1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt luận văn ths khu vực học 60 31 06 01

99 127 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Giao Thoa Văn Hóa Tới Việc Học Tiếng Hàn Của Người Việt
Tác giả Lê Hải Yến
Người hướng dẫn TS. Lưu Tuấn Anh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Châu Á học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỳ tuyển sinh đại học năm 2014,Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc tại trường Đại học Ngoại ngữ, Đại họcQuốc gia Hà Nội có số điểm tuyển đầu vào lần đầu tiên sau 20 năm thành lậpcao nhất t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ HẢI YẾN

ẢNH HƯỞNG CỦA GIAO THOA VĂN HÓA TỚI VIỆC HỌC TIẾNG HÀN CỦA NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ HẢI YẾN

ẢNH HƯỞNG CỦA GIAO THOA VĂN HÓA TỚI VIỆC HỌC TIẾNG HÀN CỦA NGƯỜI VIỆT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Lưu Tuấn Anh - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, quan tâm,

chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ này.

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo

trong khoa Đông Phương trường Đại học KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội

đã quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa học.

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo đồng nghiệp khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ -

ĐHQG Hà Nội đã luôn ủng hộ, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện cho em

hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình.

Cuối cùng, xin được gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè và những

người thân yêu đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong thời gian

Trang 4

MỤC LỤC

DANH SÁCH BẢNG BIỂU 1

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc của luận văn 11

Chương 1: 12

CƠ SỞ LÍ LUẬN 12

1.1 Quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ 12

1.2 Vai trò của tìm hiểu văn hóa trong học ngoại ngữ 16

1.3 Giao thoa văn hóa và giao tiếp 19

1.3.1 Khái niệm giao thoa văn hóa 19

1.3.2 Khái niệm năng lực giao tiếp 20

1.3.3 Quan hệ giữa giao thoa văn hóa và giao tiếp 22

Chương 2: 26

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI HÀN 26

2.1 Một vài đặc trưng tiêu biểu về văn hóa Hàn Quốc 26

2.1.1 Văn hóa gốc nông nghiệp 26

2.1.2 Trải qua nhiều chiến tranh 27

2.1.3 Chịu ảnh hưởng của Nho giáo 31

2.2 Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của người Hàn 33

2.2.1 Chủ nghĩa tập thể 34

2.2.2 Chủ nghĩa gián tiếp 35

2.2.3 Coi trọng tình cảm 37

2.2.4 Tính tiết kiệm 40

2.2.5 Coi trọng quá trình 44

2.2.6 Coi trọng thứ bậc, trên dưới 45

2.2.7 Coi trọng hình thức 49

2.2.8 Phân biệt giới 51

Trang 5

Chương 3: 53

ẢNH HƯỞNG CỦA GIAO THOA VĂN HÓA TỚI VIỆC HỌC TIẾNG HÀN CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ PHƯƠNG ÁN KHẮC PHỤC 53

3.1 Ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng Hàn của người Việt 53

3.1.1 “Tôi” hay “chúng tôi”? 53

3.1.2 “Rào trước đón sau” 55

3.1.3 Kết thân qua chào hỏi 56

3.1.4 Linh hoạt trong sử dụng phó từ chỉ mức độ 58

3.1.5 Rút gọn hay mở rộng 59

3.1.6 Lược bỏ chủ ngữ không phải là nói trống không 60

3.1.7 Tỉ mỉ, chi tiết và xuề xòa, đại khái 62

3.1.8 Thứ bậc tuyệt đối và tương đối 74

3.1.9 Xưng hô trong tập thể 79

3.1.10 Thuần Hàn hay Hán Hàn 80

3.1.11 Phân biệt giới trong xưng hô 81

3.2 Phương án khắc phục 82

3.2.1 Hiện trạng giảng dạy văn hóa Hàn Quốc trong giáo dục tiếng Hàn ở Việt Nam 83

3.2.2 Phương án khắc phục 87

PHẦN KẾT LUẬN 91

Tài liệu tham khảo 92

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Cách nói “xin chào”, “xin lỗi”, “cảm ơn” cơ bản trong tiếng Hàn 23

Bảng 2: Cách nói “xin chào”, “xin lỗi”, “cảm ơn” mở rộng trong tiếng Hàn 23

Bảng 3: 7 mốc quan trọng trong lịch sử của Hàn Quốc 28

Bảng 4: Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của người Hàn 33

Bảng 5: Ví dụ về hiện tượng rụng âm và rút gọn âm trong tiếng Hàn 41

Bảng 6: Ví dụ hiện tượng gọi tắt trong tiếng Hàn 43

Bảng 7: Cách xưng hô theo quan hệ thân tộc phân theo mức độ kính ngữ trong tiếng Hàn 46

Bảng 8: Ví dụ về từ mang ý nghĩa kính ngữ trong tiếng Hàn 48

Bảng 9: Phân biệt “우리” và “제” 54

Bảng 10: Một số câu chào hỏi trong giao tiếp tiếng Hàn 57

Bảng 11: Phân loại cấu trúc ngữ pháp dựa trên quan hệ câu 63

Bảng 12: Phân loại cấu trúc ngữ pháp dựa trên biểu hiện 64

Bảng 13: Phân biệt các cấu trúc chỉ nguyên nhân – kết quả trong tiếng Hàn 66

Bảng 14: Phân biệt các cấu trúc chỉ quan hệ nhượng bộ trong tiếng Hàn 68

Bảng 15: Phân biệt các biểu hiện phỏng đoán trong tiếng Hàn 69

Bảng 16: Phân biệt các biểu hiện chỉ hành động diễn ra theo trình tự thời gian 70

Bảng 17: Phân biệt các biểu hiện chỉ trạng thái hành động 70

Bảng 18: Phân biệt các biểu hiện cảm thán 71

Bảng 19: Phân biệt các biểu hiện hồi tưởng 72

Bảng 20: Phân biệt các biểu hiện diễn tả sự thay đổi sau quá trình 72

Bảng 21: Phân biệt các biểu hiện diễn tả hành động lặp đi lặp lại 72

Bảng 22: Phân biệt các biểu hiện chỉ mục đích 73

Bảng 23: Phân biệt các biểu hiện chỉ điều kiện, giả định – hệ quả 74

Bảng 24: Sự khác biệt giữa kính ngữ chủ thể và kính ngữ khách thể với các thể kính ngữ của 3 động từ “주다”, “데리다”, “묻다” 78

Bảng 25: Ví dụ các cặp từ thuần Hàn – Hán Hàn 81

Bảng 26: Một số cách xưng hô xác lập trên sự phân biệt giới trong tiếng Hàn 82

Bảng 27: Góc văn hóa trong Giáo trình tiếng Hàn Kyunghee (Quyển Trung cấp 1, 2) 84 4 Bảng 28: Góc văn hóa trong Giáo trình Vui học tiếng Hàn Koryeo (Quyển 1,2) 85

Bảng 29: Đề xuất nội dung góc văn hóa dạy song song với thực hành tiếng 87

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong chương trình “Ngôi sao Việt” năm 2014 được tổ chức tại ViệtNam, khán giả xem truyền hình hẳn đã được làm quen với các vị giám khảođến từ Hàn Quốc Mỗi khi giám khảo nhận xét bằng tiếng bản địa, luôn cómột phiên dịch viên người Việt dịch lại Nếu là người biết tiếng Hàn xemchương trình, sẽ thấy một câu những vị giám khảo đến từ Hàn Quốc nàythường xuyên sử dụng để mở đầu lời nhận xét “잘 들었어요” hoặc “잘봤어요” và được phiên dịch viên dịch lại là “cảm ơn phần trình diễn của bạn”.Thật ra, trong từ điển Hàn-Anh naver, từ “잘” được chuyển sang các nghĩa là

“well, skillfully, carefully, closely, attentively, properly, fully, thoroughly,often, frequently, easily”, còn “들었어요” nghĩa là “đã nghe”, “봤어요”nghĩa là “đã xem”, như vậy nếu dịch theo từng từ một sẽ là “tôi đã nghe kỹ”,

“tôi đã xem kỹ” Nhưng người Việt thường không nói như vậy trong tìnhhuống này, còn người Hàn thì dùng “잘” với nhiều ngữ dụng khác nhau, bêncạnh nghĩa là khen tốt, hay, đẹp, thì họ còn dùng để không làm phật ý đốiphương khi nhận từ đối phương cái gì (ví dụ khi mượn bút và trả lại “잘썼어요” (tôi đã dùng tốt), khi được mời ăn “잘 먹었어요” (tôi đã ăn ngon,

ăn no), nên cách dịch “cảm ơn phần trình diễn của bạn” ở đây có thể coi làhợp lý Cách dịch như vậy sẽ thể hiện thái độ trung lập, không làm ngườinghe tưởng rằng phần trình diễn của mình được đánh giá xuất sắc, và cũngkhông làm phật ý người nghe Nhiều bạn học sinh học tiếng Hàn giai đoạnđầu thường gặp lúng túng trong các tình huống dịch như trên vì trong tiếngHàn có từ cảm ơn khác là “고마워요” Nếu không phải đã được tiếp xúcnhiều và hiểu về văn hóa giao tiếp của Hàn Quốc, chắc hẳn người bạn phiêndịch viên cũng khó tìm được cách dịch hợp lý như vậy Trên đây là một ví dụ

Trang 8

nhỏ cho thấy tầm quan trọng của văn hóa trong học ngoại ngữ, đặc biệt là vănhóa giao tiếp Để đưa ra được cách diễn đạt vừa tự nhiên, vừa đúng ngữ pháp,bên cạnh kiến thức về ngoại ngữ, người học còn cần phải trau dồi kiến thức vềvăn hóa Như chúng ta đã biết, trong lịch sử, Việt Nam và Hàn Quốc cùngthuộc châu Á và chịu ảnh hưởng của Trung Hoa nên văn hóa có nhiều điểmtương đồng, nhưng không vì thế mà ít khác biệt, cụ thể là khác biệt về ngônngữ Đành rằng khác biệt về loại hình ngôn ngữ là điều hiển nhiên, song điềuchúng tôi muốn bàn tới ở đây là những lối ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp.

Từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao (1992), Việt Nam và Hàn Quốc

đã diễn ra nhiều hoạt động giao lưu toàn diện từ kinh tế, chính trị, cho đến vănhóa, giáo dục Việc thành lập Trung tâm văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam,cũng là đầu tiên ở Đông Nam Á năm 2006, ra đời ngày càng nhiều các cơ sở

thuật khoa học giáo dục Hàn Quốc năm 2012, tổng số du học sinh Việt Nam đang học tập tại Hàn Quốc là 2447)3đã minh chứng mạnh mẽ cho điều này Trongnhững nhân tố thúc đẩy cho quan hệ hữu nghị Việt Nam – Hàn Quốc ngàycàng trở nên tốt đẹp hơn, không thể không kể đến các thế hệ bạn trẻ đang theohọc tiếng Hàn tại Việt Nam Bằng vốn tiếng Hàn của mình, họ đã tham giacác hoạt động giao lưu Việt – Hàn giúp quảng bá văn hóa Hàn Quốc tới ViệtNam (như thi viết về Hàn Quốc, thi nói tiếng Hàn, thi ảnh v.v…), trở thànhphiên dịch viên cho các doanh nghiệp, tổ chức Hàn Quốc, v.v Các khoa, bộ

1 PGS.TS Phan Thị Thu Hiền, “Bộ môn Hàn Quốc học Trường ĐHKHXH-NV- ĐHQG TP.Hồ Chí Minh từ năm 2010: Bối cảnh mới, phương hướng mới và những thành tựu mới” Việt Nam có 15 trường Đại học và Cao đẳng có đào tạo tiếng Hàn và Hàn Quốc học

2 Theo tin của Bộ Kế hoạch và đầu tư Cục đầu tư nước ngoài trên trang web của bộ, tính đến tháng 4 năm

2014, Hàn Quốc đã có 3736 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 30,77 tỷ USD

3 http://www.korea.info.vn/2014/03/cong-dong-du-hoc-sinh-viet-nam-dang-hoc-tap-tai-han-quoc.html

Trang 9

môn đào tạo tiếng Hàn và Hàn Quốc học đang dần khẳng định mình trên conđường cạnh tranh với các thứ tiếng khác Kỳ tuyển sinh đại học năm 2014,Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc tại trường Đại học Ngoại ngữ, Đại họcQuốc gia Hà Nội có số điểm tuyển đầu vào lần đầu tiên sau 20 năm thành lậpcao nhất trường (30,5) vượt qua các Khoa đào tạo tiếng Anh và tiếng Nhật.Đáp ứng xu thế này, cần phải dành nhiều quan tâm hơn nữa cho việc nghiêncứu làm thế nào để dạy và học tiếng Hàn cho hiệu quả.

Trước thực tế hoạt động giao lưu hợp tác trên mọi phương diện diễn rasôi nổi và rộng rãi khắp toàn cầu, ngoại ngữ trở thành phương tiện chính kếtnối những người dân đến từ những đất nước có nền văn hóa khác nhau Cũng

từ đó, việc giáo dục văn hóa quốc tế đã và đang ngày càng được chú trọnghơn Và ngày nay đã xuất hiện xu hướng chung là để sử dụng thành thạo mộtngoại ngữ, người học không nên chỉ dừng lại ở việc học thuộc nghĩa từ và cấutrúc ngữ pháp, mà còn phải học văn hóa, đặc biệt là văn hóa giao tiếp TiếngHàn cũng là một ngoại ngữ, nên việc dạy và học tiếng Hàn không nằm ngoàitrường hợp này Trong bối cảnh Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều hoạt độnggiao lưu diễn ra, hai nền văn hóa thuộc Đông Nam Á và Đông Bắc Á gặpnhau và tạo ra hiện tượng giao thoa văn hóa Vậy giao thoa văn hóa Việt –Hàn có ảnh hưởng như thế nào tới việc học tiếng Hàn của người Việt, sẽ lànhững vấn đề chính được nghiên cứu trong đề tài này

Trang 10

Thị Hương (2012)) và chưa đề cập đến yếu tố văn hóa trong việc học tiếngHàn của người Việt.

Luận văn tiếng Hàn của học giả người Hàn: nhìn chung các tác giả đều

đề cập đến việc dùng văn hóa như một công cụ để tăng hiệu quả việc họcngoại ngữ như Min Hyun Sik (1996), Kim Jeong Sook (1997), Jo Hang Nok(1998) (2000) (2001), Han Sang Mi (1999), Yoon Yeo Thak (2000), Seong KiCheol (2001), Park Yeong Soon (2002), Lee Mi Hye (2004) Đối tượng vănhóa được đem so sánh đối chiếu với văn hóa Hàn Quốc phần lớn là văn hóa

Mỹ qua nghiên cứu của Park Chae Yeong (2002), Park Hee Eun (2007) Bêncạnh văn hóa giao tiếp, đất nước, lịch sử, con người Hàn Quốc cũng được đưavào nội dung giảng dạy văn hóa Có nhiều nghiên cứu hướng tới soạn giáotrình văn hóa như thế nào cho phù hợp và hỗ trợ được việc học tiếng Hàn nhưnghiên cứu của Jo Eun Hee (2003), Park Hye Jeong (2008), Kim Hae Yeong(2008), Lee Jong Sook (2008) Nội dung văn hóa được lựa chọn trong giáodục ngoại ngữ đa dạng liên quan đến phong tục ăn, mặc, ở, các ngày lễ tếtquan trọng, các sự kiện lịch sử quan trọng, đặc điểm chính trị cơ bản cho tớitục ngữ, thành ngữ, v.v…

+ 한국어 숙달도 배양을 위한 한국문화 교육방안 (Đề xuất giảngdạy văn hóa Hàn Quốc nhằm trau dồi khả năng thành thạo tiếng Hàn) củaKim Jeong Suk (1997) đưa ra nội dung, phương hướng và trình tự giảng dạy vănhóa song song cùng dạy tiếng Hàn Tác giả cho rằng việc dạy văn hóa trong họcngoại ngữ không phải đơn phương chỉ tìm hiểu về văn hóa của ngôn ngữ đích, màphải là quá trình biện chứng quan sát và phân tích cả văn hóa của ngôn ngữ đích vàvăn hóa của tiếng mẹ đẻ Bốn phương hướng giảng dạy văn hóa được đặt ra là (1)dạy văn hóa theo giai đoạn, (2) tiến hành mô hình giờ học tích hợp ngôn ngữ và vănhóa, (3) dạy văn hóa từ trình độ sơ cấp, (4) sử dụng đa dạng nguồn tài liệu âm thanh,

Trang 11

hình ảnh, video, v.v… nhằm cung cấp thông tin một cách khách quan Trình tự giảngdạy văn hóa được tác giả mô tả lần lượt theo trình tự quyết định chủ đề, giải thíchhiện tượng văn hóa, thảo luận về văn hóa của ngôn ngữ đích, chuyển sang phần dạyngôn ngữ và vận dụng, kiểm tra sự thay đổi nhận thức, kiểm tra mức độ thành thạo vềngôn ngữ • văn hóa.

phương pháp giảng dạy văn hóa để nâng cao năng lực tiếng Hàn) của Kim BoYeong (2008) đã đưa ra 2 phương án giảng dạy văn hóa hiệu quả để nâng caonăng lực tiếng Hàn, đó là (1) phương án giảng dạy lấy người dạy làm trungtâm (bao gồm (a) kể chuyện văn hóa, (b) dạy văn hóa qua tục ngữ, quán ngữ,(c) dạy văn hóa qua văn học, (d) dạy văn hóa qua truyền thuyết), (2) phương

án giảng dạy lấy người học làm trung tâm (bao gồm các hoạt động (a) diễnkịch, (b) trải nghiệm văn hóa, (c) phỏng vấn, (d) kể truyện)

+ 한국어 교육과 문화 교육 (Giảng dạy tiếng Hàn và văn hóa HànQuốc) của Seong Gi Cheol (2001) đã phân loại các hình thức giảng dạy vănhóa làm hai loại chính là (1) dạy kết hợp với ngôn ngữ, (2) dạy tách rời vớingôn ngữ Loại hình (1) được chia thành 2 loại nhỏ là (a) kết hợp hoàn toàn(tài liệu ngôn ngữ có nội dung hoàn toàn về văn hóa), (b) kết hợp bộ phận(trong tài liệu ngôn ngữ có chứa các yếu tố văn hóa) Loại hình (2) cũng đượcchia thành 2 loại hình nhỏ hơn là (a) tổ chức giờ học văn hóa riêng, (b) tổchức hoạt động trải nghiệm văn hóa

+ 영어권 한국어 학습자를 위한 문화 학습 방안 연구 (Nghiên cứuphương án học văn hóa cho những người nước nói tiếng Anh học tiếng Hàn)của Park Hee Eun (2007) đã so sánh văn hóa Hàn Quốc và văn hóa Mĩ quacác giá trị văn hóa truyền thống Từ đó, tác giả đưa ra những nét khác biệt

Trang 12

trong văn hóa giao tiếp và văn hóa ứng xử của người Hàn và người Mĩ Đây là

ví dụ điển hình về nghiên cứu đưa yếu tố giao văn hóa vào giảng dạy tiếngHàn đề cập đến quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ, quan hệ giữa văn hóa vàgiao tiếp

Như vậy phần lớn các nghiên cứu tại Hàn Quốc liên quan đến đề tàinày đều thống nhất ở điểm văn hóa là yếu tố quan trọng nếu muốn trau dồimột khả năng ngoại ngữ tốt, và đưa ra các giải pháp đa dạng để vận dụng vănhóa vào nâng cao năng lực ngoại ngữ như chọn lọc nội dung văn hóa đưa vàogiảng dạy, hoàn thiện, sửa đổi giáo trình, dạy văn hóa kèm vào giờ học ngoạingữ Tuy nhiên nội dung văn hóa được đưa ra mới chỉ mang tính chất giớithiệu chứ chưa liên đới so sánh với ngôn ngữ của quốc gia đó, hoặc các ví dụđưa ra thường bị trùng lặp, và mới chỉ nhìn nhận văn hóa từ một chiều Vớicác nghiên cứu đối chiếu với văn hóa Mỹ, các ví dụ minh họa cho sự khácbiệt về văn hóa chưa phong phú và đa dạng

Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã bắt đầu đề cập đến giao thoa văn

hóa, nhưng các nghiên cứu đều dừng lại ở mức độ ảnh hưởng của giao thoavăn hóa đến tâm lý người tham gia giao tiếp do những khác biệt về văn hóa ởgóc độ lý thuyết chung Lê Viết Dũng với bài viết “Giao thoa văn hóa trongdạy-học ngoại ngữ: về một vài thói quen trong giao tiếp của người Việt ảnhhưởng đến việc học ngoại ngữ” (2009) nhấn mạnh rằng người dạy ngoại ngữcần nắm được những thói quen ngôn ngữ đặc trưng của người Việt và quốcgia sử dụng ngoại ngữ đang theo học để giúp người học vượt qua những trởngại về tâm lý Lê Viết Dũng cho rằng thói quen quan trọng nhất trong giaotiếp ngôn ngữ của người Việt là sự phân biệt ứng xử với thành viên trongcùng nhóm và ứng xử với người ngoài nhóm

Trang 13

Trong bài “Văn hóa, giao thoa văn hóa và giảng dạy ngoại ngữ” đăngtrên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 24 (2008), tác giả NguyễnQuang đã đưa ra sơ đồ mô phỏng quá trình dẫn đến xung đột văn hóa, trong

đó giao thoa văn hóa chính là chất xúc tác trung gian để quá trình này xảy ra.Tác giả cho rằng khởi đầu của quá trình này là các tiền niệm của đối tác, khitham gia giao tiếp, những tiền niệm này khiến người tham gia giao tiếp cócách diễn giải sai lệch, dẫn đến hiểu sai lệch, làm xảy ra sốc văn hóa

Như vậy tại Việt Nam, tuy đã có bài viết đề cập đến vai trò quan trọngcủa giao thoa văn hóa trong học ngoại ngữ nhưng vẫn còn mang đậm tính lýthuyết và chưa đi vào các ngôn ngữ cụ thể Vì vậy, là giáo viên dạy tiếng Hàn,người viết có hướng triển khai chỉ ra giao thoa văn hóa trong việc học tiếngHàn của người Việt dựa trên việc liên hệ giữa văn hóa Hàn Quốc với văn hóaViệt Nam, hoạt động giao tiếp của người Hàn với người Việt, từ đó chỉ ranhững mặt tiêu cực và tích cực của quá trình giao thoa văn hóa và đưa ra biệnpháp khắc phục

3 Mục đích nghiên cứu

Bài nghiên cứu tập trung vào tổng hợp các đặc trưng văn hóa của HànQuốc, từ đó tìm ra sự phản chiếu của văn hóa trong hoạt động giao tiếp củangười Hàn Đây sẽ là căn cứ để liên hệ với hoạt động giao tiếp của người Việt,nhằm hướng tới mục đích sau cùng là tìm ra điểm thuận lợi và khó khăn củangười Việt khi học tiếng Hàn Cố gắng giải quyết được vấn đề này, sẽ giúpcho cả người dạy và người học tiếng Hàn tìm ra được biện pháp khắc phụchợp lý và hiệu quả Chúng tôi hy vọng rằng điều này sẽ giúp cho những ngườiquan tâm đến tiếng Hàn có thể hiểu hơn về văn hóa Hàn Quốc cũng như tiếngHàn, để học tiếng Hàn hiệu quả hơn

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình giảng dạy tiếng Hàn, người viết nhận thấy rằng ngườihọc thường áp dụng một cách máy móc các quy tắc trong ngôn ngữ đích gây

ra hiện tượng cứng nhắc và gượng ép trong diễn đạt Bên cạnh đó, khi cónhững cấu trúc, cách thức biểu hiện không giống hoặc không có trong tiếng

mẹ đẻ, người học thường không hiểu tường tận, dẫn tới tránh hoặc ngại vậndụng Hoặc trong quá trình dịch, cố gắng chuyển dịch từng câu chữ từ tiếng

mẹ đẻ sang ngôn ngữ đích mà đánh mất tính tự nhiên mạch lạc của bản dịch.Người viết cho rằng những lỗi như trên xuất phát từ nguyên nhân người họcchưa hiểu rõ văn hóa đất nước mình đang theo học tiếng Văn hóa là một kháiniệm rộng lớn bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, chính trị, tôngiáo, giáo dục, v.v… Không phải lúc nào cũng có thể tìm được ảnh hưởngtrực tiếp của văn hóa lên các đặc trưng ngôn ngữ, nhưng hầu như các mặttrong văn hóa đều tác động đến lối tư duy, cách cư xử trong giao tiếp Trong

đề tài này, với mục đích vận dụng giao thoa văn hóa vào học ngoại ngữ hiệuquả, người viết sẽ trình bày 8 đặc điểm văn hóa đúc rút được là có ảnh hưởngđến hoạt động giao tiếp của người Hàn, bao gồm:

Trang 15

Những đặc điểm văn hóa này được đối chiếu, dẫn chứng qua các biểu hiệnngữ pháp, hoặc từ vựng trong giao tiếp của người Hàn Lấy 8 đặc điểm vănhóa này làm gốc, người viết đối chiếu sang hoạt động giao tiếp của người Việt,tìm điểm tương đồng và khác biệt để tìm hiểu thuận lợi và khó khăn của giaothoa văn hóa đối với người Việt học tiếng Hàn Cuối cùng người viết đề xuấtphương án khắc phục qua việc dạy kèm văn hóa giao tiếp trong các giờ dạythực hành tiếng.

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứusau đây:

giao tiếp của người Hàn

động giao tiếp của người Hàn

so sánh và chỉ ra giao thoa văn hóa xảy ra như thế nào, có ảnh hưởng gìđến việc học tiếng Hàn của người Việt

6 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi có những đóng góp sau:

giao tiếp của người Hàn

như thế nào, dẫn chứng bằng các ví dụ trong giao tiếp ngôn ngữ của cảtiếng Hàn và tiếng Việt

Trang 16

- Đưa ra biện pháp khắc phục khi giao thoa văn hóa ảnh hưởng tiêu cựcđến việc học tiếng Hàn của người Việt.

Nam đang giảng dạy hoặc theo học tiếng Hàn, có quan tâm đến tiếngHàn cũng như văn hóa Hàn Quốc

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung luận văn được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếpcủa người Hàn

Chương 3: Ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng Hàn củangười Việt và phương án khắc phục

Trang 17

Chương 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ

Tại sao phải tìm hiểu về ảnh hưởng của giao thoa văn hóa đối với việchọc tiếng Hàn của người Việt? Chúng tôi lựa chọn đề tài này là dựa trênnhững cơ sở lí luận sẵn có về mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ

Trước khi đưa ra cơ sở lí luận về quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ,

chúng tôi xin đưa ra khái niệm về văn hóa và ngôn ngữ Về văn hóa, có hàng

trăm các định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa đều phản ánh một cách nhìnnhận và đánh giá khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu Người viết xintrích lại một vài định nghĩa tổng quát nhất về văn hóa Nhà nhân loại họcngười Anh Edward Burnett Tylor (1832-1917) đã đưa ra định nghĩa: “Vănhóa hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm:kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ khả

lần sửa đổi, năm 2002 đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nênđược đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất,tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nóchứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chungsống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” Lý do chúng tôi đưa ra hai

định nghĩa này vì: định nghĩa thứ nhất cho thấy tính bao trùm của văn hóa

chứa đựng mọi khía cạnh liên quan đến lối sống, tư duy và năng lực của con

người tồn tại trong nền văn hóa đó, tích lũy được qua thời gian; định nghĩa

thứ hai đã bổ sung thêm chủ thể của văn hóa, là “một xã hội hay một nhóm

người trong xã hội”, từ đây hé mở sự tồn tại về những khác biệt văn hóa giữacác chủ thể văn hóa, hay nói cách khác là sự khác biệt văn hóa giữa xã hội

4 Dẫn theo [8:74]

Trang 18

này với xã hội khác, giữa nhóm người này với nhóm người khác trong xã hội.Hai định nghĩa này đã gián tiếp chỉ ra hai đối tượng mà chúng tôi muốn bàntới là ngôn ngữ (là khả năng mà con người thu nhận được), và con người (làchủ thể của văn hóa, đồng thời là chủ thể thực hiện hoạt động ngôn ngữ).

Vậy còn ngôn ngữ là gì? C.Mác và V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa

“…giống như ý thức, ngôn ngữ chỉ nảy sinh ra do nhu cầu, do sự cần thiết cấpbách phải giao tiếp với những người khác”, “Ngôn ngữ là phương tiện giao

nguồn gốc ra đời của ngôn ngữ là xuất phát từ chính nhu cầu thiết yếu của conngười, mặt khác cho biết vai trò và chức năng của ngôn ngữ

Với nguồn gốc ra đời và chức năng chính là giao tiếp như trên, ngônngữ có mối quan hệ như thế nào với văn hóa? Có hai quan điểm được bàn đến,

thứ nhất, những người theo quyết định luận ngôn ngữ học (linguistic

determinism) của Whorf thì cho rằng ngôn ngữ quy định văn hóa vì “người takhông thể nhận thức thế giới một cách tự do mà phải nhận thức thông qua

tự do lựa chọn cái biểu hiện mà còn lựa chọn một cách võ đoán cái được biểu

ngữ gọi tên và sự vật hiện tượng đó thực chất không có mối tương quan, ràngbuộc nào Vì vậy, người ta cho rằng ngôn ngữ là cái quy định văn hóa Trên

thực tế, quyết định luận ngôn ngữ học và tương đối luận ngôn ngữ học của

Whorf đã bị phản bác cho là luẩn quẩn và không vững Nguyễn Thiện Giáp(2008:82) nhận định “không phải tất cả các cái được biểu hiện đều là võ đoán

và những cái võ đoán cũng không võ đoán hoàn toàn”, “tính võ đoán của

5

Dẫn theo [7:8]

6 Dẫn theo [4:79]

7 Dẫn theo [4:80]

Trang 19

ngôn ngữ không phải là tuyệt đối” “mà nó bị hạn chế bởi một trường văn hóariêng biệt mà từ đó ngôn ngữ đã phân xuất ra những cái được biểu hiện của

nó” Vì thế mới tồn tại quan điểm thứ hai cho rằng văn hóa quy định ngôn

ngữ Thực vậy, văn hóa bao gồm mọi sản phẩm có giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với môi trường xung quanh,

mà ngôn ngữ chính là sản phẩm của loài người được tạo ra do nhu cầu giaotiếp, như vậy ngôn ngữ chính là một thành tố văn hóa Nằm trong văn hóa,ngôn ngữ không thể tồn tại, vận động và phát triển tách rời khỏi văn hóa,giống như con người ở đất nước có văn hóa gốc nông nghiệp mang tính cáchkhác với con người văn hóa gốc công nghiệp Như vậy mặc dù ngôn ngữ cóthể tự do lựa chọn những cái được biểu hiện một cách võ đoán nhưng vẫnnằm trong phạm vi ranh giới văn hóa nhất định Cũng giống như trong tiếngViệt có nhiều từ để miêu tả quá trình trồng lúa, từ khi gieo mạ, cày cấy, tuốtlúa, phơi thóc cho đến khi thành gạo, còn trong tiếng Anh thì chỉ có từ “rice”

để chỉ gạo, nhưng điều đó không có nghĩa chỉ ở Việt Nam mới có thóc và gạo.Rivers (1964) đã nhấn mạnh: “Ý nghĩa trọn vẹn của một từ đối với mỗi cánhân là kết quả của sự tổng hợp các kinh nghiệm mà một người có được về từ

đó trong môi trường văn hóa nơi họ lớn lên Vì thế, không thể tách rời hoàn

Brown thì cho rằng: “Ngôn ngữ là một bộ phận của văn hóa và văn hóa là một

bộ phận của ngôn ngữ; chúng gắn bó với nhau chặt chẽ và phức tạp tới mứckhông thể tách rời chúng riêng rẽ nếu không làm đánh mất đi ý nghĩa hoặc về

tộc của ngôn ngữ và tư duy” (2010), Nguyễn Đức Tồn đã cụ thể mối quan hệ

8 “the full meaning of a word for an individual is the result of the sum total of experience which he has had with that word in the cultural environment in which he has grown up Therefore a language can not be separated completely from the culture in which it is deeply embedded” [26:84]

9 “A language is a part of a culture and a culture is a part of a language; the two are intricately interwoven such that one cannot separate the two without losing the significance of either language or culture” [24:143]

Trang 20

giữa văn hóa và ngôn ngữ theo những ý (1) “ngôn ngữ được xem như một yếu

tố hay một bộ phận hữu cơ của văn hóa”, (2) “Ngôn ngữ là một trong nhữngthành tố đặc trưng nhất của bất cứ nền văn hóa dân tộc nào Chính trong ngônngữ, đặc điểm của một nền văn hóa dân tộc được lưu giữ lại rõ ràng nhất”, (3)

“Trong thời đại hiện nay, quá trình trao đổi văn hóa giữa các dân tộc đangdiễn ra mạnh mẽ, mà ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất của sự trao đổiđó” Cách nhận định này đã chỉ ra rằng ngôn ngữ tồn tại và phát triển songsong với văn hóa, và đóng vai trò kết nối giữa các dân tộc có ngôn ngữ khácnhau trong thời đại toàn cầu hóa, đặc biệt là mỗi một ngôn ngữ lại mang trongmình những đặc trưng tiêu biểu của một nền văn hóa, do được hình thành vàphát triển chính nhờ những con người tồn tại trong cộng đồng văn hóa đó.Ngoài ngữ pháp tạo sinh tồn tại trong ngôn ngữ của dân tộc đó, mỗi ngôn ngữluôn chứa đựng cách thức tư duy, giá trị tinh thần thể hiện văn hóa của dântộc sử dụng ngôn ngữ ấy, góp phần phân biệt các nền văn hóa với nhau

Trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học” (2008), Nguyễn Thiện Giáp đưa

ra mối quan hệ phổ niệm ngôn ngữ học được sinh ra từ sự phối hợp phổ niệmsinh học và văn hóa hoặc chức năng, và chỉ ra rằng “sự khác nhau ở một hoặchơn trong các diện đó sẽ tạo cho các ngôn ngữ những cấu trúc từ vựng và ngữ

ánh thụ động văn hóa, mà khi những đặc trưng văn hóa thay đổi thì ngôn ngữcũng vận động thay đổi theo Tác giả viết “Những nhu cầu mới tăng lên trongvăn hóa, ngôn ngữ của nó đáp ứng bằng cách sáng tạo ra các từ mới, vay

Như vậy, ngôn ngữ từ thuở sơ khai sinh ra và trở thành thành tố củavăn hóa, kế đó vận động và phát triển biện chứng với văn hóa cho thấy quan

10 [4:85]

11 [4:86]

Trang 21

hệ chặt chẽ không thể tách rời của văn hóa và ngôn ngữ Trong mối quan hệ

đó, văn hóa là nền tảng và môi trường sinh sôi, ngôn ngữ là sự phản ánh vàsản phẩm của văn hóa Điều này cũng có nghĩa việc xuất phát từ đặc trưngvăn hóa để lý giải cho các đặc trưng ngôn ngữ của một dân tộc là hết sức cầnthiết cho người học ngoại ngữ để hiểu cặn kẽ và sử dụng thuần thục ngoại ngữ

đó Cụ thể hơn, vai trò của tìm hiểu văn hóa trong học ngoại ngữ được thểhiện như thế nào, sẽ được bàn đến ở phần tiếp theo

1.2 Vai trò của tìm hiểu văn hóa trong học ngoại ngữ

“Ngoại ngữ” thực chất là cách chúng ta gọi một ngôn ngữ của nướckhác mà không phải là tiếng mẹ đẻ Vì vậy, ngoại ngữ cũng chính là ngôn ngữ,

và không nằm ngoài mối quan hệ hữu cơ với văn hóa Vậy việc tìm hiểu vănhóa có vai trò như thế nào trong học ngoại ngữ? Có thể khái quát vai trò đóqua một vài nét sau:

- Tăng cảm quan ngôn ngữ mình theo học: Quá trình theo học ngoại

ngữ là một quá trình lâu dài và trải qua nhiều giai đoạn Một người được coi

là có khả năng ngoại ngữ thành thạo phải là người không chỉ nói đúng ngữpháp, mà còn biết lựa chọn cách nói nào phù hợp ngữ cảnh, văn hóa để thuyếtphục người nghe Một nhà tâm lí xã hội học đã mô tả “Trong khi thụ đắc ngônngữ thứ hai, sinh viên phải đối mặt với nhiệm vụ không đơn giản là thông tinmới… một phần của nền văn hóa của mình mà là thụ đắc các yếu tố biểutrưng của cả một cộng đồng ngữ tộc khác hẳn Từ mới không đơn thuần là từmới theo quan điểm cũ, ngữ pháp mới không đơn thuần là cách nói khác củaviệc sắp đặt từ, cách phát âm mới không hoàn toàn chỉ là cách nói khác của sựvật Chúng là những đặc điểm của cộng đồng ngữ tộc khác Hơn thế nữa, sinhviên không chỉ được yêu cầu học về chúng mà còn phải thụ đắc chúng để biếnchúng thành một phần vốn ngôn ngữ của mình Cái này nhấn mạnh đưa các

Trang 22

yếu tố của nền văn hóa khác vào cuộc sống không gian vũ trụ của chính

tránh mắc phải các lỗi sai do khác biệt văn hóa Có thể lấy ví dụ rất gần về vaitrò tối quan trọng của văn hóa trong học ngoại ngữ ngay từ những bài học đầutiên Dù là học tiếng nước nào, các bài đầu tiên khi học ngoại ngữ luôn làcách chào hỏi, bởi lẽ trước khi bắt đầu câu chuyện, con người khi gặp nhauđều chào hỏi, và chào hỏi cũng được coi là một trong các phép lịch sự hàngđầu cần thực hiện Đối với người Hàn Quốc, cách chào phổ biến nhất là cúiđầu nghiêng khoảng 45 độ để thể hiện sự kính trọng với đối phương Khó cóthể tưởng tượng khi một học sinh đi qua giáo sư Hàn Quốc, miệng nói chàonhưng dùng tay vẫy Bài học văn hóa được rút ra ở đây là phép lịch sự cũngnhư tôn ti trên dưới ở Hàn Quốc đặc biệt được coi trọng Nhờ làm quen vớivăn hóa như vậy, người học sẽ bớt cảm giác bỡ ngỡ khi được dạy về các phépkính ngữ trong tiếng Hàn

- Hạn chế xung đột văn hóa: Kim Jeong Sook (1997) đã từng nhấn

mạnh ngôn ngữ vừa là phương tiện truyền tải và sáng tạo ra văn hóa, vừa làmột trong các yếu tố thể hiện đặc trưng văn hóa rõ nét nhất Vì vậy việc traudồi vốn hiểu biết về văn hóa của nước bạn sẽ giúp người học hiểu rõ cáchhành xử của đối phương có bối cảnh văn hóa khác, đồng thời tránh áp đặt vănhóa bản địa vào văn hóa nước bạn Ví dụ như người Hàn trong môi trườnglàm việc, họ thường chào tạm biệt bằng câu “수고하세요.” có nghĩa là “Hãylàm việc chăm chỉ nhé” Nếu không hiểu đặc tính của người Hàn là chăm chỉ,cần mẫn, quí trọng lao động thì khi nghe như vậy rất dễ cảm thấy phật lòng.Hay như trong tiếng Việt, mọi người xưng hô với nhau theo cách xưng hôtrong thân tộc Với cách xưng hô như vậy, cả xã hội là một đại gia đình, ai

12 Dẫn theo [4:463]

Trang 23

cũng có thể gọi là anh, em, cô, dì, chú, bác Nhưng người Việt học tiếng Hànkhông thể áp đặt cách xưng hô như vậy khi sử dụng tiếng Hàn, đặc biệt trongmôi trường làm việc như công ti, vì người Hàn rất coi trọng vị trí chức vụ, tôn

ti trong công ti Trong tiếng Hàn, cách xưng hô giữa hai người được xác lậpkhông phải dựa trên tuổi tác, địa vị giữa hai người mà phải căn cứ trên sơ đồquan hệ tập thể Nếu hiểu được nét văn hóa này, người Việt sẽ tránh đượcviệc xưng hô sai, dễ gây hiểu lầm là không tôn ti trật tự trên dưới

Những ví dụ trên đây chủ yếu được đưa ra trên góc độ giao tiếp, vậycòn trường hợp những người không dùng ngoại ngữ để giao tiếp, như côngviệc biên dịch tại gia, không giao tiếp với người bản địa thì có nhất thiết phải

đề cao vai trò của văn hóa trong việc học ngoại ngữ hay không? Trên thực tế,cho dù chỉ nhận công việc dịch thuật tại nhà, hay trả lời email của đối tác, khi

đã sử dụng ngoại ngữ, người sử dụng đều đã tham gia vào quá trình chuyển di,chuyển nội dung ngoại ngữ sang tiếng mẹ đẻ và ngược lại Quá trình ấy sẽ đạtđược hiệu quả cao hơn nếu có kiến thức về văn hóa Ví dụ khi trao đổi quaemail với người Hàn Quốc, khi muốn nhờ vả đối phương làm gì, biết đượcvăn hóa trọng hình thức, lễ nghi của người Hàn, để giữ thái độ nhã nhặn vàthể hiện sự tôn trọng với đối phương, không phải là ra lệnh, người viết nên

기다리겠습니다”…thay vì bảo đối phương “hãy làm gì”

Từ những ví dụ trên đây có thể khẳng định rằng không thể tách rời vănhóa khỏi học ngoại ngữ Những hiểu biết về văn hóa sẽ giúp người học cóđược cảm quan ngôn ngữ tốt và hạn chế được phần nào các xung đột văn hóa.Năng lực ngoại ngữ kết hợp với kiến thức về văn hóa sẽ giúp người học đạt

Trang 24

được hiệu quả sử dụng ngoại ngữ tối ưu, tránh được các hiểu lầm không đáng

có và duy trì được mối quan hệ tốt đẹp

1.3 Giao thoa văn hóa và giao tiếp

Khi nói đến văn hóa trong học ngoại ngữ, mọi người thường có xuhướng nghĩ tới văn hóa của nước nói ngoại ngữ ấy, mà ít khi nghĩ đến văn hóacủa nước bản địa Nhưng trên thực tế, người học ngoại ngữ lại rất hay áp dụnglối nói của tiếng mẹ đẻ vào việc học tiếng tạo ra ngôn ngữ trung gian Vậyxảy ra quá trình gì khi hai nền văn hóa gặp nhau trong cùng một người học,

và quá trình ấy tác động thế nào đến hoạt động giao tiếp ngoại ngữ của ngườihọc, dưới đây chúng tôi sẽ bàn đến vấn đề này

1.3.1 Khái niệm giao thoa văn hóa

Trong quá trình học ngoại ngữ, văn hóa bản địa gặp gỡ văn hóa củanước dùng ngoại ngữ ấy tạo nên quá trình giao thoa văn hóa Vậy giao thoa làgì? Giao thoa (interference) theo vật lý học chỉ hiện tượng hai hay nhiều sónglàm tăng cường hay làm suy yếu lẫn nhau khi gặp nhau tại cùng một điểm.Theo Nguyễn Quang (2008:77-78), giao thoa văn hóa là sự tương tác giữa các

nhóm xã hội (social groups), giữa các tiểu văn hóa (sub-cultures), giữa các văn hóa tộc người (ethnic cultures) và giữa các nền văn hóa (cultures) khác

nhau Khi người Việt giao tiếp với người Hàn cũng là khi văn hóa Việt tươngtác với văn hóa Hàn Như vậy, theo quan điểm này, có thể nói giao thoa vănhóa xảy ra trên đối tượng người Việt học tiếng Hàn là giao thoa giữa hai nền

văn hóa Đặc điểm quan trọng nhất của quá trình này đó là tính áp đặt Mặc

dù sự giao thoa diễn ra khi có sự tương tác giữa hai nền văn hóa, nhưng vănhóa của nước người học ngoại ngữ bao giờ cũng có xu hướng lấn át văn hóacủa nước còn lại Tương tự như vậy, người Việt học tiếng Hàn sẽ có khuynhhướng áp đặt văn hóa, đặc biệt là văn hóa giao tiếp của người Việt vào khi

Trang 25

thực hành tiếng Hàn Vậy giao thoa văn hóa và giao tiếp có mối quan hệ nhưthế nào? Để trả lời câu hỏi này, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm năng lựcgiao tiếp.

1.3.2 Khái niệm năng lực giao tiếp

Cơ sở tồn tại của một xã hội đó là các thành viên trong cùng xã hội phải

có sự giao tiếp với nhau Giao tiếp giúp con người hiểu nhau, trao đổi suynghĩ, ý kiến, cảm xúc, một mặt giúp thắt chặt mối quan hệ giữa các thành viêntrong một cộng đồng xã hội, hoặc giữa các cộng đồng xã hội với nhau, mộtmặt góp phần vào phát triển xã hội Nếu không có sự giao tiếp, bằng cách nàyhay cách khác, mỗi người sẽ tồn tại ở dạng cá thể độc lập không có mối liênquan, giao lưu với nhau, lúc ấy xã hội sẽ không thể tồn tại được

Trên thực tế, con người có thể giao tiếp với nhau qua nhiều cách thứcnhư cử chỉ, các loại dấu hiệu, kí hiệu, âm nhạc, hội họa, v.v… nhưng phươngtiện giao tiếp chủ yếu nhất của con người chính là ngôn ngữ So với cácphương tiện khác, ngôn ngữ có ưu điểm là nhanh chóng, thuận tiện, vô hạn vàthể hiện được hầu như mọi mục đích truyền đạt Ngôn ngữ cử chỉ, hay cácloại dấu hiệu, âm nhạc, hội họa… luôn bị giới hạn bởi sức sáng tạo và khảnăng biểu đạt còn hạn hẹp, mơ hồ và trừu tượng Trong giới hạn của chủ đềnghiên cứu này, năng lực giao tiếp mà đề tài muốn nhắc tới khoanh vùngtrong năng lực giao tiếp của ngôn ngữ

Chomsky (1965:3) chia nhỏ khái niệm học ngôn ngữ thành ngữ năng(linguistic competence) và ngữ hiện (linguistic performance) Ngữ năng dùng

để chỉ trình độ kiến thức về ngôn ngữ để người nói và người nghe có thể giaotiếp trong một xã hội hoàn toàn đồng chất Còn ngữ hiện dùng để chỉ việc một

Trang 26

cá nhân trên cơ sở kiến thức về ngôn ngữ đích đã được thụ đắc, vận dụng

Nhưng Hymes (1974:423) cho rằng khái niệm về ngữ năng củaChomsky không đủ để giải thích cho chức năng xã hội của ngôn ngữ, và đãđưa ra khái niệm về năng lực giao tiếp (communicative competence) Hymescho rằng những hiểu biết trên phương diện xã hội còn quan trọng hơn nhữnghiểu biết trên phương diện ngôn ngữ, và chỉ ra các nguyên tắc sử dụng ngônngữ trên thực tế đã tồn tại trước cả những quy tắc ngữ pháp tạo sinh, vì thếnếu chỉ dựa trên hiểu biết về ngữ pháp thì không thể thực hiện hoạt động ngônngữ Điều này có nghĩa năng lực giao tiếp không chỉ được hình thành dựa trên

cơ sở các ngữ pháp tạo sinh, mà còn dựa trên những hiểu biết, những kiếnthức nền về xã hội sử dụng ngôn ngữ đó

Tiếp đến, vẫn Hymes (1979:19-24) đã đưa ra 4 yếu tố tạo nên năng lựcgiao tiếp là tính ngữ pháp (grammaticality), khả năng thu nhận (acceptability),tính thích hợp (appropriateness), tính khả thi (probabilities of occurrence).Quan điểm của Hymes về năng lực giao tiếp là phải hợp lý về ngữ pháp, phải

là những câu được phát ngôn trong thực tế, không những phù hợp về phươngdiện xã hội, mà phát ngôn còn phải thúc đẩy một hành động nào đó diễn ra

Canale và Swain (1980) đã bổ sung thêm quan điểm về năng lực giaotiếp bằng năng lực về chiến lược và năng lực về đàm thoại Năng lực đàmthoại là năng lực hiểu ý nghĩa tổng thể của đoạn văn hoặc bài nói được liênkết bởi nhiều câu, và năng lực cấu trúc một đoạn văn hoặc bài nói phù hợpvới một ngữ cảnh nhất định Năng lực có tính chiến lược chỉ năng lực dùngcác cách lặp lại, chần chừ, né tránh, dự đoán hoặc cử chỉ cơ thể, thể hiện trênkhuôn mặt để đạt được hoạt động giao tiếp thuận lợi với đối phương

13 [17:14]

Trang 27

Từ các lí thuyết trên, chúng ta có được khái niệm năng lực giao tiếp làmột năng lực tổng hợp yêu cầu người thực hiện hành vi giao tiếp khôngnhững hiểu biết về ngôn ngữ đích cả về hình thái, cấu trúc, mà còn cần nhữnghiểu biết về mặt xã hội, năng lực về đàm thoại và vận dụng các chiến lược phingôn ngữ để đạt được giao tiếp lý tưởng Mà suy cho cùng, những hiểu biết

xã hội, hay chiến lược phi ngôn ngữ trên đều thuộc văn hóa Vậy kết luận lại,năng lực giao tiếp bao gồm kiến thức về ngôn ngữ đích, và kiến thức về vănhóa

1.3.3 Quan hệ giữa giao thoa văn hóa và giao tiếp

Từ khái niệm năng lực giao tiếp, có thể thấy góp phần hoàn thiện nênnăng lực giao tiếp chính là văn hóa Mà giao thoa văn hóa là quá trình xảy rakhi hai nền văn hóa tương tác với nhau Vậy chúng có quan hệ với nhau nhưthế nào? Như đã trình bày ở trên, giao thoa văn hóa chịu sự áp đặt của vănhóa người học, mà kiến thức văn hóa lại là một phần của năng lực giao tiếp,cho thấy giao thoa văn hóa quy định khả năng giao tiếp hơn là chiều ngược lại

Hệ quả của mối quan hệ tác động một chiều này có thể chia theo hai hướngtích cực và tiêu cực Trong đó, chiều hướng tích cực xảy ra khi các nhóm xãhội, các tiểu văn hóa, tộc người và các nền văn hóa tham gia vào quá trìnhgiao thoa có điểm tương đồng Các tương đồng về văn hóa giúp người họcngoại ngữ dễ dàng hiểu và tiếp nhận phong cách giao tiếp cũng như cách biểuđạt của ngôn ngữ đích Đó là khi người học tìm thấy cách biểu đạt hoàn toàntương đương giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích, cả về ý nghĩa và cách sửdụng Ví dụ đối với người Việt học tiếng Hàn, khi làm quen với cách nói “xinchào”, “xin lỗi”, “cảm ơn” cơ bản nhất, thường được học những câu như sau:

Trang 28

Bảng 1: Cách nói “xin chào”, “xin lỗi”, “cảm ơn” cơ bản trong tiếng Hàn

Cách biểu đạt

STT

Tiếng mẹ đẻ _Tiếng Việt

Ngôn ngữ đích_

Nhưng ngược lại khi đối tượng tham gia vào quá trình tương tác mà có khácbiệt về văn hóa sẽ gây ra sốc và xung đột văn hóa Đó là khi người học khôngtìm thấy sự tương đương hoàn toàn giữa cách biểu đạt của ngôn ngữ đích vớitiếng mẹ đẻ, hoặc không hiểu ý nghĩa thực sự của cách diễn đạt đó trong ngônngữ đích, vì tiếng mẹ đẻ không tồn tại cách nói ấy Sốc văn hóa có những biểuhiện tâm lí – xã hội chung như “buồn bã, cô đơn; lo lắng; thay đổi tính tình,

nói tóm lại, người học ngoại ngữ không đạt được mục đích giao tiếp Ví dụ về

sự khác biệt văn hóa khi người Việt học tiếng Hàn gặp phải như sau:

Bảng 2: Cách nói “xin chào”, “xin lỗi”, “cảm ơn” mở rộng trong tiếng

Hàn

Cách biểu đạt

STT

Tiếng mẹ đẻ _Tiếng Việt

Trang 29

từ vựng Việc tồn tại các cách biểu đạt khác nhau trên chứng tỏ chúng đượcvận dụng vào những ngữ cảnh, tình huống, đối tượng khác nhau Sự khác biệtnày khiến cho người Việt khi học các biểu hiện trên trong tiếng Hàn trước tiênkhi học sẽ cảm thấy khó hiểu, sinh ra cảm giác phủ nhận, từ chối việc tiếp thuchúng Kết quả là lúng túng khi áp dụng, ngại áp dụng, có xu hướng sử dụnglẫn lộn các biểu hiện hoặc sử dụng sai ngữ cảnh, đối tượng Để giải quyết khókhăn này, người học cần hiểu văn hóa đã ảnh hưởng tới ngoại ngữ mình đangtheo học như thế nào, khác như thế nào với tiếng mẹ đẻ, từ đó hiểu và chấpnhận sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ, và sử dụng ngoại ngữ hiệu quả hơn.

Tiểu kết: Văn hóa có vai trò hết sức quan trọng trong việc học ngoại

ngữ Tìm hiểu về văn hóa khi học ngoại ngữ giúp người học tăng cảm quanngôn ngữ và hạn chế các xung đột văn hóa Đặc biệt, khi học ngoại ngữ, bảnthân trong mỗi người học đều diễn ra quá trình giao thoa văn hóa giữa nước

Trang 30

bản địa và văn hóa của nước nói ngôn ngữ đích Quá trình này có ảnh hưởng

cả tích cực và tiêu cực đến khả năng giao tiếp của người học ngoại ngữ Mỗingoại ngữ lại tạo ra những quá trình giao thoa khác nhau Nhiệm vụ cần đặt ra

là cần tìm hiểu cụ thể hơn giao thoa văn hóa ảnh hưởng ở những phương diệnnào đối với riêng ngoại ngữ mình theo học (ở đây là người Việt học tiếng Hàn)

để phát huy các mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong giao tiếp

Trang 31

Chương 2:

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG

GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI HÀN 2.1 Một vài đặc trưng tiêu biểu về văn hóa Hàn Quốc

Lời ăn tiếng nói hàng ngày là một sản phẩm của văn hóa, vì vậy ngườihọc ngoại ngữ cần phải tìm hiểu văn hóa của ngoại ngữ mình theo học.Nhưng văn hóa rất rộng lớn, thật khó để biết cần phải tìm hiểu những lĩnh vựcnào, hay tìm hiểu sâu ở mức độ nào Các cuốn sách viết về văn hóa thườngtrình bày văn hóa theo các mục: lịch sử, địa lý, khí hậu, ẩm thực, nhà ở, v.v…Xuất phát từ mục đích tìm căn cứ lý giải cho các đặc điểm văn hóa có ảnhhưởng đến hoạt động giao tiếp của người Hàn, người viết đã tổng hợp và rút

ra được những nét văn hóa căn nguyên tiêu biểu sau, đó là văn hóa gốc nông

nghiệp; trải qua nhiều chiến tranh; và chịu ảnh hưởng của Nho giáo.

2.1.1 Văn hóa gốc nông nghiệp

Hàn Quốc là nước bán đảo với hai phần ba diện tích là đồi núi trải dài

từ Bắc xuống Nam Các dãy núi cao tập trung ở phía Bắc và phía Đông, xen

kẽ là các con sông chảy về phía Tây và phía Nam Hạ lưu những con sông nàyphát triển thành vùng đồng bằng rộng lớn ở Tây Nam Bộ Là nước bán đảonên khí hậu Hàn Quốc mang cả đặc trưng của khí hậu đại lục và khí hậu biển.Bốn mùa thay đổi rõ rệt với đặc điểm mùa hè nóng ẩm, mùa đông khô lạnh.Đặc điểm địa hình và khí hậu như trên đã tạo điều kiện cho phát triển nôngnghiệp với các ruộng rau trên khu vực núi cao Đông Bắc với khí hậu lạnh, vàruộng lúa ở Tây Nam Bộ

Hoạt động kinh tế sản xuất nông nghiệp đặc biệt được thể hiện phongphú và rõ rệt qua các sản vật, ẩm thực, trò chơi dân gian trong các ngày lễ tết,

và qua tín ngưỡng thờ gia thần ở Hàn Quốc Những ngày lễ lớn có thể kể đến

Trang 32

ở Hàn Quốc bao gồm lễ Đông Chí, lễ Hàn Thực, lễ Đoan Ngọ, Trung Thu,Tết âm lịch, v.v… đều được đón bằng các món ăn làm từ gạo, đậu mang đậmchất nông nghiệp như cháo đậu, bánh tteok và các trò chơi thể hiện ước muốn

về một mùa màng bội thu như thả diều, bập bênh, kangkangsulle, … Điềuquan trọng hơn cả là hoạt động sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng đến việchình thành lối sống cộng đồng, chủ nghĩa tập thể của người dân Hàn Quốc.Nét văn hóa tốt đẹp này được thể hiện trong nhiều hoạt động sinh hoạt thườngngày, đơn cử trong số đó có thể kể tới là những câu chào hỏi khi gặp nhau.Mọi người trong cùng cộng đồng luôn quan tâm thăm hỏi lẫn nhau như trongcùng một gia đình Không phải ngẫu nhiên mà người Hàn Quốc lại hay chàonhau bằng những câu hỏi “Anh/chị đi đâu thế?”, “Anh/chị ăn cơm chưa?”,

“Vừa đi đâu về đấy?”, “Dạo này sống tốt chứ?”, v.v…

Để có được một Hàn Quốc hiện đại và năng động như ngày nay, đấtnước và con người Hàn Quốc cũng đã phải trải qua một chặng đường lịch sửphát triển dài Khởi đầu từ xa xưa, Hàn Quốc cũng giống như một số các nướckhác trong khu vực, là một quốc gia có nền văn hóa sản xuất nông nghiệp củangười dân miền núi, khí hậu lạnh, môi trường lao động khắc nghiệt Điều kiệnsản xuất kinh tế khó khăn nên người dân đề cao tinh thần tập thể, hỗ trợ đoànkết giúp đỡ lẫn nhau, chú trọng vào quá trình lao động để đạt được năng suấttốt, bên cạnh đó quí trọng những gì mình làm ra Những đức tính, tình cảmcủa người dân vươn lên từ gian khó đã ảnh hưởng không nhỏ tới phong cáchnói năng, giao tiếp của người Hàn mà đến nay vẫn được duy trì và đọng lạitrong hoạt động ngôn ngữ của người dân Hàn

2.1.2 Trải qua nhiều chiến tranh

Đặc trưng tiêu biểu thứ hai khi nhắc đến Hàn Quốc phải kể đến là chiếntranh, không chỉ trong quá khứ, mà ngay ở hiện tại, đất nước này vẫn đang

Trang 33

trong thế luôn phải chuẩn bị tinh thần ứng phó trước mọi bất trắc của tìnhhình chính trị Để hình thành một Hàn Quốc như ngày nay, đất nước này đãphải trải qua nhiều cuộc phân hợp trong lịch sử, thậm chí nỗi đau đất nước bịchia cắt hai miền vẫn còn kéo dài tới hiện tại Đây là đặc điểm tiêu biểu ảnhhưởng tới tư duy và tinh thần dân tộc của người dân xứ sở kim chi Từ thờiđại kiến quốc đến ngày nay, Hàn Quốc đã phải trải qua 7 mốc lịch sử lớn:

Bảng 3: 7 mốc quan trọng trong lịch sử của Hàn Quốc

(2333 TCN – 108 TCN)

Goguryeo (37 TCN – 668 SCN)Baekje (18 TCN – 660 SCN)Shilla (57 TCN – 935 SCN)

Shilla thống nhất (676 – 935)Balhae (698 – 926)

(1945 – nay)Triều Tiên cổ vốn là một quốc gia rộng lớn cả về lãnh thổ và thế lực (trải dài

từ Mãn Châu phía Đông Bắc Trung Quốc tới Tây Bắc bán đảo Hàn), nhưngđến năm 108 TCN đã bị nhà Hán xâm lược Sau khi rơi vào tay nhà Hán, HànQuốc xuất hiện liên minh các tiểu quốc bộ tộc như Buyeo, Goguryeo, Mã Hàn,Thìn Hàn, v.v… Để củng cố thế lực, các tiểu quốc này đã trải qua nhiều cuộc

Trang 34

chiến tranh giành, và kết quả của chúng là các tiểu quốc một lần nữa lại hợplại thành tam quốc gồm Goguryeo, Baekje và Shilla Shilla bắt đầu từ một bộtộc đơn lẻ là Thìn Hàn, nhưng sau để phòng ngự trước sự tấn công và canthiệp của Baekje và Goguryeo, Shilla đã củng cố vương quyền và đoàn kếtnội lực, đưa quốc gia ngày một phát triển Từ một nước nhỏ, sau Shilla dần

mở rộng sang Gyeongsang-do và sau nữa là Gangneung Khi Baekje chiếmđược lưu vực sông Hàn, sở hữu vùng lãnh thổ rộng lớn trong tam quốc, tạo cơ

sở để thống nhất tam quốc, thì Shilla đã bắt tay với nhà Đường đánh chiếmBaekje năm 660, đến năm 668 lật đổ cả Goguryeo và thống nhất tam quốc.Balhae được thành lập năm 698 từ những cư dân của Goguryeo cũ, nhưng chỉsau chưa đầy 300 năm đã bị sụp đổ bởi nhà Đường (năm 926) Chính quyềntrung ương của Shilla thống nhất cũng dần suy yếu và bị chia cắt, sau cùngnăm 935 đã thuộc về tay quốc gia thống nhất Goryeo Lịch sử chiến tranh vẫntiếp tục kéo dài, vương triều Goryeo đã bị lật đổ sau gần 500 năm do nhữngthế lực xâm lược đến từ Trung Quốc Năm 1392, thái tổ Lý Thành Quế đã lập

ra vương triều mới, vương triều Joseon Nhưng cuối thế kỷ thứ XVI, do nội

bộ chia cắt, không tìm được đối sách thích hợp trước những thay đổi về thờithế, Joseon phải đối mặt trước sự xâm lược của Nhật Bản và Trung Quốc Đấtnước rơi vào hỗn loạn sau cuộc chiến tranh Nhâm Thìn và cuộc binh biếnnăm 1623 Cuối thời đại Joseon, không những phải đối mặt với khó khăn dochiến tranh kéo dài, Joseon còn hứng chịu nhiều cuộc tấn công của các thế lựcphương Tây Thậm chí đã có lúc ngay trên lãnh thổ Joseon đã nổ ra cuộctranh giành giữa Trung Quốc và Nhật Bản, Nga và Nhật Bản, phần thắng saucùng đều thuộc về Nhật Bản Joseon tuy đã dùng nghĩa binh và biểu tình đểngăn chặn lại sự xâm lược của Nhật Bản, nhưng sau cùng, năm 1910, Joseonchính thức trở thành thuộc địa của Nhật Bản 35 năm sau đó là giai đoạnkháng Nhật đầy nước mắt và xương máu Kết quả của những phong trào biểu

Trang 35

tình lịch sử (cuộc biểu tình 3.1, cuộc biểu tình độc lập) cùng với bối cảnh lịch

sử kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, Hàn Quốc đã được giải phóng trở thànhmột quốc gia độc lập Chưa kịp phục hồi sau nhiều cuộc chiến liên miên, năm

1950 – 1953, Hàn Quốc nổ ra chiến tranh hai miền Nam và Bắc, tuy đã kýhiệp định đình chiến, nhưng sau nhiều nỗ lực, đến ngày nay, Hàn Quốc vẫn làquốc gia duy nhất trên thế giới chưa thể thống nhất Đặc điểm lịch sử này đãgóp phần thắt chặt tình đoàn kết giữa những người dân Hàn Quốc, hơn ai hết

họ quý trọng hòa bình và khao khát hòa bình, nên trong đời sống họ thường

đề cao lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, đặt mục đích cá nhân thấphơn mục đích lớn của tập thể

Như vậy có thể thấy, Hàn Quốc là đất nước đã từng trải qua nhiều đauthương của chiến tranh, bởi vậy nên con người Hàn Quốc một mặt đề cao tinhthần đoàn kết trong nội bộ, một mặt có tinh thần cảnh giác phòng ngừa vớibên ngoài Đối với Hàn Quốc, chiến tranh không chỉ là vấn đề của vũ khí, kẻthắng người thua, mà trở thành nỗi ám ảnh và cũng là động lực để họ vươnlên Để vượt qua những khó khăn do chiến tranh để lại, và để không rơi vàothế bị động, người Hàn Quốc rất chăm chỉ, cần mẫn, sức chịu đựng lớn, tínhcẩn thận cao, tỉ mỉ, chi tiết trong công việc Đặc điểm này được phản ánh rõnét trong ngôn ngữ Hàn Quốc Đại diện như nguồn gốc của câu chào đờithường của người Hàn Quốc “안녕하세요?” (Bạn vẫn bình an chứ?) cũngxuất phát từ hậu quả của chiến tranh khi người dân phải chịu đói khổ, khôngngày nào là không có người chết Hay như đồng nghiệp vẫn luôn tạm biệtnhau bằng câu nói mà nhiều người nước ngoài hay hiểu lầm là “수고하세요”(Bạn hãy làm việc vất vả nhé”)

Trang 36

2.1.3 Chịu ảnh hưởng của Nho giáo

Nho giáo bám rễ và ăn sâu vào trong đời sống xã hội của người dânHàn Quốc ngay cả khi Hàn Quốc phát triển kinh tế vượt bậc và bước lên sánhngang cùng các cường quốc khác trên thế giới Điều đó thể hiện trải dài vàxuyên suốt nhiều mặt trong xã hội, từ cá nhân đến gia đình, trường học, công

ty, xã hội Có thể nói ở đâu cũng có thể cảm nhận được sự ảnh hưởng củaNho giáo Điều đó được thể hiện qua các mặt chính là: lòng tôn kính vớingười lớn tuổi hoặc cấp trên, vai trò của người đàn ông, và tinh thần hiếu học

Lòng tôn kính với người lớn tuổi hoặc cấp trên: Bắt đầu từ điều đơn

giản nhất có thể gặp trong cuộc sống thường nhật đó là cách chào cúi gậpngười trước đối phương Nếu như ở nhiều quốc gia khác, khi gặp nhau người

ta chỉ cần vẫy tay chào, hoặc nhoẻn miệng cười thì ở Hàn Quốc, ở bất cứ hoàncảnh nào, như hai tổng giám đốc hay hai giáo sư, để thể hiện sự tôn trọng vớiđối phương, người ta vẫn phải cúi người chào, hai tay giữ thẳng bên chân.Tiếp đó có thể kể đến hệ thống các cấu trúc phép dùng phức tạp trong tiếngHàn để bày tỏ lòng tôn kính, lịch sự theo nhiều cấp độ khác nhau Khác vớitiếng Việt, trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Hàn, có rất nhiều cách biểu hiệnthái độ lịch sự, sự kính trọng trong giao tiếp và ứng xử Sự kính trọng đókhông chỉ thể hiện đối với người trực tiếp nghe câu chuyện, mà còn với chủthể của hành động Trong bữa ăn, người lớn bao giờ cũng là người cầm đũađầu tiên Trong công việc, cấp dưới luôn kính cẩn và làm theo mệnh lệnh củacấp trên, rất ít khi có sự cãi lệnh Đối với hệ thống gia tộc, lòng tôn kính tổtiên được coi là vô cùng quan trọng Vào những ngày giỗ tết, con cháu ở xalại tìm về với quê hương để làm lễ, thăm mộ tưởng nhớ những người đã mất

Vai trò của người đàn ông: chịu ảnh hưởng của tư tưởng “tại gia tòng

phụ, xuất giá tong phu, phu tử tòng tử” của Nho giáo, xã hội Hàn Quốc quan

Trang 37

niệm rằng người đàn ông lớn tuổi nhất trong gia đình là người nắm giữ quyềnhành tối cao Các thành viên còn lại của gia đình phải tuân theo quyết địnhcủa gia trưởng bất kể đúng sai Mọi sự phản đối hay chống lại bị coi là trái vớiđạo lý, trật tự trên dưới trong gia đình Đi đôi với quyền hạn là trách nhiệm,người đàn ông phải có trách nhiệm duy trì và phát triển gia đình của họ, giađình trở thành thể diện, tượng trưng cho sự thành đạt của người đàn ông.

Tinh thần hiếu học: Nho giáo của Khổng Tử có ảnh hưởng đặc biệt tới

giáo dục tại Hàn Quốc Hàn Quốc đã thể hiện sự quan tâm đến giáo dục từđầu thời đại Goryeo khi chế độ khoa cử mới được đưa vào áp dụng, sau đótiếp tục được kế thừa sang triều đại Joseon, nhiều người dân đã tham gia khoa

cử để mong được làm quan Sau đó, khi trật tự sĩ nông công thương dưới thờithực dân Nhật bị sụp đổ, giáo dục trở thành công cụ mạnh mẽ để đạt đượcthành công trong xã hội Điều này đã cổ vũ động viên người dân Hàn Quốctheo đuổi những nỗ lực về học thuật và đào tạo giáo dục – những thứ thiết yếuđối với sự lĩnh hội và truyền bá tri thức – những kỹ năng không thể thiếu cho

sự phát triển Ngày nay trẻ nhỏ trước khi học lớp 1 đã đăng ký học trước vềtiếng Anh và các môn năng khiếu ở các trung tâm Để đạt được thành tích họctập tốt, ngoài học ở trường, họ còn theo học gia sư, trung tâm, học qua truyềnhình, mạng, v.v… Những năm 1970, Hàn Quốc là một nước nghèo thiếu cảnguồn lực về tài nguyên lẫn vốn, con đường duy nhất để phát triển đất nước làdựa vào nhân tài Kì tích sông Hàn có thể trở thành hiện thực một phần chínhnhờ thế hệ ham học và tài năng này

Tóm lại, Hàn Quốc chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo Trung Hoa,coi trọng tôn ti trật tự, xác lập ranh giới nghiêm ngặt giữa người trên và ngườidưới, cả trong quan hệ gia đình lẫn trong quan hệ xã hội Vấn đề phân biệtgiới khá nghiêm trọng, tuy nhiên ngày nay nhờ nỗ lực của nữ giới Hàn Quốc

Trang 38

và sự tác động của các nước tiên tiến nói chung, vấn đề này đã được khắcphục khá nhiều, chỉ còn tồn tại chủ yếu ở các vùng nông thôn Việc đào tạonhân tài tại Hàn Quốc được chính phủ quan tâm sâu sát, tuy nhiên do quá chútrọng vào thành tích mà đã gây ra những hiện tượng thiếu tích cực.

2.2 Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của người Hàn

Những đặc điểm, đặc trưng văn hóa lớn có thể dễ dàng phát hiện, nhậnthấy trong các tài liệu giáo trình v.v… mà chúng tôi tạm rút ra trên có liênquan, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống hàng ngày, lưu lại thành nếp sinh hoạt,cách ứng xử và hành vi ngôn ngữ v.v… Dựa trên những hiểu biết về tiếngHàn, tổng hợp những đặc điểm tiêu biểu trong hoạt động giao tiếp của ngườiHàn, tìm sự giải thích từ trên phông nền văn hóa Hàn Quốc, chúng tôi đưa rabảng thể hiện những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp củangười Hàn như sau:

Bảng 4: Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của

người Hàn

Căn cứĐặc điểm

văn hóa ảnh hưởng

đến hoạt động giao tiếp

của người Hàn

Văn hóagốc nôngnghiệp

Trải quanhiềuchiếntranh

Chịu ảnhhưởng củaNho giáo

Trang 39

Coi trọng thứ bậc, trên dưới √

khi muốn diễn đạt quan hệ sở hữu cách thay vì nói “(của) tôi” (제 che) họ lại xưng là “(của) chúng tôi”, “(của) chúng ta” (우리 uri) Ví dụ khi kể về những

thành viên trong gia đình như “mẹ tôi”, “bố tôi”, “trường tôi”, người Hàn

Quốc lại gọi là “mẹ chúng tôi” (우리 어머니 uri omoni), “bố chúng tôi” (우리 아버지 uri apoji), “trường chúng tôi” (우리 학교 uri hakkyo) Cách

gọi như vậy vừa để đối tượng được gọi trở nên khách quan hơn, một mặt vừa

để rút ngắn khoảng cách giữa người nghe và người nói Ví dụ thay vì nói “Tôi

và anh làm một chén nhé?”, cách nói “Chúng ta làm một chén nhé?” sẽ tạo

cảm giác thân mật và bớt khách sáo hơn Văn hóa nói 우리 uri ảnh hưởng sâu

sắc tới tâm tư tình cảm của người Hàn Quốc tới mức khi một nhân viên đi làmcông ti, được sếp của anh ta gọi là “우리 A 씨가…” (Anh A của chúng tôi…)

Trang 40

thì cảm thấy vô cùng mừng rỡ vì có cảm giác mình đã thực sự thuộc về tậpthể chung là công ti Cách gọi ấy không phải là cách xưng hô đơn thuần mà làmột sự công nhận đóng góp của một thành viên trong một tập thể lớn Khảosát hai bộ phim Hàn Quốc bất kỳ bản thoại tiếng Hàn, phim Mary stayed outnight 16 tập cho ra 386 lần, phim Wild romance 16 tập cho ra 173 lời thoại có

sử dụng từ uri Trong bản dịch tiếng Việt, phim Mary stayed out night cho ra

285 lần, phim Wild romance cho ra 138 lần sử dụng từ “chúng tôi” và “chúng

ta”, tức là đều ít hơn so với lần sử dụng từ uri thực tế trong tiếng Hàn.

Vì cộng đồng, tập thể được đặt lên ưu tiên nên người Hàn khi ghi địa

chỉ, luôn ghi từ cơ quan hành chính cao nhất đến thấp nhất Ví dụ 서울시 종로구 혜화동 356-24 아남 아파트 316 동 907 호 được ghi theo trật tự:

thành phố Seoul  quận Jongno  phường Hyehwa  chung cư Anam

2.2.2 Chủ nghĩa gián tiếp

Trong đời sống, người Hàn Quốc luôn cố gắng đạt được sự hòa hợpnhất Trong lao động sản xuất, do đặc điểm phương thức sản xuất kinh tếnông nghiệp phụ thuộc nhiều vào yếu tố thiên nhiên nên người dân Hàn Quốcluôn trọng việc sống hòa hợp với thiên nhiên Trong xây nhà dựng cửa, vùng

Ngày đăng: 28/06/2022, 10:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lưu Tuấn Anh (2014). Nghi thức lời nói trong hội thoại tiếng Hàn. Tạp chí Dẫn luận Hàn Quốc. Số 8(2), tr 60-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi thức lời nói trong hội thoại tiếng Hàn
Tác giả: Lưu Tuấn Anh
Năm: 2014
2. Mai Ngọc Chừ (chủ biên) (2001). Các ngôn ngữ phương Đông. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ngôn ngữ phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đạihọc Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
3. Hữu Đạt (2011). Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục ViệtNam
Năm: 2011
4. Nguyễn Thiện Giáp (2008). Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốcgia Hà Nội
Năm: 2008
5. Nguyễn Hòa (2010). Khác biệt văn hóa Đông – Tây và giao tiếp liên văn hóa. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ. Tập 26, số 2, tr 69-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khác biệt văn hóa Đông – Tây và giao tiếp liên vănhóa
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 2010
6. Nguyễn Văn Khang (2012). Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam 7. Đinh Trọng Lạc (2012). Phong cách học tiếng Việt. Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữhọc xã hội", Nxb Giáo dục Việt Nam7. Đinh Trọng Lạc (2012). "Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Khang (2012). Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam 7. Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam7. Đinh Trọng Lạc (2012). "Phong cách học tiếng Việt." Nxb Giáo dục ViệtNam
Năm: 2012
8. Nguyễn Quang (2008). Văn hóa, giao thoa văn hóa và giảng dạy ngoại ngữ.Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ. Tập 24, tr 69-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, giao thoa văn hóa và giảng dạy ngoại ngữ
Tác giả: Nguyễn Quang
Năm: 2008
9. Lee Gi Tae (2013). Tìm hiểu về văn hóa Hàn Quốc. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về văn hóa Hàn Quốc
Tác giả: Lee Gi Tae
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2013
10. Trần Ngọc Thêm (1997). Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb TP. HồChí Minh
Năm: 1997
11. Trần Ngọc Thêm (2006). Vai trò của chủ nghĩa gia đình ở Korea: từ truyền thống đến hội nhập. Trong Văn hóa phương Đông – truyền thống và hội nhập, Trường ĐHKHXH&NV, ĐH Quốc gia Hà Nội, 13/1/2007. Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phương Đông – truyền thống vàhội nhập
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb ĐHQuốc gia Hà Nội
Năm: 2006
12. Nguyễn Đức Tồn (2010). Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy. Nhà xuất bản từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ vàtư duy
Tác giả: Nguyễn Đức Tồn
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển bách khoa
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Cách nói “xin chào”, “xin lỗi”, “cảm ơn” mở rộng trong tiếng Hàn - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 2 Cách nói “xin chào”, “xin lỗi”, “cảm ơn” mở rộng trong tiếng Hàn (Trang 28)
Bảng 3 :7 mốc quan trọng trong lịch sử của Hàn Quốc - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 3 7 mốc quan trọng trong lịch sử của Hàn Quốc (Trang 33)
Bảng 4: Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của người Hàn - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 4 Những đặc điểm văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của người Hàn (Trang 38)
Bảng 5: Ví dụ về hiện tượng rụng âm và rút gọn âm trong tiếng Hàn Số thứ tựCách gọi đầy đủCách gọi tắt - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 5 Ví dụ về hiện tượng rụng âm và rút gọn âm trong tiếng Hàn Số thứ tựCách gọi đầy đủCách gọi tắt (Trang 46)
Bảng 6: Ví dụ hiện tượng gọi tắt trong tiếng Hàn Số thứ tựCách gọi đầy đủCách gọi tắt Ý nghĩa - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 6 Ví dụ hiện tượng gọi tắt trong tiếng Hàn Số thứ tựCách gọi đầy đủCách gọi tắt Ý nghĩa (Trang 48)
Bảng 7: Cách xưng hô theo quan hệ thân tộc phân theo mức độ kính ngữ trong tiếng Hàn - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 7 Cách xưng hô theo quan hệ thân tộc phân theo mức độ kính ngữ trong tiếng Hàn (Trang 51)
Bảng 8: Ví dụ về từ mang ý nghĩa kính ngữ trong tiếng Hàn - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 8 Ví dụ về từ mang ý nghĩa kính ngữ trong tiếng Hàn (Trang 53)
Bảng 9: Phân biệt “우리” và “제” - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 9 Phân biệt “우리” và “제” (Trang 59)
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là nước điển hình của văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước, phương thức lao động còn thô sơ, lại được sự ủng hộ của điều kiện tự nhiên, có nhiều đồng bằng phù sa rộng lớn và khí hậu nhiệt đới nên hình thành đặc điểm của người - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
h ư chúng ta đã biết, Việt Nam là nước điển hình của văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước, phương thức lao động còn thô sơ, lại được sự ủng hộ của điều kiện tự nhiên, có nhiều đồng bằng phù sa rộng lớn và khí hậu nhiệt đới nên hình thành đặc điểm của người (Trang 67)
Bảng 12: Phân loại cấu trúc ngữ pháp dựa trên biểu hiện - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 12 Phân loại cấu trúc ngữ pháp dựa trên biểu hiện (Trang 69)
Phỏng đoán chắc là, hình như, có vẻ, hay sao - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
h ỏng đoán chắc là, hình như, có vẻ, hay sao (Trang 69)
Bảng 13: Phân biệt các cấu trúc chỉ nguyên nhân – kết quả trong tiếng Hàn - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 13 Phân biệt các cấu trúc chỉ nguyên nhân – kết quả trong tiếng Hàn (Trang 71)
Bảng 14: Phân biệt các cấu trúc chỉ quan hệ nhượng bộ trong tiếng Hàn - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 14 Phân biệt các cấu trúc chỉ quan hệ nhượng bộ trong tiếng Hàn (Trang 73)
Bảng 15: Phân biệt các biểu hiện phỏng đoán trong tiếng Hàn - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 15 Phân biệt các biểu hiện phỏng đoán trong tiếng Hàn (Trang 74)
Bảng 16: Phân biệt các biểu hiện chỉ hành động diễn ra theo trình tự thời gian -고-(으)ㄴ 후에-는 대로-자-자마자-고 나다 Ý nghĩa trong tiếng Việt - (LUẬN văn THẠC sĩ) ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng hàn của người việt  luận văn ths  khu vực học 60 31 06 01
Bảng 16 Phân biệt các biểu hiện chỉ hành động diễn ra theo trình tự thời gian -고-(으)ㄴ 후에-는 대로-자-자마자-고 나다 Ý nghĩa trong tiếng Việt (Trang 75)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm