêu cầu khôi phục kinh tế DNNN đã bắt đầu vươn lên giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Hệ thống DNNN trong thời kỳ này phát triển qua hai giai đoạn với mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau Giai đoạn mười năm trước và sau năm 1965 (tức là trước và sau khi bùng nổ chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ vào miền Bắc)

Trong 10 năm đầu, nhiệm vụ chính là khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN Hội nghị Trung ương khoá III lần thứ 14 tháng 11-1958 đề ra kế hoạch 3 năm

Trang 34

cải tạo và phát triển kinh tế miền Bắc (1958-1960) với nhiệm vụ là cải tạo XHCN thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư doanh, phát triển kinh tế quốc doanh.[25, 76] Trong giai đoạn này, kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh là đối tượng của cuộc cải tạo XHCN nhằm cải biến nền kinh tế quốc dân thành nền kinh tế XHCN với hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đối với các xí nghiệp tư bản lớn, nhà nước cải tạo thành công tư hợp doanh Nhà nước trực tiếp đứng ra quản lý các xí nghiệp, nhà tư sản được hưởng lãi theo cổ phần Đến cuối năm 1960, thành phần kinh tế tư bản tư doanh ở miền Bắc về căn bản bị xoá bỏ Các xí nghiệp công tư hợp doanh dần dần bị thu hẹp

và hoà nhập vào kinh tế quốc doanh

Công nghiệp quốc doanh năm 1957 mới chiếm 66,6% giá trị sản lượng công nghiệp (không kể thủ công nghiệp), năm 1960 đã chiếm tới 90,8%; Nông trường quốc doanh từ 16 đơn vị cuối năm 1957, đến năm 1960 đã có 44 đơn vị; Vận tải quốc doanh năm 1957 mới chiếm 50,2% tổng khối lượng hàng hoá chu chuyển, năm 1960 đã chiếm tới 75,5%; thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán năm 1957 mới chiếm 31,3% tổng mức bán lẻ của bộ máy thương nghiệp thuần tuý, đến năm 1960 đã tăng lên tới 74,3%

Từ năm 1957 đến 1960 giá trị sản lượng công nghiệp (kể cả thủ công nghiệp) tăng bình quân hàng năm 22,6% Tỷ trọng của công nghiệp (kể cả thủ công nghiệp) trong giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp từ 31,4% trong năm

1957 đã tăng lên 42,6% trong năm 1960, công nghiệp hiện đại đã từ 10,5% tăng tới 17,3%

Công nghiệp quốc doanh bình quân hàng năm tăng 51,2%; công nghiệp địa phương đã được phát triển mạnh mẽ, sản xuất năm 1960 tăng gấp 10 lần năm

1957 Công nghiệp cơ khí từ 5,66% đã tăng lên 9,8%, công nghiệp khai thác và chế biến gỗ từ 7,0% tăng lên 10,2%, công nghiệp khai thác và luyện kim có chất sắt đã bắt đầu hình thành và chiếm tỷ trọng 0,4% Công nghiệp sản xuất hàng

Trang 35

tiêu dùng phát triển với tốc độ bình quân hàng năm 16,1% Nhờ vậy, miền Bắc

từ chỗ trước kia phải nhập hầu hết mặt hàng tiêu dùng, nay đã tự cung cấp được phần lớn mặt hàng chủ yếu cần thiết cho đời sống của nhân dân.[65, 9]

Trong giai đoạn này, DNNN giữ vai trò chủ yếu như là một công cụ thực hiện đường lối cải tạo XHCN Ở nhiều nơi, DNNN được xây dựng một cách tập trung Hội nghị TW lần thứ 7 (khoá III) tháng 6-1962 đã đề ra phương hướng công nghiệp hoá đất nước là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Từ năm 1961, nhà nước đã đầu tư vào ngành công nghiệp mỗi năm là 343 triệu đồng, gấp 3 lần

so với thời kỳ 1955-1960 Trong thời kỳ này đã hình thành một số khu công nghiệp ở Hà Nội, Việt Trì, Thái Nguyên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vinh DNNN phát triển mạnh trong ngành điện lực, cơ khí, hoá chất, khai thác khoáng sản Bên cạnh đó nhà nước cũng ra sức phát triển ngành công nghiệp thực phẩm

và công nghiệp nhẹ Tính đến năm 1965, ngành công nghiệp nhẹ đã có trên 500

DN

Trong giai đoạn này, DNNN vẫn hoạt động trong chế độ quản lý như trước là nhà nước cấp phát toàn bộ vốn Tuy nhiên khác với trước là chuyển từ sản xuất phục vụ quốc phòng sang sản xuất phục vụ đời sống nhân dân và xây dựng kinh tế, DNNN đã thi hành từng bước chế độ hạch toán kinh tế theo quyết định 130-TTg ban hành ngày 4-4-1957.[25, 78]

Trong 10 năm tiếp theo, chiến tranh của Mỹ leo thang ra miền Bắc, nhiệm vụ của hệ thống DNNN ngoài việc sản xuất hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng còn phải sản xuất hàng hoá quốc phòng phục vụ sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước Phương châm “tất cả cho sản xuất, tất cả cho đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tất cả vì thống nhất đất nước ” là tư tưởng chính chi phối hành vi quản lý các DN

DNNN hình thành và phát triển chủ yếu trong các ngành công nghiệp, tiếp đến là thương mại, giao thông vận tải và dịch vụ bưu chính viễn thông Tỷ

Trang 36

trọng của DNNN (kinh tế quốc doanh, công tư hợp doanh) xét về chỉ tiêu tổng sản phẩm xã hội, kinh tế quốc doanh chiếm từ 38,4% (năm 1960), đến 45,5% (năm 1965) và 44,4% (năm 1973), 47,5% (năm 1974), 51,7% (năm 1975) [50, 70] (xem bảng 1)

Công nghiệp luôn được coi là lĩnh vực có vai trò quyết định nhất trong kinh tế quốc doanh Trong 12 ngành công nghiệp chủ yếu thuộc nhóm A và B, vai trò của DNNN gần như chi phối tuyệt đối về số lượng doanh nghiệp, lực lượng lao động cũng như gía trị tổng sản lượng Những DNNN hình thành ngay

từ đầu của giai đoạn này và đồng thời là lực lượng kinh tế lớn mạnh nhất của nền kinh tế là: điện lực, khai thác và chế biến nhiên liệu, luyện kim đen, luyện kim màu, cơ khí, hoá chất, vật liệu xây dựng, khai thác chế biến gỗ, thuỷ tinh, sành sứ, dệt, da, may, nhuộm, thực phẩm, in và văn hoá phẩm Trong những lĩnh vực này hệ thống DNNN giữ vai trò độc quyền

Trong giai đoạn này, nhất là 10 năm của phân đoạn sau, DNNN ở các ngành và lĩnh vực được phân cấp quản lý, do đó đã có sự phát triển mạnh về số lượng các DNNN do các địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) quản lý Nhóm A tập trung vào các ngành công nghiệp do Trung ương quản lý

và phát triển nhanh hơn số lượng DN thuộc nhóm B trong tất cả các thời kỳ của giai đoạn 20 năm phát triển công nghiệp Việt Nam.[1, 84](xem bảng 2)

và tiếp quản, cải tạo và xây dựng DNNN theo ngành và địa phương

Trang 37

Ở miền Nam, sau ngày giải phóng thống nhất đất nước có khoảng 200.000 nhà tư sản, gấp 10 lần số lượng tư sản miền Bắc năm 1954 Giai cấp tư sản ở miền Nam có vốn và tài sản lớn hơn Công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam đã được tiến hành mạnh mẽ theo chủ trương của Đảng Các xí nghiệp của tư sản mại bản và tư sản bỏ chạy ra nước ngoài đều bị quốc hữu hoá và chuyển thành DNNN Đến năm 1976, tư sản mại bản và tư sản lớn bị xoá bỏ Năm 1978 nhiệm vụ cải tạo công thương nghiệp tư sản tư doanh được coi là hoàn thành về cơ bản.[25, 81]

Trong thời kỳ này, sự phát triển về số lượng đối với DNNN trong các ngành công nghiệp theo nhóm A và công nghiệp địa phương vẫn chiếm vị trí hàng đầu Việc phân bố theo vùng, tỉnh không đều cuối năm 1976 trong số 1913 DNNN trong công nghiệp, ở miền Bắc có 1269 DN chiếm 66,4% và miền Nam

có 643 DN chiếm 33,6%.[1, 86](xem bảng 3)

Trong 10 năm này, số lượng DNNN tăng lên 1,68 lần, trong đó nhóm B tăng nhanh hơn nhóm A, công nghiệp địa phương tiếp tục tăng nhanh hơn công nghiệp trung ương So với năm 1980, năm 1987 giá trị sản lượng nhóm A bằng 104,7% còn nhóm B bằng 241,2% Sự chuyển đổi cơ cấu hệ thống DNNN theo hướng trên phù hợp với thực tế là : sau giải phóng miền Nam, nhu cầu của dân

cư về những nhu yếu phẩm tăng lên trong khi cung cầu về các mặt hàng này luôn căng thẳng

Trong thương nghiệp và giao thông vận tải, số lượng DNNN và tỷ trọng của chúng trong tổng giá trị bán lẻ xã hội và tổng mức hàng hoá luân chuyển trong mười năm đã tăng lên rõ rệt Về thương nghiệp bán lẻ tỷ trọng này đã là 37,0% trong năm 1976, giảm xuống 29,8% năm 1980 và vượt lên xấp xỉ 40,7% trong năm 1985.[51, 240]

Xét về đóng góp, trong tổng sản phẩm xã hội của hệ thống DNNN trong thời kỳ này đã có chiều hướng giảm sút

Trang 38

Năm 1960 = 38,4% Năm 1980 = 35,5% Năm 1984 = 35,2%

Năm 1965 = 45,5% Năm 1981 = 35,2% Năm 1985 = 35,7%

Năm 1970 = 44,4% Năm 1982 = 33,1% Năm 1986 = 37,3%

Năm 1975 = 51,7% Năm 1983 = 33,2%[50,70][51,24]

Nguyên nhân của sự giảm sút này là ở chỗ trong giai đoạn 1976-1986 đã

có sự tăng trưởng không đồng đều của các ngành thuộc các thành phần kinh tế khác nhau DNNN chỉ tập trung chủ yếu trong hai ngành lớn là công nghiệp và thương mại, rất ít phát triển trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp Trong khi

đó sau khi thống nhất đất nước, các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân là lực lượng lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp Thậm chí ở miền Nam, trong công nghiệp và vận tải, thành phần tư nhân, cá thể cũng có tỷ trọng lớn Kết quả trên cũng có phần đóng góp của các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế

tư nhân, cá thể ở cả hai miền sau ngày thống nhất đất nước Nhờ vậy đã làm tăng kinh tế ngoài quốc doanh và giảm tỷ trọng kinh tế DNNN

Qúa trình hình thành và phát triển DNNN trong thời kỳ này cho thấy ngay từ đầu tư tưởng cơ bản của Đảng và Nhà nước, thông qua các chính sách

và bố trí đầu tư, là làm phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng hệ thống DNNN, làm cho chúng trở thành lực lượng kinh tế chiếm ưu thế tuyết đối trong các ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế, trước hết là trong công nghiệp, xây dựng, giao thông, vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại và dịch vụ Các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm ở miền Bắc trong thời kỳ 1955-1975 và trong cả nước trước Đổi mới là những kế hoạch tăng tỷ trọng DNNN trong GDP và giảm tương ứng GDP của các thành phần kinh tế khác.[1, 92]

