1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ tịch hồ chí minh tiếp thu và phát huy tinh hoa văn hoá phương đông với quá trình hình thành và phát triển tư tưởn

42 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ Tịch Hồ Chí Minh Tiếp Thu Và Phát Huy Tinh Hoa Văn Hóa Phương Đông Với Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Tư Tưởng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2007
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiến trình ấy, takhông thể nào quên những con người lỗi lạc mà sự đóng góp của họ không chỉlàm thay đổi tâm thức của một dân tộc mà còn góp phần đổi mới văn hoá thếgiới vì quyền lợ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Hiện nay đâu đâu cũng bàn đến văn hoá Trong hoàn cảnh của một thếgiới mở cửa, văn hoá được mọi người chú ý, tầm quan trọng của văn hoá đượcnâng lên hàng đầu UNESCO thừa nhận văn hoá là cội nguồn trực tiếp củaphát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội nhưngngày nay “nền văn hoá đang suy thoái tới mức có thể bị diệt vong” Vì vậy, tổchức này đã phát động một thập kỷ văn hoá và những nhà tri thức đang tìmmọi cách sử dụng văn hoá để góp phần tạo nên một thế giới phúc lợi cho toànthể loài người vượt qua các hàng rào đã được dựng lên bởi sự phân chia chủngtộc, bởi lý thuyết cạnh tranh sinh tồn, lý thuyết Đại Đông Á, cũng như lýthuyết Đimônô về nguy cơ của chủ nghĩa cộng sản Trong tiến trình ấy, takhông thể nào quên những con người lỗi lạc mà sự đóng góp của họ không chỉlàm thay đổi tâm thức của một dân tộc mà còn góp phần đổi mới văn hoá thếgiới vì quyền lợi của những người lao động - Hồ Chí Minh là một người nhưvậy

Không phải ngẫu nhiên mà khi thừa nhận Hồ Chí Minh là danh nhânvăn hoá thế giới, UNESCO khẳng định “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết tinh cáctruyền thống văn hoá trải qua mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam” và

“những lý tưởng của Người là hiện thân những khát vọng của nhân dân cácnước trong việc khẳng định diện mạo văn hoá của mình và tiêu biểu cho sựhiểu biết lẫn nhau…” Bác Hồ kính yêu của chúng ta không chỉ để lại cho dântộc một sự nghiệp cách mạng vẻ vang chưa từng có trong lịch sử, mà qua

“cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hi sinh, vô cùng cao thượng và phong phú,

Trang 2

vô cùng trong sáng và đẹp đẽ” của mình, Người còn để lại cho toàn Đảng,toàn dân ta một di sản cao quý, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất, đạođức của người cách mạng, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâmhồn, ý chí, nhân cách của dân tộc và của loài người

Điều gì đã làm nên một con người kiệt xuất trong lịch sử như vậy? Gópphần vào một trong nhiều nguyên nhân làm nên sự vĩ đại ấy là tinh hoa vănhoá phương Đông - một nền văn hoá đặc sắc mang đậm tính nhân văn, nhânđạo cao cả

Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài: Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu

và phát huy tinh hoa văn hoá phương Đông với quá trình hình thành và phát triển tư tưởng

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Từ trước đến nay đã có rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này, tuynhiên, trong các tác phẩm như: Hồ Chí Minh với Phật giáo, Hồ Chí Minh vớiNho giáo, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Bản sắc văn hoá Việt Nam,… hay một sốtạp chí khác, vẫn chưa nêu lên một cách hệ thống, cụ thể và trọn vẹn về vấn đềnày Vì thế, việc nghiên cứu đề tài mong muốn được góp phần hệ thống hoá

và làm rõ hơn sự tiếp thu, phát huy tinh hoa văn hoá phương Đông của Hồ ChíMinh và những dấu ấn để lại của nó trong cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch

Hồ Chí Minh

3 Mục đích vấn đề nghiên cứu.

Đề tài đi vào nghiên cứu các giá trị văn hoá phương Đông, những ảnhhưởng của nó với người Việt Nam Từ đó, tìm hiểu sâu sự tiếp thu phát huycủa Hồ Chí Minh trong từng giai đoạn lịch sử với quá trình hình thành và pháttriển tư tưởng Hồ Chí Minh Cuối cùng, hi vọng đề tài sẽ là tài liệu nghiên cứu

bổ ích cho việc học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như cho các độc giảyêu thích tìm hiểu người con vĩ đại của dân tộc

2

Trang 3

4 Giới hạn thời gian nghiên cứu:

Từ ngày 5-1-2007 đến ngày 25-1-2007

5 Bố cục đề tài.

Đề tài có 3 phần: Phần mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dunggồm 2 chương lớn, trong đó:

Chương 1: Giá trị văn hoá phương Đông và những ảnh hưởng của nó

đối với Việt Nam

Chương 2: Hồ Chí Minh tiếp thu và phát huy tinh hoa văn hoá phương

Đông

6 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thanh đề tài này, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp: phươngpháp tổng hợp, phân tích, lô gíc, lịch sử, so sánh, thống kê …

Để hoàn thành đề tài này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong khoa tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các bạn đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: GIÁ TRỊ VĂN HOÁ PHƯƠNG ĐÔNG VÀ NHỮNG ẢNH

HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM.

I Mội số khái niệm:

1 Khái niệm về văn hóa.

Trên thế giới, có hàng trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau Cho đếnnay chưa có một định nghĩa thống nhất về văn hóa Tuy nhiên, trong phạm vi

đề tài này tôi xin được nêu ra định nghĩa về văn hóa khá phổ biến hiện nay:

“Văn hóa là toàn bộ những giá trị về mặt vật chất và tinh thần, do loài

người tạo ra trong quá trình của thực tiễn xã hội và lịch sử” (trích từ điển

chính trị)

Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh cũng đã nêu ra khái niệm về văn hóa như sau:

“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sángtạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở vàcác phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vănhóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với nhữngbiểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầuđời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”

2 Phương Đông và văn hóa phương Đông.

Phương Đông gồm châu Á và châu Phi; nếu trừ ra một vùng đệm nhưmột dải đường chéo chạy dài ở giữa từ Tây - Nam lên Đông - Bắc thì phươngĐông điển hình sẽ là khu vực Đông - Nam còn lại

4

Trang 5

Môi trường sống của cư dân phương Đông là xứ nóng sinh ra mưa nhiều,tạo nên các con sông lớn với những đồng bằng trù phú thích nghi để phát triểnnghề trồng trọt Con người phương Đông coi trọng tính cộng đồng

Văn hóa phương Đông là một nền văn hoá đặc sắc với những giá trị vănhóa tốt đẹp mãi mãi được nhắc đến và đã trở thành những chuẩn mực sống, lýtưởng sống cho nhân loại Đặc trưng văn hóa phương Đông là sự dung hoàgiữa các nền văn hóa tiêu biểu của nhân loại

II Văn hóa phương Đông với người Việt Nam.

Một cộng đồng cư dân không chỉ sống trong quan hệ với tự nhiên màcòn phải quan hệ với các dân tộc xung quanh - đó là môi trường xã hội Tronglĩnh vực ứng xử với môi trường xã hội, với vị trí ngã tư đường của các nền vănminh, người Việt Nam đã tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá nhân loại: tiếp thuvăn hoá Ấn Độ theo cách của mình ta có nền văn hóa Chăm độc đáo và nềnPhật giáo Việt Nam Tiếp thu văn hóa Trung Hoa, ta có Nho giáo và Đạo giáo.Đặc trưng nổi bật của quá trình giao lưu văn hóa nhiều thế kỷ này là tính tổnghợp - dung hợp - tích hợp Với tinh thần bao dung, hiếu hoà cùng tính tổng hợp,linh hoạt của người Việt Nam đã chi phối quá trình tiếp thu ấy như thế nào?

1 Phật giáo và văn hóa Việt Nam.

1.1 Sự hình thành và nội dung cơ bản của Phật giáo

Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ VI Tr.CN; người sánglập là Thái tử Silharta (Tất-đạt-đa) Ông sinh năm 624 Tr.CN, vào lúc ở Ấn

Độ đạo Bàlamôn đang thống trị với sự phân chia đẳng cấp sâu sắc trong xãhội Nỗi bất bình của Thái tử về sự phân chia đẳng cấp, kỳ thị màu da và đồngcảm với những khổ đau của muôn dân là những nguyên nhân dẫn tới sự hìnhthành của một tôn giáo mới

Trang 6

Thực chất của đạo Phật là học thuyết về những nỗi khổ và sự giải thoát.Đức Phật từng nói: “Ta chỉ dạy một điều: khổ và diệt khổ” Cốt lõi của họcthuyết này là tứ diệu kế (bốn chân lý kì diệu) hay tứ thánh đế (bốn chân lýthánh):

- Khổ đế: Là chân lý về bản chất của nỗi khổ Khổ là gì? Đó là trạngthái buồn phiền phổ biến ở con người do sinh, lão, bệnh, tử, do mọi nguyệnvọng không được thoả mãn

- Nhân đế: Chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ Đó là ái dục (hammuốn) và vô mưu (kém sáng suốt) Dục vọng thể hiện hành động gọi làNghiệp: hành động xấu khiến con người phải nhận hậu quả của nó (nghiệpbáo), thành ra cứ luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra được

- Diệt đế: Là chân lý về cảnh giới diệt khổ Nỗi khổ sẽ được tiêu diệtkhi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn(nghĩa là không ham muốn, dập tắt) Đó là thế giới của sự giác ngộ và giảithoát

- Đạo đế: Chân lý chỉ ra con đường diệt khổ Con đường diệt khổ, giảithoát và giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức, tư tưởng và khai sáng trí tuệ

Sau khi đức Phật tạ thế (năm 554 Tr.CN), do sự bất đồng ý kiến, các đệ

tử của Người chia ra làm hai phái: Phái thượng toạ theo xu hướng bảo thủ, chủtrương bám sát kinh điển; Phái đại thừa chủ trương không cố chấp theo kinhđiển, khoan dung đại lượng trong thực hiện giáo luật, thu nạp tất cả những aimuốn quy y

