1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch

34 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Những Giai Đoạn Trong Chu Kỳ Phát Triển Của Điểm Đến Du Lịch Hà Giang Và Đề Xuất Một Số Giải Pháp Nhằm Kéo Dài Chu Kỳ Phát Triển Tại Điểm Đến Du Lịch
Tác giả Trần Viết Phong
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thu Hằng
Trường học Trường Đại Học Tài Nguyên Và Môi Trường Hà Nội
Chuyên ngành Kinh Tế Tài Nguyên Và Môi Trường
Thể loại Đề Thi
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 288,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch. Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thu Hằng

Hà Nội, ngày 27 tháng 06 năm 2022

Trang 2

Đề bài: Anh (chị) hãy phân tích đặc điểm chung của điểm đến du lịch Lựa chọn

một điểm đến du lịch cụ thể, phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch đó và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch đã lựa chọn

BÀI LÀM Chương 1 Lý thuyết

Phân tích đặc điểm chung của điểm đến du lịch:

a Được thẩm định về văn hóa (Cultural appraisals): Khách du lịch thường tự hỏi

liệu một điểm đến có thể hiện sự đầu tư đáng kể về thời gian và tiền bạc để tham quan hay không và do đó điểm đến có thể được coi là kết quả của những đánh giá

về văn hoá của khách thăm quan

b Tính không tách biệt (Inseparability):Quá trình tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời với quá trình phục vụ Sản phẩm chỉ cho phép thực hiện quyền sử dụng mang

tính trải nghiệm mà không thực hiện quyền sở hữu và chuyển giao.

c Tính đa dụng (Multiple usage): Các dịch vụ ở điểm đến thường phục vụ cho cả

người dân địa phương và du khách Sự đa dạng của một điểm đến phụ thuộc vào sự phân biệt giữa các dịch vụ chỉ phục vụ khách du lịch và cư dân địa phương hoặc có thể kết hợp cả hai phương pháp trên

d Tính bổ sung (Complementarity): Thực tế cho thấy sự đan xen giữa các thành

phần điểm đến có sự liên quan mật thiết với nhau ở hầu hết các điểm đến du lịch Chất lượng của từng yếu tố này và việc cung cấp dịch vụ của chúng được coi là sự tương đồng hợp lý với nhau

Chương 2 Những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang

2.1 Khái quát chung du lịch Hà Giang

2.1.1 Các điều kiện tự nhiên

Trang 3

Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng Phía Bắc và Tây có đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài 274 km; phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Tây và Tây nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái.

Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2 Tại điểm cực Bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực Bắc của Tổ quốc, có vĩ độ 23 0 13'00"; điểm cực Tây có kinh độ l04 0 24'05"; mỏm cực Đông có kinh độ l05 0 30'04" Tính đến nay

Hà Giang có 1 thị xã, 10 huyện, 5 phường, 9 thị trấn và 182 xã Tính đến cuối năm

2005 dân số Hà Giang là 679.157 người

Về địa hình

Nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800 m đến 1.200 m so với mực nước biển Hà Giang có tới 49 ngọn núi cao từ 500m - 2.500m (10 ngọn cao 500m - 1.000m, 24 ngọn cao 1000m - 1500m, 10 ngọn cao 1.500m - 2.000m và 5 ngọn cao từ 2.000m - 2.500m) Địa hình Hà Giang có thể phân thành 3vùng sau:

- Vùng cao phía Bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trưng cho địa hình karst Ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng

- Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần của cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ 1.000m đến trên 2.000m Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp

Trang 4

- Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc Mê, thị xã

Hà Giang, qua Vị Xuyên đến Bắc Quang Khu vực này có những dải rừng già xen

kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối

Về thủy văn

Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng ở đây có mật độ sông, suối tương đối dày Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều, độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông thuỷ

Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân Nam, Trung

Quốc), chảy qua biên giới Việt - Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thị xã Hà Giang,Bắc Quang về Tuyên Quang Đây là nguồn cung cấp nước chính cho vùng trung tâm tỉnh

Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn đông bắc đỉnh

Kiều Liên Ti, mật độ các dòng nhánh cao (1,1km/km2), hệ số tập trung nước đạt 2,0km/km2 Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa phận tỉnh nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của Hà Giang

Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua Lũng Cú,

Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên Quang nhập vào sông Lô Đây là nguồn cung cấp nước chính cho phần đông của tỉnh

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như

sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấpnguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư

Về khí hậu

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, song cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc

Trang 5

Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,6 0 C - 23,9 0 C, biên độ nhiệt trong năm có

sự dao động trên 10 0 C và trong ngày cũng từ 6 - 7 0 C Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 40 0 C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,2 0 C (tháng l)

Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú, toàn tỉnh đạt bình quân lượng mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn Năm 2001, lượng mưa đo được ở trạm Hà Giang là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì là 1.337,9 mm Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400 mm, trong khi đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là 1,4 mm

Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng không lớn Thời điểm cao nhất (tháng 6,7,8) vào khoảng 87 - 88%, thời điểm thấp nhất (tháng l,2,3) cũng vào khoảng 81%: Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ rệt Hà Giang là tỉnh có nhiều mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là 181 giờ, tháng ít chỉ có 74 giờ)

Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng Thung lũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt quá 50% Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - l,5m/s Đây cũng là nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù nhiều nhưngđặc biệt ít sương muối Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Sau khi thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Hà Giang năm 2012 kinh tế tăng trưởng tốc độ tăng bình quân năm 12,7% Tổng sản phẩm ( giá thực tế) đạt

Trang 6

khoảng 9.912.598 tỷ đồng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọngcác ngành dịch vụ - Thương mại 36,07%, Công nghiệp - Xây dựng 25,18% và giảm

tỷ trọng các ngành Nông- Lâm nghiệp 38,75%, thu nhập bình quân đầu người đạt 12,9 triệu đồng người, tuy tăng 4,3 triệu đồng so với năm 2005, nhưng mới xấp xỉ 1/3 so với bình quân chung của cả nước.Thu ngân sách trên địa bàn năm 2012 ước đạt 990 tỷ đồng

Nhìn chung, mặt bằng kinh tế xã hội của Hà Giang còn thấp nhiều so với các địa phương khác trên cả nước, tuy nhiên cùng với tiến trình phát triển chung của đất nước thì mức sống của người dân đã tăng rõ rệt Có thể nói, điều kiện kinh tế cũng

là một trong những điều kiện có ảnh hưởng đến hoạt động du lịch của địa phương.2.1.3 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch tự nhiên

a) Đèo Mã Pì Lèng

b) Cao nguyên đá Đồng Văn

c) Núi Đôi - Cổng trời Quản Bạ

d) Khu rừng nguyên sinh Vần Chải

đ) Rừng nguyên sinh Đèo Gió, Thác Tiên

e) Hồ Noong

f) Bãi đá cổ Nấm Dẩn

h) Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì

Tài nguyên nhân văn

Các di tích lịch sử văn hóa

Nhiều di tích lịch sử - văn hóa có giá trị cao như nhà họ Vương đã nổi tiếng từ thời Pháp thuộc - một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo của người Mông vùng núi

Trang 7

đá Hà Giang Di tích lịch sử Căng Bắc Mê, xã Yên Phú, huyện Bắc Mê; di tích lưu niệm sự kiện Bác Hồ với Hà Giang; di tích Bia và Chuông chùa Sùng Khánh, di tíchlịch sử cách mạng Tiểu khu Trọng Con, di tích khảo cổ học hang Đán Cúm, di tích khảo cổ học hang Nà Chảo, di tích lịch sử văn hoá chuông chùa Bình Lâm.

Các lễ hội

Trên địa bàn tỉnh Hà Giang có 22 dân tộc với bản sắc truyền thống văn hóa độc đáo,mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá dân gian cổ truyền riêng biệt, độc đáo mang tính đặc thù của vùng miền núi phía bắc như: Chợ tình Khâu Vai, Lễ hội Gầu tào, lễhội nhảy lửa của người Pà Thẻn

Các làng nghề

Các làng nghề nổi tiếng ở Hà Giang phải kể đến, làng nghề đan lát ở Vị Xuyên, Nghề chạm bạc truyền thống của người Dao ở Hà Giang đã có từ cách đây hàng trăm năm Nhưng hiện nay nghề truyền thống này chỉ còn tồn tại rải rác trong các

hộ gia đình ở một số xã vùng sâu, vùng xa của huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần, Vị Xuyên, Yên Minh, Mèo Vạc nhưng không phát triển và có dấu hiệu mai một, Làngnghề dệt lanh Lùng Tám của đồng bào dân tộc Mông nổi tiếng với nghề dệt lanh, nhuộm chàm và vẽ sáp ong, đây cũng là nơi mà: “chỉ có mặc vải lanh, mình mới không bị lạc tổ tiên…”

Ẩm thực

Các đặc sản của núi rừng và con người cũng rất phong phú, góp phần tạo nên ấn tượng khó phai đối với du khách mỗi lần có dịp ghé thăm vùng đất địa đầu này Chèsan, cam rừng, rượu ngô Thanh Vân, hồng không hạt, thảo quả muối, chè Tùng Vài,thổ cẩm Lùng Tám, cùng với những sản phẩm văn hoá tinh tế như thổ cẩm, khèn, sáo; rượu ngô đã là những thương hiệu nổi tiếng không chỉ trong vùng Rượu ngô của Hà Giang được biết đến như là rượu của người dân tộc Mông Rượu được nấu

từ thứ ngô bản địa của cao nguyên đá cùng với thứ men lá truyền thống nên khi uống vào có vị ngọt, thơm của ngô và đặc biệt là nếu có quá chén thì hôm sau,

Trang 8

người uống không bị mệt do độ cồn của rượu không quá cao, trung bình khoảng từ

25 - 30 độ) Những cây trà san tuyết mọc chênh vênh ở các triền núi làm nên vẻ đẹpnhư trong một bức tranh thủy mặc Trà shan tuyết Hà Giang trồng nơi cao sơn khí hậu trong lành, thanh sạch nên có vị thơm ngon đặc trưng, là một trong những danh trà Việt Nam

2.2 Phân tích chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang

Có rất nhiều cách tiếp cận để phân tích điều này, nhưng với những điều kiện sẵn có và một số hạn chế cho việc thu thập, phân tích số liệu nên nghiên cứu sử dụng phân tích số liệu chung tỉnh Hà Giang của năm nhân tố là: số lượt khách; thu nhập du lịch; cơ sở lưu trú; công ty lữ hành, cơ cấu tổng sản phẩm để chứng minh giai đoạn phát triển trong chu kỳ sống của điểm đến Hà Giang Kết quả thu thập, phân tích năm nhân tố dựa theo lý thuyết chu kỳ sống điểm đến của Butler trên sẽ xác định giai đoạn phát triển du lịch của tỉnh Hà Giang

2.2.1 Số lượt khách

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động du lịch Hà Giang từ năm 2007- 2011

Nguồn: Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch Hà Giang

Trang 9

Qua kết quả hoạt động của du lịch Hà Giang từ năm 2007- 2012 ta có thể thấy sự gia tăng về số lượng khách trong những năm qua không ngừng tăng lên.

Số lượt khách du lịch đến với Hà Giang qua số liệu sáu năm từ năm 2007 đến năm

2012 tăng nhanh, từ năm 2007 số lượt khách là 165.838 đến năm 2008 số lượt khách du lịch tăng nhẹ lên 187.909 nghìn lượt khách, tăng 13,08 %, sau đó số lượt khách du lịch tăng từ năm 2008 so với năm 2009 là 33,32%, năm 2009 là 250.535,

và từ năm 2009 so năm 2010 tăng 20,28% số lượt khách, năm 2010 là 301.334 lượt khách Do khủng hoảng kinh tế tác động, số lượt khách năm 2011 so với năm 2010 chỉ tăng 9,5% lên 329.937 lượt khách Cuối cùng, ta có thể thấy số lượt khách tăng hơn năm 2011 so năm 2012 là 26,63% đạt 417.808 nghìn lượt khách Qua bảng số liệu cho thấy từ năm 2007 đến năm 2012 số lượt khách tăng 151,9%, mức tăng nhanh cho một điểm đến

Lượng khách quốc tế đến du lịch Hà Giang năm 2012, đánh dấu bước ngoặt mới cho du lịch Hà Giang trong bối cảnh hội nhập quốc tế đạt 126.859 lượt khách, tăng gấp 3 lần so với các năm từ 2007- 2011 và tăng 181% so với kế hoạch năm Trong

đó khách du lịch Trung Quốc đến Hà Giang đạt 121.010 lượt người tăng 242% so với năm 2011 Riêng số lượng khách quốc tế (trừ khách Trung Quốc) đến từ các nước Châu Âu, Châu Mỹ…tăng nhanh từ năm 2007 số lượt khách mới là 2.012 đến năm 2008 số lượt khách du lịch tăng lên 4.316 nghìn lượt khách, tăng 114,5%, sau

đó số lượt khách du lịch có xu hướng giảm -18,5% năm 2009 và - 9,1%, năm 2010, năm 2011 và năm 2012 số lượt khách du lịch có xu hướng phục hồi tăng 27,8% năm 2011 so năm 2010, và năm 2012 đạt 5.849 lượt khách tăng 16,6% so với năm 2011

Khách nội địa đến Hà Giang tăng hàng năm từ 121.058 lượt khách năm 2007 tăng nhẹ lên 138.646, tăng 14,5% Từ 2009 số lượng khách nội địa tăng nhanh, năm

2012 tăng 45,2% so năm 2009

Khách nội địa đến với Hà Giang có thành phần khá đa dạng, gồm học sinh, sinh viên trong các trường đại học ở nhiều địa phương trong cả nước chiếm tới 40%

Trang 10

Loại khách này thường đi theo đoàn với số lượng đông từ 40 - 50 người, thậm chí

có đoàn đông hơn, số lượng lên tới hàng trăm người (sinh viên các trường đại học đithực địa), điểm đến chủ yếu là các địa danh như cột cờ Lũng Cú, Cao nguyên đá Đồng Văn Khách du lịch chuyên đề, nghiên cứu khoa học đi nhóm nhỏ một vài người vào thời gian bất kì trong năm và thường lưu lại với thời gian khá dài, đặc biệt trong những năm gần đây các nhóm nghiên cứu khoa học về Cao nguyên đá Đồng Văn Khách tham quan của các cơ quan, tổ chức ở các cấp ngành, các địa phương, thường được tổ chức theo đoàn với số lượng khoảng 20 - 30 người Khách

du lịch là các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà hoạt động trong các lĩnh vựcvăn học, nghệ thuật, báo chí…Khách du lịch tự do (du lịch lẻ) thường đi theo nhóm

từ 5 - 10 người, thời gian du lịch không có tính quy luật rõ rệt

Khách quốc tế chiếm thị phần nhỏ, chỉ khoảng 10 - 15 % tổng số khách

Khách quốc tế đến đây chủ yếu là từ Vân Nam - Trung Quốc, tỉnh nằm giáp biên giới Việt Nam, ngoài ra khách du lịch là người Châu Âu “Du lịch ba lô” đi du lịch với mục đích tham quan vãn cảnh trên cao nguyên đá, du lịch mạo hiểm (leo núi, đi xuồng cao su khám phá hẻm vực sông Nho Quế), du lịch nghiên cứu (khám phá cảnh quan nguyên sinh, thăm thú hang động), du lịch văn hoá (tìm hiểu nếp sống văn hoá bản địa, văn hóa làng bản, chợ vùng cao)… thời gian lưu trú lâu và thường đến vào mùa du lịch (thường là mùa khô) Ngoài ra, khách du lịch chuyên đề gồm các chuyên gia nghiên cứu khoa học về cao nguyên đá Đồng Văn, về nét đẹp văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc…Thành phần này thường lưu trú lâu hơn và vào bất kể thời gian nào trong năm

Như vậy, khách du lịch đến Hà Giang chủ yếu là những du khách có tâm lý hiếu kỳ,khá hiếu kỳ, muốn khám phá, tìm hiểu thiên nhiên hùng vĩ, văn hóa bản địa

Theo lý thuyết chu kỳ sống của Butler (1980) cho thấy khi số lượt khách du lịch vớitâm lý hiếu kỳ và khá hiếu kỳ tăng thì điểm đến đang ở giai đoạn thâm nhập trong sáu giai đoạn của chu kỳ sống của điểm đến Hà Giang có rất nhiều cơ hội để thu hút nhiều khách du lịch hơn nữa đến như hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư phát

Trang 11

triển, hệ thống dịch vụ du lịch được phát triển đáp ứng và hỗ trợ khả năng khai thác tại các điểm, khu du lịch, khu di tích Khi ta nhìn vào xu hướng phát triển số lượt khách từ mô hình của Butler, chúng ta có thể khẳng định du lịch Hà Giang đang ở giai đoạn thâm nhập trong chu kỳ sống của điểm đến du lịch Và Hà Giang sẽ vẫn tiếp tục thu hút nhiều du khách để hướng tới giai đoạn phát triển trong tương lai.

Hình 2.2: Khuynh hướng số lượt khách du lịch đến Hà Giang

2.2.2 Thu nhập từ du lịch, dịch vụ

Thu nhập du lịch bao gồm tất cả các nguồn thu do khách du lịch chi trả như doanh thu từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm hàng hoá, các dịch vụ khác như vui chơi giải trí… Thu nhập du lịch ngày càng tăng, chủ yếu là chi phí phòng nghỉ, di chuyển, vé tham quan các nguồn thu từ dịch vụ ăn uống và hàng hoá còn hạn chế.Bảng 2.2 Thu nhập từ du lịch, dịch vụ từ năm 2007 đến 2012

Nguồn: Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch Hà Giang

Trang 12

Qua kết quả hoạt động của du lịch Hà Giang ta có thể thấy sự gia tăng về doanh thu từ du lịch dịch vụ trong những năm qua không ngừng tăng lên.

Trước năm 2000, thu nhập từ du lịch không đáng kể Trong những năm 1995 -

1997, thu nhập đã tăng lên nhưng ở mức rất thấp, chỉ khoảng 200 triệu mỗi năm Giai đoạn 1998 - 2000, dao động trong khoảng 25 - 30 tỷ đồng Đến giai đoạn 2005-

2010 thu nhập du lịch tăng lên nhanh chóng, năm 2008 là 155 tỷ đồng, đến 2010 tăng lên 320 tỷ đồng và 330 tỷ đồng năm 2011 Tốc độ tăng của thu nhập du lịch năm 2011 tăng 2,0 lần so với năm 2008

Thu nhập từ du lịch dịch vụ tăng chậm từ 135 tỷ đồng năm 2007 lên 155 tỷ đồng năm 2008 tăng 14,8%, sau đó tăng dần lên 202 tỷ đồng năm 2009, tăng 30,3% của năm 2008 so năm 2009 Năm 2010 đạt mức tăng cao nhất từ 202 tỷ đồng năm 2009 đến 308,9 tỷ đồng năm 2010, tăng 52,9% Sau đó, tiếp tục tăng nhẹ 9,0% từ 308.9 năm 2010 đến 337 năm 2011.Tuy nhiên, lại có một sự giảm nhẹ thu nhập từ năm

2011 đến còn 327 tỷ đồng năm 2012 mặc dù lượng khách du lịch tăng hơn so với năm 2011, có rất nhiều lý do, có thể do khủng hoảng kinh tế Châu Âu, chiến tranh, nội chiến đã tác động rõ rệt, mọi chi phí cũng được tối giảm Qua bảng số liệu cho thấy từ năm 2007 đến năm 2012 thu nhâp từ du lịch, dịch vụ tăng nhanh

lênđến142,2 %

Đánh giá tổng quan thu nhập du lịch, dịch vụ cho thấy Hà Giang đang ở giai đoạn thâm nhập, cùng giai đoạn được chứng minh bởi số lượt khách và đặc điểm tâm lý của khách

Trang 13

Hình 2.3: Khuynh hướng tăng trưởng về doanh thu du lịch dịch vụ của Hà Giang2.2.3 Cơ sở lưu trú

Cùng với sự phát triển của lượng khách du lịch, hệ thống cơ sở lưu trú trên cả nước nói chung và tỉnh Hà Giang nói riêng đã có sự phát triển đáng kể về cả số lượng và chất lượng, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng

Bảng 2.3 Số lượng cơ sở lưu trú của Hà Giang giai đoạn 2002 – 2011

Nguồn: Sở Thương Mại - Du lịch Hà GiangTrước năm 2010, số lượng cơ sở lưu trú không đáng kể Trong những năm

2002 - 2008, các cơ sở lưu trú đã tăng lên nhưng ở mức rất thấp, chỉ khoảng dưới 70

cơ sở Đến giai đoạn năm 2011 toàn tỉnh có hơn 106 cơ sở lưu trú với hơn 1.417 phòng nghỉ, trong đó có trên khách sạn đạt chuẩn 1 sao, 2 khách sạn đạt chuẩn 2 sao

Trang 14

và 77 nhà nghỉ du lịch được xếp hạng chuẩn và 44 làng văn hóa du lịch cộng đồng trong đó có 15 làng đang xây dựng hoàn thành Công suất sử dụng phòng bình quânđạt 60-65% Năm 2012, trên địa bàn tỉnh có tổng số: 111 cơ sở lưu trú với 1.669 buồng, trong đó có 96 cơ sở đã thẩm định mới và thẩm định lại, 15 cơ sở chưa làm

hồ sơ đề nghị thẩm định Tuy nhiên ngoài một số khách sạn có qui mô đạt tiêu chuẩn quốc tế được trang bị đồng bộ thì phần lớn các nhà nghỉ, cơ sở lưu trú bình dân còn yếu trên nhiều phương diện: lượng phòng ít, trang bị không đồng bộ, phân

bố không đều, một số nhà nghỉ khách sạn đã xây dựng lâu nên cơ sở vật chất đã trở nên cũ không đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch Thêm vào đó, hệ thống cơ

sở lưu trú chủ yếu là các hộ tư nhân, nên năng lực về chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, số lao động tại các cơ sở lưu trú du lịch là: 371 người (trong đó số lao động

đã qua đào tạo là 159 người, chưa qua đào tạo là 212 người), quy mô kinh doanh nhỏ, trang thiết bị mới đạt ở mức tối thiểu

Trong 2 năm trở lại đây, cùng với xu hướng phát triển chung của cả nước lượng khách quốc tế tăng nhanh, khách nội địa cũng của cả nước lượng khách quốc tế tăngnhanh, khách nội địa cũng có nhu cầu đi nghỉ nhiều hơn nên các khách sạn, nhà nghỉ ở đây đã đang được xây dựng thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu khách du lịch Không những thế, các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh đã có nhiều đổi mới về phươngthức kinh doanh cho phù hợp với tình hình thực tế: kết hợp giữa các dịch vụ ăn nghỉcũng như các loại hình dịch vụ bổ sung khác, tạo mối liên kết qua lại tương trợ lẫn nhau, do đó luôn có mức giá hợp lý và thu hút khách thường xuyên

Qua việc nghiên cứu và đánh giá một số số liệu về cơ sở lưu trú, dựa trên nền tảng

lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến của Butler cho rằng khi cơ sở lưu trú chủ yếu là

sở hữu hộ tư nhân, ở quy mô nhỏ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của du khách, thì điểm đến mới ở giai đoạn thâm nhập trong chu kỳ sống Và có thể kết luận cơ sở lưu trú

du lịch của tỉnh Hà Giang đang ở giai đoạn thâm nhập

Trang 15

Hình 2.4 Khuynh hướng tăng trưởng về số lượng cơ sở lưu trú của Hà Giang

2.2.4 Công ty lữ hành

Tính đến thời điểm năm 2012, trên địa bàn tỉnh Hà Giang có 2 đơn vị kinh doanh lữhành quốc tế (Công ty cổ phần dịch vụ du lịch Hà Giang và công ty cổ phần thương mại- du lịch- xăng dầu – dầu khí Hà Giang), 3 công ty kinh doanh lữ hành nội địa (Công ty TNHH 1 thành viên du lịch Bắc Quang, công ty cổ phần TM &DL Tiên Sa), công ty cổ phần lữ hành CND, công ty 01 văn phòng văn phòng đại diện công

ty du lịch Viptour tại Hà Giang Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lữ hành đang từng bước phát huy có hiệu quả về quảng bá hình ảnh của Công ty và khai thác các nguồn khách du lịch trong và ngoài nước và đưa khách đến với du lịch Hà Giang Tuy nhiên, với số lượng mới chỉ có 6 đơn vị lữ hành là một con số khá khiêm tốn Theo lý thuyết chu kỳ sống điểm đến cuả Butler thì Hà Giang dường như

ở giai đoạn đầu của giai đoạn thâm nhập trong chu kỳ sống của điểm đến

2.2.5 Cơ cấu tổng sản phẩm

Bảng 2.4 Cơ cấu tổng sản phẩm của Hà Giang từ năm 2007- 2012

Trang 16

Cơ cấu tổng sản phẩm của tỉnh Hà Giang đã thay đổi nhanh chóng khi chính quyền tỉnh Hà Giang thực hiện các đề án phát triển chiến lược du lịch Cơ cấu kinh

tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành dịch vụ - Thương mại, công nghiệp - Xây dựng và giảm tỷ trọng các ngành Nông- Lâm nghiệp Qua bảng số liệu

ta thấy, Tỉnh Hà Giang ưu tiên phát triển ngành nông- lâm ngư nghiệp của tỉnh vẫn chiếm tỷ lệ lớn 40% năm 2010, nhưng lại có xu hướng giảm xuống còn 38,75 % năm 2012 Do đặc thù là một tỉnh miền núi còn nghèo, lại nhiều đồng bào thiểu số nên hoạt động công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm hơn 20% tổng cơ cấu sản phẩm Tuy nhiên, ngành công nghiệp thứ ba, ngành công nghiệp du lịch dịch vụ chiếm 1/3

cơ cấu sản phẩm trong tổng cơ cấu sản phẩm, với hơn 35% Với sự gia tăng không ngừng, thì ngành du lịch dịch vụ sẽ chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển tỉnh Hà Giang, được xem một trong 3 mũi nhọn trọng tâm phát triển kinh

tế

Qua sự phân tích và đánh giá về cơ cấu sản phẩm ngành tử năm 2007- 2012, có thể thấy ngành công nghiệp du lịch dịch vụ dường như cũng chỉ ở giai đoạn thâm nhập Tuy nhiên, trong tương lai ngành du lịch dịch vụ sẽ phát triển và chiếm trọng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm của Tỉnh Hà Giang Vì vậy, có thể kết luận rằng, du lịch

Hà Giang nằm trong giai đoạn thâm nhập trong chu kỳ sống của điểm đến từ sự phát triển ngành du lịch dịch vụ trong cơ cấu sản phẩm của tỉnh Hà Giang

Trang 17

Hình 2.5 Khuynh hướng phát triển tỷ trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm tỉnh

Hà Giang từ 2007- 2012

Bảng 2.5 Bảng tổng hợp phân tích kết quả của năm nhân tố cho chu kỳ sống củađiểm đến Hà giang

Ngày đăng: 28/06/2022, 13:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

TE 10 Chuột được gây mô hình bởi TMT và được dùng cao Talipariti elatum 10 liều mg/kg cân nặng - Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch
10 Chuột được gây mô hình bởi TMT và được dùng cao Talipariti elatum 10 liều mg/kg cân nặng (Trang 6)
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động du lịch Hà Giang từ năm 2007- 2011 - Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động du lịch Hà Giang từ năm 2007- 2011 (Trang 8)
Hình 2.2: Khuynh hướng số lượt khách du lịch đến Hà Giang 2.2.2. Thu nhập từ du lịch, dịch vụ - Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch
Hình 2.2 Khuynh hướng số lượt khách du lịch đến Hà Giang 2.2.2. Thu nhập từ du lịch, dịch vụ (Trang 11)
Hình 2.3: Khuynh hướng tăng trưởng về doanh thu du lịch dịch vụ của Hà Giang 2.2.3. Cơ sở lưu trú - Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch
Hình 2.3 Khuynh hướng tăng trưởng về doanh thu du lịch dịch vụ của Hà Giang 2.2.3. Cơ sở lưu trú (Trang 13)
Hình 2.4. Khuynh hướng tăng trưởng về số lượng cơ sở lưu trú của Hà Giang 2.2.4. Công ty lữ hành - Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch
Hình 2.4. Khuynh hướng tăng trưởng về số lượng cơ sở lưu trú của Hà Giang 2.2.4. Công ty lữ hành (Trang 15)
Hình 2.5 Khuynh hướng phát triển tỷ trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm tỉnh Hà Giang từ 2007- 2012 - Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch
Hình 2.5 Khuynh hướng phát triển tỷ trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm tỉnh Hà Giang từ 2007- 2012 (Trang 17)
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp phân tích kết quả của năm nhân tố cho chu kỳ sống của điểm đến Hà giang - Phân tích những giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ phát triển tại điểm đến du lịch
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp phân tích kết quả của năm nhân tố cho chu kỳ sống của điểm đến Hà giang (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w