1.2.2 Những thành quả và yếu kém của khu vực DNNN

1.2.2.1 Những thành quả và ý nghĩa

Trang 39

Trong lịch sử gần 4 thập kỷ, từ kháng chiến, khôi phục và phát triển kinh

tế ở miền Bắc cho đến sau khi thống nhất đất nước phát triển kinh tế trong điều kiện cả nước có hoà bình, DNNN đã dần dần trở thành hệ thống, hiện thân của sức mạnh nòng cốt của kinh tế nhà nước, là phương tiện vật chất giúp Nhà nước giải quyết thành công các nhiệm vụ kinh tế-chính trị-xã hội qua các thời kỳ DNNN đã có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến của toàn dân tộc Việt Nam, bảo đảm hậu phương ổn định, chi viện cho tiền tuyến một cách đắc lực, hoàn thành sứ mệnh của mình trong bối cảnh đất nước có chiến tranh Cụ thể:

- Phát triển nền kinh tế quốc phòng phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, góp phần giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước

- Cải tạo thành phần kinh tế tư bản tư nhân, thủ tiêu chế độ người bóc lột người và thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất

- Thực hiện chủ trương công nghiệp hoá đất nước theo hướng XHCN, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

- Tạo ra của cải vật chất cho xã hội, làm tăng thu nhập quốc dân, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật

- Thu hút lực lượng lao động đáng kể tham gia vào quá trình sản xuất vật chất, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ CBCNVC và cán bộ khoa học kỹ thuật

- DNNN giữ vị trí chủ đạo trong các ngành then chốt như than, điện, luyện kim, cơ khí, hoá chất.[25, 83]

Trên thực tế, so với năm 1960, giá trị sản lượng công nghiệp trong khu vực DNNN năm 1975 tăng 4,39 lần Trong thương nghiệp, số cửa hàng bán lẻ

và tổng mức bán lẻ của thương nghiệp nhà nước tăng 12,53 lần và 25,21 lần Trong ngành giao thông vận tải, khối lượng hàng hoá luân chuyển và khối lượng hành khách luân chuyển của các DNNN tăng 3,25 lần và 3,15 lần Năm 1975, số

Trang 40

lượng CNVC và trí thức làm việc trong DNNN là 1.753.400 người, tăng hơn 3,6 lần so với năm 1960.[25, 80] Như vậy, DNNN trước thời kỳ đổi mới là nhằm mục đích xây dựng quan hệ sở hữu XHCN trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân

1.2.2.2 Những yếu kém và nguyên nhân

Do chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và quá trình thực thi

mô hình CNXH kiểu cũ, DNNN ở Việt Nam tập trung vào phát triển nền kinh tế quốc phòng và xây dựng quan hệ sở hữu XHCN trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân DNNN được nhận thức như là một tổ chức hành chính của Nhà nước hơn là một đơn vị sản xuất kinh doanh với mục tiêu chủ yếu là phục vụ chiến tranh, thực hiện cải tạo XHCN, phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, chứ không phải là nhằm mục tiêu kinh tế vì lợi nhuận Vai trò này của DNNN tiếp tục được thực hiện bởi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp của Nhà nước, biểu hiện trên những nét cụ thể như sau :

Nhà nước quản lý DNNN trực tiếp bằng các chỉ tiêu pháp lệnh Kế hoạch sản xuất của DNNN được Nhà nước quy định một cách tỉ mỷ và chặt chẽ DNNN giữ vai trò như một cơ sở hành chính, chỉ việc chấp hành mệnh lệnh của cấp trên Mọi sự thay đổi trong kế hoạch và tổ chức sản xuất đều phải báo cáo lên cơ quan chủ quản và phải được sự đồng ý mới được triển khai Theo Nghị quyết 244-CP/HĐBT (20-12-1976), hệ thống pháp lệnh hàng năm giao cho các DNNN là :

- Giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện, trong đó ghi rõ giá trị sản lượng hàng hoá xuất khẩu

- Sản lượng sản phẩm chủ yếu theo chỉ tiêu chất lượng quy định, trong

đó ghi rõ sản lượng sản phẩm xuất khẩu

- Một số chỉ tiêu tiến bộ khoa học-kỹ thuật mà Nhà nước cần nắm

- Nhịp độ tăng năng suất lao động, mức tăng năng suất lao động tính bằng hiện vật

Ngày đăng: 29/06/2022, 05:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w