1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài quy luật giá trị và biểu hiện của nó trong nền kinh tế thị trường việt nam

18 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 301,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế, chúng ta cần nghiên cứu về quy luật giá trị, tìm hiểu vai trò và tác động của nó tới nền kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để có thể vận dụng nó khắc

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU Kinh tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho tới năm 1986 đã chuyển

sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là nền kinh tế hỗn hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài Xét về mặt kinh tế, Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc,

Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương, ASEAN,…Kinh tế Việt Nam dưới sự điều hành của chính phủ còn nhiều vấn đề tồn tại cần giải quyết, các vấn đề tồn tại gắn liền với gốc rễ của bất ổn kinh tế vĩ mô đã ăn sâu, bám chặt vào cơ cấu nội tại của nền kinh tế nước này, cộng với việc điều hành kém hiệu quả, liệu dẫn đến liên tục gặp lạm phát cũng như nguy cơ đình đốn nền kinh tế

Chúng ta đã biết được Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của

sản xuất hàng hóa, quy định bản chất của sản xuất hàng hóa Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự xuất hiện của quy luật giá trị Mọi hoạt động của chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chịu sự tác động của quy luật này Chính vì thế, chúng ta cần nghiên cứu về quy luật giá trị, tìm hiểu vai trò và tác động của nó tới nền kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để có thể vận dụng nó khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế và phát triển đất nước Vì vậy em đã

quyết định lựa chọn đề tài “Quy luật giá trị và biểu hiện của nó trong nền kinh tế thị trường Việt Nam”

Em xin cảm ơn sự hướng dẫn và và dạy dỗ tận tình qua các bài giảng của cô giáo Đinh Thị Quỳnh Hà Rất mong sự đóng góp ý kiến của cô để bài tiểu luận hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

CHƯƠNG I: NỘI DUNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ

I Nội dung của quy luật giá trị

1 Quan điểm của Mác về giá trị

Sản xuất hàng hóa chịu sự tác động của nhiều quy luật kinh tế như : quy luật giá trị, quy luật cung-cầu, quy luật lưu thông tiền tệ,… Nhưng vai trò cơ sở cho sự chi phối nền sản xuất hàng hóa thuộc về quy luật giá trị

a) Nội dung và yêu cầu chung của quy luật giá trị

- Khái niệm: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất

và trao đổi hàng hóa, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị

Yêu cầu chung của quy luật giá trị là việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết Cụ thể như sau:

- Trong kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình, nhưng giá trị của hàng hóa không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của từng người sản xuất hàng hóa, mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy, đối với sản xuất, quy luật giá trị buộc những người sản xuất hàng hóa phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình xuống tới mức thấp hơn hoặc bằng mức lao đông xã hội cần thiết

để sản xuất ra hàng hóa đó thì mới tồn tại được

- Đối với lưu thông, quy luật giá trị bắt buộc những người tham gia lưu thông phải tuân thủ nguyên tắc ngang giá Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi kết tinh cùng một lượng lao động như nhau, hoặc trao đổi, mua bán hàng hóa phải thực hiện với giá cả bằng giá trị

- Cơ chế tác động của quy luật giá trị được thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị, cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị

Trang 3

- Quy luật giá trị và sự biểu hiện của một tác trong ba tác động của quy luật này ở Việt Nam

b) Tác động của quy luật giá trị

Trong sản xuất hàng hóa , quy luật giá trị có ba tác động chủ yếu sau:

- Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa

• Điều tiết sản xuất tức là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Tác động này của quy luật giá trị thông qua thông qua sự biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu Nếu ở ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ lên cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy, lãi cao, thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành ấy Do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên Ngược lại, khi cung ở ngành

ấy vượt quá cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống, hàng hóa bán không chạy

và có thể lỗ vốn Tình hình ấy buộc người sản xuất phảo thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào nhành có giả cả hàng hóa cao

• Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị trường Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng hóa thông suốt

- Thứ hai, kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển Trong nền kinh

tế hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng háo là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt của mỗi người khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động xá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa ở thế có lợi, sẽ thu được lãi cao Người sản xuất nào có

Trang 4

hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn Để giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao phí lao động xã hội cần thiết Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến

kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ

- Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động

cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng Họ mua sắm them tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại, những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phá sản, trở thành nghèo khó

c) Biểu hiện của quy luật giá trị trong tư bản tự do canh tranh và

tư bản độc quyền

- Trong thời kì tư bản tự do cạnh tranh: giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất Giá cả sản xuất bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân Tiền đề của giá cả sản xuất là sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân Điều kiện để giá trị biến thành giá cả sản xuất gồm có: đại công nghiệp cơ khí tư bản chủ nghĩa phát triển, tư bản tự do di chuyển từ ngành này sang ngành khác, sư liên hệ rộng rãi giữa các ngành sản xuất, quan hệ tín dụng phát triển.Trước đây, khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất, giá cả xoay quanh giá trị Giờ đây, giá cả hàng hóa xoay quanh giá cả sản xuất Giá trị là cơ sở, là nội dung bên trong của giá cả sản cuât; giá cả sản

Trang 5

xuất là cơ sở của giá cả thị trường, giá cả thị trường xoay quanh giá cả sản xuất

- Thời kì tư bản độc quyền: giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền Do chiếm được vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền đã áp đặt giá cả độc quyền; giá cả độc quyền thấp khi bán, cao khi mua Tuy vậy, giá cả độc quyền vẫn không thoát ly và không phủ định cơ sở của nó là giá trị Các tổ chức độc quyền thi hành chính sách giá cả độc quyền nhằm chiếm đoạt một phần giá trị và giá trị thặng dư của người khác

II Một số quan điểm khác về giá trị

1 William.Petty

Theo ông, nếu như giá cả tự nhiên là giá trị hàng hoá, thì giá cả nhân tạo là giá cả thị trường của hàng hoá Giá cả nhân tạo thay đổi phụ thuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ cung – cầu hàng hoá trên thị trường

Đối với W.Petty, việc phân biệt giá cả tự nhiên - hao phí lao động trong điều kiện bình thường với giá cả chính trị – lao động chi phí trong điều kiện chính trị không thuận lợi có ý nghĩa to lớn Ông là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết giá trị lao động

Lý thuyết giá trị lao động của W.Petty còn chịu ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa trọng thương Ông có luận điểm nổi tiếng là: “Lao động là cha còn đất là mẹ của mọi của cải ” Về phương diện của cải vật chất, đó là công lao to lớn của ông, nhưng ông lại xa rời tư tưởng giá trị – lao động khi kết luận “Lao động và đất đai là cơ sở tự nhiên của giá cả mọi vật phẩm” tức là cả lao động và đất đai là nguồn gốc của giá trị

2 A Đam Simith

Ông chỉ ra rằng tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giá trị, lao động là thước đo cuối cùng của giá trị Ông phân biệt sự khác nhau giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và khẳng định giá trị sử dụng quyết định giá

Trang 6

trị trao đổi Ông chỉ ra lượng giá trị hàng hoá là do hao phí lao động trung bình cần thiết quyết định và đưa ra 2 định nghĩa về giá cả là giá cả tự nhiên

và giá cả thị trường Về bản chất, giá cả thị trường là biểu hiện tiền tệ của giá trị

Lý thuyết giá trị – lao động của A.Smith còn có hạn chế Ông nêu lên

2 định nghĩa: Thứ nhất, giá trị do lao động hao phí để sản xuất hàng hoá quyết định Lao động là thước đo thực tế của mọi giá trị Với định nghĩa này, ông là người đứng vững trên cơ sở lý thuyết giá trị–lao động Thứ hai, ông cho rằng, giá trị là do lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hoá này quyết định Từ định nghĩa này, ông suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh tế hàng hoá giản đơn Còn trong nền kinh tế TBCN, giá trị do các nguồn thu nhập tạo thành, nó bằng tiền lương cộng với lợi nhuận và địa tô Ông cho rằng “Tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập cũng như là của bất kỳ giá trị trao đổi nào” Tư tưởng này xa rời lý thuyết giá trị – lao động “Giá trị là do lao động hao phí để sản xuất hàng hoá quyết định, lao động là thước đo thực tế của mọi giá trị”

3 David Ricardo

Ông phân biệt rõ 2 thuộc tính của hàng hoá là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và chỉ rõ giá trị sử dụng là điều kiện cần thiết cho giá trị trao đổi, nhưng không phải là thước đo của nó Ricardo đặt vấn đề là bên cạnh giá trị tương đối, còn tồn tại giá trị tuyệt đối Giá trị trao đổi là hình thức cần thiết

và có khả năng duy nhất để biểu hiện giá trị tuyệt đối

Ricardo chỉ ra là định nghĩa “Giá trị lao động hao phí quyết định” là đúng, còn định nghĩa “Giá trị lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hoá này quyết định” là không đúng Theo ông, không phải chỉ trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn mà ngay cả trong nền sản xuất lớn TBCN, giá trị vẫn do lao động quyết định Ricardo cũng khẳng định “Giá trị là do

Trang 7

lao động hao phí quyết định” và cấu tạo giá trị hàng hoá bao gồm 3 bộ phận là: c+v+m, nhưng ông cũng chưa phân tích được sự dịch chuyển “c” vào sản phẩm mới diễn ra như thế nào Phương pháp nghiên cứu của ông còn

có tính siêu hình Ông coi giá trị là phạm trù vĩnh viễn Ông chưa phân biệt được giá trị hàng hoá và giá cả sản xuất, chưa thấy được mâu thuẩn giữa giá trị và giá trị sử dụng vì chưa có được lý thuyết tính hai mặt của lao động

4 J.Batis.SAY

J.B.Say đã đồng nhất giá trị với giá trị sử dụng và phủ nhận vai trò duy nhất của lao động trong việc tạo ra giá trị của hàng hoá Ông còn cho rằng, giá trị chỉ được xác định trên thị trường – tức là chỉ được xác định trong trao đổi Thước đo giá trị của một vật phẩm chính là số lượng vật phẩm khác mà người khác đưa lại để đổi lấy vật phẩm đó Nói cách khác, theo ông, giá trị được quyết định với quan hệ cung – cầu Rõ ràng ở đây, Say đã đồng nhất giá trị với giá cả thị trường

5 Sismondi:

Ông thấy được mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá Ông đã tiến thêm 1 bước so với D.Ricardo là đưa ra thước đo giá trị hàng hoá: “thời gian lao động xã hội cần thiết” Do đó, ông đã quy lao động thành mối liên hệ giữa nhu cầu xã hội và thời gian lao động xã hội cần thiết

để thoả mãn nhu cầu

Tuy nhiên, so với D.Ricardo thì Sismondi còn có chỗ thụt lùi: D.Ricardo coi giá trị tương đối của hàng hoá được đo bằng lượng lao động chi phí để sản xuất ra hàng hoá, còn Sismondi, giá trị tương đối của hàng hoá được qui định bởi cạnh tranh, bởi lượng cầu về hàng hoá

6 Pi-e Giô-Dép PruĐông

Trang 8

Giá trị bao gồm 2 mặt mâu thẫn với nhau: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, chúng phản ánh hai mặt khuynh hướng mâu thuẫn: dồi dào và khan hiếm Theo ông, giá trị sử dụng là hiện thân của sự dồi dào, còn giá trị trao đổi là hiện thân của sư khan hiếm Mâu thuẫn tưởng tượng này chỉ có thể xoá đi bằng việc thiết lập sự trao đổi ngang giá, tức là “giá trị xác lập”

Do đó, ông đề nghị không chỉ sản xuất những hàng hoá, mà còn đòi hỏi tạo

ra sự trao đổi ngang giá để tất cả các hàng hoá được thực hiện, tức là biến thành “giá trị xác lập” Tức là, giá trị mà nó xuất hiện trong trao đổi và thị trường chấp nhận, ông cho rằng trao đổi và lao động là nguồn gốc giá trị C.Mác đã nhận xét “Lý luận giá trị của Prudong” là sự giải thích một cách không tưởng lý luận của Ricardo Và bằng chính cách đó đã bóp méo, tầm thường hoá cả những phạm trù giá trị khác

III Kết luận

Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, đó là lao động cụ thể và trừu tượng, lao động tư nhân và lao động

xã hội Mác định nghĩa lượng giá trị hàng hóa đo được bằng thời gian lao động xã hội cân thiết, phê phán các quan điểm đi trước Trên cơ ở phát hiện này, Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong khoa học kinh tế chính trị Ông viết: “Tôi là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa và khoa học kinh tế chính trị xoay quanh điểm này” Những tác động của quy luật giá trị đến nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn: một mặt, quy luật giá trị chi phối

sự lựa chọn tự nhiên, dào thải các yêu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển; mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền

Trang 9

kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

I Kinh tế thị trường

- Khái niêm: Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người

mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Có thể trừu tượng hoá một số đặc điểm cụ thể, phản ánh sự giao thoa, chuyển tiếp và đan xen giữa các mô hình để quy về ba mô hình chủ yếu sau:

● Mô hình kinh tế thị trường tự do

● Mô hình kinh tế thị trường - xã hội

● Mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN (ở Việt Nam)

Mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện đang được thực

thi chỉ ở hai nước (Việt Nam - kinh tế thị trường định hướng XHCN và Trung Quốc - kinh tế thị trường XHCN) Thời gian tồn tại của nó cũng chỉ mới hơn 1/4 thế kỷ thử nghiệm Tuy vậy, các kết quả thực tế đã chứng tỏ đây là mô hình có sức sống mạnh mẽ và có triển vọng lịch sử to lớn

Hệ thống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có các đặc trưng sau:

• Là một nền kinh tế hỗn hợp, nghĩa là vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước Các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường được tôn trọng, các mạch máu kinh tế và các ngành trọng yếu (khai mỏ, ngân hàng, quốc phòng ) được nhà nước quản lý Các thông

Trang 10

lệ quốc tế trong quản lý và điều hành kinh tế được vận dụng một cách hợp

lý Nền kinh tế chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa

• Là một nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, nhưng khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế Đất đai thuộc sở hữu toàn dân

• Là nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững và chủ động hội nhập kinh tế thành công • Việc phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động và theo hiệu quả kinh tế, đồng thời theo cả mức đóng góp vốn Chú trọng phân phối lại qua phúc lợi xã hội Việc phân bổ các nguồn lực vừa được tiến hành theo hướng nâng cao hiệu quả, vừa theo hướng giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; công bằng xã hội được chú ý trong từng bước, từng chính sách phát triển

• Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường

• Các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp và nhân dân được khuyến khích tham gia vào quá trình phát triển kinh tế

II Biểu hiện của quy luật giá trị trong nền kinh tế Việt Nam

1 Khái quát về nền kinh tế thị trường Việt Nam

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi một hệ

thống kinh tế được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng tạo và chủ trương triển khai tại Việt Nam từ thập niên 1990

Cho đến nay, chính Đảng Cộng sản Việt Nam cũng thừa nhận rằng chưa có nhận thức rõ, cụ thể và đầy đủ về thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà chỉ có giải thích nguyên lý chung rằng, đó là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước

Ngày đăng: 28/06/2022, 20:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Giáo trình. (2010). Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin.Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin
Tác giả: Giáo trình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Năm: 2010
[3] Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng. (2009). Kinh tế Việt Nam:Thăng trầm và đột phá. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và đột phá
Tác giả: Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Năm: 2009
[5] Nguyễn Văn Linh. (1986). “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trung ương (khóa VI) tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII”. Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trungương (khóa VI) tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Nguyễn Văn Linh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1986
[2] Lê Thành Nghiệp. (n.d.). Quá trình phát triển kinh tế Việt Nam. Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Khác
[4] BCHTW. (2008). Nghị quyết 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản - Nghị quyết 22/2008/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm