1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) giao lưu văn hóa việt nam nhật bản từ năm 1990 đến nay nghiên cứu trường hợp manga nhật bản được phát hành tại việt nam luận văn ths khu vực học 60 22 01 13

99 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1990 đến nay: Nghiên cứu trường hợp Manga Nhật Bản được phát hành tại Việt Nam
Tác giả Kurokawa Yuichiro
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Thanh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Việt Nam học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 3: GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NAM - NHẬT BẢN 3.1 Quan niệm của người Việt Nam về truyện tranh Nhật Bản 61 3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm đối với truyện tranh tại Việt Nam 65

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN -

KUROKAWA YUICHIRO

Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm

1990 đến nay: Nghiên cứu trường hợp Manga Nhật

Bản được phát hành tại Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VIỆT NAM HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN -

KUROKAWA YUICHIRO

Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm

1990 đến nay: Nghiên cứu trường hợp Manga Nhật Bản được phát hành tại Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VIỆT NAM HỌC

MÃ SỐ : 60220113

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Việt Thanh

Hà nội – 2014

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện tại Việt Nam với sự động viên, giúp

đỡ của nhiều cá nhân và tập thể

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Kim Thanh đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình

Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người

đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ vô cùng có ích trong những năm học vừa qua

Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người

đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện

luận văn thạc sĩ của mình

Học viên

Kurokawa Yuichiro

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Yuichiro Kurokawa, học viên cao học lớp K7, chuyên ngành Việt Nam học và Khoa học Phát triển, khoá 2012-2014 Tôi xin cam

đoan luận văn thạc sĩ „„Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm

1990 đến nay: Nghiên cứu trường hợp Manga Nhật Bản được phát hành

tại Việt Nam‟‟ là công trình nghiên cứu của riêng tôi với dữ liệu nghiên

cứu trung thực, là kết quả từ các phân tích, đánh giá của cá nhân, không sao chép, không trùng lặp với các đề tài hay tác giả nào

Học viên

Kurokawa Yuichiro

Trang 6

1

MỤC LỤC

TrangPHẦN MỞ ĐẦU

1.5.1 Nghiên cứu về giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản 5 1.5.2 Nghiên cứu về truyện tranh Nhật Bản ở nước ngoài 11 1.5.3 Nghiên cứu về truyện tranh Nhật Bản ở Việt Nam 14

1.1 Điều kiện xuất hiện ý niệm về truyện tranh 20 1.2 Quan niệm truyện tranh Nhật Bản “Manga (漫画:Mạn họa)” 20

1.4.1 Sự xuất hiện truyện tranh dài của ông Tezuka 26 1.4.2 Sự xuất hiện truyện tranh kiểu mới và những tranh cãi về nội dung 26 1.4.3 Sự xuất hiện của “Chú mèo thần kỳ” và thay đổi về quan niệm

truyện tranh của các bậc phụ huynh

30

CHƯƠNG 2: PHỔ BIẾN TRUYỆN TRANH NHẬT RA NƯỚC NGOÀI 33 2.1 Truyện tranh Nhật được phổ biến trên thế giới 33 2.2 Truyện tranh Nhật được phổ biến tại thị trường Việt Nam 35 2.2.1 Xuất hiện “Chú mèo thần kỳ” tại Việt Nam 35 2.2.2 Truyện tranh nước ngoài tại Việt Nam đến đầu thập niên 1990 36 2.2.3 Một anh hùng truyện tranh của Việt Nam - “Dũng sĩ Hesman” 39

2.2.5 Phim hoạt hình được chuyển thể từ truyện tranh Nhật 43 2.2.6 Tiểu thuyết - Đối tác mới truyện tranh Nhật đối với độc giả sau

tuổi đọc truyện tranh

44 2.2.7 Sự phát triển của truyện tranh Việt Nam 45

Trang 7

CHƯƠNG 3: GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NAM - NHẬT BẢN

3.1 Quan niệm của người Việt Nam về truyện tranh Nhật Bản 61 3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm đối với truyện tranh tại Việt Nam

65

3.3 Bài học và kinh nghiệm từ truyện tranh Nhật Bản đối với độc giả

Việt Nam

73

3.4 Dấu ấn của truyện tranh Nhật Bản đối với các sáng tác truyện

tranh Việt Nam

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Nhật Bản là một quốc đảo ở khu vực Đông Bắc Á, nhưng không vì thế

mà nước này bị tách biệt hay chấp nhận bị cô lập trước các nước khác Trải qua các thời kỳ lịch sử, với tầm nhìn, sức mạnh trí tuệ, công nghệ, và một ý chí quyết tâm cao, Nhật Bản đã vươn ra toàn cầu và khẳng định vị thế quan trọng của mình như một giá trị thương hiệu không thể thay thế

Không chỉ nổi tiếng với các lĩnh vực công nghệ, kinh doanh, bảo tồn văn hóa…, truyện tranh là một đặc sản của Nhật Bản Cho đến nay, truyện tranh Nhật đã được “xuất khẩu” đến với công chúng nhiều nước trên thế giới Truyện tranh Nhật Bản được đầu tư rất nhiều và là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống người dân Nhật ở các nhóm lứa tuổi và giới tính khác nhau Đối với độc giả người Nhật, truyện tranh có những chức năng như giải tỏa áp lực, giải trí tinh thần, mang tính giáo dục… Đối với từng lứa tuổi, giới tính thì có nội dung tương ứng và đương nhiên, đi kèm với yếu tố nội dung là các luật lệ và quy tắc nghiêm ngặt trong việc sáng tác, xuất bản và dịch thuật

Trong lịch sử hơn 40 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam

và Nhật Bản, truyện tranh Nhật Bản cũng đã đến Việt Nam như một trong những sản phẩm của các hoạt động giao lưu văn hóa và đã tồn tại trong đời sống Việt Nam cùng với nhiều yếu tố văn hóa, xã hội, kinh tế khác Câu hỏi đặt ra là, đối với độc giả Việt Nam có thái độ như thế nào đối với truyện tranh Nhật Bản, và khi đến Việt Nam, những yếu tố nội dung và hình thức của truyện tranh Nhật Bản có còn được giữ nguyên hay đã được thay đổi, điều chỉnh để phù hợp với văn hóa và lối sống ở Việt Nam? Liệu truyện tranh Nhật Bản có góp phần với tư cách là một kênh thông tin để người Việt Nam hiểu hơn về văn hóa, đất nước và con người Nhật Bản? Cuối cùng, kết quả cần quan tâm là Việt Nam và Nhật Bản thu được những gì từ quá trình thâm nhập

và phát triển của truyện tranh sau 20 năm qua kể từ khi truyện tranh Nhật Bản lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam

Trang 9

4

Từ những lý do trên, đề tài “Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1990 đến nay: Nghiên cứu trường hợp Manga Nhật Bản được phát hành tại Việt Nam” được lựa chọn cho luận văn thạc sĩ này, với mong muốn tìm

hiểu quá trình thâm nhập truyện tranh Nhật Bản vào Việt Nam, tìm hiểu những khác biệt ở những mức độ nhất định giữa được thể hiện qua công cụ truyện tranh, đồng thời đưa ra những khuyến nghị góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa giữa hai nước, nhằm đạt được sự thấu hiểu lẫn nhau và

hợp tác văn hóa giữa hai nước trên cơ sở lợi ích của hai dân tộc

1.2 Mục tiêu chung và mục đích nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

- Giới thiệu những đặc điểm chung về truyện tranh Nhật bản và quá trình du nhập vào Việt Nam với tư cách là một sản phẩm của hoạt động giao lưu văn hóa, giới thiệu văn hóa và con người Nhật Bản cho người Việt Nam, từ đó nêu

ra một số gợi ý về xu hướng giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia trong thời kỳ

hội nhập quốc tế hiện nay

- Phân tích những yếu tố tương đồng và khác biệt trong quan điểm văn hóa

về truyện tranh giữa người dân Việt nam và Nhật Bản, và những thay đổi theo

thời gian từ 1990 đến nay;

1.3 Giả thuyết nghiên cứu

- Truyện tranh không chỉ đơn thuần là một sản phẩm văn hóa, mà hơn thế là một sản phẩm biểu hiện sinh động quan điểm văn hóa của một quốc gia;

- Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, việc phát hành truyện tranh của Nhật Bản tại Việt Nam giữ vai trò là một thành tố đồng thời là một phép

Trang 10

5

thử trong quá trình phát triển giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia;

- Sự xuất hiện và mở rộng truyện tranh Nhật Bản đã có những thay đổi trong nhận thức của người Việt Nam về truyện tranh, từ chú trọng về tri thức sang đáp ứng nhu cầu giải trí với người lớn là đối tượng mới và chủ đạo hơn, tương đồng với thị trường trong nước của Nhật Bản Tuy nhiên thực tế thị trường Việt Nam vẫn nhấn mạnh nhiều về giá trị tri thức và xem trẻ em là đối tượng chính của sản phẩm văn hóa này Đây chính là điểm khác biệt quan trọng

trong quan điểm văn hóa giữa hai quốc gia trong bối cảnh mở rộng của hoạt

động kinh tế thị trường

- Sự khác biệt nói trên cho thấy hoạt động giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia cần quan tâm nhiều hơn tới những quan điểm văn hóa của đối tác, thúc đẩy việc trao đổi các giá trị văn hóa với cách tiếp cận đa văn hóa thay cho tư duy tiếp xúc một chiều và tương tác mang tính áp đặt Đó chính là xu hướng giao

lưu văn hóa mang tính chiến lược và bền vững giữa hai quốc gia

1.4 Đối tượng và và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: truyện tranh Nhật Bản được xuất bản và phát hành ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay

Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở các tư liệu nghiên cứu, tiến hành mô tả

đặc điểm, phân tích những đặc trưng của đối tượng nghiên cứu Việc nghiên

cứu được thực hiện đối với tài liệu thứ cấp (desk study)

1.5 Tổng quan nghiên cứu

1.5.1 Nghiên cứu về giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản

Theo nhiều tài liệu lịch sử cho thấy, hai nước Việt Nam và Nhật Bản bắt đầu có những hoạt động giao lưu kinh tế chính thức từ cuối thế kỷ XVI Nghiên cứu về giai đoạn này ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện từ thập niên

1920, được Lê Dư giới thiệu 35 tài liệu trên Nam Phong Tạp Chí Sau này ông Kin-Ei-Ken (金永鍵) là người quốc tịch Nhật (sinh ở bán đảo Triều Tiên, làm việc tại Viễn Đông Bác Cổ tại Việt Nam từ năm 1931), cũng đóng góp nhiều nghiên cứu giai đoạn này Nghiên cứu của ông không chỉ góp phần phát

Trang 11

6

triển lịch sử và giao lưu hai bên mà phương pháp nghiên cứu của ông hiện còn được nhiều người Hàn Quốc ứng dụng.Bên cạnh đó, luận văn tiến sĩ của Huỳnh Trọng Hiện1 đã khảo sát tài liệu của hai bên để tìm hiểu số lượng và kim ngạch của mậu dịch hai bên trong giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII

Trong bối cảnh mậu dịch hai nước, có một sự việc tiêu biểu cho giao lưu Việt - Nhật là việc ông Araki Sotaro (荒木宗太郎:?-1636) lấy vợ Việt Nam, vợ ông là người của nhà Nguyễn Phúc Nguyên và ông được đặt tên Việt Nam là Nguyễn Đại Lương Ông ấy đưa vợ về Nhật và người Nhật gọi tên cô ấy là “Aniô” Khu phố Motoshikkui của ông ấy vẫn còn giữ các di tích

và trong lễ Ngagasaki Kunchi - cứ 7 năm một lần các khu phố tổ chức lễ hội lần lượt - thì từ năm 1970 đến nay kịch về hai vợ chồng Araki luôn cuốn hút mọi khán giả Câu chuyện này đã được GS.TS Nguyễn Quang Ngọc đề cập đến trong bài viết “Về quan hệ giao thương Việt - Nhật đầu thế kỷ XVII qua cảng Nagasaki” trong Kỷ yếu Nghiên cứu Văn hoá quốc tế” của Đại học nữ Chiêu Hoà số 9, năm 2003

Ngoài ra, không thể không kể đến món Cao Lầu của Hội An - cũng tiêu biểu cho giao lưu văn hóa Việt - Nhật Hiện nay nghiên cứu phía Nhật khẳng định rằng món này có nhiều điểm chung của món mì Udon của thành phố Ise Trong đó có một người Nhật, Kadoya Shichirobe (角屋七郎兵衛:Giác Ốc-Thất Lang Binh Vệ (1610-1672) vốn quê thành phố Ise và ở lại Hội An sau khi chính quyền Nhật thực hiện chế độ bế quan tỏa cảng Như vậy, hiện nay thành phố Hội An hấp dẫn khách du lịch Nhật không chỉ ở Phố Nhật mà còn

do cả món Cao Lầu - kết quả của sự giao thoa văn hóa của Việt - Nhật

Tiếp đó, phải kể đến AnNan KiRyaku (安南紀略:An Nan Kỷ Lục) của ông Kondo Juzo (近藤重蔵) đã giới thiệu về hoạt động mậu dịch giữa An Nam, Đông Kinh và câu chuyện của ông Araki, còn chuyện nổi tiếng nhất là con voi từ An Nam sang Nhật ở năm 1728 do thương nhân nhà Thanh, ông Trịnh Đại Uy (鄭大威) Đáng tiếc là con voi cái bị chết do ốm mà còn con voi đực được đưa đến thủ đô và đây là lần đầu tiên, nhiều người Nhật được

1 Hiện đang là Nghiên cứu sinh của Đại học Hiroshima, Nhật Bản

Trang 12

7

tiếp xúc động vật lạ từ phương Nam Sách An Nam Kỷ Lục không chỉ giới thiệu sự kiện và văn hóa giữa hai nước, có phụ lục từ điển tiếng Việt qua chữ Hán Có thể thấy, đây là từ điển đầu tiên giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản

Sau khi Thực dân Pháp thống trị Đông Dương thì giao lưu hai bên bị suy giảm Đầu thế kỷ XX, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và chiến dịch Đông Dương của quân Nhật diễn ra Hai vấn đề này đã được Trần Huy Liệu và Nguyễn Khánh Toàn đánh giá từ năm 1950 và ở phương Tây thì David G Marr và Ralph Smith, Jacques Valette cũng nghiên cứu về chiến dịch này Nhật Bản gặp nhiều khó khăn trong nhiều năm khi thực hiện nghiên cứu về Việt Nam do thiếu thông tin và tài liệu Đến thập niên 1970, tài liệu về Việt Nam được đưa vào Nhật nhiều hơn, nên các nhà nghiên cứu mới như Furuta Motoo và Shirakawa Masaya đã phát triển lĩnh vực nghiên cứu này Đến năm 1990, nhà nghiên cứu Vĩnh Sính đã trình bày nhiều kết quả nghiên cứu về giao lưu giữa hai nước trong thời điểm này

Ngoài ra, hiện nay nhiều người có kinh nghiệm ở Việt Nam trong giai đoạn này như ông Kaneyama Tetsuzo và Miyazaki Osamu, trước đó là sinh viên của Học viện Nam Dương2, và những người có liên quan công ty Đại Nam và nhóm ủng hộ Cường Để phát hành sách để chia sẻ kinh nghiệm của Nhật Bản Trong đó, vai trò của ông Matsushita Mitsuhiro - giám đốc của công ty Đại Nam - quan trọng trong lịch sử cách mạng của Việt Nam Ông đã ủng hộ Cường Để và trở thành nhà lãnh đạo tiên phong của nhóm Cường Để,

đã có quan hệ với các nhà tri thức khác như Ngô Đình Diệm, Trần Trọng Kim

và Phạm Công Tắc Trong đó nổi tiếng nhất là sách của Trần Trọng Kim với tiêu đề “Một cơn gió bụi”, có tên công ty Đại Nam (Dainan Koosi) của ông Matsushita và trong sách xuất hiện nhiều người Nhật là nhân viên của ông ấy

Hiện nay ở Việt Nam, đã xuất bản cuốn sách có tên gọi “Người Việt Nam mới” - để chỉ những người Nhật ở lại Việt Nam sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh và góp phần vào sự phát triển của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực Sau khi Việt Nam - Nhật Bản thành lập quan hệ ngoại giao ngày 21 tháng 9 năm 1973, có giai đoạn quan hệ bị đóng băng kéo dài 12 năm là do chiến tranh biên giới giữa Việt Nam và Campuchia, từ năm 1992

2 Đây là một trường chuyên chế độ cũ (gần như Đại học hiên nay) của Nhật Bản ở TP HCM từ năm 1942 đến 1946 Mục đích của trường này là đào tạo những người lãnh đạo tại Đông Nam Á

Trang 13

8

đến nay thì quan hệ hai nước đã có những bước phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao, giáo dục, văn hóa và hiện nay, quan hệ này đang trong giai đoạn hưng thịnh nhất

Việt Nam và Nhật Bản đã tạo dựng cơ chế đối thoại ở nhiều cấp Ngoài đối thoại chính trị định kỳ ở cấp Bộ trưởng Ngoại giao (từ 7/2004), Thứ trưởng Ngoại giao (từ 1993), hai bên đã xây dựng được cơ chế đối thoại về kinh tế, an ninh và quốc phòng thường kỳ hàng năm, Trao đổi Ngoại giao - Quốc phòng cấp Vụ (từ 1/2001) Trao đổi tùy viên quân sự, mở Tổng lãnh sự quán ở TP Hồ Chí Minh và Osaka (3/1997) Tháng 5/2007, hai đã bên thành lập Ủy ban Hợp tác Việt - Nhật do hai Bộ trưởng Ngoại giao làm đồng Chủ tịch Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (APEC, WTO, ASEM, ARF, vận động OEDC giúp Việt Nam về kỹ thuật ); Hai bên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế quan trọng, trong đó có Liên hợp quốc [10, tr.21]

Từ năm 1993, Nhật Bản mở rộng lĩnh vực nghiên cứu trực tiếp tại Việt Nam và đến năm 1994, dự án nghiên cứu làng Bách Cốc được thực hiện, là một nghiên cứu đầy đủ về đời sống kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội của một khu vực trong theo phương pháp lịch đại Trong lĩnh vực văn hóa, từ năm

1994, phim Nhật lần đầu được giới thiệu tại Việt Nam và đến nay nhiều khán giả vẫn còn nhớ nhân vật Osin, đồng thời là tên của phim Về phía Nhật lúc

đó cũng đã phát hành phim với đề tài tình yêu nam nữ Việt Nam - Nhật Bản tên là “ドク(Đức)” vào năm 1996 Hai chương trình này bước đầu giúp đỡ nhân dân hai nước tìm hiểu văn hóa của nhau Theo xu thế, phong trào học tiếng Nhật vào năm 1995 bắt đầu xuất hiện và nở rộ, một số trung tâm tiếng Nhật ở Hà Nội được thành lập, thu hút sự tham gia đông đảo của nhiều học sinh, sinh viên như trung tâm Văn hóa Việt - Nhật mang tên Sakura, Trung tâm tiếng Nhật Núi Trúc thuộc Hội Giao lưu Văn Hóa Việt - Nhật tại Hà Nội Nhiều trường đại học ở Việt Nam bắt đầu mở những khóa học tiếng Nhật đầu tiên Phía Nhật Bản, bộ phim “Đức” đã để lại nhiều ấn tượng về Việt Nam tới mức rất nhiều người bắt đầu quan tâm đến du lịch Việt Nam Ở Tokyo và một

số thành phố lớn của Nhật xuất hiện hàng loạt nhà hàng Việt Nam với các

Trang 14

9

món Việt Nam được người Nhật ưa thích như phở, bánh xèo và gỏi cuốn Tháng 3 năm 2002, Trung tâm Hợp tác Nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản tại Hà Nội được tổ chức và tại TP Hồ Chí Minh là vào tháng 5 Năm 2008, Quỹ Giao lưu quốc tế Nhật Bản tại Hà Nội được chính thức thành lập và đi vào hoạt động

Như vậy quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản khá ổn định và ngày càng bền vững Song trên thực tế, vẫn còn nhiều chênh lệnh giữa hai bên như lĩnh vực văn hóa, ví dụ như người Nhật có ấn tượng Việt Nam là các đồ

ăn ngon (Phở, nước mắm) nhưng vẫn nhiều người nhầm món canh chua cay Tom Yum Kung là của Việt Nam và người Việt Nam ăn Nam Pla (tên nước mắm tại Thái Lan) Ngoài ra có nhiều người không biết người Việt Nam nói tiếng gì và sợ sang Việt Nam sẽ gặp phải nhiều mìn là do chưa được cung cấp đầy đủ các thông tin chuẩn xác Tuy nhiên, hiện nay, uy tín về du lịch của Việt Nam đối với người Nhật bị ảnh hưởng nghiêm trọng do nhiều khách Nhật thất vọng do bị lừa và mua đồ đất tiền gấp nhiều lần giá thực tế… và còn rất nhiều tình huống xấu khác mà khách du lịch Nhật gặp phải Dù người Nhật muốn giao lưu với người Việt Nam nhưng những “con sâu” đã làm “rầu nồi canh” khiến cho quá trình tìm hiểu và giao lưu văn hóa của người Nhật tại Việt Nam gặp những khó khăn trở ngại đáng kể

Về phía người Việt Nam, với những thông tin được cung cấp, nhiều người nghĩ rằng người Nhật hàng ngày ăn gỏi cá (sushi) nhưng thực tế, cũng tương tự như người Việt: phở không phải món ăn hàng ngày, mà là quà sáng, thì ăn nhà hàng Và nhìn lại lịch sử giao lưu văn hóa qua môn nghệ thuật thứ bảy - đã hơn 20 năm rồi - nhưng nhiều người vẫn nghĩ rằng phim Nhật chỉ có Osin Chuyện này xét một cách tích cực, tức là một tác phẩm xuất sắc, nhưng nếu nhìn nhận thẳng vào vấn đề thì thời gian 20 năm ấy, hoặc là chưa có tác phẩm nào hay hơn Osin, hoặc người Việt Nam không có cơ hội để thưởng thức những bộ phim khác phản ánh về đất nước và con người Nhật Bản Nguyên nhân thực tế của thực trạng này là do chính sách bảo vệ bản quyền của Nhật từ năm 2000, số lượng phát hành phim Nhật tại Việt Nam giảm đi

Trang 15

10

trong khi phim Hàn Quốc và Trung Quốc gần như là “cho không” xuất hiện hàng ngày trên các kênh truyền hình, và hậu quả là phim Nhật dần dần mất bóng trên truyền hình Việt Nam

Như vậy, giao lưu Việt - Nhật trong lĩnh vực kinh tế, chính trị thì khá bền vững nhưng riêng lĩnh vực văn hóa thì chưa thật sự đầy đủ và hiệu quả Trong cùng thời điểm ấy, truyện tranh Nhật bắt đầu được phổ biến để giới thiệu văn hóa Nhật Nhiều người học tiếng Nhật có quan tâm đến truyện tranh Nhật và nhu cầu của truyện tranh Nhật ngày càng tăng lên Và một thực tế rõ ràng là mục tiêu đọc truyện tranh đã có nhiều thay đổi: trước đây là do quan tâm đến công nghệ hiện đại, tổ chức xã hội và cách điều hành nhà nước của Nhật thông qua nội dung truyện; còn về sau, sự quan tâm thu hẹp vào đối tượng truyện tranh, phim hoạt hình như một hình thức giải trí

Văn hóa truyện tranh, phim hoạt hình là một loại văn hóa mới và phát triển nhanh chóng trong nhóm những người trẻ, thanh niên Hiện nay chính quyền Nhật đưa ra chính sách “Cool Japan” nhằm giới thiệu văn hóa hiện đại

và mới của Nhật Bản, trong đó có truyện tranh, phim hoạt hình Lĩnh vực này cuốn hút được nhiều khán giả nhưng đồng thời có nhiều người có ác cảm với lĩnh vực văn hóa này

Đề tài: “Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1990 đến nay: Nghiên cứu trường hợp Manga phát hành tại Việt Nam” đã được lựa chọn cho

luận văn thạc sĩ này nhằm mục đích nghiên cứu sâu hơn tình hình giao lưu văn hóa giữa hai bên qua công cụ truyện tranh và đưa ra khuyến nghị cho sự phát triển tốt hơn nữa quan hệ ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản Vì thực tế là giao lưu qua truyện tranh (và sau này phim hoạt hình chuyển thể từ truyện tranh) tại Việt Nam hiện nay đã ở quy mô lớn, hơn cả sự tưởng tượng và dự đoán của cả phía Việt Nam và Nhật Bản Nói cách khác là truyện tranh Nhật đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới độc giả Việt Nam, tuy nhiên, bản thân truyện tranh Nhật chưa nhận được sự đánh giá xứng đáng như một kênh văn hóa chính thống cho giao lưu hai nước Hy vọng rằng nghiên cứu truyện tranh Nhật với tư cách là một đối tượng nghiên cứu sẽ góp

Trang 16

11

phần giúp người Việt Nam hiểu rõ hơn về triết lý của loại hình xuất bản này

của Nhật Bản, qua đó hiểu rõ hơn về con người, văn hóa và xã hội Nhật Bản

1.5.2 Nghiên cứu về truyện tranh Nhật Bản ở nước ngoài

Các nghiên cứu liên quan đến truyện tranh Nhật Bản đa số tập trung vào 2 lĩnh vực: 1) Nghiên cứu toàn thể, kể cả tranh biếm họa, truyện tranh 1 (một) ô vẽ của thời xưa đến truyện tranh nhiều ô vẽ với những câu chuyện dài, nhiều kỳ hiện nay Chủ yếu là được đánh giá những tác phẩm có tính chất truyện tranh qua quan niệm truyện tranh hiện nay; 2) Nhóm thứ 2 là tập trung phạm vi truyện tranh dài của trước và sau Chiến tranh Thế giới thứ II

Nhóm thứ 1 đã bắt đầu nghiên cứu lịch sử phát triển truyện tranh ở những giai đoạn khá sớm như họa sĩ truyện tranh Hosokibara Seiki (細木原 青起:1885-1958) xuất bản “Nihon manga shi (日本漫画史:Nhật Bản Mạn họa sử / 1924)”

Đến nay có nhiều nhà nghiên cứu biên soạn niên biểu truyện tranh Nhật Bản, song phát sinh vấn đề là hiện nay số lượng truyện tranh khá lớn, số lượng phát hành truyện tranh ngày càng tăng lên, nên lĩnh vực nghiên cứu này thì chủ yếu là tìm hiểu lịch sử và không quan tâm hoặc chưa quan tâm đến phong trào của các thế hệ truyện tranh mới và tình hình truyện tranh Nhật tại nước khác Tóm lại là tìm hiểu quá khứ để tìm hiểu truyện tranh hiện nay đã chịu ảnh hưởng như thế nào và thay đổi như thế nào? Trong đó, có nhiều vấn

đề xảy ra, chẳng hạn như người ta phát hiện và phân nhóm nhiều tranh cổ mang tính chất truyện tranh ngày nay trong khi thời kỳ ấy có thể hoàn toàn không có/chưa có quan niệm/khái niệm truyện tranh như hiện nay Việc cứ đánh giá hoặc áp đặt khái niệm như vậy thì có mâu thuẫn hay không? Nếu không phân tích tác phẩm một cách tổng hợp thì có thể dẫn đến tình trạng làm

lu mờ hoặc làm biến mất một hay nhiều giá trị nào đó vốn có của tác phẩm ấy

Nhóm thứ 2 tập trung lĩnh vực nghiên cứu truyện tranh hiện đại Theo chúng tôi, họ đang trong giai đoạn tìm đường, tìm phương pháp đánh giá tác

Trang 17

12

phẩm truyện tranh một cách chuyên biệt, như phân tích mỹ thuật học hay văn học, mà mượn phương pháp nghiên cứu của các lĩnh vực này cho nghiên cứu

về truyện tranh Như thế thì đánh giá giá trị của truyện tranh sẽ đơn thuần là

có tính chất mỹ thuật hay là văn học hay là như phim ảnh Trong khi thực tế thì có những tác phẩm có nội dung đẹp hoặc tuyệt vời nhưng không bán được, ngược lại lại có tác phẩm bán rất chạy trên thị trường trong khi về phương diện nội dung lại không có sự đánh giá cao Đứng trước tình hình này, chưa biết cần có sự đánh giá như thế nào là phù hợp nhất Một tác phẩm nào đó có thể có giá trị kinh tế, giá trị khoa học, giá trị mỹ thuật, giá trị tinh thần…v.v,

và đương nhiên là thực tế cần sự đánh giá một cách hợp lý hơn Ngoài ra, còn một vấn đề nữa là cho đến nay, chưa có đầy đủ nghiên cứu liên ngành các lĩnh vực khác mà đa số là chỉ phê bình nội dung của tác phẩm và kỹ thuật truyện tranh là do người gốc họa sĩ hay là theo lĩnh vực xuất bản truyện tranh thể hiện Trong đó có nhiều người thể hiện phương pháp truyện tranh mới và phương pháp truyện tranh duy nhất như Ito Go - nhà phê bình thế hệ mới

Dựa trên những dữ liệu có được, tôi đánh giá cao một số cơ quan, như trường hợp Đại học Kyoto Seika (京都精華大学:Đại học Tinh hoa Kyoto) đã thành lập khoa Manga Học vào năm 2000 và đến nay đã đưa ra nhiều nghiên cứu mới và triển khai hợp tác với các nhà nghiên cứu Manga trên thế giới Điển hình là GS.TS Jaqueline Berndt3 và những nhà nghiên cứu Manga của nước ngoài đã thành công trong việc phổ biến quan niệm trong nghiên cứu truyện tranh của các nước và thường xuyên hợp tác tổ chức hội thảo quốc tế

về Manga, như gần đây là Hội thảo Quốc tế “Phụ nữ và Truyện tranh: Kết nối những nền văn hóa ngoài Nhật Bản”, ngày 23 - 25 tháng 3 năm 20124 Tổ chức hội thảo này là một phần của chương trình nhóm nghiên cứu Manga phụ

nữ của GS Ogi Fusami

3 Phó trưởng của trung tâm nghiên cứu Manga quốc tế và GS khoa Manga học của Đại học Kyoto Seika

4 Phát biểu của GS.TS Jaqueline Berndt với đề tài - Phân chia giới cho truyện tranh: Những khả năng và

giới hạn của “Truyện tranh của phái nữ”

Trang 18

13

Theo trang website của nhóm nghiên cứu truyện tranh phụ nữ đã giới thiệu các nghiên cứu trước (2009-2012) và xu hướng sau đó Họ đã đưa ra 3 điều kiện đáng lưu ý về truyện tranh

Thuật ngữ “MANGA” để chỉ một loại hiện tượng mới của những năm gần đây và có tính chất như một loại “phương tiện truyền thông” đang được phát triển dưới hình thức các nền văn hóa riêng của các nước Thuật ngữ “Comics” là một thuật ngữ chung cho phương tiện truyền thông nhằm truyền tải câu chuyện thông qua một sự kết hợp văn bản và hình ảnh

Trong nghiên cứu này, thuật ngữ “Phụ nữ” có nghĩa là ngoài phạm vi

“chủ thể” do đàn ông thể hiện, tức là “khách thể” hay là tồn tại khác

Trong giai đoạn I (2009-2011), lần đầu tiên, một sản phẩm truyện tranh

nữ của Mỹ được giới thiệu tại Nhật Nghiên cứu này đặt ra vấn đề là lĩnh vực nghiên cứu khoa học và lĩnh vực nghiên cứu truyện tranh đều là do đàn ông thực hiện nên phụ nữ thì bị coi là “đối tượng”, và bị gạt ra ngoài lề Trong khi

đó, thực tế của bối cảnh toàn cầu hóa, lĩnh vực truyện tranh thiếu nữ Nhật Bản

đã được toàn cầu hóa và ảnh hưởng đến các tác giả nữ nước khác Đây là kết quả của việc phổ biến chủ nghĩa nữ quyền của thập niên 70 hay là do tính chất

truyền bá rộng lớn của truyện tranh qua phương tiện truyền thông?

Những năm gần đây nhiều tác giả nữ sáng tác các tác phẩm dưới ảnh hưởng của truyện tranh thiếu nữ của Nhật Bản và sáng tác theo kiểu chủ thể của phụ nữ, thoát khỏi chủ thể của phía đàn ông và việc xuất hiện quan niệm phụ nữ đã góp phần đa dạng hóa hình thức biểu hiện tác phẩm truyện tranh Trong quá trình toàn cầu hóa, các địa phương tiếp thu truyện tranh Nhật Bản không phải như nó vốn có, mà qua quan niệm đặc sắc của địa phương đó sẽ hình thành quan niệm truyện tranh mới Vì vậy, nghiên cứu này để xác minh lại quan hệ giữa truyện tranh và phụ nữ mà đã đưa ra 2 luận điểm là tìm hiểu

Trang 19

14

vị trí của truyện tranh các địa phương và các lĩnh vực truyện tranh mà phụ nữ hoạt động với vai trò chủ thể Hơn nữa là luận điểm toàn cầu hóa là một luận điểm mang tính nổi bật trong những nghiên cứu này

Nghiên cứu của nhóm này, với sự chủ trì của GS Ogi, có giá trị ở chỗ

đã vượt qua chủ thể của do nam giới sáng tác để nhìn nhận lại và mở rộng hơn quan niệm về phụ nữ trong truyện tranh - đồng nghĩa với việc đã sáng tạo ra giá trị mới trong lĩnh vực này Trong quá trình nghiên cứu của đoạn II (2011-2014), có 3 luận điểm được đưa ra là: 1) Phụ nữ và toàn cầu hóa; 2) Tìm hiểu biểu hiện vai trò của phương tiện truyền thông: 3) Khái niệm về sự thay thế

do Manga tạo ra

Mặc dù nghiên cứu này tập trung vào chủ thể “phụ nữ” và truyện tranh

phụ nữ, nhưng họ đã nêu lên quan niệm rất quan trọng ở chủ đề thứ 2 là toàn cầu hóa trong quan niệm truyện tranh Quá trình nghiên cứu của nhóm tác giả

hình thành nên một quan niệm mang tính thống nhất và đối tượng truyện tranh được chuyển từ văn hóa không chính thống sang văn hóa chính thống

Như vậy, nghiên cứu truyện tranh ở Nhật Bản có xu hướng không chỉ thu hẹp trong nước mà mở rộng ra nhiều lĩnh vực và đối tượng nghiên cứu tại nước ngoài Đây là kết quả tất yếu của việc truyện tranh ở Nhật đã phát triển

và trở thành một ngành công nghiệp quan trọng nên thu hút được nhiều sự quan tâm cả trong nước và quốc tế Việc nghiên cứu truyện tranh đã trở thành như một hiện tượng trong xã hội với các yếu tố lịch sử, vai trò và xu hướng

biến đổi của nó

1.5.3 Nghiên cứu về truyện tranh Nhật Bản ở Việt Nam

Đầu tiên, cần phân tích quan niệm về truyện tranh giữa Việt Nam và Nhật Bản Với nghĩa rộng (Wide sense), truyện tranh là loại truyện “đọc truyện bằng tranh” và với nghĩa hẹp (Narrow sense) là “dành cho thiếu nhi” Trong đó phía Nhật đánh giá nghĩa rộng cũng là quan niệm đọc truyện bằng tranh từ xưa mà nghĩa hẹp là loại truyện tranh mới - tức là truyện tranh dài

Trang 20

15

của xuất hiện trên tờ báo của Mỹ ở cuối thế kỳ XIX Như vậy đối với nhóm nghiên cứu truyện tranh I, họ nghiên cứu về nghĩa rộng của chuyện tranh và đối với nhóm II thì tập trung vào nghĩa hẹp Ngoài ra, hiện nay đang có xu hướng nghiên cứu liên ngành đối với truyện tranh Nhật Bản với truyện tranh nước khác và sử dụng các yếu tố mới theo thời đại để đánh giá truyện tranh một cách khách quan

Với trường hợp Việt Nam, theo quan sát của tôi, nghiên cứu truyện tranh tại Việt Nam thì vẫn còn ít và nội dung mới chỉ ở mức giới thiệu chung chung về truyện tranh Nhật Có nhiều sinh viên chọn truyện tranh làm đối tượng nghiên cứu nhưng nội dung chỉ tập trung vào nhận xét những điểm giống nhau và khác nhau giữa truyện tranh Việt Nham và Nhật Bản, nhưng thực tế cũng chưa chính xác, chưa thể hiện được chiều sâu của nghiên cứu và tính xác thực của thông tin Và thậm chí có những trường hợp người này chép lại hoàn toàn thông tin không chính xác của người kia để cho vào bài viết của mình Có thể thấy một phần là do sinh viên Việt Nam chưa có khả năng đọc tài liệu trực tiếp bằng tiếng Nhật và hiểu tư duy người Nhật, hoặc thậm chí chưa có người hướng dẫn đủ trình độ trong lĩnh vực này

ThS Phạm Hoàng Hưng5 đã có bài phát biểu trong Hội thảo Quốc tế

“Phụ nữ và Truyện tranh: Kết nối những nền văn hóa ngoài Nhật Bản”

Nghiên cứu của ThS Phạm Hoàng Hưng có giá trị quan trọng ở chỗ đã phân biệt rõ nhóm độc giả truyện tranh và phương tiện đọc truyện tranh tại Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu truyện tranh tại Việt Nam được thực hiện với nhóm những người hâm mộ truyện tranh thể hiện, trong khi chưa chỉ ra được người hâm mộ truyện tranh chiếm bao nhiêu phần trăm dân số Việt Nam Nội dung này cần được quan tâm vì nó ảnh hưởng đến phạm vi nhu cầu thưởng thức cũng như các nhu cầu khác của nhóm độc giả Việt

Đây là xu hướng mới về nghiên cứu truyện tranh tại Việt Nam vì trước

đó, một số cá nhân đã thực hiện nghiên cứu mối liên quan giữa giáo dục và

5 Giảng viên trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

Trang 21

để truyện tranh làm hỏng ngôn ngữ của các thế hệ con cháu mình; và một yếu

tố nữa là hiệu ứng của các sản phẩm “nhìn thấy được” (visual medium/media như hình ảnh, phim ảnh) kích thích tới bộ não đã được chứng minh là hiệu quả hơn so với chữ viết trong việc lưu giữ và tư duy đối với thông tin cung cấp Nhà nghiên cứu trong phân tích của mình cho rằng cần phân biệt rõ truyện tranh nào dành cho trẻ em và truyện tranh đó có tốt hay không, hay bất

cứ “truyện tranh” nào cũng bị dán nhãn là “dành cho trẻ em” trong bối cảnh các nhà xuất bản hay dịch giả chỉ chú trọng đến doanh thu, lợi nhuận mà bỏ qua việc phân loại quan trọng này Có những truyện ở Nhật ban đầu được quy định là dành cho lứa tuổi thiếu niên hoặc trên 18 tuổi (như “Shin cậu bé bút chì”), nhưng khi sang thị trường Việt Nam thì được bán rộng rãi ngoài thị trường, ai mua cũng được trong đó có cả đối tượng trẻ em

Ngoài hai học giả nêu trên, còn những công trình và bài viết khác về nội dung truyện tranh song quan điểm cá nhân tôi cho rằng, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu truyện tranh mang tính toàn thể, nhằm đem lại một cái nhìn đa diện về truyện tranh, hiểu rõ mặt tốt và mặt chưa tốt của nó trong từng thời điểm cụ thể, nguyên nhân vì sao lại thế, giải pháp là gì, và vai trò của các bên liên quan cần được làm rõ ra sao Ví dụ: khi đánh giá truyện tranh, có nhất thiết phải yêu cầu hay bắt buộc tác giả (lời và minh họa) phải đảm bảo mọi giá trị về giáo dục, đạo đức của một dân tộc nào

6 Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội

Trang 22

17

đó, hay bản thân người đọc (cả trẻ em và người lớn) hoặc các bậc làm cha mẹ cũng cần có những kiến thức nền, hiểu biết chung về truyện tranh và các nội dung khác như giới tính, bạo lực… để từ đó có tư duy phản biện và biết chấp nhận hay từ chối, thậm chí là tẩy chay, đối với những ấn phẩm không phù hợp; theo tôi thì hoàn toàn không nên đánh đồng tất cả truyện tranh là xấu khi chưa có hiểu biết chung và cụ thể về nó

Họa sĩ Lê Linh (Tác giả của Thần đồng Đất Việt) trả lời phỏng vấn

trong dịp hội thảo Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản về nội dung manga

- thể loại truyện tranh Nhật Bản - vào năm 2005 như sau:

“Mặt tích cực của nó đã truyền tải một triết lý “gắn bó con người với nhau”, xét trên cả hai mặt lợi ích cảm tính và lý tính Tuy nhiên, manga

có những mặt tiêu cực từng bị chỉ trích về tính bạo lực, hình ảnh khêu gợi hơn là giáo dục giới tính Cám dỗ cái xấu luôn lớn hơn sự thuyết phục của cái đẹp Vì thế, làm sao để cân bằng hai mặt của vấn đề, đó là câu hỏi dành cho các nhà xuất bản.”

Ông Lê Linh cho rằng truyện tranh có mặt tiêu cực là bạo lực và tình dục mặc dù ông là người thể hiện nhiều truyện tranh thiếu nhi Việt Nam Điểm quan trọng nhất không phải là truyện tranh có tính bạo lực hay giáo dục Bởi thứ nhất, đây là hiện thực cuộc sống trong nhiều xã hội, và thứ hai là các thể loại nghệ thuật khác cũng thể hiện hai nội dung này - ở những mức độ và hình thức khác nhau Vấn đề mấu chốt ở đây là về phía người Việt Nam, trong trường hợp này là các phụ huynh, thường nhầm tưởng cho rằng truyện tranh

là dành cho thiếu nhi, do vậy không được phép có sự xuất hiện của bạo lực và tình dục

Nhưng, khái niệm của phía Nhật thì hoàn toàn khác Trong cuốn sách

giới thiệu chương trình triển lãm “Không gian mới của Manga - Nghệ thuật truyện tranh đương đại Nhật Bản” có ghi rõ:

“Như chúng ta đã biết, truyện tranh manga và phim hoạt họa anime

Trang 23

18

Nhật Bản những năm gần đây đang thu hút sự chú ý của thế giới như là một phương tiện truyền thông tiêu biểu cho văn hóa bằng hình ảnh của Nhật Bản Trước đây, manga và anime được coi là một hình thức “giải trí dành cho trẻ em” hay “văn hóa không chính thống,” nhưng gần đây hai loại hình nghệ thuật này đã tạo ra sự thay đổi tiêu biểu cho văn hóa Nhật Bản”[6, tr.2]

Lời mở đầu này xác nhận lại việc truyện tranh Nhật Bản đã trở thành

“văn hóa chính thống” và đã thành công trên thị trường trên thế giới Thậm chí truyện tranh là một phương pháp sáng tác nghệ thuật và vị trí của truyện tranh có thể tương đương với các tác phẩm văn học truyền thống Nhưng thực

tế vẫn còn nhiều chênh lệnh về quan niệm truyện tranh với Việt Nam Tôi chỉ chưa rõ mục đích xuất bản cuốn sách hướng dẫn này là cho phụ huynh Việt Nam khi lần đầu tiên tiếp xúc truyện tranh hay những người hâm mộ truyện tranh Nhật Bản?

Như tôi đã trình bày trên đây, ở Nhật Bản có sự phân loại truyện tranh thiếu nhi, dành cho thanh niên, dành cho người lớn, dành cho thiếu nữ v.v Trong quá trình phát triển truyện tranh, ở Nhật cũng đã có những cuộc tranh luận căng thẳng giữa một bên là tác giả, một bên là nhà xuất bản với bên còn lại là phụ huynh Cha mẹ người Nhật cũng từng có quan niệm về truyện tranh tương tự với các ông bố bà mẹ Việt Nam, như: “Không đọc truyện tranh mà làm bài đi” hay “Đọc truyện tranh trở nên ngốc nghếch”…v.v Nhưng mặt khác, theo thời gian cũng như sự khẳng định của các tác phẩm truyện tranh, các bậc phụ huynh cũng nhận thấy ưu điểm của truyện tranh là đơn giản, kể

cả trẻ con chưa biết đọc cũng có thể hiểu nội dung nên truyện tranh nhận được nhiều sự quan tâm của trẻ em và cả người lớn Chính vì vậy, trên thị trường Nhật Bản đã xuất hiện một số tác phẩm có tính giáo dục như dạy toán học qua truyện tranh

Nguyên nhân của sự khác nhau về quan niệm của độc giả hai nước Việt Nam - Nhật Bản về truyện tranh là do hình thức phát hành truyện tranh và văn

Trang 24

19

học dành cho thiếu nhi Đối với trường hợp Nhật Bản thì đa số là họa sĩ trong nước sáng tác và nhà xuất bản chịu trách niệm phát hành Còn trường hợp Việt Nam thì số lượng họa sĩ sáng tác truyện tranh khá ít, chưa đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường trong khi nhu cầu là có thực Chính vì vậy, các nhà xuất bản cũng phải tìm nguồn cung đồng thời làm tăng thu nhập của mình bằng việc mua bản quyền (hoặc là đạo ý tưởng, đạo văn) từ nước ngoài và dịch sang tiếng Việt Và kết quả là hiện nay, đa số truyện tranh trên thị trường Việt Nam là tác phẩm phiên dịch từ bản nước ngoài, nên có thể dễ thấy một số đặc điểm về văn hóa khác biệt so với quan điểm, lối sống của người Việt

Theo ý kiến của GS TS Kato Sakae, cũng trong Hội thảo Quốc tế nói trên, Việt Nam thời kỳ Đổi mới chưa có đủ tác phẩm dành cho vị thanh niên Khi hết tuổi thiếu nhi, thì vị thành niên có sách gì để đọc - những loại phù hợp với lứa tuổi và đặc tính tâm lý? Do có rất ít hoặc không có tác phẩm nào sáng tác trực tiếp phục vụ nhóm tuổi này, nên các em vẫn phải tiếp tục đọc các truyện tranh thiếu nhi hay phải đọc văn học lớn tuổi Chính vì vậy, có thể nói,

sự xuất hiện của truyện tranh Nhật Bản có vai trò quan trọng trong giáo dục hay định hướng đối với cộng đồng7 những người trẻ Đây là điểm được đánh giá nhất của vai trò truyện tranh Nhật tại Việt Nam trong thập niên 90

Tuy vậy, trong khoảng 20 năm lịch sử xuất hiện và phát triển truyện tranh Nhật Bản tại Việt Nam, từ khi nào mà nhiều người cho rằng truyện tranh nói chung và truyện tranh Nhật Bản nói riêng là “xấu”, có chứa yếu tố bạo lực

và tình dục như phát biểu của ông Lê Linh? Luận văn này cũng mong muốn tìm hiểu kỹ hơn quan niệm của nhóm phụ huynh qua các bài viết, nhằm tìm câu trả lời cho nguyên nhân của sự thay đổi trong quan niệm truyện tranh và thực trạng cũng như xu hướng của truyện tranh hiện nay Thêm vào đó, lịch

sử truyện tranh của Nhật Bản sẽ được tóm tắt đơn giản, dễ hiểu nhằm phần nào bổ sung kiến thức cho những ai quan tâm hoặc muốn nghiên cứu về truyện tranh Nhật và tìm hiểu văn hóa của hai bên Việt Nam - Nhật Bản qua

7 Bài giảng trong hội thảo quốc tế “Phụ nữ và Truyện tranh: Kết nối những nền văn hóa ngoài Nhật Bản”

ngày 24/3/2012 - Sự tiếp nhận Manga Nhật Bản vào Việt Nam và xu hướng

Trang 25

20

công cụ truyện tranh Và vì vậy, về mặt học thuật, rất cần những nghiên cứu mang toàn diện và bao quát về truyện tranh Nhật và ảnh hưởng của nó tại việt Nam để mang lại cái nhìn có chiều sâu và đa chiều, kiến thức chính xác cho

người đọc và người quan tâm đến truyện tranh

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ TRUYỆN TRANH NHẬT BẢN 1.1 Điều kiện xuất hiện ý niệm về truyện tranh

Trước khi giải thích về tình hình phổ biến truyện tranh Nhật, chúng tôi xin giới thiệu truyện tranh Nhật “Manga” và lịch sử hình thành văn hóa truyện tranh Nhật Bản Năm 1924, trong sách của “Nihon manga shi (日本漫画史:Nhật Bản Mạn họa sử)” ông Hosokibara đã đánh giá tác phẩm “Choju Jinbutsu Giga (鳥獣人物戯画:Điểu thú nhân vật hí họa)” của thế kỷ XII-XIII

là truyện tranh đầu tiên của Nhật Bản [45, tr.21] Theo tôi, những tác phẩm dưới hình thức tranh vẽ được sáng tác với mục đích cụ thể của tác giả đó, hoàn toàn không phải với ý nghĩa của truyện tranh giải trí như các nhà nghiên cứu hay phê bình về sau dán nhãn (“Label”) Việc dán nhãn như vậy trong nhiều trường hợp chưa chắc đã là việc hay, bởi nó có thể gây ra sự hiểu lầm nếu nhà nghiên cứu về sau hay ai đó quan tâm mà không tìm hiểu kỹ hoặc không có điều kiện đọc về lịch sử truyện tranh

Nhật Bản nhanh chóng phát triển lĩnh vực này là do văn hóa như tranh cuốn, ở đây được gọi là “đọc truyện bằng tranh” khá phát triển từ sớm và khái niệm “đọc truyện bằng tranh” xuất phát từ văn hóa chính thống Tôi nhấn mạnh thêm ở đây, văn hóa “đọc truyện bằng tranh” này không phát triển từ dân gian mà từ văn hóa chính thống của giai cấp thống trị và có quyền lực, sau đó mới được phổ biến xuống các tầng lớp nhân dân Phương pháp đọc truyện bằng tranh ngày xưa có giá trị rất cao như trường hợp phổ biến giáo lý của Phật giáo dành cho những người theo đạo khác hay chưa có giáo dục như người mù chữ Mặc dù không biết ngôn ngữ của nước khác, nhưng có tranh

Trang 26

21

giải thích thì dễ hiểu và dễ nhớ Đây là một trong những ưu điểm của truyện

tranh

1.2 Quan niệm truyện tranh Nhật Bản “Manga (漫画:Mạn họa)”

Nghiên cứu hiện nay cho rằng quan niệm “Manga” xuất hiện từ thế kỷ XIX, thời kỳ phổ biến tranh biếm họa trong văn hóa dân gian

Nguồn gốc của từ “Mạn họa” là nói về loại chim cò thìa Trong tài liệu

“Suzan Bunsyu8 (嵩山文集:Tung sơn văn tập) và “Yousai Zuihitsu9 (容斎随筆:Dung trai tùy bút)” mô tả về loại chim này là: Hoàng hà có hai loại chim bắt cá sống, loại chim “Mạn họa” bắt cá như tưới nước, làm việc không nghỉ Còn loại chim “Tín thiên lục” thì há miệng chờ cá vào, có vẻ lười biếng Kiến thức như này lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1771, trong tác phẩm “Mankaku Zuihitsu (漫画随筆:Mạn họa tùy bút)” của Suzuki Kankei (鈴木煥卿:1713-1776) Tác phẩm này trích dẫn bài của Mạn họa và nói về mình là không có tài về đánh cờ, âm nhạc, vẽ tranh, không uống rượu và không thích tiếp xúc người khác, hơn nữa là ở nông thôn nên không có bạn bè Ông chỉ đọc sách,

mà chỉ đọc nhiều nhưng không làm gì nên giống như con chim Mạn họa Thời điểm này chữ “漫画/Mạn họa” chưa phải là “Manga” mà gọi tên là

“Mankaku”, chỉ có nghĩa là làm cái gì đó nhiệt tình, vô tư như chim Mạn họa suốt ngày săn mồi

Từ “Manga” xuất hiện một lần khác trong tác phẩm “Tiên sinh Đông Tâm tạp họa đề kỷ” của nhà văn Kim Đông Tâm (金冬心:1687-1763) thời nhà Thanh Trong tác phẩm này, ông dùng từ “Mạn họa” với ý nghĩa là vẽ tranh vô tư, vẽ tranh theo kiểu mình thích10 Sau đó, lần đầu tiên có người

8 Tác phẩm của 晁説之 (Triều Thuyết Chi: 1059-1129) của Bắc Tống

9 Tác phẩm của 洪邁 (Hồng/Suyền Mại: 1123-1202) của Nam Tống

厭 視洞庭枇杷不堪 恣大嚼也 時已至矣 輒思郷味 漫画折枝数顆 何異乎望梅止渇也 (Quê

Trang 27

22

dùng “Mạn họa” với nghĩa tương tự là họa sĩ Santo Kyoden 1816), năm 1798, xuất bản sách tranh “Siji no ikikai” (四時交加:Tư thời giao gia/Đi lại bốn mùa) trong lời mở đầu có từ “Mạn họa” với ý nghĩa “Vẽ kiểu mình thích, tự do”

(山東京伝:1761-Thời kỳ này phổ biến tác phẩm văn học “Zuihitsu (随筆:tùy bút)” là một loại bài viết ngắn, đưa ra góc nhìn chủ quan của tác giả Phong trào này

có thể được đánh giá là mốc xuất hiện của cách sáng tác tự do và quan niệm

về “cái Tôi” đã có mặt đâu đó trong tác phẩm, thay thế cho “cái Ta”, tức là vượt qua phạm vi sáng tác đương thời và thể loại “Manga” cũng như vậy Đây

là giai đoạn hết sức quan trọng trong lĩnh vực văn học vì mới được đánh giá ngoài tác phẩm chính thống của văn học mà đã vượt qua biên giới và bắt đầu

có sự liên ngành với lĩnh vực khác, cũng như giai đoạn văn hóa chính thống

có sự giao thoa với văn hóa đại chúng Đây là một giai đoạn rất quan trọng đối với phát triển văn hóa tinh thần của con người

Đến năm 1814, sách hướng dẫn vẽ tranh “Mạn họa” với phần đề tựa của ông họa sĩ Katsushika Hokusai (葛飾北斎:1760-1849) đã được xuất bản với tên “Hokusai Manga” (北斎漫画:Bắc Trai Mạn họa) “Mạn họa” trong cuốn sách này nói về tranh khuôn mẫu Sách “Hokusai Manga” đầu tiên xuất bản bao gồm 300 tranh, đến năm 1878 xuất bản 15 tập, tổng hợp hơn 4000 tranh về con người, động vật, yêu quái và cũng có loại vẽ phong tục, cuộc sống sinh hoạt thường ngày của con người v.v Đặc điểm đa dạng và sưu tập nhiều tác phẩm này thể hiện hoàn toàn khác với bối cảnh thời kỳ đó, khi mỹ thuật Nhật Bản tồn tại quan hệ sư phụ và đệ tử, như trường hợp nhóm họa sĩ Kano thì sư phụ giao cho đệ tử một bức tranh và khi nào đệ tử thể hiện như

hương mình bờ biển Khúc Giang đến tháng 5 âm lịch thì có quả “Dương mai” của Hồ Giang đến mùa Tôi đi chợ mua quả ăn thì ngọt đến tận chân răng, không chán Như quả tỳ bà của Động đình, tôi đã ăn nhiều Thời gian trôi qua, tôi nhớ khẩu vị quê hương mình Tôi vẽ cánh Dương mai ta, nó đúng là “Mai chỉ khát dã”)

Trang 28

23

khuôn mẫu thì mới được đạt đến trình độ “họa sĩ” và được gọi tên “họa sĩ”

Qua sự việc này thì có thể đánh giá được mỹ thuật và “Mạn họa” thời

kỳ này có vị trí hoàn toàn khác nhau, như tranh chính thống và tranh không chính thống Nên tác phẩm “Hokusai Manga” có thể được đánh giá là khai thác lĩnh vực mỹ thuật mới và trở thành tiêu chuẩn của họa sĩ thế hệ sau Không chỉ chuyện của ông Katsushika mà thời kỳ này tác phẩm

Đáng lưu ý là đến thời kỳ này, tên gọi “Mạn họa” không hề phổ biến

mà nhân dân gọi tranh giải trí tên là tranh Toba (鳥羽絵:Tranh Điểu Vũ) Tranh Toba phát hành dạng sách và phổ biến từ Osaka đến toàn quốc với các

đề tài phong tục tập quán, cuộc sống hàng ngày của nhân dân Thực tế cho thấy, tên “Mạn họa” trong giai đoạn này không phổ biến bằng tranh Toba Song có thể nói, một số tác phẩm đã vượt qua khuôn mẫu của văn hóa mỹ thuật chính thống lâu đài để tiến tới cách sáng tác tự do, hài hước, vui tươi Quan niệm tranh biếm họa là một kết quả đương nhiên trong quá trình phát

triển văn hóa dân gian của thời kỳ này

1.3 Nguồn gốc của tên gọi “Manga”

Đến cuối thời Êđô, năm 1862, lần đầu tiên một tạp chí tranh biếm họa kiểu phương Tây tại Nhật Bản có tên là “Japan Punch” của Charles Wirgman (người Anh:1832-1891) đã được xuất bản Tạp chí này không dùng tiếng Nhật, mà họa sĩ và các kỹ sư người Nhật và sử dụng giấy Nhật Bản (和紙:Washi/giấy Hòa) Tạp chí phổ biến kiến thức tranh biếm họa của phương Tây

và được gọi tên riêng kiểu tranh biếm họa của tạp chí này là tranh Ponchi (ポンチ絵:Tranh Punch)

Quá trình phổ biến các tạp chí và tờ báo, tranh Ponchi, với sự đóng góp của hai ông Wirgman và Bigot, đã phát triển lĩnh vực tuyên truyền về mặt phương tiện truyền thông và chính trị Nhưng mặt khác, sau khi tạp chí Japan

Trang 29

24

Punch được xuất bản, tranh Ponchi trở nên phổ biến, và thay thế quan niệm

“Mạn họa”, tranh Toba sang “tranh Ponchi” và trở thành tranh dành cho thiếu nhi

Đến năm 1902, họa sĩ Kitazawa Rakuten (北沢楽天:1876-1955) bắt đầu chương trình “Jiji Manga (時事漫画:Manga thời sự)” tại tờ báo Jiji Shinpo (時事新報:Tân báo Thời sự) Jiji Shinpo bắt đầu được phát hành từ năm 1882 và Tổng biên tập Fukuzawa Yukichi (福沢諭吉:1835-1901) đã đưa

ra 2 chính sách “Bất thiên bất đẳng” và “Quốc quyền hoàng trương” Tức là

tờ báo thời kỳ này tôn trọng dân ý và chủ yếu là có tính chất quảng cáo cho đường lối chính trị của đảng nào đó, phục vụ cho xu hướng dân chủ hóa

Trong đó, phần Thời sự Manga của Báo chủ Nhật của tờ Jiji Shinpo được độc giả yêu thích, và đến thời kỳ này mọi người gọi “Manga” với nghĩa

là “tranh Ponchi”, và tờ báo chủ Nhật của ông Kitazawa đã thành công trong việc thay đổi quan niệm của nhân dân về “Manga” Vai trò của ông Kitazawa

đã góp phần phổ biến từ ngữ “Manga” với ý nghĩa như hiện nay Sau đây ông Kitazawa lần đầu tiên xuất bản tạp chí Manga có màu ở Nhật Bản, có tên là

“Tokyo Puck (東京パック)” Đặc điểm của tạp chí này là các tác phẩm mang tính châm biếm, mỉa mai những hiện tượng xã hội và chính trị một cách nghiêm túc, thể hiện rõ yếu tố tuyên truyền

Sự kiện này là bước ngoặt từ thời kỳ “Mạn họa” chuyển sang “Manga” cho thấy khả năng của thể loại tranh này như một phương tiện tuyên truyền Đáng lưu ý là Manga có vị trí rất quan trọng do thời kỳ này chưa phổ biến các phương tiện truyền thông khác như truyền hình và đài phát thanh

Thời kỳ này truyện tranh có nhiều trào lưu, song vẫn chưa có định nghĩa nhất định Trong khi đó, năm 1915, họa sĩ Okamoto Ippei (岡本一平:1886-1948) lần đầu tiên tổ chức Hội Manga Tokyo (sau này là Hội Manga

Trang 30

là một phần của “truyện tranh” và ngoại diên của truyện tranh rộng hơn quan niệm truyện tranh hiện nay Tuy nhiên, truyện tranh thời kỳ này phân biệt rõ ràng loại 1 ô vẽ (hay không ô vẽ) và nhiều ô vẽ, tức là quan niệm hoàn toàn khác các phân loại truyện tranh như hiện nay

Giai đoạn này, các họa sĩ đang trong quá trình đi tìm phương pháp thể hiện dành cho thiếu nhi và đã tham khảo các tác phẩm nước ngoài Ví dụ điển hình, “Sho chan no bouken” chịu ảnh hưởng trực tiếp của “Pip squeak-and-Wilfred” trong tờ báo Daily Mirror (Anh) do ông Oda khi đi công tác Châu

Âu đã có cơ hội đọc tác phẩm “Pip, squeak and Wilfred” và “Tintin Những cuộc phiêu lưu kỳ thú” nên muốn thể hiện tác phẩm thiếu nhi tương tự cho độc giả Nhật Bản [43, tr.133] Truyện tranh này đầu tiên được phát hành trong

tờ báo dành cho nhóm trí thức, mặc dù thời kỳ đầu của phát triển kinh tế truyện chỉ có số lượng độc giả rất ít, nhưng sau đó, hai tác phẩm này nhanh chóng dành được sự hâm mộ và trở thành một loại tiêu chí liên quan tới giáo

Trang 31

26

dục trẻ em

Nhưng đến thập nhiên cuối 1930, bắt đầu hoạt động truyện tranh có hạn chế Truyện tranh thiếu nhi bị đánh giá là không phù hợp dưới thời chiến tranh thì không được phát hành, thậm chí cuối cùng đã bị cấm phát hành Nói cách khác là truyện tranh thiếu nhi trong thời gian này cố gắng thể hiện tính giáo dục cộng đồng và đạo đức nhưng cuối cùng bị chính quyền đánh giá không nghiêm túc và không thực tế, hơn nữa là thực tế thiếu thốn vật liệu để

in sách nên việc phát hành truyện tranh đã phần nào bị ảnh hưởng

Trong thời gian đó, xuất hiện một loại hình giải trí mới rất quan trọng là

“Kamishibai (Picture story show)” “Kamishibai” là một loại giải trí như phim, lấy một loạt các tranh vẽ tạo thành câu chuyện gì đó và có người biểu diễn các nội dung Họ thường kéo xe đạp và bán kẹo kéo (hoặc đồ gì đó mà trẻ em thích) để kiếm tiền và người mua thì được phép ngồi lên trên và có người không có tiền mua kẹo cũng được ngồi phía sau để xem Đến thời kỳ này phổ biến phim có âm thanh, dẫn đến việc nhiều người làm nghề kể chuyện tại rạp chiếu phim bị thất nghiệp nên nhiều người chuyển sang nghề mới này Phương thức phổ biến văn hóa như thế chứng tỏ Nhật Bản có văn hóa “đọc truyện bằng tranh” từ lâu, hơn nữa là ở khu vực nông thôn thì rất quý trọng những người thể hiện “Kamishibai” vì rạp chiếu phim thời kỳ này mới chỉ tập trung ở khu đô thị nên không chỉ trẻ con mà cả người lớn tuổi ưa thích các tác phẩm dành cho lớn tuổi Ngoài ra có loại tác phẩm do chính quyền nhà nước sáng tác với các nội dung mong mỏi chiến thắng và sau chiến tranh thì quân Mỹ kiểm soát “Kamishibai” do phương tiện này có giá trị truyền thông rất cao

Đặc điểm của giai đoạn này là hậu quả của chiến tranh, thiếu vật liệu và lương thực nên không đủ chức năng để thể hiện lĩnh vực giải trí Không chỉ truyện tranh mà cả nền kinh tế nói chung trong vòng mấy năm đó ở vào giai

đoạn đình trệ nhất của Nhật Bản

Trang 32

27

1.4 Manga sau Chiến tranh Thế giới thứ II

1.4.1 Sự xuất hiện truyện tranh dài của ông Tezuka

Ông Tezuka Osamu (手塚治虫:1928-1989) với lối vẽ truyện tranh 4 ô

vẽ và sống động như phim hoạt hình đã trở thành một hiện tượng trong lịch sử truyện tranh Nhật Bản Sự xuất hiện của ông Tezuka đã thể hiện truyện tranh thiếu nhi không chỉ là tác phẩm đơn giản như con có hiếu với bố mẹ, cái thiện thắng cái ác, mà có những nội dung mang tính giáo dục trong thực tế như sự không bình đẳng của xã hội Nhiều đề tài và ý tưởng mới của ông Tezuka đã phát triển truyện tranh thiếu niên và tạo nên phong trào truyện tranh thiếu niên mới Song song với sáng tác và xuất bản là hình thức phân phối truyện tranh qua các cửa hàng bán lẻ và cho thuê, thu hút đông đảo thanh niên và thiếu

niên

1.4.2 Sự xuất hiện truyện tranh kiểu mới và những tranh cãi về nội dung

Cuối thập niên 50 đã nổi lên một loại truyện tranh mới - loại truyện tranh hoàn toàn trái ngược lại với tác phẩm ông Tezuka, mang tên “Gekiga (劇画:Kịch họa)”, có kịch tính mãnh liệt, dữ dội của chữ “劇”(kịch), vẽ thực tế hơn và không theo đạo đức, ví dụ như có chuyện nhân vật chính bị thua hay

kẻ gian ác dành chiến thắng Nhìn ở một góc độ khác, loại tác phẩm này đã vượt qua hạn chế của đạo đức truyện tranh và thể hiện đúng thực tế phần nào bản chất của con người [30, tr.28]

Như vậy có thể thấy là truyện tranh Nhật không phải là tự nó xuất hiện

và phát triển mà cũng chịu ảnh hưởng từ nhiều nước phương tây và quan trọng hơn nữa là khả năng sáng tạo, vận dụng của các họa sĩ lớn đã tạo nên những phong trào ghi dấu ấn trong lịch sử truyện tranh

Không chỉ dừng lại ở truyện tranh, phim hoạt hình dài tập Nhật Bản đầu tiên của ông Tezuka đã xuất hiện Sau thành công của phim hoạt hình

“Tetsuwan Atom (鉄腕アトム:Astro Boy)”, các công ty đua nhau sáng tác và

Trang 33

28

phát hành phim hoạt hình của Nhật Bản Theo Biểu 1 thì sau khi phát hành

“Tetsuwan Atom” năm 1963, số lượng phim hoạt hình trong nước đã phát triển nhanh chóng và vượt qua số lượng phim hoạt hình nước ngoài

Truyện tranh đã trở thành phương tiện truyền thông hỗn hợp như quan

hệ với truyền hình và tạp chí, và có sức hút lớn đối với nhiều nhóm độc giả Cũng thời kỳ bùng nổ về truyện tranh này, ông Tezuka triển khai kinh doanh bản quyền Đây là một cách công thức hóa kinh doanh, tận dụng tất cả các phương tiện hiện có để quảng bá cho truyện tranh, đồng thời thu lợi từ các hình thức này như: 1) Bán truyện tranh; 2) Chuyển thể thành Phim hoạt hình; 3) Bán bản quyền cho các công ty và các công ty bán sản phẩm liên quan nhân vật phim; 4) Lại bán được truyện tranh Nhiều nội dung tưởng tượng về

kỹ thuật tương lai và bí mật của vũ trụ, tồn tại của người ngoài hành tinh như thế nào v.v đều được đưa vào các tác phẩm truyện tranh và phim hoạt hình

nên được trẻ em, thiếu niên và phụ huynh yêu thích

Biểu 1 Số lượng phát hành phim hoạt hình (tuần thứ 3 tháng 4 hàng năm)11

Trang 34

Các truyện tranh, phim hoạt hình dành cho thiếu niên, thiếu nữ có đề tài khác nhau, song đều mang tính giáo dục là người lớn tuổi phải bảo vệ chăm sóc các em bé hơn Đây chính là một đặc điểm nổi bật của truyện tranh thiếu niên, thiếu nữ của Nhật Bản Trong khi truyện tranh thiếu niên, thiếu nữ đã phát triển đạt đến một trình độ nhất định, truyện tranh “Kịch họa” cũng được phát triển và thịnh vượng Đến thời kỳ này thì truyện tranh được đánh giá là một sản nghiệp có vị trí quan trọng nhất trong lĩnh vực xuất bản và tiếp tục xuất bản theo nhu cầu của độc giả Sau đó, truyện tranh kịch họa được ưa thích hơn truyện tranh thiếu niên chính thống Các tạp chí đầu tiên là dành cho thiếu niên, nhưng theo lứa tuổi độc giả, xuất hiện những tác phẩm dành cho thanh niên Trong đó, các nhà xuất bản phát hành tạp chí truyện tranh dành cho thanh niên, lứa lớn tuổi để giữ quan hệ nhóm độc giả tiếp theo của thế hệ bùng nổ dân số Khi việc sinh viên đại học hay người lớn tuổi đọc truyện tranh trở thành chuyện bình thường thì truyện tranh dành cho người lớn phát triển là đương nhiên

Bên cạnh các tác phẩm được đông đảo công chúng ưa thích, cũng xuất hiện nhiều truyện tranh mang tính tình dục và gây ra tranh cãi giữa phụ huynh

Trang 35

30

và nhà xuất bản Năm 1968, “Harenchi Gakuen12 (ハレンチ学園:Trường học

Vô liêm sỷ)” bắt đầu xuất hiện tại tạp chí thiếu niên, và tạp chí dành cho thanh niên thì bắt đầu đăng tải “Sexaroid13 (セクサロイド)” Nhiều tạp chí tình dục dành cho lớn tuổi khác cũng xuất hiện và làm ăn phát đạt Không chỉ

có tình dục, những nội dung phê phán và phản đối chính quyền, đơn cử như phong trào phản chiến chiến tranh Việt Nam, cũng có mặt Với thực tế xảy ra liên tục các cuộc tranh cãi giữa các nhóm phản đối thể chế bảo thủ, chính quyền và nhóm chủ nghĩa tự do (Liberalist), thanh niên thế hệ mới, các tác phẩm truyện tranh cũng kịp thời phản ánh sâu sắc những mảng trên của đời sống Trong đó tác phẩm “Kịch họa” là biểu tượng của phản đối thế lực cầm quyền, và kêu gọi giải phóng văn hóa

Thực tế sôi động với nhiều tranh luận gay gắt lại đem lại điều kiện tạo nên sự thay đổi của truyện tranh Đầu tiên các nhà xuất bản phát hành tạp chí hàng tuần sự kéo dài tuổi đọc truyện tranh Nhiều trẻ em đến lớp 4 hoặc lớp 5

do nhiều lý do mà không đọc truyện tranh nữa, nhưng các tạp chí đã nhanh chân và thành công trong việc cuốn hút và giữ chân nhiều độc giả Lứa tuổi khác nhau có nhu cầu khác nhau, nên khi độc giả thêm tuổi và lớn hơn, loại truyện tranh “kịch họa” là phù hợp với các nội dung mang tính tình dục, chính

Trang 36

31

園:mẫu giáo), Shogaku 1 nen sei (小学一年生:Học sinh lớp 1) đến Shougaku

4 nen sei (小学四年生:Học sinh lớp 4) Từ năm 1973, truyện được chuyển thể thành phim hoạt hình nhưng không cuốn hút khán giả, thậm chí chỉ phát hành nửa năm trong giai đoạn I

Nhưng năm 1974, truyện Doraemon mới bắt đầu phổ biến đối với nhóm thanh niên và lớn tuổi hơn, nhất là những người có con nhỏ Một năm sau, số lượng phát hành tập đầu tiên đã lên đến con số 1 triệu bản và vào năm 1977, cuốn tạp chí dành cho thiếu nhi “Korokoro comic (コロコロコミック)” trong đó riêng truyện “Doraemon” chiếm tới 200 trang, đã ra đời Tập 18 của năm 1979 thì đã đạt kỷ lục in 1 triệu bản và bắt đầu làm phim hoạt hình giai đoạn II và phim hoạt hình được chiếu định kỳ ở rạp từ năm 1980 [55, tr.118] Doraemon là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà xuất bản Shogaku kan

Doraemon ra đời giữa lúc các phụ huynh đang trăn trở về việc truyện tranh bị “người lớn” hóa, nên họ cảm thấy rất vui mừng và chào đón tác phẩm truyện tranh cho gia đình Các sêri Doraemon kéo dài nhiều năm và xuất hiện nhiều chương trình Doraemon mới, và hàng năm có ít nhất 1 phim được chuyển thể từ chuyện dài trong truyện tranh để cả gia đình đi xem Vì ngay cả đến bây giờ, trên thị trường có nhiều tác phẩm truyện tranh mà các phụ huynh không thể bao quát hết nội dung nên quan tâm tới những tác phẩm dành cho lớn tuổi với nội dung hấp dẫn và có tính giáo dục tình cảm cho bạn bè Quan niệm như vậy nên Nhật Bản có nhiều tác phẩm “được trường thọ” như Doraemon

Như vậy, truyện tranh Nhật đã phải cố gắng rất nhiều khi trong quá trình phát triển của mình: truyện tranh thiếu nhi cố gắng thể hiện đối tượng giáo dục và đạo đức và còn “cõng” thêm một nhiệm vụ là làm sao thu hút được cả phụ huynh và học sinh Truyện tranh được chuyển thể thành phim

Trang 37

32

hoạt hình và những loại hình khác để tăng sự tiếp xúc với độc giả và khán giả

vì đến thời điểm này, truyện tranh không chỉ đối tượng của trẻ em mà đã thành một hệ thống “sản nghiệp” lớn của Nhật Bản

Sau khi Bảy viên ngọc rồng của ông Toriyama ra đời, tạp chí thiếu niên

Jump bán được hơn 8 triệu tập/tuần, và bán bản quyền phát hành phim hoạt hình, lợi nhuận của những đồ chơi và văn phòng phẩm - tất cả những nguồn thu nhập này đã mang lại diện mạo hoàn toàn mới cho truyện tranh - truyện tranh trở thành sản phẩm chủ yếu của các nhà xuất bản Và đương nhiên, với một nguồn cung dồi dào như thế, độc giả lớn như thế, truyện tranh cũng bước sang một trang mới, khi thay đổi xu hướng giáo dục sang những nội dung giải trí, trong đó bao gồm các nội dung nhạy cảm

Như vậy, truyện tranh Nhật Bản có nhiều vấn đề trong quá trình phát triển Thứ nhất là truyện tranh được mặc định là phương tiện cho giáo dục đối với những nhóm chuyển thể truyện tranh thành phim, hay các tiểu thuyết Đây

là một mâu thuẫn rất lớn vì đối với những người đánh giá truyện tranh là dành cho thiếu nhi, họ không chấp nhận việc này; Còn đối với người thể hiện như

“kịch họa” thì lấy phương pháp truyện tranh mới để thể hiện tác phẩm đạt trình độ như phim hoạt hình, hay tiểu thuyết là có giá trị như văn học Thứ hai

là về các sản phẩm giải trí Khi nhà xuất bản có lợi nhuận từ truyện tranh - một loại sản phẩm bán chạy nhất - nên nhiều nhà xuất bản muốn tăng doanh thu bằng cách cho xuất bản những truyện với cảnh nhạy cảm (như lõa thể hay mỉa mai những nhân vật có thật trong xã hội hay kể bí mật của ngôi sao nào đó) Nhưng xu hướng bị đánh giá là đi ngược lại tác dụng giáo dục đạo đức của truyện tranh

Trong bối cảnh như thế, trước nhu cầu của phụ huynh và giám sát của chính quyền, các họa sĩ và nhà xuất bản đã có những nỗ lực nhằm phân loại truyện tranh theo các thế hệ Tóm lại là trong giai đoạn này, truyện tranh nằm

ở vị trí trung tâm trong mối quan tâm của thế hệ trẻ và các bậc phụ huynh

Đến đầu thập niên 80, trò chơi điện tử và máy tính bắt đầu xuất hiện

Trang 38

33

rầm rộ đã tạo ra thay đổi xu hướng lớn của truyện tranh Nhật Bản Tuy vậy, truyện tranh không chấp nhận ngừng lại, mà xoay sang một thế mới: tiến hành lấy đề tài trong game và cập nhật thông tin game mới trong tạp chí để cùng tồn tại với các trò game (như có truyện tranh về nhân vật sở hữu các game và các nội dung khác phù hợp với thực tế mới) Không chỉ games và máy tính,

mà những người nổi tiếng trong thể thao, ca hát, điện ảnh cũng trở thành đối tượng được trẻ em và người lớn yêu thích, say mê Vì vậy, truyện tranh lại theo một xu hướng mới bằng cách lấy đề tài liên quan đến chơi games hoặc người nổi tiếng và hợp tác với nhau để tìm con đường sống chung

Truyện tranh hợp tác với công ty sản xuất đồ chơi để quảng cáo sản phẩm, lấy đề tài trò chơi mới để phát triển hai bên là phương pháp cổ điền của truyện tranh thiếu nhi Nhật Bản Ngược lại, có trường hợp truyện tranh sáng tác ra trò chơi mới, tạo nên cơn sốt và công ty đồ chơi mua bản quyền của trong tác phẩm đó để đáp ứng nhu cầu của độc giả

CHƯƠNG 2: PHỔ BIẾN TRUYỆN TRANH NHẬT RA NƯỚC NGOÀI 2.1 Truyện tranh Nhật được phổ biến trên thế giới

Một số trường hợp phổ biến truyện tranh Nhật trên thế giới sẽ được giới thiệu trong phần này Trong tạp chí “Yomu (よむ:Độc, có nghĩa là “đọc”)” ra tháng 6 năm 1993 và tờ báo Asashi Buổi sáng, ngày 8 tháng 5 năm 1993, đưa tin về vấn đề việc Doraemon được phổ biến tại Châu Á và hình thành thị trường không theo bản quyền Đến năm 1990, Trung Quốc chính thức tham gia công ước Bern và năm 1992 đã xuất bản Doraemon chính hãng, tuy vậy, các nước khác vẫn phát hành trái phép [56, tr.66] Phổ biến sớm nhất là Hồng Kông và Đài Loan (1976) Sau đó, nhà xuất bản Thanh Văn xúc tiến việc dịch tác phẩm truyện tranh Nhật và trở thành trung tâm phân phối truyện tranh cho khu vực Châu Á là nơi có nhiều cư dân Hoa kiều như Singapore và Mã Lai Ngoài ra, Doraemon xuất hiện ở Hàn Quốc muộn nhất là vào đầu thập niên 80

Trang 39

34

và ở Thái Lan vào năm 1982

Độc giả Mỹ có cách tư duy độc lập, tự làm tự chịu trách nhiệm nên có

vẻ họ không thích nhân vật ngốc nghếch, chậm chạp, mãi không trưởng thành như Nôbita14 và bản thân họ đã có một thị trường đầy đủ sản phẩm dành cho thiếu nhi Với họ, đơn giản giải trí là giải trí, giáo dục là giáo dục chứ không yêu cầu nặng về giáo dục như truyện tranh ở Nhật Sau đó, Doraemon được chỉnh sửa nội dung để thành địa phương hóa với thói quen và cách tư duy của người Mỹ

Ở Phương Tây thì truyện tranh Doraemon chỉ có xuất bản tiếng Tây Ban Nha [56, tr.33] Nhưng phim hoạt hình thì khá phổ biến như Ý thì phát hành phim hoạt hình từ năm 1982 và tiếp tục tái bản nhiều lần, đến năm 2003 thì chính thức phát hành 1 tuẩn 5 buổi Tây Ban Nha cũng phát hành từ năm

1993 và Pháp thì phát hành phim hoạt hình Doraemon từ năm 2003 [56, tr.69]

Mặc dù giá cả rất quan trọng tại thị trường Châu Á, nhưng truyện tranh Nhật đã thực sự thu hút độc giả Châu Á do những tương đồng về văn hóa Như phim Osin nổi tiếng tại Châu Á bởi các nước đều có chung quan niệm về đời sống tình cảm trong khi người phương Tây không quan tâm đến văn hóa phương Đông Việt Nam thời kỳ này là bị trừng phạt kinh tế của Mỹ nên các sản phẩm từ văn hóa ngoại lai rất hiếm Trong lĩnh vực truyện tranh thì nhà xuất bản Việt Nam không nhập khẩu từ Đài Loan mà tự dịch từ bản ở Thái Lan

Đáng lưu ý là có một nước trong Châu Á nơi tác phẩm Doraemon và phim Osin đều không được yêu thích, đó là Philippines Đa số người Philippine theo Kitô giáo và thường xuyên tiếp xúc văn hóa phương Tây và

Mỹ, nên không phổ biến truyện tranh Nhật như Mỹ mà phổ biến phim hoạt hình “Voltes V” của Nhật Bản

14 Người Mỹ đánh giá Nôbita lúc nào dựa vào máy móc của Doraemon, không thấy sự nỗ lực mình và không đối mặt khó khăn là không phù hợp văn hóa Kitô giáo

Trang 40

35

Ở Châu Á, truyện tranh/phim hoạt hình còn ít nhiều chênh lệnh văn hóa nhưng vai trò của truyện tranh/phim hoạt hình của Nhật Bản rất cao vì khu vực Châu Á thiếu thốn cơ sở vật chất, nhất là văn học và cả giải trí dành cho thiếu nhi Thành công phổ biến truyện tranh trong khu vực này không phải do Nhật Bản Thực thế là tốc độ phổ biến truyện tranh - qua các bản copy - vượt qua tưởng tượng của phía Nhật, và thậm chí không chỉ copy mà còn sáng tác chuyện mới như trường hợp Đài Loan

Thứ hai là sự phổ biến truyện tranh Nhật Bản đã dẫn đến việc nhiều họa

sĩ truyện tranh các nước bị thất nghiệp và văn hóa truyện tranh của các nước Châu Á đã bị ảnh hưởng Hơn nữa là có vấn đề ngôn ngữ như Đài Loan thì nhiều người biết tiếng Nhật, hoặc trình độ như người Nhật, nên thể hiện rất dễ nhưng những nước khác như Thái Lan, Indonexia cả Việt Nam thì gặp nhiều

khó khăn trong dịch thuật và xử lý những chênh lệnh văn hóa

2.2 Truyện tranh Nhật được phổ biến tại thị trường Việt Nam

2.2.1 Sự xuất hiện của “Chú mèo thần kỳ” tại Việt Nam

Năm 1992 nhà xuất bản Kim Đồng dịch truyện từ phiên bản bên Thái Lan Trong đó Doraemon bản Thái Lan có 2 tên là “โดราเอมอน(Doraemon)” và

“โดเรมอน (Đôrêmon)” Tức là tên “ドラえもん (Doraemon)” của Nhật Bản đã được/bị chuyển thành “Đôrêmon” do không chỉ phát âm của tiếng Việt mà ảnh hưởng của bản Thái Lan Lý do Việt Nam nhập vào muộn là vì do hậu quả của chiến tranh chống Mỹ và tranh chấp với Campuchia nên một số công

ty nước ngoài rút đầu tư và không thực hiện các hoạt động tiếp xúc giao lưu văn hóa với Việt Nam

Đầu tiên Doraemon được đặt tên là “Đôrêmon chú mèo thông minh” và trong năm 1992 xuất bản được 6 tập và năm 1993 phát hành đến tập 33 và 3 tập truyện dài, năm 1994 xuất bản đến tập 74 và năm 1995 đến tập 78 Ngoài

ra phải kể đến nhiều tác phẩm có liên quan Doraemon Trước khi ra đời bản quyền chính, NXB Kim Đồng bán hơn 10 triệu sách

Ngày đăng: 28/06/2022, 10:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

phát hành phim hoạt hình của Nhật Bản. Theo Biểu 1 thì sau khi phát hành “Tetsuwan Atom”  năm  1963,  số  lƣợng  phim  hoạt  hình  trong  nƣớc  đã  phát  triển nhanh chóng và vƣợt qua số lƣợng phim hoạt hình nƣớc ngoài - (LUẬN văn THẠC sĩ) giao lưu văn hóa việt nam   nhật bản từ năm 1990 đến nay nghiên cứu trường hợp manga nhật bản được phát hành tại việt nam luận văn ths  khu vực học 60 22 01 13
ph át hành phim hoạt hình của Nhật Bản. Theo Biểu 1 thì sau khi phát hành “Tetsuwan Atom” năm 1963, số lƣợng phim hoạt hình trong nƣớc đã phát triển nhanh chóng và vƣợt qua số lƣợng phim hoạt hình nƣớc ngoài (Trang 33)
Các truyện tranh, phim hoạt hình dành cho thiếu niên, thiếu nữ có đề tài khác nhau, song đều mang tính giáo dục là ngƣời lớn tuổi phải bảo vệ chăm  sóc các em bé hơn - (LUẬN văn THẠC sĩ) giao lưu văn hóa việt nam   nhật bản từ năm 1990 đến nay nghiên cứu trường hợp manga nhật bản được phát hành tại việt nam luận văn ths  khu vực học 60 22 01 13
c truyện tranh, phim hoạt hình dành cho thiếu niên, thiếu nữ có đề tài khác nhau, song đều mang tính giáo dục là ngƣời lớn tuổi phải bảo vệ chăm sóc các em bé hơn (Trang 34)
2.2.5 Phim hoạt hình được chuyển thể từ truyện tranh Nhật - (LUẬN văn THẠC sĩ) giao lưu văn hóa việt nam   nhật bản từ năm 1990 đến nay nghiên cứu trường hợp manga nhật bản được phát hành tại việt nam luận văn ths  khu vực học 60 22 01 13
2.2.5 Phim hoạt hình được chuyển thể từ truyện tranh Nhật (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w