1.2 Quá trình thâm nhập và phát triển của phật giáo ở Việt Nam

Theo đường biển, các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu côngnguyên khoảng từ năm 187-189 Buổi đầu Phật giáo Việt Nam mang mầu sắcShiva giáo - gắn với phù chú cầu xin tài lộc, phúc thọ hơn là tu hành thoát tục.Tính đời lại cao hơn tính đạo, trong quần chúng tín đồ đa số là phụ nữ - những

6

Trang 7

người khổ đau nhất của xã hội cũ Đồng thời Phật giáo Trung Quốc cũng đếnnước ta, nó phát triển tới mức cực thịnh vào thời Lý - Trần, hoạt động phậtgiáo sôi nổi khắp hang cùng ngõ hẻm, làng nào cũng có chùa có tháp Chùalàng một thời đóng vai trò là trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng làng

xã Cho đến nay, Phật giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất Việt Nam

1.3 Những đặc điểm của phật giáo Việt Nam

 Tính tổng hợp - Đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp cũng là đặctrưng nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam Ngoài việc tổng hợp chặt chẽ vớicác tôn giáo khác, Phật giáo Việt Nam còn kết hợp chặt chẽ giữa việc đạo vớiviệc đời, các phật tử Việt Nam hăng hái tham gia vào những hoạt động xã hội,tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh đòi hoà bình, độc lập, dân tộc, dânchủ

 Đặc trưng nổi bật thứ hai của Phật giáo Việt Nam là khuynh hướnghài hoà âm dương, thiên về nữ tính và có tính linh hoạt Vốn có đầu óc thiếtthực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức hơn là đi chùa (thứ nhất là

tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa), coi trọng truyền thống thờ ông bàcha mẹ, đức Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng truyềnthống, cầu mong sự ban lộc, ban phúc cho con người… Cùng với sự thốngnhất về ý thức tư tưởng và đoàn kết dân tộc là bản chất cố hữu, là sự sống còn

cả dân tộc, đã uốn Phật giáo ở Việt Nam theo đường lối hoà hợp với truyềnthống và phong tục Việt Nam

Có thể nói, nếu không có những hoạt động phật giáo lịch đại, thì chúng

ta mất đi hơn nửa di tích và danh lam thắng cảnh mà hiện nay ta tự hào Sẽkhông có chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp, sầm uất trong suốt ngày trẩy hội đầuxuân, không có chùa Tây Phương vời vợi, không có chùa Yên Tử mây mù,

Trang 8

Giang, … Và cũng không có những chuyện dân gian đầy tính nhân bản nhưtruyện Từ Thức, truyện Quan Âm Thị Kính… Không có những lễ hội tưngbừng như hội Lim và trong tâm tư truyền thống, cũng vắng tư tưởng bố thí vịtha, lòng hướng thiện và một niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng, vắngmột tinh thần lạc quan ngây thơ Tuy nhiên, Phật giáo cũng đã gieo rắc tư tưởngcầu xin sự cứu vớt và một phần tư tưởng mê tín trong không gian lâu đời.

2 Nho giáo và văn hóa Việt Nam.

2.1 Sự hình thành và nội dung cơ bản của Nho giáo

Nho giáo là hệ thống giáo lý của các nhà Nho nhằm tổ chức xã hội cóhiệu quả Những cơ sở của nó được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt là với

sự đóng góp của Chu Công Đán Đến lượt mình, Khổng Tử phát triển tư tưởngcủa Chu Công, hệ thống hoá lại và tích cực truyền bá, vì vậy ông thường đượcxem là người sáng lập Nho giáo

Sách kinh điển của Nho giáo gồm hai bộ: Tứ thư và Ngũ kinh Trong

đó, Khổng Tử đã gia công san định, hiệu đính và giải thích Sau khi Khổng Tửmất, Mạnh Tử là người học trò bảo về xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử

Nét chủ yếu của học thuyết Nho giáo được tóm gọn trong chín chữ: tuthân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Nho giáo quan niệm rằng để tổ chức xã hộiđiều cốt lõi là đào tạo cho được người quân tử Để trở thành người quân tử,trước hết phải tu thân- phải đạt đạo, biết cách ứng xử trong cuộc sống, có đạođức, có một vốn văn hóa toàn diện Tu thân rồi phải biết hành động, kim chỉnam cho hành động là nhân trị Khổng Tử đã từng nói: “điều gì mà mìnhkhông muốn thì làm cho người khác”, “mình muốn lập thân thì phải giúpngười khác lập thân, mình muốn thành đạt phải giúp người khác thành đạt”

Như vậy, Nho giáo là một học thuyết đạo đức chính trị chủ trương conngười sống có trách nhiệm, thương yêu nhau, vì đời cứu đời Phương sách cứu

8

Trang 9

đời của Nho giáo là xây dựng một xã hội hoà mục, ổn định, trật tự giống nhưmột gia đình êm ấm, trên dưới thuận hoà Nho giáo đề cao chữ nhân, với lốisống trọng tình nghĩa, coi trọng nhân dân (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vikhinh), nêu cao tinh thần dân chủ, coi trọng văn hóa tinh thần, đề cao nhữngmệnh đề “trung - hiếu”, “tứ hải gia huynh đệ”, nêu phương châm “khắc kỷphục lễ”

Sau này triều Hán, muốn bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa suốt 2000năm lịch sử, Nho giáo đã được cải tạo, biến đổi một cách cơ bản, loại bớt mâuthuẫn, biến nó thành công cụ để cai trị thực tiễn và phục vụ cho vương triều

Bên cạnh những mặt tích cực của Nho giáo, học thuyết của Không Tửkhông tránh khỏi những mâu thuẫn: trong khi trên cơ sở lý thuyết ông đề caotinh thần dân chủ, bình đẳng thì khi bàn về những vấn cụ thể, ông lại tỏ ramiệt thị dân chúng (dân chúng có thể khiến họ theo nhưng không thể giảng họhiểu được), miệt thị phụ nữ (chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân thì khó dạy, gần thì

họ nhờn xa thì họ oán) Và khi học thuyết ấy là công cụ trong tay chế độchuyên chế thì nó đã biến trung nghĩa thành cái cản trở cho tinh thần đấu tranhchống áp bức tàn bạo Nho giáo đề cao văn hiến, lễ nhạc, đề cao việc họcnhưng chỉ chú ý đến văn và sử, coi thường khoa học và kỹ thuật Lối giáo dụccủa Nho giáo không kích thích khả năng tư duy của con người, không trang bịcho con người tính độc lập tự chủ, sống dựa vào nghề nghiệp, thích sống bằngdanh vị, không dễ chấp nhận cải cách để tiến bộ Trên con đường đi lên chủnghĩa xã hội, lên thế giới hiện đại Nho giáo cản trở việc dân chủ hoá, cản trở

sự tiến bộ xã hội

Trang 10

2.2 Quá trình thâm nhập phát triển và những đặc điểm của Nho giáo Việt Nam.

Nho giáo được các quan lại Trung Hoa ra sức truyền bá vào Việt Nam

từ đầu công nguyên Tuy nhiên suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáochưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam Đến năm 1070, với sự kiện LýThánh Tông cho lập văn miếu thờ Chu Công, Khổng Tử mới có thể xem Nhogiáo được chính thức tiếp nhận Vào triều Lê, Nho giáo trở thành quốc giáocủa Việt Nam

Nét độc đáo của văn hóa Việt Nam là khi tiếp thu văn hóa ngoại lại, nótiếp nhận từng yếu tố riêng lẻ và hạt nhân hoá để rồi cải tạo lại theo cách củariêng mình Nho giáo Việt Nam là một hệ thống như vậy

Nhà nước Việt Nam chủ động tiếp Nho giáo để thích hợp cho việc tổchức và quản lý đất nước Có nhiều yếu tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã

bị biến đổi cho phù hợp truyền thống văn hóa dân tộc Chữ nghĩa có thể vẫnthế nhưng cách hiểu đã khác nhiều: ví dụ Nho giáo muốn tạo nên một xã hội

ổn định, tuy nhiên ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo

để giữ yên ngai vàng (giữ ổn định trong đối nội) còn với bên ngoài thì luônchủ trương bành trướng, xâm lăng (phát triển đối ngoại) Đối với Việt Namnhu cầu duy trì sự ổn định, không xáo trộn là một truyền thống lâu đời khôngchỉ có ở nhân dân mà ở cả triều đình, không chỉ trong đối nội mà cả đối ngoại.Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng phải thực hiện đều mang tính

tự vệ Một vấn đề khác ta có thể thấy rõ hơn đó là Nho giáo Trung Hoa coitrọng tư tưởng “trung quân”, còn tư tưởng yêu nước thì không được đề cậpđến Trong khi đó ở Việt Nam, tiếp thu tư tưởng “trung quân” Nho giáo trên

cơ sở tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có, khiễn cho cái trung quân

đó đã bị biến đổi và gắn liền với ái quốc Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa vua vàđất nước, dân tộc thì đất nước dân tộc là cái quyết định

10

Trang 11

Sở dĩ Nho giáo đã được Việt Nam dỡ ra, cải biến cho phù hợp với hoàncảnh và truyền thống của mình, rồi cấu trúc lại một cách tài tình như thế là vìgiữa Nho giáo Trung Hoa và văn hóa Việt Nam vốn có những nét tương đồng.Như vậy, Nho giáo Việt Nam đã góp phần củng cố trật tự xã hội củng cố tìnhlàng nghĩa xóm, tạo ra trong nhân dân truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo,quý trọng văn hóa, sống nhân nghĩa,… Sau 2000 năm tồn tại, có thể nói không

có một dấu vết nào của văn hóa Việt Nam không mang một biểu hiện có thểxem là có tính chất Nho giáo dù đó là văn học, chính trị, phong tục, nghi lễ,nghệ thuật, tín ngưỡng Cũng không có một người Việt Nam nào dù chống Nhogiáo đến đâu mà lại không chịu ảnh hưởng của Nho giáo Trần Đinh Hựu đã nóirất đúng khi viết trong “Đến hiện đại từ truyền thống” rằng “chính những người

đả kích Nho giáo giữ dội nhất lại rất Nho”

3.Đạo giáo và văn hoá Việt Nam.

3.1.Sự hình thành và nội dung cơ bản của Đạo giáo

Đạo giáo được hình thành trong phát triển nông dân khởi nghĩa vùngNam Trung Hoa vào thế kỷ II SCN, cơ sở lý luận của nó là Đạo gia- Học thuyết

do Lão Tử đề xướng và Trang Tử hoàn thiện (học thuyết Lão Trang)

Theo Lão Tử thì triết lý sống tối ưu là muốn làm việc gì phải đi từ đặcđiểm đối lập, phải vô vi( không làm) Vô vi không có nghĩa là hoàn toànkhông làm gì, mà là hoà nhập với tự nhiên, đừng làm gì thái quá Với thuyết tutiên và luật phong thuỷ, học thuyết Lão- Trang chủ trương chống lại mọi chínhtrị, bất kể nó tốt hay xấu, nhưng vì nó là sự can thiệp của con người vào cuộcđời nhân dân nên cần chống lại Đây không phải chống lại tích cực mà là tiêucực, rút lui vào núi ở ẩn Đạo giáo còn đề cao lối sống coi nhẹ hình thức

Trang 12

3.2.Sự thâm nhập và phát triển của Đạo giáo ở Việt Nam.

Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ II, trong khi Nho giáochưa tìm được chỗ đứng ở Việt Nam thì Đạo giáo đã tìm thấy ngay nhữngtương đồng có sẵn từ lâu, đó là niềm tin vào giới siêu nhiên của con người Mặtkhác, thuyết vô vi của Đạo giáo, sẵn mang trong mình tư tưởng phản kháng giaicấp thống trị, Đạo giáo đã được người dân sử dụng làm vũ khí chống lại kẻthống trị như phong kiến phương Bắc, thực dân Pháp xâm lược Cũng suất phát

từ tư tưởng ấy mà sinh ra khuynh hướng ưa thanh tịnh, nhàn lạc

Ở Việt Nam, Đạo giáo như một thứ tôn giáo đã lụi tàn từ lâu Dấu vếthoạt động cuối cùng của nó là sự kiện một nhóm tín đồ xuất bản vào năm

1933 ở Sài Gòn một bộ sách mang tên “ Đạo giáo” gồm 3 tập Đến nay, nhữnghiện tượng như đồng bóng, đội bát nhang, bùa chú,… tuy vẫn lưu truyềnnhưng chúng chỉ là những di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống màthôi

Tiểu kết

Từ sự kết hợp chặt chẽ giữa tính tổng hợp và linh hoạt đã tạo nên tínhdung hợp truyền thống Việt Nam, khiến cho tôn giáo vào trước mở rộng cửađón nhận tôn giáo vào sau, tạo nên một sự hoà hợp rộng rãi Ngay từ đầu côngnguyên, Phật giáo đã được tín ngưỡng cổ truyền vui vẻ tiếp nhận Đạo giáo, rồitất cả cùng tiếp nhận Nho giáo, tạo thành quan niệm tam giáo đồng nguyên

Sự dung hoà “tam giáo” là một thực thể hình thành một cách tự nhiên trongtình cảm và việc làm của người dân Việt Nam, bởi Nho giáo thì lo tổ chức xãhội quy củ, Đạo giáo lo thể xác con người sao cho mạnh khoẻ, Phật giáo lotâm linh con người sao cho thoát khổ Như vậy, sự dung hợp diễn ra không chỉgiữa từng tôn giáo ngoại sinh với tín ngưỡng bản địa, giữa các tôn giáo ngoại

12

Trang 13

sinh đã được bản địa hoá với nhau mà ở mức độ cao hơn, người Việt Nam đãhoà chung tất cả với nhau thành một khối thống nhất Cũng chính nhờ sự tíchhợp và kế thừa liên tục đã làm cho văn hoá Việt Nam trở thành một sức mạnhlớn lao tập hợp được dân tộc trong tình đoàn kết vững chắc, biết ứng sử khéoléo với tự nhiên, luôn luôn chiến thắng những thế lực thù địch mạnh hơn mìnhgấp bội Truyền thống là ổn định còn hiện tại là phát triển, sức mạnh văn hoábốn ngàn năm đó cũng chính là động lực cho sự phát triển của xã hội ngàyhôm nay.

Trang 15

Chương 2: HỒ CHÍ MINH TIẾP THU VÀ PHÁT HUY TINH HOA VĂN

HOÁ PHƯƠNG ĐÔNG

Nói về thái độ của mình đối với một số học thuyết tôn giáo, người viết:

“Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhânTôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm la phương pháp làm việc biện chứng

Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp vớiđiều kiện nước ta

Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểmchung đó sao? Họ đều muốn: “Mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợicho xã hội” Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ,tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những ngườibạn thân thiết

Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”

Lời nói trên đây chúng minh Hồ chủ tịch đã biết kế thừa có phê phán,chọn lọc mọi tinh hoa văn hoá nhân loại để làm giàu cho tư tưởng của mình

Trang 16

Vậy Hồ Chí Minh đã đến với các dòng tư tưởng lớn phương Đông nhưthế nào, đã tiếp thu có chọn lọc và vận dụng sáng tạo ra sao?

I Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo với Hồ Chí Minh.

Ngay từ thuở ấu thơ - tuổi của sự hình thành nhân cách, Hồ Chí Minh

đã được học chữ Hán với những nhà Nho yêu nước, tiếp thu triết lý và đạođức Khổng - Mạnh qua các tác phẩm kinh điển Nho giáo, đã được sống trongnền nếp gia phong của gia đình nội ngoại, chịu ảnh hưởng của vùng quê NghệTĩnh nghèo nhưng hiếu học và yêu nước, nổi tiếng là quê hương của nhiều anhhùng dân tộc, văn nhân, hào kiệt trong lịch sử Người cũng đã từng sống ở kinhthành Huế, nơi ngự trị của vua chúa phong kiến nhà Nguyễn vốn sùng bái Nhogiáo - thấy rõ tính chất thủ cựu, ươn hèn của chúng và cảm nhận sâu sắc tấmlòng nhân ái, nghĩa tình của người dân xứ Huế

Kiến thức Hán học mà người tiếp thu được từ nhỏ đã ăn sâu vào trí nhớ,

để lại những dấu ấn sâu sắc về tư tưởng, tình cảm đến mức mãi sau này Ngườivẫn có thể làm thơ bằng chữ Hán, tiêu biểu là tập thơ nổi tiếng Nhật ký trong

tù Cụ Đào Phan có lý khi viết rằng: “Tầm uyên bác của Hồ Chí Minh về đạoNho và chữ Hán được biểu thị qua “Ngục trung nhật ký” ắt chỉ có một sự xuất

xứ là nền giáo dục ngay trong gia đình nhà Nho, mang sự xuất thân nhà Nhocủa Người” Vì vậy, không có gì lạ trong nhiều bài nói và viết của mình,Người đã từng sử dụng có cải biên các khái niệm, các mệnh đề tích cực củaNho giáo để diễn đạt tư tưởng của mình

Như đã nói ở chương 1, do đặc điểm, truyền thống của con người ViệtNam mà khi Nho giáo vào nước ta thì đã bắt gặp chủ nghĩa yêu nước - dònglưu chảy cơ bản của tư tưởng Việt Nam, hình thành nên một trào lưu Nho giáoyêu nước, một thứ Nho giáo đã Việt Nam hoá Đi sâu phân tích tư tưởng của

16

Trang 17

các sĩ phu yêu nước thì thực chất đó là một chủ nghĩa yêu nước Việt Namthấm đượm ở trình độ nào đó tinh thần và nội dung của Nho giáo.

Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành được học tập chữ Hán với cácthầy vốn là những nhà Nho yêu nước Đạo đức Nho giáo thấm vào tư tưởng,tình cảm của Người không phải là những giáo điều “Tam cương”, “Ngũthường” nhằm bảo vệ tôn ti trật phong kiến mà là tinh thần nhân nghĩa, đạo tuthân, sự ham học hỏi, đức tính khiêm tốn, ôn hoà, cách xử thế có tình có lý,…

Năm 1911 rời đất nước ra đi, Hồ Chí Minh mang cốt cách của conngười Việt Nam truyền thống yêu nước, cùng với cốt cách của con người đượcđào tạo từ tấm bé trong gia đình và nhà trường Nho giáo yêu nước, đồng thờimang cả cốt cách của người thanh niên tiểu trí thức “Tây học” vừa đến độ tuổimười tám, đôi mươi, đã trực tiếp tham gia phong trào yêu nước, sẵn sàng hysinh tất cả vì Tổ quốc và nhân dân Như vậy, với sự ảnh hưởng sâu đậm trongthời niên thiếu, Nho giáo là một bộ phận cấu thành rất quan trọng của tư tưởng

và cốt cách ấy Ở Hồ Chí Minh, các yếu tố tích cực của Nho giáo đã hoà vàochủ nghĩa yêu nước và được chắt lọc dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác –Lênin

Khổng học đưa lại cho Nguyễn Ái Quốc một số yếu tố sau này phù hợpvới sự lựa chọn Macxít của Người: “Chủ nghĩa duy lý, niềm tin vào giáo dục,cải tạo con người, đề cao đạo đức xã hội và thực tiễn”

Hồ Chí Minh đánh giá cao Khổng Tử, đã từng gọi ông là “Khổng Tử vĩđại” và nhận xét rằng: “Học thuyết Khổg Tử có cái hay là chú trọng tu dưỡngđạo đức cá nhân” Hồ Chí Minh đã tiếp thu thấu đáo “caí hay” ấy của Nhogiáo Trọn đời, Người đã hết sức coi trọng việc rèn luyện đạo đức cho cán bộ

và nhân dân.điều này đượcthể hiện ngay từ trang đầu của tài liệu huấn luyện màngười dùng giảng dạy cho lớp học tại Quảng Châu, trong tác phẩm “Đường

Trang 18

Tự mình phải:

Cần kiệm

Hoà mà không tư

Quả quyết sửa lỗi

Đối với người phải:

Với từng người thì khoan thứ

Với đoàn thể thì nghiêm minh

án chế độ thực dân Pháp ta không thấy dấu ấn Nho giáo nhưng chẳng phải ở

đó đã khẳng định tư tưởng lên án nghiêm khắc thói ăn bám, thủ tiêu bất bìnhđẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọingười Đấy không phải là đường lối của vị hiền triết Khổng Tử hay sao?

Năm 1927 khi tiếp Dorrot ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã biểu lộ

tư tưởng chống quân phiệt của mình bằng cách dùng một câu nói cũ “trongbốn biển người cách mạng đều là anh em” Một tuần sau, Quốc dân đảng xoá

18

Trang 19

bỏ các nghi lễ Khổng giáo, Nguyễn Ái Quốc đã bảo vệ nhà hiền triết xưa rằng:

“Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ nhữngquan điểm ấy thì ông sẽ trở thành phản cách mạng Cũng có khả năng là vịthánh nhân chịu uốn mình theo hoàn cảnh và nhanh chóng trở thành người kếtục của Lênin… Còn An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình về mặt tinhthần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cầnđọc các tác phẩm của Lênin” Như vậy, chẳng phải Bác của chúng ta đã coiPhật giáo là một vũ khí tinh thần không thể thiếu của nhân dân An Nam sao

Năm 1946, khi trở lại Paris, Người nói: “Triết lý đạo Khổng và triết lýphương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: kỷ sở bất dục, vật thi ưnhân” Đây là câu nói của Khổng Tử trong thiên Nhan Uyên, sách Luận ngữ.Cũng giống như Khổng Tử, Hồ Chí Minh tin ở sức mạnh của học tập và giá trịsâu sắc của di sản Hồi tháng 5 năm 1950, Người đã chỉ khẩu hiệu treo trênhội trường “học không biết chán, dạy không biết mỏi” mà nói câu đó củaKhổng Tử, Người còn nói thêm rằng: “chỉ có những cuộc cách mạng chânchính mới biết thừa hưởng tri thức quý báu do các thế hệ đã qua truyền lại nhưlời Lênin đã dạy bảo chúng ta” Rồi cùng với nó là những khái niệm: “Đoànkết, đại đoàn kết”, “vì nước, vì dân”, “tinh thần hi sinh”, “vui vẻ chịu đựngthiếu thốn”, “chống chủ nghĩa cá nhân-nguyên nhân của mọi sai lầm”, “trungvới Đảng, hiếu với dân”, biết bao nguyên tắc được Người nhắc đi nhắc lại đóđều lấy từ những thành ngữ cũ Có thể nói trong suốt 60 năm hoạt động cáchmạng phong phú và sôi nổi của mình, Hồ Chí Minh đã hàng trăm lần vận dụngnhững câu chữ có liên quan đến các khái niệm và mệnh đề Nho giáo Tuynhiên, tất cả các từ ngữ ấy đều được Hồ Chí Minh dùng với một nghĩa hoàntoàn mới: Người đã cải tạo chúng, đã đem lại cho các từ ngữ đó nội dung ýnghĩa chân chính cao đẹp nhất - nội dung đạo đức cộng sản chủ nghĩa Việt

Trang 20

Trong lời kết thúc của Đảng Lao động Việt Nam năm 1951, chủ tịch HồChí Minh đã dùng ba mệnh đề bất hủ của Nho giáo nói về tiêu chuẩn, lý tưởngcủa người quân tử là:

Giàu sang không quyến rũNghèo khó không thể lay chuyển

Uy lực không thể khuất phục

Để khái quát phẩm chất của người cộng sản Việt Nam

Cũng có khi Người tổng hợp theo cách khác về đạo đức của người cáchmạng như: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm Lúc khác, Người lại xác định cho cán

bộ chính quyền các cấp rằng: “Việc gì có lợi co dân phải hết sức làm, việc gì

có hại cho dân phải hết sức tránh” Ở đấy đã phảng phất ý kiến của Mạnh Tử:

“Điều mà nhân dân mong nuốn ta phải chú tâm vào, điều mà nhân dân chánghét ta chớ đem thi hành”

Trên lập trường Macxít của mình, các phạm trù đạo đức của Nho giáo

đạ được Hồ Chí Minh nâng lên một tầng cao mới, giải thích nó qua lăng kínhchủ quan của Người: Chẳng hạn như ở Nho giáo là trung với vua, hiếu với cha

mẹ thì đến với Hồ Chí Minh nó đã được mở rộng và nâng lên thành trung vớinước, hiếu với dân Người giải thích:

Chữ hiếu: “là hiếu với nhân dân, ta thương cha mẹ ta còn phải thươngcha mẹ người, phải làm cho mọi người đều biết thương cha mẹ”

Nhân nghĩa: “Nhân nghĩa là nhân dân Trong bầu trời không gì quýbằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết củanhân dân”

Chữ gia đình: “Gia đình to là cả nước và gia đình nhỏ, cái nào nặng?Cái nào nhẹ? Người cách mạng được gia đình to Nếu gia đình to bị áp bứcbóc lột thì gia đình nhỏ sẽ bị suy sụp, không phát triển được”

20

Trang 21

Chữ chí công vô tư: “…Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của cônglàm của tư Nếu nhà ai bị mất trộm, mất cắp thì hô hoán lên và cả xóm, cả làngđuổi bắt kẻ trộm Khi của công bị mất cắp thì mọi người đều có trách nhiệmvạch kẻ gian và đưa nó ra trước pháp luật, vì mọi người đều có nghĩa vụ giữgìn của công”.

Chữ lo trước vui sau: “Cái sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trướcngười ta; còn sự sung sướng thì mình nhường người ta hưởng trước”

Xét cho cùng, Hồ Chí Minh chỉ mượn Khổng giáo để trình bày nhâncách luận của mình cho phù hợp với yêu cầu cách mạng, gần gũi, mộc mạcvới tâm thức dân tộc Nếu như Nho giáo trải qua quá trình lịch sử trở thành tàisản của Việt Nam thì Hồ Chí Minh đã thêm một lần nữa, thúc đẩy quá trình

ấy, làm cho Nho giáo càng thêm “Việt Nam” với những nội dung mới về chất

để có thể góp phần đưa truyền thống Việt Nam vào cuộc đấu tranh cách mạngcủa dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin

Có ý kiến cho rằng: Khổng Tử có ảnh hưởng tới Hồ Chí Minh thì cũnggiống như Mác chịu ảnh hưởng của Hê-Ghen Ai đọc “Đại logic”của Hê-Ghenrồi đọc “Tư bản” của Mác cũng đều thấy rất hiển nhiên không có “Đại Logic”không thể có “tư bản”, bởi vì cái cơ chế khái niệm của Mác cho phép chúng tanắm chắc chủ nghĩa tư bản như một đồ vật lao động lấy ở “Đại logic” bằngcách lật ngược nó, đưa cái hệ logic của ý niệm xuống cái thế giới thực tế củađấu tranh giai cấp vì miếng cơm manh áo

Hồ Chí Minh khẳng định như vậy: “Đạo đức cũ như người đầu ngượcxuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mới như người đững vững hai chândưới đất, đầu ngẩng lên trời Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm,chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng

Ngày đăng: 28/06/2022, 06:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TRần Văn Giàu, Giá trị tinh thần của dân tộc Việt nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà nội 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần của dân tộc Việt nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
2. Ts Phạm Xuân Mỹ, Tư tưởng Hồ Chí Minh, trích tác phẩm và văn kiện Đảng, Học viện báo chí tuyên truyền khoa Lịch sử Đảng, Hà nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh, trích tác phẩm và văn kiện Đảng
3. Đào Phan, Hồ Chí Minh danh nhân văn hoá, NXB Văn hoá, Hà nội 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh danh nhân văn hoá
Nhà XB: NXB Văn hoá
4. Giáo sư Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, NXB Lí luận chính trị, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc
Nhà XB: NXB Lí luận chính trị
5. Giáo sư Song Thành chủ biên, Hồ Chí Minh tiểu sử, NXB Lí luận chính trị, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh tiểu sử
Nhà XB: NXB Lí luận chính trị
6. Hoàng Tùng, Từ tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
7. Đảng cộng sản Việt nam, Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
8. Hội đồng chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
9. Viện nghiên cứu ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng 2006
10. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 1995, Tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
11. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 1996, Tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
12. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 2000, Tập 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
13. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 2002, Tập 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
14. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 2002, Tập 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
15. Hội thảo quốc tế về chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB khoa học xã hội 1990 16. Toàn văn di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo quốc tế về chủ tịch Hồ Chí Minh", NXB khoa học xã hội 199016. "Toàn văn di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB khoa học xã hội 199016. "Toàn văn di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh"
17. Trương Tấn Sang, Thực hiện tốt hơn nữa chính sách dân tộc trong giai đoạn mới, Tạp chí Giáo dục Lí luận, 5- 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện tốt hơn nữa chính sách dân tộc trong giai đoạn mới
18. Thanh Lê, Bác Hồ và truyền thống văn hoá dân tộc, Nhà xuất bản Thanh niên, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ và truyền thống văn hoá dân tộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
19. Tạ Ngọc Ái, Trí tuệ Khổng Tử, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ Khổng Tử
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
20. Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nhà xuất bản văn học, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản văn học
21. Trần Độ (chủ biên), Văn hoá Việt Nam, Ban văn hoá văn nghệ trung ương, Hà Nội 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w