2 Pháp luật, một trong những công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội đặc biệt nhất trong hệ thống công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội ở Việt Nam, mang trong mình lịch sử hình thành và phát triển
Trang 11
TR¯ỜNG Đ¾I HàC LU¾T HÀ NÞI
-* -
H á và tên: Ph¿m Thß Thái Hòa
MSSV: 460518
Hà N ßi – 2022
Trang 21
L ỜI MỞ ĐẦU 2
1) S¡ l°ÿc vÁ bß <Qußc triÁu hình lu¿t= 3
1.1) Nh ững nét khái quát 3
1.2) B ố cục của <Quốc triều hình luật= 3
2) Nh ÿng điÃm đ¿c sÁc trong bß <Qußc triÁu hình lu¿t= 5
2.1) Nh ững nét đặc sắc về hình thức 5
2.2) Nh ững nét đặc sắc về nội dung 5
3) <Qußc triÁu hình lu¿t= và nhÿng giá trß còn đà l¿i cho đ¿n ngày nay 8 K ¾T LU¾N 9
Trang 32
Pháp luật, một trong những công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội đặc biệt nhất trong hệ thống công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội ở Việt Nam, mang trong mình
lịch sử hình thành và phát triển lâu đời Hệ thống pháp luật Việt Nam trải qua nhiều niên đại, luôn có sự kế thừa và phát huy ở từng thời kỳ, phù hợp với con người và xã hội ở thời kỳ đó Ngược dòng thời gian trở về quá khứ, thời điểm
chế độ phong kiến Việt Nam chạm đến ngưỡng đỉnh cao nhất để tìm hiểu và đánh giá một cách khách quan bộ luật được giới nghiên cứu công nhận không chỉ
về sự hoàn chỉnh, toàn diện mà còn là những nét đặc sắc, riêng biệt của nó mà không bộ luật nào ở thời kỳ phong kiến có được Đó chính là Quốc triều hình
lu ật của nhà Hậu Lê với đóng góp to lớn nhất của Lê Thánh Tông dưới niên hiệu
Hồng Đức, vì vậy nó còn được biết đến với tên gọi <Bộ luật Hồng Đức=
Trang 43
1) S¡ l°ÿc vÁ bß <Qußc triÁu hình lu¿t=
Qu ốc triều hình luật hay còn được biết đến với tên gọi Bộ luật Hồng Đức được
ban hành vào thời Lê Thái Tổ, tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện qua nhiều triều vua Lê sơ với đóng góp to lớn nhất của Lê Thánh Tông dưới niên hiệu Hồng Đức Đến thời các triều vua Lê Mạt, bộ luật này vẫn được bổ sung và cho khắc in lại1 Đây là bộ luật xưa nhất còn lưu giữ được đầy đủ cho đến nay Văn bản của bộ luật này là một trong những thư tịch cổ nhất hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán – Nôm (Hà Nội)
Bộ luật ra đời trong thời kì chế độ phong kiến ở nước ta đạt đến đỉnh cao, có sự tham khảo và học tập từ luật nhà Minh, Đường ở Trung Quốc song không hề sao chép thuần túy mà có sự sáng tạo, điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh thực tế của
đất nước, thể hiện rất rõ các nét đặc trưng riêng của pháp luật Đại Việt Quốc
tri ều hình luật là một bộ luật có tính tổng hợp với những nội dung cụ thể, liên
quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà sau này đã trở thành cơ sở pháp lý chủ yếu của xã hội Việt Nam trong thời phong kiến, không chỉ triều Lê
mà còn là nhiều thế kỷ về sau
Bản Quốc triều hình luật mang kí hiệu A.341 (bản đầy đủ nhất) gồm 6 quyển,
tổng cộng 722 điều và 13 chương tất cả Trong đó, cụ thể:
- Chương Danh lệ: 49 điều quy định về những vấn đề cơ bản có tính chất chi
phối nội dung các chương điều khác (quy định về thập ác, ngũ hình, bát nghị, chuộc tội bằng tiền v.v)
1 Theo TS Lê Thị Sơn (chủ biên) <Quốc triều hình luật – Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị=, Nxb KHXH,
Hà Nội, 2004
Trang 54
- Chương Vệ cấm: 47 điều quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành và các
tội về cấm vệ
- Chương Vi chế: 144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái của
quan lại, các tội về chức vụ
- Chương Quân chính: 43 điều quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái của
tướng, sĩ, các tội quân sự
- Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân – gia đình và
các tội phạm trong các lĩnh vực này
- Chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung sau
(14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm chước bổ sung luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các
tội phạm trong lĩnh vực này
- Chương Thông gian: 10 điều quy định về các tội phạm tình dục
- Chương Đạo tặc: 54 điều quy định về các tội trộm cướp, giết người và một số
tội chính trị như phản nước hại vua
- Chương Đấu tụng: 50 điều quy định về các nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và các
tội vu cáo, lăng mạ v.v
- Chương Trá ngụy: 38 điều quy định các tội giả mạo, lừa dối
- Chương Tạp luật: 92 điều quy định về các tội không thuộc các nhóm tội danh
trên đây
- Chương Bộ vong: 13 điều quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các tội
thuộc lĩnh vực này
Trang 65
- Chương Đoán ngục: 65 điều quy định về việc xử án, giam giữ can phạm và các
tội phạm trong lĩnh vực này
2) Nhÿng điÃm đ¿c sÁc trong bß <Qußc triÁu hình lu¿t=
Mặc dù là một bộ luật được ban hành vào thời phong kiến, ra đời để phục vụ cho giai cấp thống trị song Quốc triều hình luật vẫn mang trong mình những nét đặc
sắc, những điểm tiến bộ mà không bộ luật phong kiến nào có được
Như đã nói ở trên, Quốc triều hình luật có sự tham khảo nhất định từ bộ luật của
nhà Minh, nhà Đường ở Trung Quốc nhưng không hề sao chép thuần túy mà có
sự sáng tạo, điều chỉnh , đặc biệt là ở mặt hình thức
Lấy ví dụ như bộ Đường luật sớ nghị với bố cục 500 điều, 12 chương được ghi trong 30 quyển, trong khí đó Quốc triều hình luật với 722 điều, 13 chương được
ghi trong 6 quyển Quốc triều hình luật nhiều hơn Đường luật sớ nghị những 222 điều nhưng lại ít hơn về số quyển, như vậy có thể thấy, Quốc triều hình luật có
tính chất tổng hợp cao hơn so với Đường triều sớ nghị
Qu ốc triều hình luật cũng có hai chương mà Đường luật sớ nghị không có, đó là
chương Điền sản và chương Thông gian Điều đó thể hiện mối quan tâm của nhà nước đối với nhóm tội tình dục cũng như vấn đề ruộng đất, những khía cạnh nổi cộm ở xã hội Việt Nam đương thời
Qu ốc triều hình luật không chỉ mang những nét đặc sắc về hình thức mà còn có
những điểm mới mẻ, riêng biệt, tiến bộ về nội dung đặt trong bối cảnh của chế
độ phong kiến và so sánh với các bộ luật phong kiến khác Cụ thể:
Trang 76
Chế định thừa kế là một trong những đặc sắc về nội dung ở Quốc triều hình luật mang nhiều tính ứng dụng nhất Các quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình, điền sản đặc biệt là chế độ tài sản của vợ chồng khi góa bụa, các trường hợp nảy sinh quan hệ thừa kế và phương thức chia tài sản thừa kế được các nhà làm luật triều Lê quan tâm, quy định cụ thể, rõ ràng trong hai chương Hộ hôn và Điền sản
của Quốc triều hình luật Đặc biệt là ý niệm sự phân biệt nguồn gốc và các loại
tài sản của vợ chồng (phu điền sản và thê điền sản, phu gia điền sản và thê gia điền sản) vốn không hề có trong các bộ luật trước đây, được quy định cụ thể ở
các điều 374, 375 và 376 Quốc triều hình luật
Qu ốc triều hình luật là một bộ luật phong kiến, ra đời trong bối cảnh xã hội lấy
Nho giáo với tư tưởng <trọng nam khinh nữ= làm đạo trị quốc song vẫn có những điểm kế thừa phong tục tập quán cũng như truyền thống dân tộc, quan tâm nhiều đến địa vị và quyền lợi của phái nữ trong xã hội, trao cho phái nữ địa vị pháp lý bình đẳng tương đối so với phái nam trong xã hội và người chồng trong gia đình
Phái nữ trong xã hội phong kiến thời Lê sơ hay chính xác là thời Lê Thánh Tông được trả công cho sức lao động của mình (Điều 23), được yêu cầu ly hôn ở các trường hợp nhất đinh (chương Hộ hôn), được phân chia tài sản và ghi nhận sự đóng góp vào tài sản chung trong quan hệ hôn nhân (Điều 374, 375, 376), được
thừa kế tài sản từ cha mẹ không phân biệt trai – gái (Điều 388, 391) và còn nhiều
những điều luật bảo vệ quyền lợi của phái nữ nữa rải rác khắp bộ luật
Tựu chung, địa vị của phái nữ trong bộ luật này vẫn chưa được trả lại đúng vị trí vốn có song đặt vào bối cảnh xã hội phong kiến lúc bấy giờ, những quy định tiến
Trang 87
bộ ấy trong bộ Quốc triều hình luật vẫn để lại những giá trị kế thừa sâu sắc, tạo
tiền đề cho công cuộc giải phóng phụ nữ trong những thế kỉ sau
Qu ốc triều hình luật là một bộ luật ra đời để bảo vệ giai cấp thống trị, mang nặng
tính giai cấp, bị hạn chế bởi quan niệm giai cấp nhưng bộ luật cũng đã đưa ra được nhiều quy định để bảo vệ những quyền cơ bản của con người, trong đó có
cả những người thuộc tầng lớp dưới của xã hội Trong bộ luật có không ít những quy định trừng phạt nghiêm khắc những người quyền quý ức hiếp, nhũng nhiễu dân đinh (Điều 300, 302, 304) Ví dụ ở điều 302 quy định những thuộc quan của vương công hay công chúa mà tự tiện bắt dân đinh làm đày tớ hầu hạ thì đều bị phạt tiền, có thể mất chức Hoặc ở điều 304 quy định những người cai quản dân đinh mà làm bậy, nhũng nhiễu thì đều bị xử tội đồ hay bãi chức, bao gồm cả tôn
thất Quốc triều hình luật cũng có những quy định nhằm bảo vệ cuộc sống của
những người dân cô quả, tàn tật, trẻ mồ côi không có khả năng tự mưu sống (Điều 294, 295) và chống nạn nô tì hóa dân tự do (Điều 365, 291)
Đại Việt là một nước nông nghiệp lúa nước vì vậy trong Quốc triều hình luật,
các nhà làm luật triều Lê đã thể hiện mối quan tâm đặc biệt đến nông nghiệp và đưa ra nhiều điều luật để đảm bảo mùa màng Các quan lại địa phương được quy định trách nhiệm rõ ràng trong việc bảo vệ đê điều, mùa màng ở địa phương mình quản lý Bộ luật đưa ra các hình phạt rất nghiêm khắc với những hành vi phá hoại đê điều (Điều 596), chặt phá cây cối và lúa má của người khác (Điều 601) hay tự tiện giết trâu ngựa (Điều 580), thả trâu ngựa phá hoại hoa màu của
người dân (Điều 581) Nhìn chung, Quốc triều hình luật với những khung hình
Trang 98
cụ thể luôn đặt vị trí của nông nghiệp lên hàng đầu, xem nông nghiệp là yếu tố
cốt lõi để phát triển quốc gia
3) <Qußc triÁu hình lu¿t= và nhÿng giá trß còn đà l¿i cho đ¿n ngày nay
Mặc dù ra đời và tồn tại từ năm thế kỉ trước, Quốc triều hình luật chứa đựng
nhiều nội dung tiến bộ, kỹ thuật lập pháp hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời, có nhiều điểm tiếp cận gần với kỹ thuật lập pháp hiện đại, cho đến nay, vẫn còn mang tính thời sự và là nguồn tài liệu pháp luật đồ sộ cho các nhà làm luật ngày nay kế thừa và phát triển
Trong đó các tư tưởng tiến bộ, những nét đặc sắc mang tính ứng dụng như tư tưởng nhân văn, nhân đạo, bảo vệ quyền con người cũng như việc nâng cao quyền của phụ nữ, trả phụ nữ lại vị thế vốn có của họ, chú trọng phát triển kinh
tế đi kèm với an sinh xã hội hay những thành tựu trong kĩ thuật lập pháp là tiền
đề để xây dựng nên hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
Trang 109
Ra đời trong bối cảnh chế độ phong kiến Việt Nam phát triển rực rỡ nhất, khi nhà nước không chỉ chú trọng bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp thống trị
mà còn quan tâm đến lợi ích chung của nhân dân cũng như toàn dân tộc, cùng với trình độ kĩ thuật lập pháp cao của các nhà làm luật triều Lê, có cái nhìn đúng
đắn về xã hội Đại Việt đương thời đã biến Quốc triều hình luật trở thành đỉnh
cao của thành tựu luật pháp Việt Nam thời phong kiến, là di sản pháp lý quý giá
có tính nghiên cứu, ứng dụng mà thế hệ đi trước để lại cho các nhà làm luật sau này Việc nghiên cứu những nét đặc sắc trong bộ Quốc triều hình luật cũng như
có sự so sánh, đối chiếu nó với ngày nay giúp ta có cái nhìn khách quan đối với riêng bộ luật cũng như xã hội Việt Nam thời phong kiến, từ đó kế thừa, ứng dụng được những giá trị tốt đẹp của bộ luật vào xã hội đương thời
Trang 1110
1) Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật
Vi ệt Nam, Nxb Công an nhân dân, 2017
2) Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005
3) Lê Thị Sơn (chủ biên), Quốc triều hình luật – Lịch sử hình thành, nội
dung và giá tr ị, Nxb KHXH Hà Nội, 2004
4) Insun Yu, Vietnam’s Law and Society in XVII – XVIII centuries, Nxb
KHXH Hà Nội, 1994