BÀI TIỂU LUẬNBỘ MÔN: AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ TÁC HẠI NGHỀ NGHIỆP, BỆNH NGHỀ NGHIỆP TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP MAY MẶC CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY, BIỆN PHÁ
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
BỘ MÔN: AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ TÁC HẠI NGHỀ NGHIỆP, BỆNH NGHỀ NGHIỆP TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP MAY MẶC CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY, BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH NÀY
1
Trang 21.1 Thực trạng vệ sinh lao động trong ngành may mặc: 81.2 Thực trạng về tác hại nghề nghiệp trong ngành may: 121.3 Thực trạng về bệnh nghề nghiệp trong ngành may: 13
2 Nhận diện các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong ngành may 16
3 Thực trạng phòng chống tác hại nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp trong
4 Nhận định (ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân) 20
III BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐIỂU KIỆN LÀM VIỆC TRONG NGÀNH
2 Đối với các doanh nghiệp may mặc Việt Nam 23
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong phát triển nền kinh tế thị trường cùng với hội nhập kinh quốc tế ngày càngsâu rộng như hiện nay, vấn đề nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng Để pháttriển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động thì việc đảm bảo antoàn lao động, bảo vệ sức khỏe cho người lao động là một yêu cầu tất yếu, liên quanchặt chẽ đến sự phát triển của từng doanh nghiệp, góp phần xây dựng một nền kinh tếbền vững cho mỗi quốc gia Thời gian qua, công tác đảm bảo an toàn lao động, giảmthiểu tai nạn lao động của nước ta đã có những chuyển biến tích cực; pháp luật về antoàn lao động đang được hoàn thiện; vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức cánhân có liên quan đến công tác an toàn lao động và quản lý nhà nước về an toàn laođộng được nâng cao Ở đâu, khi nào có hoạt động lao động sản xuất thì ở đó, khi đóphải tổ chức công tác bảo hộ lao động theo đúng phương châm: đảm bảo an toàn đểsản xuất - sản xuất phải đảm bảo an toàn lao động
Bên cạnh những thành tựu đạt được, thì tình hình tai nạn lao động vẫn còn diễnbiến khá phức tạp, đặc biệt là trong khu vực người lao động làm việc không theo hợpđồng lao động; ý thức chấp hành pháp luật về an toàn lao động của các chủ thể trongquan hệ lao động chưa cao; công tác quản lý nhà nước về an toàn lao động chưa đạtđược kết quả như mong muốn; hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn kỷ thuật về ATLĐ củamột số ngành, lĩnh vực còn lạc hậu, không phù hợp với thực tế, cần phải điều chỉnh, bổsung; một số văn bản được hướng dẫn chậm nên thiếu đồng bộ; một số nội dung củavăn bản hướng dẫn còn chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn trong quá trình thựchiện
Với đề tài “Thực trạng vệ sinh lao động và tác hại nghề nghiệp, bệnh nghềnghiệp trong ngành công nghiệp may mặc của Việt Nam hiện nay, biện pháp cải thiệnđiều kiện làm việc tại các doanh nghiệp trong ngành này” nhóm 4 chúng em hi vọng
có thể tìm hiểu sâu hơn về vấn đề an toàn vệ sinh lao động trong may mặc, chỉ rõnhững tác hại của nó và tìm ra các giải pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng, đáp ứngnhu cầu công nghiệp hóa- hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay
Nhóm 4 chúng em xin trân thành cảm ơn cô Bùi Thị Kim Thoa và thầy KiềuQuốc Hoàn- giảng viên bộ môn An toàn vệ sinh lao động đã nhiệt tình hướng dẫn,
Trang 4cung cấp cho chúng em đầy đủ kiến thức để chúng em có thể hoàn thành bài thảo luậnnày Rất mong nhận được những góp ý, nhận xét từ cô và thầy để bài thảo luận củachúng em hoàn thiện hơn
Trang 5Bệnh nghề nghiệp:
Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặcliên quan đến nghề nghiệp, do tác hại thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao độngxấu
Từ khi có lao động, con người đã chịu ảnh hưởng tác hại của nghề nghiệp và bịbệnh nghề nghiệp Trước Công nguyên, Hippôcrat (Hippocrate, 460 – 377TCN) đãphát hiện bệnh nhiễm độc chì Thế kỉ l, Pline đã phát hiện những ảnh hưởng xấu củabụi đến cơ thể người Thế kỉ II, Galien đã tả những bệnh mà công nhân mỏ mắc phải.Những thế kỉ sau đó đã phát hiện bệnh nhiễm độc thủy ngân và những bệnh nghềnghiệp khác
Vấn đề bệnh nghề nghiệp được pháp luật của tất cả các nước quan tâm với cácnội dung: ghi nhận danh mục bệnh và chế độ đối với người lao động bị bệnh nghềnghiệp Danh mục bệnh nghề nghiệp ở các nước khác nhau có thể khác nhau do trình
độ công nghệ và khả năng kinh tế xã hội của từng nước Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO) có một số công ước về bệnh nghề nghiệp, xếp bệnh nghề nghiệp thành 29 nhómvới hàng trăm bệnh nghề nghiệp khác nhau và bồi thường cho người lao động bị bệnhnghề nghiệp như Công ước số 18 (1925), Công ước số 142 (1934), Công ước số 121(1964)
Trang 6Tác hại nghề nghiệp:
Trang 7Là những yếu tố trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động có ảnh hưởng xấuđến sức khỏe và khả năng lao động của công nhân gây nên những rối loạn bệnh lýhoặc các bệnh nghề nghiệp đối với những người tiếp xúc
2 Các tác hại nghề nghiệp và biện pháp phòng tránh bệnh nghề nghiệp
2.1 Các tác hại nghề nghiệp liên quan đến tổ chức lao động không hợp lý
- Thời gian làm việc liên tục và quá lâu, làm việc liên tục không ngừng nghỉ, làmthông ca,…
- Cường độ lao động quá cao, không phù hợp với tình trạng sức khoẻ công nhân
- Chế độ làm việc nghỉ ngơi bố trí không hợp lý
- Làm việc với tư thế gò bó, không thoải mái như cúi khom, vặn mình, ngồi, đứnglâu,…
- Sự hoạt động khẩn trương, căng thẳng quá độ của các hệ thống và giác quan như
- Sự bất hợp lý trong việc sắp xếp lao động, sử dụng công cụ phương tiện lao độngkhông phù hợp với cơ thể về trọng lượng, hình dáng, kích thước …
2.2 Các tác hại nghề nghiệp liên quan đến quy trình sản xuất
Trang 8- Nghiêm cấm việc thay đổi thiết bị, thay đổi thao tác vận hành hoặc quá trìnhcông nghệ.
- Nghiêm cấm việc tự ý tháo dỡ các phương tiện che che chắn của các loại máymóc, thiết bị
- Nghiêm cấm việc tự ý sử dụng, thảo gỡ, đóng mở các thiết bị điện nếu khôngthuộc phạm vi trách nhiệm của mình
- Trong khi máy móc đang hoạt động, nếu phát hiện có điều bất thường cần phảibáo ngay với người quản lý để đảm bảo an toàn
- Nếu trong quá trình làm việc mà bị ốm, bệnh, cần xin phép người quản lý đểnghỉ ngơi, đảm bảo an toàn cho người và thiết bị
- Khi lấy hàng hóa phải sử dụng thiết bị nâng, máy nâng đứng quy trình, hướngdẫn Thường xuyên vệ sinh máy móc, thiết bị, chỗ làm gọn gàng
❖ Tác hại nghề nghiệp liên quan tới điều kiện vệ sinh kém
Ðó là trong điều kiện vệ sinh kém (độ thông thoáng trong môi trường, các thiết bị
vệ sinh và an toàn lao động…) tác động lên người lao động làm cho các giác quancũng như toàn thân nhanh chóng mệt mỏi làm giảm năng suất lao động, dễ gây các tainạn nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp
Trang 92.4 Các biện pháp phòng tránh bệnh nghề nghiệp
Biện pháp kỹ thuật giúp làm giảm các yếu tố độc hại như thiết kế nhà xưởng đảm
bảo thông gió, trang bị hệ thống làm mát hoặc hút bụi phù hợp, tăng cường sử dụngthiết bị máy móc hiện đại, thực hiện thay thế chất độc hại bằng chất ít độc hại hơn
Biện pháp y tế: tổ chức khám sức khỏe ngay khi tuyển dụng và định kỳ trong quá
trình làm việc để kịp thời phát hiện những trường hợp dễ mẫn cảm hoặc có dấu hiệumắc bệnh nghề nghiệp, khuyến khích và hỗ trợ người lao động điều trị trong trườnghợp mắc bệnh nghề nghiệp
Biện pháp cá nhân: thực hiện nghiêm ngặt trang bị bảo hộ cá nhân, tăng cường
giáo dục để người lao động nhận thức được tác hại của các tác nhân trong môi trườnglao động gây ảnh hưởng đến sức khỏe của mình và cộng đồng,…
NGHIỆP, BỆNH NGHỀ NGHIỆP TRONG NGÀNH MAY MẶC Ở VIỆT NAM
1 Khái quát chung về ngành may mặc
1.1 Thực trạng vệ sinh lao động trong ngành may mặc:
Hiện cả nước có khoảng 8.000 doanh nghiệp dệt may với các doanh nghiệp quy
mô vừa và nhỏ chiếm đa số, trong đó có hơn 4.000 doanh nghiệp nhỏ (dưới 200 laođộng) và siêu nhỏ (dưới 10 lao động) Lực lượng lao động ngành Dệt may rất lớn, thuhút hơn 2,5 triệu lao động, trong đó lao động trực tiếp là 1,5 triệu người, chiếm khoảng25% lao động của khu vực kinh tế công nghiệp và gần 13% tổng số lực lượng lao độngtoàn quốc (TCTK, 2016)
Mặc dù dệt may là ngành có lực lượng lao động lớn nhưng trên thực tế, vấn đề antoàn lao động và phòng chống các bệnh nghề nghiệp lại chưa được quan tâm đúngmức dẫn đến tỷ lệ công nhân ngành Dệt may bị mắc bệnh nghề nghiệp và gặp phải cácvấn đề về tai nạn lao động rất cao Kết quả khảo sát trên 1.000 công nhân may tuổi từ25-35 của Viện Vệ sinh Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh tại 3 doanh nghiệp ởBình Dương, thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai, có tới 93% công nhân mệt mỏi saulao động, trong đó 47% mệt mỏi toàn thân; 16,7% nặng đầu, nhức đầu; 15,1% kiệt sức;hơn 80% đau mỏi cơ, xương khớp tại thắt lưng, vùng cổ và bả vai (Phương Hà, 2012;
Trang 10Ngọc Tú, 2015)… Bệnh nghề nghiệp trong ngành Dệt may chủ yếu là bệnh bụi phổi
Trang 11bông, bệnh dãn tĩnh mạch chân Bên cạnh những căn bệnh này, tỷ lệ công nhân dệtmay mắc các bệnh viêm xoang, viêm mũi dị ứng, hen suyễn, viêm phế quản mạn tínhnghề nghiệp, viêm da, lãng tai, điếc nghề nghiệp… cũng rất cao Thông tư số07/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xếp ngành Dệtmay vào nhóm những ngành có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.Năm 2015, với sự hỗ trợ của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong khuôn khổ
dự án “Tăng cường tuân thủ tại nơi làm việc thông qua thanh tra lao động”, Thanh tra
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động ViệtNam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện chiến dịch thanh tra laođộng trong ngành Dệt may với 152 doanh nghiệp dệt may trên địa bàn 12 tỉnh, thànhphố trong cả nước với mục tiêu nắm bắt tình hình thực hiện pháp luật lao động tạidoanh nghiệp may, qua đó nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự tham gia tích cực củangười sử dụng lao động cùng với tổ chức công đoàn vào công tác cải thiện điều kiệnlàm việc và tăng cường tuân thủ pháp luật tại nơi làm việc
Nội dung của chiến dịch tập trung vào thanh tra việc chấp hành các quy định vềthời giờ làm việc, về tiền lương, tiền công và việc thực hiện các quy định về an toàn,
vệ sinh lao động cùng với các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc cho người laođộng Qua thanh tra đã phát hiện 1.786 sai phạm (trung bình 12 sai phạm/doanhnghiệp), các đoàn thanh tra lập 19 biên bản vi phạm hành chính để xử lý 19 doanhnghiệp với tổng số tiền xử phạt là 594 triệu đồng (BLĐTBXH, 2015)
Riêng đối với nội dung an toàn, vệ sinh lao động đã phát hiện hơn 1.000 saiphạm ở tất cả các doanh nghiệp được thanh tra Các sai phạm xuất hiện ở tất cả các nộidung được thanh tra và tập trung ở các nội dung như: công tác đào tạo, huấn luyện về
an toàn vệ sinh lao động cho các đối tượng đang làm việc tại doanh nghiệp; trang bị và
sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân của người lao động…
Trong số 152 doanh nghiệp được thanh tra có 90 doanh nghiệp người sử dụng laođộng không tham gia huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, 61 doanh nghiệp cán bộlàm công tác an toàn và 68 doanh nghiệp có người làm công việc có yêu cầu nghiêmngặt về an toàn lao động không tham gia huấn luyện an toàn vệ sinh lao động Theoquy định của pháp luật lao động, các đối tượng gồm người sử dụng lao động, cán bộlàm công tác an toàn và người làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao
Trang 12động (lao động thuộc nhóm I, II, III) phải được đào tạo, huấn luyện an toàn, vệ sinhlao động và định kỳ 2 năm một lần phải được huấn luyện lại Đối với lao động thuộcnhóm IV (những lao động không thuộc nhóm I, II, III và bao gồm cả người học nghề,tập nghề, thử việc) phải được đào tạo huấn luyện an toàn vệ sinh lao động lần đầu khiđược tuyển dụng và định kỳ huấn luyện lại ít nhất mỗi năm một lần Tuy nhiên, theokết quả thanh tra, có 87 doanh nghiệp không tổ chức huấn luyện an toàn lao động chongười lao động thuộc nhóm IV, trong đó 59 doanh nghiệp không tổ chức huấn luyệncho người học nghề và người mới được tuyển dụng
Hoạt động thanh tra cũng tập trung khoanh vùng rủi ro và chỉ ra những vi phạmđối với việc trang cấp và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động.Nguồn gốc của những sai phạm này có cả ở người sử dụng lao động và người laođộng, trong những vi phạm do lỗi của người sử dụng lao động thì có 44% là vi phạmtrong việc cung cấp (không trang bị và trang bị không đầy đủ về số lượng phương tiệnbảo vệ cá nhân theo quy định cho người lao động), 84% lỗi vi phạm của người laođộng là không sử dụng và sử dụng trang bị bảo vệ cá nhân không đúng mục đích côngviệc
Ngoài ra, còn có hơn 100 doanh nghiệp có sai phạm trong công tác lập kế hoạch
an toàn, vệ sinh lao động hàng năm như không xây dựng kế hoạch hoặc xây dựng kếhoạch an toàn lao động nhưng không đảm bảo các nội dung theo quy định, không thamkhảo ý kiến của đại diện người lao động hay tổ chức công đoàn khi xây dựng kếhoạch… 52 doanh nghiệp vi phạm trong công tác đo kiểm tra môi trường tại nơi làmviệc định kỳ hàng năm (37 doanh nghiệp không tổ chức đo, kiểm tra môi trường laođộng, 15 doanh nghiệp có tổ chức đo, kiểm tra nhưng không thực hiện các biện phápcải thiện điều kiện, môi trường làm việc)…
Những số liệu kết quả của chiến dịch thanh tra trên cho thấy các doanh nghiệpdệt may chưa thực sự quan tâm tới công tác an toàn, vệ sinh lao động, còn để xảy ranhiều sai phạm ở tất cả các khâu, các nội dung của công tác an toàn, vệ sinh lao động.Nguyên nhân của các vi phạm trên được nhận định là do tổng hợp của các yếu tố baogồm nguyên nhân từ phía người sử dụng lao động, nguyên nhân từ người lao động vànguyên nhân từ cơ chế chính sách pháp luật, quản lý của cơ quan nhà nước
Trang 13Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Còn hạn chế trong công tác tuyên truyền,phổ biến, hướng dẫn về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động dẫn đến tình trạng ngườilao động và người sử dụng lao động không nắm được hoặc nắm bắt không đầy đủ cácquy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; thêm vào đó, một số nội dung củapháp luật lao động về an toàn, vệ sinh lao động chưa có văn bản hướng dẫn đầy đủ, kịpthời dẫn đến doanh nghiệp không biết hoặc biết nhưng khó thực hiện đúng Các nộidung liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp có liên quan đến sự điềuchỉnh của nhiều luật khác nhau, thẩm quyền quản lý của các cơ quan quản lý khácnhau cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện Lực lượng thanh tra,kiểm tra an toàn, vệ sinh lao động còn ít trong khi số lượng doanh nghiệp lớn nên côngtác thanh tra không thực hiện được đầy đủ đối với tất cả các doanh nghiệp, vì vậynhiều doanh nghiệp vi phạm nhưng không bị xử lý dẫn đến tình trạng vi phạm kéo dài
và ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động
Đối với người sử dụng lao động do nhận thức còn hạn chế, chưa quan tâm đếnquyền lợi của người lao động, chưa tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật về lao động, cácquy định về công tác an toàn, vệ sinh lao động nên công tác an toàn, vệ sinh lao độngđược thực hiện tại doanh nghiệp chỉ mang tính hình thức và nhằm đối phó với đoànkiểm tra, thanh tra Mặt khác, hiện nay các doanh nghiệp dệt may cũng còn rất nhiềukhó khăn về vốn, công nghệ…, đa số các doanh nghiệp dệt may có quy mô nhỏ chủyếu sản xuất cung ứng cho thị trường trong nước có tính cạnh tranh cao về giá, vì vậydoanh nghiệp chỉ quan tâm đến những gì cần ngay trước mắt phục vụ cho sản xuất,kinh doanh thu lợi nhuận mà chưa chú ý đến các chính sách về pháp luật an toàn, vệsinh lao động Hậu quả là doanh nghiệp không nắm được các quy định của pháp luật
để thực hiện hoặc nắm được nhưng không đầy đủ dẫn đến thực hiện sai
Ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động cũng chưa tốt, doanhnghiệp nắm được các quy định của pháp luật về lao động nhưng để tiết kiệm chi phínên cố tình không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định về trang cấpthiết bị bảo hộ cho người lao động, bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động,không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, không đo kiểm môi trường laođộng tại nơi làm việc hoặc không sử dụng các biện pháp cải thiện môi trường lao độngsau khi đã có kết quả đo kiểm… Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác an toàn, vệ
Trang 14sinh lao động tại các doanh nghiệp dệt may hầu hết là kiêm nhiệm, không phải làchuyên ngành kỹ thuật nên dẫn đến tình trạng một số vi phạm trong công tác an toàntại hiện trường sản xuất như vi phạm an toàn điện, vi phạm an toàn thiết bị nâng, thiết
bị áp lực…
Người lao động ngành Dệt may còn hạn chế về nhận thức các quy định của phápluật an toàn, vệ sinh lao động Họ không biết hoặc không nắm được đầy đủ các quyđịnh của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động nên không thể đề xuất, kiến nghị vớingười sử dụng lao động để đảm bảo doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định củapháp luật, hoặc người lao động biết các quy định của pháp luật nhưng đồng ý thoảthuận với người sử dụng lao động không thực hiện để được làm việc tại doanh nghiệp.Đặc biệt đối với các công nhân may, do trình độ văn hóa còn thấp nên phần lớn côngnhân không biết được những quyền lợi mà pháp luật lao động quy định Một số ngườilao động không sử dụng phương tiện bảo hộ đã được cung cấp vì họ cho rằng chúnggây vướng víu trong các thao tác hoặc gây nóng bức, khó chịu…
Việc người sử dụng lao động chưa quan tâm, thiếu giải pháp, người lao độngthiếu kiến thức, hiểu biết về an toàn, vệ sinh lao động dẫn đến việc không lường trướcđược các mối nguy hại tiềm ẩn như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ô nhiễm môitrường… có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà hậu quả là rất lớn, gây thiệt hại không chỉ vềcon người, kinh tế mà còn vi phạm pháp luật…
1.2 Thực trạng về tác hại nghề nghiệp trong ngành may:
Ghế ngồi cho công nhân may chưa phù hợp với các nguyên tắc của Ecgonomi :ghế bằng gỗ cứng, không có tựa lưng, không điều chỉnh được chiều cao Tạo ra nguy
cơ cao đau thắt lưng cho công nhân khi phải ngồi liên tục, kéo dài
Cường độ lao động rất cao và thời gian lao động kéo dài, không có các khoảngthời gian nghỉ ngắn trong suốt ca lao động tạo nguy cơ căng thẳng, mệt mỏi và rối loạn
cơ xương cho người lao động
Môi trường lao động tại các phân xưởng may vào các thời điểm khảo sát tồn tạichủ yếu là gánh nặng nhiệt (vi khí hậu nóng) nhất là vào buổi chiều và mùa khô Dễgây “stress nhiệt” cho người lao động
Bất kỳ bụi nào phát sinh trong quá trình xử lý và chế biến bông thông qua quátrình dệt hoặc đan vải, bụi trong các hoạt động sản xuất sử dụng bông thô hoặc bông
Trang 15phế thải, các sản phẩm phụ từ sợi bông, từ các nhà máy dệt cũng được coi là bụi bông.Việc người lao động tiếp xúc với môi trường đầy bụi bông thường xuyên sẽ gặp phảichứng rối loại hô hấp như ho, khó thở, tức ngực, nguy hiểm hơn là nhiễm trùng đườnghuyết hay các bệnh về da liễu như dị ứng, viêm loét da, móng,
Do hàng ngày phải làm việc trong môi trường tiếng ồn từ máy móc, với mức độ
âm thanh vượt quá tiêu chuẩn nên thính lực cũng bị ảnh hưởng dẫn đến người lao động
dễ mắc bệnh điếc
1.3 Thực trạng về bệnh nghề nghiệp trong ngành may:
Nhận xét chung: Có sự tăng rõ rệt của tần số nhịp tim, tăng huyết áp tối đa và tốithiểu, tăng thời gian thực hiện và số lỗi mắc khi thực hiện nghiệm pháp Platonop vàothời điểm sau lao động so với trước lao động Tất cả những thay đổi này có ý nghĩathống kê (p <0,05) Tỷ lệ stress nghề nghiệp là khá cao với tỉ lệ chung của công nhânmay là 71% và có mối liên quan giữa độ tuổi, và thâm niên công tác với tình trạngstress nghề nghiệp (p < 0,001) Tỷ lệ rối loạn cơ xương nghề nghiệp chung của cả bacông ty là 83% Trong đó tỉ lệ RLCX ở nhóm công nhân lao động trực tiếp trong cácdây chuyền may công nghiệp là 86% chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm lao động gián tiếp với
tỉ lệ 73% Có mối liên quan giữa thâm niên công tác và rối loạn cơ xương nghề nghiệp(p<0.05) Tỷ lệ stress nghề nghiệp là khá cao với tỉ lệ chung của công nhân may là71% và có mối liên quan giữa độ tuổi, và thâm niên công tác với tình trạng stress nghềnghiệp (p < 0,001) Tỷ lệ rối loạn cơ xương nghề nghiệp chung của cả ba công ty là83% Trong đó tỉ lệ ở nhóm công nhân lao động trực tiếp trong các dây chuyền maycông nghiệp là 86% chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm lao động gián tiếp với tỉ lệ 73% Có mốiliên quan giữa thâm niên công tác và rối loạn cơ xương nghề nghiệp (p < 0,05)
Đối tượng khảo sát Tần số nhịp tim
Trước lao động Sau lao động pTrung
bình
ĐLC Trung
bình
ĐLCCông nhân may 74.5 0.58 85.9 0.70 < 0.05Gián tiếp 75.6 0.48 80,6 0.40 < 0.05
Trang 16tieuluanmoi123docz.net