Ở Thổ Nhĩ Kì: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những
Trang 1Phạm thị ngọc
Mssv: 0954020624
Sau 30 năm xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung, hơn 10 năm xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Đồng thời chúng
ta cũng phải đối mặt với những vấn đề do nhiều nguyên nhân, ảnh hưởng gây ra Những thành tựu to lớn mà Đảng- Nhà nước- Nhân dân ta đã đạt được đều có sự đóng góp của nhiều nhân tố, trong đó ngành Ngân hàng có những đóng góp đáng kể
A, NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1), Định nghĩa
Đầu tiên ngân hàng thương mại là một loại ngân hàng trung gian Ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại Ví dụ: Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vị tài chính Ở Pháp: ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà
họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính Ở Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư Ở Thổ Nhĩ Kì: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những
Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
2) Chức năng của NHTM
2,1.Chức năng trung gian tín dụng:
Hoạt động chính của NHTM là đi vay để cho vay, điều đó thể hiện rõ NHTM thực hiện chức năng trung gian tín dụng Một mặt, NHTM huy động các khoản tiền nhàn rỗi ở mọi chủ thể trong xã hội từ các doanh nghiệp, các hộ gia đình, cá nhân cơ quan nhà nước Mặt khác, các NHTM dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay lại đối với những chủ thể có
Trang 2nhu cầu bổ sung vốn Theo những cách thức đó NHTM là một trung gian
về tín dụng gĩư những chủ thể dư thừa về vốn và những chủ thể có nhu cầu
về sử dụng vốn
Những hoạt động trên của NHTM mang tính chất kinh doanh, bởi vì khi cho vay, NHTM đặt ra một mức lãi xuất cao hơn so với khi huy động vốn Những hoạt động đó ngày càng được mở rộng nhiều, nó tiết kiệm được những chi phí về thông tin và giao dịch cho nền kinh tế
Như vậy, với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã hỗ trợ, khắc phục những hạn chế của cơ chế phân phối vốn trực tiếp, tạo ra một kênh điều chuyển vốn quan trọng Kết quả của những hoạt động đó góp phần nâng cao hiệu quả trong việc điều chuyển vốn của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm cho người lao động
2.2.,Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Trên cơ sở những hoạt động đi vay để cho vay, NHTM đã cung cấp các dịch vụ thanh toán cho các khách hàng Thay cho việc thanh toán trực tiếp, các doanh nghiệp, cá nhân có thể nhờ NHTM thực hiện những công việc này dựa trên những khoản tiền họ đã gửi ở ngân hàng, thông qua việc mang tiền của người phải trả chuyển cho người được hưởng bằng nhiều hình thức khác nhau với kỹ thuật ngày càng tiên tiến và thủ tục ngày một đơn giản
Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…)
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông
và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc
độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán được thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống ngân hàng thương mại Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp
vụ cho vay
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển
Trang 3tiền bằng điện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử dụng sec ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng Họ thanh toán bằng cách nối mạng các máy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng
Những dịch vụ thanh toán của NHTM ngày được ưa chuộng vì nó đem lại
sự thuận tiện, an toàn và tiết kiệm chi phí hơn cho những chủ thể trong nền kinh tế Đối với NHTM, khi thực hiện chức năng thanh toán sẽ tạo điều kiện để mở rộng quan hệ khách hàng, không chỉ hỗ trợ cho sự phát triển của hoạt động huy động tiền gửi mà còn đối với cả hoạt động cho vay Qua chức năng này, NHTM cũng đã góp phần giám sát kỷ luật tài chính, giữ gìn
kỷ cương phép nước trong toàn xã hội
2.3 Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp
Những hoạt động mà NHTM thực hiện làm hình thành nên một cơ chế tạo tiền trong toàn hệ thống ngân hàng Ban đầu, với những khoản tiền dự trữ nhận được từ NHTW, NHTM sử dụng để cho vay, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại NHTM một phần khi người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn Quá trình huy động tiền gửi và cho vay của NHTM trên cơ sở lượng tiền do NHTW cung ứng sẽ được kéo dài và chỉ dừng lại khi nào toàn bộ lượng tiền do NHTW cung ứng ban đầu đã quay trở về hết NHTW dưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc Khi đó, các NHTM đã có một số dư rất lớn trên các khoản tiền gửi không kỳ hạn Đây chính là số tiền do các NHTM tạo ra, bởi vì những khách hàng gửi tiền có thể sử dụng nó để thanh toán, chi trả dưới hình thức thanh toán qua ngân hàng, mà không cần sử dụng tới tiền mặt do NHTW phát hành
Khối lượng tiền do các NHTM tạo ra có ý nghĩa kinh tế to lớn, nó mở
ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quá trình sản xuất, đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền của xã hội bên cạnh lượng tiền do NHTW phát hành
Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh tóan trong hệ thống ngân, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương mỗi nước Vậy tiền “bút tệ” được NHTM tạo ra bằng cách nào? Bây giờ chúng ta giả sử rằng tất cả các NHTM đều không
Trang 4giữ lại tiền dự trữ quá mức quy định, các sec không chuyển thành tiền mặt
và các yếu tố phức tạp khác bị bỏ qua thì quá trình tạo thành tiền như sau:
Tên các ngân hàng Tiền gửi mới Thanh toán cho vay mới Dự trữ bắt buộc Ngân hàng A 1.000.000 900.000 100.000
Ngân hàng B 900.000 810.000 90.000
Ngân hàng C 810.000 729.000 81.000
Tiền toàn hệ thống ngân
hàng 10.000.000 9.000.000 1.000.000
Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc
là 10% thì số tiền nó có thể cho vay là 900.000 Khoản tiền cho vay đó được đưa đến người vay, người vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất trong nhà vì như thế họ phải chịu lãi một cách vô ích, họ dùng tiền đó chi trả các khỏan Và số tiền đó đến tay người được chi trả, người chi trả đem
số tiền đó gửi vào ngân hàng B, ngân hàng B lúc này sẽ có một lượng tiền gửi mới là 900.000 Dự trữ bắt buộc là 10%, số tiền có thể cho vay là 810.000 Số tiền này được cho người cần vay vay, người cho vay chi trả các khỏan đến người được chi trả, người được chi trả đem số tiền được trả gửi vào ngân hàng C Lúc này ngân hàng C sẽ có số tiền gửi mới là 810.000 Và cứ như thế tiếp tục… cho đến khi lượng tiền gửi mới bằng 0 Người ta tính được rằng lượng tiền gửi mới trong tòan hệ thống ngân hàng
là 10.000.000, lượng tiền dự trữ bắt buộc là 1.000.000 và tiền cho vay là 9.000.000 Và do cách thức này mà tiền đã được tạo ra trong hệ thống ngân hàng 2 cấp
II/ Ngân hàng trung ương (NHTƯ)
1 Khái niệm
NHTW là một định chế công cộng , có thể độc lập hoặc trực thuộc chính phủ ; thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền , là ngân hàng của các ngân hàng , ngân hàng của chính phủ và chịu trách nhiệm trong
Trang 5việc quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ , tín dụng cho các mục tiêu phát triển ổn định của cộng đồng
2 Chức năng
a Chức năng phát hành tiền
Vai trò độc quyền phát hành tiền được Ên định vào ngân hàng phát hành và là cơ sở để NHTW có thể thực hiện chức năng khác Số lương tiền cần phát hành và thời điểm cần phát hành tuỳ thuôc vào nhu cầu tiền tệ dù tính trong mét giai đoạn nhất định trên thị trường để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế
b.Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng trung gian
* Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian Bằng những quy định bắt buộc các ngân hàng phải có một lượng tiền dự trữ bắt buôc hay tiền gửi thanh toán NHTM sẽ có một tài khoản trong hê thống ngân hàng trung ương NHTW lúc này như là thủ quỹ cho các khách hàng _ ngân hàng
* Là trung tâm thanh toán cho hệ thống các ngân hàng trung gian
Vì các ngân hàng trung gian đều mở tài khoản ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHTƯ nên chúng có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTƯ thay vì thanh toán trực tiếp với nhau.Với lợi thế của mình NHTƯ có thể thực hiện thanh toán bù trừ cho các ngân hàng trung gian và chỉ ghi chép vào tài khoản số lêch sau khi bù trừ
* Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian
Trang 6Nhằm phát hành tiên thêm theo kế hoạch, bổ sung vốn khả dụng cho hoat động của các ngân hàng trugn gian mot cách thường xuyên,TRơ giúp cho ngân hàng trung gian trong những lúc khó khăn cần vốn
c, Ngân hàng trung ương là ngân hàng của chính phủ.
Làm thủ quỹ cho kho bạc nhà nước thông qua quản lý tài khoản của kho bạc, NHTW có trách nhiệm theo dõi chi trả thực hiện thanh toán và cấp vốn theo yêu cầu của kho bạc
Làm đại lý và tư vấn cho chính phủ Đại lý trong việc phát hành chứng khoán chính phủ khi chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách,Tham gia vào quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội Hay có thể cho chính phủ vay khi cần thiết
d.Thanh tra dám sát hoat động của hệ thống ngân hàng.
Để đảm bảo sự hoạt động ổn định của hệ thông ngân hàng Tạo điều kiện cho các ngân hàng tâp trung vào kinh doanh đem lai lợi nhuận tối ưu cho Ngân hàng
Bảo vệ công chúng đầu tư để họ yên tâm tham gia vào quá trình lưu thông tiền tệ Đem lại Ých không chỉ cho các tổ chức ngân hàng
mà còn đem lại lợi Ých cho khách hàng
III Mối quan hệ hỗ trợ
Trang 71.Thanh toán chứng khoán khi đến hạn
hoặ làm đại lý tư vấn cho chính phủ Dịch vụ mà NHTW cung cấp thường xuyên và có hiệu quả cho chính phủ là đại lý trong việc phát hành chứng khoán chính phủ Khi chính phủ có nhu cầu bù đắp thâm hụt ngân sách NHTW thực hiện một dich vụ đại lý toàn phần cho các hoat động phát hành chứng khoán Chính phủ.Sau khi phân phối chứng khoản tróng thầu
và nhận tiền vào kho bạc nhà nước Cuối cùng việc tổ chức thanh toán chứng khoán khi đến hạn thông qua các ngân hàng trung gian trong đó có NHTM
Các khoản tín dụng cung ứng cho chính phủ nhằm bù đắp cho thiếu hụt tạm thời trong năm tài chính hoặc bội chi ngân sách vào cuối năm tài chính .Việc tạm ứng cho ngân sách là trách nhiệm của ngân hàng trung ương Thực chất việc cho Ngân sách nhà nước vay trực tiếp là làm tăng lượng tiền và dự trữ của các ngân hàng thương mại Hoặc phần lớn các khoản tín dụng được cấp gián tiếp thông qua tái chiết khấu các trái phiếu kho bạc tại các ngân hàng trung gian
Như vậy NHTM đã đứng ra như một trung gian cho NHTW thực hiện chi trả cho khách hàng lượng tiền mua chứng khoán.Cũng như làm phương tiện để NHTW tái chiết khấu trái phiếu kho bạc nhà nước Giúp NHTW hoàn thành quá trình tạo tiền , thực hiện chức năng cho chính phủ vay bù dắp cho thâm hụt ngân sách
2.Thông qua dự trữ bắt buộc
Để đảm bảo tránh những rủi ro thanh khoản khi ngân hàng mất lòng tin , hay do biến cố thị trường khách hàng rút tiền hàng loạt Mọi ngân hàng buộc phải để lại trong ngân hàng trung ương một lượng dự trữ bắt
Trang 8buộc Đối với các ngân hàng thì NHTW là một nơi cất giữ an toàn nhất lượng tiền dự trữ .Cung cấp cho họ khi họ lâm vào tình trạng khó khăn hay cần thiết Đăc biệt NHTM là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ngân hàng , lượng tiền đầu tư lưu thông trên thị trường lớn , hệ số rủi ro cao ( chiếm 2/3 tổng số tài sản có trong quỹ dự trữ NHTW ) Để lại trong NHTW lượng tiền dự trữ bắt buộc lớn NHTW sẽ sử dụng này để làm công cụ cho chính sách tiền tệ , hay có thể kiểm soát và điều tiết được khả năng mở rộng tiền gửi tối đa của hệ thống ngân hàng :
+ NHTW quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc , bé phận dự trữ dư thừa trứơc đây trở thành dữ trữ bắt buộc , làm giảm khă năng cho vay của
hệ thống NHTM
+ Tỷ lệ dữ trữ bắt buộc là một thành phần nằm trong mẫu số của công thức tạo tiền Vì thế sự tăng lên của tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm
hệ số tạo tiền và do đó khả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống ngân hàng + tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên làm mức cung ứng vốn NHTW trên thi trường liên ngân hàng.Trong điều kiện nhu cầu vốn khả dụng không thay đổi , sù giảm sút này làm tăng lãi suất liên ngân hàng , từ đó gây ảnh hưởng đến các mức lãi suất dài hạn và khối lượng tiền cung ứng
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là câu` nối trực tiếp giữ 2 hệ thống ngân hàng , được NHTW sử dông như một phương tiện quản lý trực tiếp hoạt động ngân hàng thương mại và gián tiếp đến mức lãi suất tiền gửi của khách hàng Làm tăng hoặc giảm lượng tiền lưu thông phù hợp tình hình kinh tế trong một thời gian nhất định
Trang 93.Thông qua tỷ lệ dự trũ dư thừa của hệ thống thương mại
Thường các ngân hàng dự trữ trong NHTW một luợng tiền lớn hơn lượng tiền dự trữ bắt buộc đó là lượng tiền dư thừa Tỷ lệ tiền này tăng lên
do các nhu cầu cần thiết cho hoạt động của nó có ý nghĩa là số dự trữ để tạo tiền gưỉ giảm đi Để đáp ứng được thay đổi đó , ngân hàng thực hiện việc thu hồi các khoản vay hoặc bán bớt chứng khoán nắm giữ Với ảnh hưởng trong toàn bộ hệ thống , hành động này sẽ làm giảm tiền gửi và do
đó mà lượng tiền cung ứng của toàn bộ nền kinh tế Với lượng tiền này nó cũng đã gây ảnh hưởng NHTW buộc NHTW phải tác động vào để làm tăng lượng tiền cung ứng của ngân hàng thương mai, thông qua dự trữ bắt buộc
Lượng tiền dư thừa này cũng như các luợng tiềng dự trữ khác no cũng được đem ra sử dụng hoạt động đầu tư kinh doanh đem lại lợi nhuận cho NHTW hay trợ giúp các gặp khó khăn
4 Hoạt động của NHTM
Với sự hoạt động có hiệu quả luôn tìm ra những dịch vụ mới phù hợp nhu cầu của khách hàng Trong tình hình hiện nay việc thanh toán, chuyển khoản , vay vốn trong hệ thống NHTM rất thuận tiện nhanh gọn Cùng sự trợ giúp bằng hành lang pháp lý cũng như quyền lực của NHTW NHTM dần tạo được uy tín và lòng tin đối với khách hàng kích thích họ tham gia vào hoạt động ngân hàng Gửi số tiền nhàn rỗi Sè vốn huy động đó được đàu tư tham gia vào quá trình sản xuất triệt để kinh doanh sinh lời cho NHTM Đối với NHTW lượng nhàn rỗi được huy động trong công chúng ngày càng nhiều , làm tăng lưu thông tiền tệ Giúp NHTW thực hiện tốt chức năng lưu thông tiền tệ, tránh đươc tối thiểu
Trang 10lượng tiền cần phát hành tiền để bù đắp cho thâm hụt hay lượng tiền cần bổ sung trong thời gian nhất định
NHTM là ngân hàng mọi hoạt động đều dưới sự quản lý , điều khiển và chi phối của NHTW Dưới sụ bảo hộ NHTM tích cự tham gia vào việc cùng NHTW thực hiện tốt muc tiêu chung cho nền kinh tế tiền tệ hoàn thiện
IV/ Mối quan hệ trợ giúp
1.Thông qua quyền lực của NHTW
NHTW là ngân hàng của nhà nước , thực hiện theo định hướng của nhà nước đưa ra Mặt khác NHTW có chức năng quản lý hệ thống các ngân hàng trung gian Vì thế để thống nhất hoạt động giữa các ngân hàng theo một mục tiêu chung phát triển nền kinh tế , đem lại lợi Ých cho nhà nước NHTW phải đặt ra hành lang pháp lý NHTM Giúp các NHTM hoạt động đúng dắn không đI chệch hướng theo đường lối chung đem lại lợi Ých cao nhất không chi cho khách hàng mà còn đem lai lợi ich chung cho nền kinh tế .Vì thế mà NHTM phả chấp hành thưc hiện theo đúng khuôn khổ của NHTW đề ra Tạo ra một hệ thống vững mạnh , xây dùng lòng tin trong công chóng , khiến họ cảm thấy ngân hàng là của nhà nước , làm việc phục cho nhân dân ,yên tâm khi tham gia vào hệ thống ngân hàng , sẵn sàng gửi vào lưọng tiền “chết”
Với quyền lực và uy tín của NHTW khi bảo đảm cho sù hoat động của NHTM thì dường như không còn tình trạng rót tiền hàng loạt của khách hàng không còn.Chức năng dù trữ bắt buộc như mét phương tiện bảo hộ an toàn thanh toán khi gặp rủi ro của các NHTM không mấy phải
sử dụng