Những đặc điểm nổi bật của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ là sự phân quyền phân cấp trong quản lý, sự dân chủ trong việc thực thi các chính sách giáo dục, sự đa dạng về loại hình trường học cũ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-Tiểu luận:
HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM VÀ LÀO
Môn: Xã hội học Giáo dục và xã hội Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà Thành viên nhóm: Nguyễn Thị Hiền Mai
Youalee SAYAXANG
Hà Nội – 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 3
I KHÁI NIỆM CHUNG 3
1.1 Khái niệm về giáo dục 3
1.2 Khái niệm về giáo dục đại học 3
II HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ 3
2.1 Sơ lược về quá trình phát triển của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ 3
2.2 Hệ thống GDDH Hoa Kỳ hiện nay 4
2.2.1 Cấu trúc hệ thống giáo dục Hoa Kỳ 4
2.2.2 Đặc điểm nền giáo dục 6
2.2.3 Ưu điểm và hạn chế của nền GDĐH Hoa Kỳ 7
III HỆ THÔNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM 10
3.1 Tổng quan GDĐH Việt Nam 10
3.2 Thực trạng GDĐH Việt Nam 11
3.3 Diện mạo mới của giáo dục đại học Việt Nam 12
3.4 Những giá trị của kinh nghiệm giáo dục đại học Hoa Kỳ đối với giáo dục đại học tại Việt Nam 14
IV HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC LÀO 16
4.1 Sơ lược về hệ thống giáo dục đại học Lào 16
4.2 So sánh hệ thống giáo dục Hoa Kỳ và Lào 16
4.2.1 Cấu trúc hệ thống 16
4.2.2 Chương trình giáo dục 17
4.2.3 Phương pháp giáo dục 17
4.2.4 Mục tiêu giáo dục 17
4.2.5 Chất lượng và kiểm đinh 18
4.3 Những giá trị của kinh nghiệm giáo dục đại học Hoa Kỳ đối với giáo dục đại học tại Lào 18 KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3MỞ ĐẦU
Hoa Kỳ là nước đầu tiên xây dựng một hệ thống giáo dục đại học đại chúng, nền giáo dục Mỹ được coi là nền giáo dục hiện đại bậc nhất thế giới với rất nhiều các ưu điểm vượt trội Nền giáo dục của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, luôn nỗ lực cập nhật, học hỏi kinh nghiệm và nâng cao chất lượng giáo dục Hệ thống giáo dục đại học của Hoa Kỳ có nhiều điều để các nước khác học tập Tuy nhiên sự sao chép nguyên vẹn không phải lúc nào cũng phù hợp trong mọi điều kiện hoàn cảnh Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa mạnh mẽ, ranh giới khác biệt mờ đi nhiều xu hướng kinh tế - xã hội đều mang những đặc tính chung trên khắp thế giới, mỗi quốc gia trong xu thế học học, tham khảo vẫn cần có quan điểm, lập trường xây dựng một hệ thống giáo dục đại học riêng biệt dựa trên nhu cầu và tình hình thực tế Việt Nam và Hoa Kỳ có sự khác nhau về nhiều mặt quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học của mình, những mặt khác nhau này bắt nguồn từ đâu? Ý nghĩa của nó trong sự phát triển giáo dục của mỗi quốc gia như thế nào? Việt Nam có thể học tập gì từ kinh nghiệm của hệ thống giáo dục đại học Mỹ? Bài luận dưới đây sẽ làm rõ những nội dung trên
NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM CHUNG
I.1 Khái niệm về giáo dục
Giáo dục được hiểu là một cách truyền đạt và tiếp thu về kiến thức, phong tục và những kỹ năng của con người áp dụng với con người đã được lưu truyền thông qua các thế hệ bởi hình thức giảng dạy, nghiên cứu hoặc đào tạo truyền đạt từ giáo viên, giảng viên tới hệ học sinh, sinh viên trên khắp cả nước Ngoài ra giáo dục còn được thực hiện ngay trong chính môi trường gia đình có thể thấy thông qua cách giáo dục con cái của các bậc phụ huynh về cách đối nhân xử thế,…
Giáo dục sẽ được hình thành và thông qua nhiều giai đoạn khác nhau tuy nhiên đều tuân theo trình tự phù hợp với mức độ tuổi tác: từ giáo dục cấp mầm non, giáo dục tiểu học cho tới giáo dục trung học và cấp độ đại học
I.2 Khái niệm về giáo dục đại học
Khái niệm giáo dục đại học hiểu nôm na là một hình thức đào tạo cao cấp, trung cấp tri thức cho người học Giáo dục đại học xuất hiện ở các trường đại học, các học viện, nó bao gồm ba bậc là cao đẳng, đại học và sau đại học
II HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ
II.1 Sơ lược về quá trình phát triển của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ
Mỹ hay Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là quốc gia có diện tích lớn thứ 3 trên thế giới (3,796,742 mi2) dân số khoảng trên 331 triệu người (điều tra dân số năm 2020) Về mặt hành chính, Hoa Kỳ được chia thành 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang Ngày nay Hoa Kỳ đã trở thành một siêu cường quốc và có ảnh hưởng về nhiều mặt trên phạm vi
Trang 4toàn thế giới Những đặc trưng văn hóa của Hoa Kỳ là: đất nước đa văn hóa và đất nước của những người di cư Trừ một bộ phận nhỏ các bộ tộc thổ dân, hầu hết người Mỹ có nguồn gốc từ các châu lục khác Những đặc điểm này có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ
Nền giáo dục Hoa Kỳ đã phát triển ngay từ khi những nhóm người di cư châu Âu đầu tiên đặt chân đến Bắc Mỹ Những trường đại học đầu tiên đã được thành lập từ những năm 1630 Với quan điểm truyền thống là giáo dục thực dụng, nhiều loại hình lớp học và trường học đã ra đời để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng của các bộ phận dân cư nhằm mục đích thiết thực là tồn tại và phát triển trên đất nước được cho là Thế giới mới Hiện nay, nền giáo dục Hoa Kỳ là một trong những nền giáo dục tiên tiến nhất trên thế giới Sự tiên tiến thể hiện ở cơ hội tiếp cận giáo dục, phương pháp giảng dạy, quy mô trường lớp, và nghiên cứu trong giáo dục, v.v… Hệ thống trường học cũng như chương trình giảng dạy không thống nhất trên toàn quốc Giáo dục công lập ở bậc phổ thông miễn phí và bắt buộc từ 6 đến 16, 17 hoặc 18 tuổi tùy theo mỗi bang Giáo dục phổ thông gồm 12 năm học nhưng sự phân chia các cấp tiểu học, THCS và THPT khá phức tạp và không thống nhất; sự phân chia có thể là 6-6, 8-4, 6-3-3, hoặc 4-4-4 tùy theo từng địa phương Giáo dục đại học bao gồm cao đẳng, cao đẳng cộng đồng, đại học, chương trình thạc sĩ, chương trình tiến sĩ và nghiên cứu sau tiến sĩ
Những đặc điểm nổi bật của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ là sự phân quyền phân cấp trong quản lý, sự dân chủ trong việc thực thi các chính sách giáo dục, sự đa dạng về loại hình trường học cũng như phương thức đào tạo, và sự ứng dụng sâu rộng những tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại trong quản lý cũng như hoạt động dạy và học Sự nghiệp giáo dục của Hoa Kỳ là sự quan tâm của liên bang, là trách nhiệm của mỗi bang
và là chức năng của từng địa phương
Quá trình hình thành và phát triển của giáo dục đại học Hoa Kỳ (10 thế hệ giáo dục)
II.2 Hệ thống GDDH Hoa Kỳ hiện nay
Giáo dục Mỹ được xem là nền giáo dục hiện đại bậc nhất thế giới Giáo dục Mỹ được xây dựng và phát triển với hệ thống đa dạng cùng quy mô đào tạo lớn và thậm chí
có vẻ là phức tạp Nền giáo dục Mỹ phản ánh lịch sử, văn hóa và những giá trị tốt đẹp của một quốc gia tiên tiến Đồng thời, luôn cập nhật và áp dụng kịp thời những tiến bộ khoa học và ứng dụng công nghệ hiện đại vào giảng dạy Bởi thế, Mỹ trở thành lựa chọn du học hàng đầu của học sinh, sinh viên trên toàn thế giới
II.2.1 Cấu trúc hệ thống giáo dục Hoa Kỳ
Hệ thống giáo dục Hoa Kỳ bao gồm 12 năm học phổ thông, với trước đó là 1 đến 2 năm giáo dục mầm non và sau đó là các chương trình học được cấp bằng qua các giai đoạn: cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ Thêm vào đó là các chứng chỉ không được cấp bằng Ngoài ra còn có các chương trình giáo dục đặc biệt, giáo dục thường xuyên và cơ
Trang 5bản cho người lớn, học tập tại chức vào thời gian nhàn rồi, giáo dục và đào tạo nghề nghiệp thường xuyên Việc hoàn thành mỗi bậc học hay giai đoạn học là điều kiện tiên quyết để vào học bậc kế tiếp Tuy nhiên một số ngành cũng chấp nhận sinh viên tốt nghiệp đại học học tiếp lên bậc tiến sĩ mà không cần qua chương trình thạc sĩ Rất nhiều công cụ đánh giá được sử dụng để xác định nhu cầu học tập, đánh giá kết quả học tập và xác định điều kiện lên học bậc học cao hơn
Sơ đồ 1: Cấu trúc của nền giáo dục Hoa Kỳ
Trang 6Giáo dục đại học: bao gồm cao đẳng, đại học, và sau đại học, gọi chung là giáo dục
đại học
Cao đẳng, đại học, và sau đại học là giáo dục không bắt buộc Cao đẳng cộng đồng kéo dài khoảng hai năm Học ở trường cao đẳng cộng đồng ít tốn kém hơn và thường đòi hỏi đầu vào thấp hơn so với những trường đào tạo bốn năm Các tín chỉ ở trường cao đẳng cộng đồng có thể được chuyển tiếp lên chương trình đại học bốn năm để lấy bằng
cử nhân Chương trình đại học thường kéo dài từ hai đến bốn năm Chương trình Thạc sỹ kéo dài từ một (chương trình lý thuyết) đến hai năm (chương trình nghiên cứu) Chương trình Tiến sỹ đòi hỏi nghiên cứu chuyên sâu khoảng từ bốn đến bảy năm
Giáo dục Đại học ở Hoa Kỳ được xem là hấp dẫn nhất thế giới, vì thế hàng năm nó thu hút hàng triệu sinh viên quốc tế từ hầu hết các quốc gia trên thế giới Thông thường các trường đại học tư thục nổi tiếng hơn và được xếp hạng cao hơn các trường công Với
hệ thống đào tạo tín chỉ ưu việt, với những đổi mới về công nghệ giáo dục tiên tiến, và với những hoạt động nghiên cứu sâu rộng, giáo dục đại học Hoa Kỳ luôn đi đầu trong việc tạo ra những tiến bộ về khoa học công nghệ của Hoa Kỳ nói riêng và của nhân loại nói chung
Đa số sinh viên Hoa Kỳ (khoảng 70%) học đại học từ nguồn cho vay của chính phủ, các trường đại học hoặc các nhà cho vay vì thông thường cha mẹ hết trách nhiệm cấp dưỡng đối với con cái trên 18 tuổi Mặc dù học phí đối với bậc đại học khá cao so với các nước đang phát triển, chính phủ liên bang, các nguồn quỹ phi lợi nhuận và các trường đại học đã cấp rất nhiều học bổng toàn phần hoặc một phần cho học sinh sinh viên quốc tế để
họ có cơ hội hưởng được nền giáo dục đại học của Hoa Kỳ Những chương trình học bổng phổ biến ở Việt Nam như Fulbright, Ford Foundation, Havard Yenching, East-West Center, Hubert H Humphrey Program v.v… đã tạo điều kiện cho hàng trăm sinh viên có năng lực theo học tại các trường đại học danh tiếng ở Hoa Kỳ trong những năm qua
II.2.2 Đặc điểm nền giáo dục
Tính phi tập trung: đối với hệ thống giáo dục đại học Hoa Kỳ không có một bộ
hoặc cơ quan trung ương nào của Chính phủ Liên bang quản lý trực tiếp, đưa ra những phương hướng chỉ đạo nghiêm ngặt hoặc những khuôn mẫu áp đặt từ trên xuống
Tính đại chúng: Một đặc điểm gần gũi với tính thức tiễn và có quan hệ gắn bó với
tính thực tiễn là tính đại chúng Tuy chịu ảnh hưởng của hệ thống GDĐH Anh quốc nhưng ngay từ khi xây dựng, nền GDĐH đã có tính đại chúng
Tính thực tiễn: tuy GDĐH Hoa Kỳ du nhập từ châu Âu, chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của các mô hình GDĐH truyền thống hàn lâm của châu Âu, đặc biệt của Anh và Đức nhưng tính truyền thống đó không hoàn toàn áp đặt mọi sắc thái của GDĐH Hoa Kỳ GDĐH tập trung đạo tào theo yêu cầu của sản xuất, xã hội Chính vì việc đào tạo gắn
Trang 7chặt với yêu cầu của thực tiễn là một trong những yếu tố giúp GDĐH Hoa Kỳ có sức sống mạnh mẽ và được đánh giá cao
Tính thị trường Trong toàn bộ hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ cũng như trong
hoạt động của từng trường đại học, sức mạnh của thị trường chi phối rất rõ rệt Khi người mua là sinh viên thì các trường đại học với vai trò là người bán phải cạnh tranh nhau để thu hút sinh viên Còn ngược lại, sinh viên là người bán thì sự canh nhau thể hiện ở cơ hội việc làm Cả 2 chủ thể đó đều cùng tận dụng các cơ hội trong thị trường việc làm vào quy mô và chương trình học/đào tạo Tuy được coi trong nhưng GDĐH Hoa Kỳ không phó mặc cho thị trường, họ luôn có những tác động gián tiếp hỗ trợ thêm cho các tác động tích cực của thị trường, tạo nên sự cân bằng cho hệ thống
II.2.3 Ưu điểm và hạn chế của nền GDĐH Hoa Kỳ
a) Ưu điểm
Sự đa dạng hóa và tính đa dạng Nền GDĐH Hoa Kỳ có rất nhiều loại trường
đại học với những mục tiêu khác nhau, tuyển những sinh viên có những mối quan tâm và năng lực học thuật khác xa nhau, và phục vụ những mục tiêu khác nhau của xã hội Mô hình tổ chức đào tạo cũng rất đa dạng Với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều trường học, đặc biệt là các trường đại học, đã cung cấp các chương trình dài hạn hoặc khóa học ngắn hạn trực tuyến để tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn cho những người vì lý
do nào đó không đến trường được
Tuyển sinh mở Bất kì người nào/độ tuổi nào muốn theo học một trường sau
trung học đều có thể chấp nhận Một số trường vẫn có các yêu cầu đầu vào cao nhưng tất
cả mọi người có bằng tốt nghiệp phổ thông đều có thể được nhận vào một trường đại học nào đó Tuy nhiên do các yêu cầu về chất lượng và kiểm định cao nên không phải ai học cũng tốt nghiệp, tỉ lệ sinh viên nghỉ học giữa chừng vẫn khá cao
Tính cơ động Sinh viên có thể đổi trường học khi họ không hài lòng với trường
đang học, mối quan tâm hoặc năng lực học tập của họ thay đổi Các sinh viên có thể bị hấp dẫn bởi các hứa hẹn được hỗ trợ nhiều hơn, uy tín cao hơn, hay phù hợp hơn với mối quan tâm
Tính cạnh tranh và thương mại hóa giáo dục Tính cạnh tranh mạnh mẽ trong
toàn hệ thống – cạnh tranh để có được sinh viên giỏi nhất, những giáo chức có năng lực nhất, những nguồn kinh phí cho nghiên cứu và cả vị thế của nhà trường
Quyền tự do học thuật Giáo chức và sinh viên đều có quyền tự do về học thuật
để theo đuổi những nghiên cứu, nêu lên những vấn đề về học thuật và về xã hội và nói chung là họ có thể viết mà không sợ bất cứ áp lực nào Nhờ việc tự do học thuật tạo nên sức sáng tạo trong giảng dạy và học tập
Tính ổn định của đội ngũ giáo chức Mặc dù đã và đang có nhiều thay đổi về
bản chất của việc bổ nhiệm giáo chức và sắp xếp hoạt động học thuật, hầu hết giảng viên
Trang 8thuộc khối giáo dục sau trung học đều được bổ nhiệm toàn thời gian ổn định, điều đó đem lại cho họ sự an toàn về nghề nghiệp và đảm bảo quyền tự do học thuật đồng thời có mức sống tương xứng
Hệ thống quản lý chất lượng và kiểm định chất lượng mạnh
Kiểm định chất lượng ở Hoa Kỳ là một sự xem xét và công nhận tình trạng chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đại học Hệ thống kiểm định Hoa Kỳ bao gồm các tổ chức kiểm định khu vực, các tổ chức kiểm định quốc gia có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và các tổ chức kiểm định nghề nghiệp Chính các tổ chức kiểm định chất lượng của Hoa Kỳ cũng phải được các tổ chức khác kiểm định, trong
đó có Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (United State Depatment of Education-USDE) và Hội đồng Kiểm định giáo dục đại học (Council for Higher Education Accreditation-CHEA)
Kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Hoa Kỳ có mục đích đảm bảo cho một nền giáo dục đại học liên tục được cải tiến nhằm đáp ứng tối đa yêu cầu sử dụng nhân lực của các nhà tuyển dụng lao động, đảm bảo một sự cải tiến liên tục cho hệ thống giáo dục đại học Kiểm định chất lượng giáo dục đại học được triển khai thực hiện bởi các tổ chức kiểm định giáo dục đại học mang tính chất phi lợi nhuận Nhà nước không trực tiếp kiểm định các cơ sở giáo dục đại học và chương trình giáo dục mà thực hiện công nhận các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục thông qua các hoạt động của USDE và CHEA công nhận các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Hoa Kỳ Tính đến tháng 8/2018 có 8 tổ chức kiểm định khu vực và 4 tổ chức kiểm định quốc gia liên quan đến tôn giáo ở Hoa Kỳ được USDE và CHEA đồng công nhận, tuy nhiên có một tổ chức kiểm định được USDE công nhận nhưng CHEA chưa công nhận Trong số 7 tổ chức kiểm định nghề nghiệp được USDE công nhận năm 2018 thì chỉ có 2 tổ chức được CHEA công nhận 41 tổ chức kiểm định chương trình được USDE và CHEA đồng công nhận; 17 tổ chức kiểm định chương trình được USDE công nhận nhưng chưa được CHEA đồng công nhận và, ngược lại, 18 tổ chức kiểm định được CHEA đồng công nhận nhưng chưa được USDE công nhận Các thông tin trên cho thấy: trong khi các trường đại học và chương trình giáo dục đại học đang nỗ lực để được các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học công nhận rằng các trường đại học và chương trình giáo dục đại học đáp ứng các yêu cầu về chất lượng thì chính các tổ chức kiểm định cũng phải tìm kiếm sự công nhận bởi các tổ chức khác như USDE và CHEA Đó là cơ chế để đảm bảo tính khách quan và được xã hội công nhận một cách rộng rãi
Các tổ chức kiểm định trường và chương trình đều phải thực hiện quy trình tự đánh giá và đánh giá ngoài theo quy trình và tiêu chuẩn đánh giá để được CHEA hoặc USDE công nhận 124 tổ chức kiểm định muốn được công nhận phải nộp một báo cáo tự đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn do CHEA hoặc USDE quy định CHEA hoặc USDE sẽ thăm
Trang 9tổ chức kiểm định và có báo cáo thực địa Theo đó, CHEA và USDE đưa ra các quyết định công nhận hoặc không công nhận tổ chức kiểm định đó
Các tổ chức kiểm định được định kì đánh giá Ví dụ: chu kì đánh giá định kì của CHEA là 10 năm, có đánh giá giữa kì; trong khi đó, USDE có chu kì đánh giá 5 năm/lần Các tổ chức kiểm định có thể tìm kiếm sự công nhận của CHEA hoặc USDE hoặc của cả hai với các mục đích khác nhau Sự công nhận của CHEA nhằm khẳng định vị thế của tổ chức kiểm định trong cộng động giáo dục đại học, còn sự công nhận của USDE là nhằm
hỗ trợ các tổ chức kiểm định tìm kiếm các khoản tài trợ của chính phủ
Có thể nói, ở Hoa Kỳ, kiểm định được xem là công cụ để chứng minh về sự đảm bảo chất lượng giáo dục của các trường đại học và chương trình đối với sinh viên và xã hội Đó là những tiêu chuẩn tối thiểu mà cơ sở giáo dục phải đạt được như cơ sở vật chất, thư viện, dịch vụ phục vụ sinh viên, chất lượng đào tạo Ngoài ra, việc một trường đại học hay một chương trình giáo dục đại học được kiểm định chất lượng còn là cơ sở để các nhà tuyển dụng tiếp nhận những sinh viên tốt nghiệp từ các trường và chương trình được kiểm định Ngay cả việc các sinh viên muốn chuyển đổi tín chỉ giữa các trường thì chỉ có thể thực hiện thuận lợi giữa các trường hay chương trình được kiểm định Khác với Hoa Kỳ, ở Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới, việc cấp kinh phí cho các trường đại học còn mang tính bình quân theo đầu sinh viên mà chưa quan tâm đến chất lượng đào tạo Các tổ chức kiểm định cũng chưa được đánh giá định kì nên cũng chưa đảm bảo rằng các tổ chức kiểm định đã được thành lập và cấp phép hoạt động đang thực hiện tốt nghiệm vụ được giao
(theo Trần Thị Ngọc Bích, Nguyễn Vinh Quang, Kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Hoa Kỳ và những bài học đối với Việt Nam, Tạp chí Khoa học giáo dục, Tập
63, Số 12, trang 122-126)
Nền giáo dục hướng vào sinh viên (sinh viên là chủ thể của giáo dục) Người
học được quyền chọn lựa và quyết định Giáo dục Mỹ bắt đầu từ nhu cầu và sở thích của người học Để phát huy tính dân chủ, giáo dục Mỹ cho phép người học được lên kế hoạch học tập của bản thân Người học được chọn trường, chọn môn học, và chọn giáo viên Ngoài một số môn bắt buộc, người học được đăng kí và chọn môn học, giờ học theo nhu cầu, trình độ
Thứ hai, người học được tham gia tích cực vào quá trình học của mình Ở các trường, giáo viên các cấp được gọi là người hướng dẫn “Facilitator” hoặc “Instructor” chứ không phải là người dạy “Teacher” Học sinh, sinh viên là nhân vật trung tâm và đóng vai trò tích cực và chủ đạo trong quá trình học
b) Hạn chế
- Nền giáo dục thực dụng – chú ý đến nhu cầu cá nhân
- Chưa có chuẩn chương trình thống nhất trên toàn quốc gia
Trang 10- Tính kỷ luật
- Học phí cao và chênh lệch: Không chỉ các khoản chi cho mỗi sinh viên ở hầu hết các trường đại học Mỹ là cao, nhưng các khoản gánh chịu bởi phụ huynh và sinh viên ở cat hai khu vực công lẫn tư (đặc biệt trước khi trừ đi các khoản trợ cấp và giảm học phí) cũng cao hơn so với các nước khác Sinh viên và gia đình phải chi một loạt các khoản bao gồm học phí, các khoản lệ phí bắt buộc và các khoản chi phục vụ học tập như sách vở, ăn
ở và đi lại Điều này do có một truyền thống lâu dài là phụ huynh đã phải trả những khoản học phí tương đối cao trong khu vực tư nhân, do phần lớn mọi người thường tin tưởng rằng GDĐH thường đền đáp lại rất thỏa đáng cả về mặt tiền bạc lẫn các mặt khác cho cả phụ huynh lẫn sinh viên
III HỆ THÔNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
III.1 Tổng quan GDĐH Việt Nam
Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp
Hệ thống GDĐH Việt Nam mang tính mở, phát triển theo hướng đa ngành, đa nghề,
đa địa phương, xã hội hóa Cả nước có 237 trường đại học, đạt mức bình quân trường đại học trên đầu người xấp xỉ 1:410.000 (với dân số 97 triệu hiện nay), được phân làm 2 nhóm chính: công lập 172 trường và tư thục 65 trường; đại học công lập giữ vai trò quan trọng nhất trong hệ thống GDĐH Việt Nam với tỉ lệ hơn 72% tổng số các cơ sở GDĐH Đối với đại học công lập có hai cơ chế hoạt động chính, đó là nhà nước kiểm soát
và tự chủ Với cơ chế tự chủ các trường đại học sẽ được quyền quyết định về vấn đề nhân
sự, chương trình đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học và thu chi tài chính Theo quy hoạch, tổ chức các cơ sở giáo dục đại học gồm các hệ thống trường đại học tập hợp nhiều trường đại học thành viên cùng với các trường đại học chuyên ngành, đa ngành và học viện
Đối với đại học tư thục, từ năm 1988 Việt Nam đã có chủ trương xã hội hóa giáo dục, cấp phép cho đại học tư thục được hoạt động Đại học tư thục là một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giáo dục được kiểm soát và quản lí bởi một cá nhân hoặc một tổ chức trong nước hoặc ngoài nước Tuy nhiên, kể từ ngày 17/04/2009 Bộ GD và ĐT đã ngừng cấp phép đào tạo nhóm ngành giáo dục, luật, chính trị, báo chí, công an, quân đội cho các trường đại học tư thục (theo quyết định số 61/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ)
Bộ GD và ĐT là cơ quan quản lí cao nhất của Nhà nước về giáo dục nhưng chỉ quản
lí khoảng 20% số trường đại học, còn lại trực thuộc các bộ ngành, cơ quan ngang bộ, địa phương, chẳng hạn như: ĐH Công nghiệp thực phẩm TPHCM thuộc Bộ Công thương,
ĐH Tài chính – Marketing thuộc Bộ Tài chính, ĐH Tôn Đức Thắng thuộc Tổng Liên