1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì

115 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Phương Pháp Sơ Đồ Tư Duy Trong Dạy Học Phần 3: Sinh Học Vi Sinh Vật - Sinh Học 10 Tại Trường THPT Công Nghiệp Việt Trì
Tác giả Đặng Thu Hoài
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Mai Lan
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Ngành sư phạm sinh học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 6,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài cung cấp các thông tin về phương pháp dạy học sử dụng SĐTD trong phần 3: Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 sẽ giúp H

Trang 1

-

ĐẶNG THU HOÀI

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN 3: SINH HỌC VI SINH VẬT - SINH HỌC 10 TẠI TRƯỜNG THPT CÔNG NGHIỆP

VIỆT TRÌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành sư phạm sinh học

Phú Thọ, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

ĐẶNG THU HOÀI

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN 3: SINH HỌC VI SINH VẬT - SINH HỌC 10 TẠI TRƯỜNG THPT CÔNG NGHIỆP

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Hiện nay, khoa học kĩ thuật có tốc độ phát triển cực kì nhanh chóng Cứ khoảng 4 – 5 năm thì khối lượng tri thức lại tăng gấp đôi Trong sự phát triển chung đó thì Sinh học có gia tốc tăng lớn nhất Sự gia tăng khối lượng tri thức, sự đổi mới khoa học Sinh học tất yếu đòi hỏi sự đổi mới về phương pháp dạy học, đào tạo thế hệ trẻ

Vài năm gần đây, PPDH tích cực cũng đã được đề cập đến và sử dụng Tuy vậy, vẫn chưa đáp ứng được với mục tiêu đặt ra của ngành giáo dục Nguyên nhân chủ yếu là do giáo viên mặc dù đã có sử dụng các câu hỏi, bài tập, thí nghiệm, phiếu học tập để phát huy tính tích cực trong học tập của HS nhưng hiệu quả chưa được cao Còn HS kỹ năng độc lập tư duy, sáng tạo, năng lực và kỹ năng thích ứng với các phương pháp tích cực còn ở mức độ thấp Xuất phát từ mục tiêu của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục Trong đó phương pháp dạy học là thành tố rất quan trọng bởi

lẽ phương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, độc lập, sáng tạo, tính tích cực, chủ động của người học

1.1.2 Xuất phát từ ưu điểm của sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một

ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một kiến thức mới… bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết…Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ là theo mạch tư duy của mỗi người

Việc sử dụng SĐTD vào dạy học bộ môn Sinh học giúp cải thiện dần tư duy lối mòn của học sinh, giúp các em tóm tắt được những nội dung cần ghi nhớ và tạo một hướng nhìn bao quát cho toàn bộ môn học, làm tăng tính tích cực và sự sáng tạo của học sinh

Trang 4

SĐTD cũng rất phù hợp với những bài ôn tập, tổng kết chương Hướng dẫn HS thiết lập và vận dụng SĐTD để học cách tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp: Ở giờ học trên lớp, GV không thể trình bày hết tất cả các kiến thức có liên quan đến nội dung bài học, nhiều vấn đề GV phải hướng dẫn HS

tự đọc, tự học Khi dạy trên lớp GV bao giờ cũng phải quan tâm đến khâu củng cố, hướng HS đến các SĐTD hệ thống lại kiến thức, hệ thống lại các phương pháp giải mỗi loại toán HS được rèn luyện tư duy trừu tượng, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo trong mối quan hệ, hệ thống của các kiến thức

1.1.3 Xuất phát từ đặc điểm kiến thức phần 3: Sinh học vi sinh vật

Vi sinh vật là cơ thể đơn bào, nhỏ bé nên khi gặp khi gặp hợp chất hữu

cơ phức tạp chúng phải tiết enzim để phân giải hợp chất hữu cơ ở ngoài tế bào, gọi là tiêu hóa ngoại bào, mặt khác là cơ thể đơn bào nên nhiều hợp chất hữu cơ được tổng hợp chưa sử dụng đến, chúng lại tiết ra ngoài cơ thể, đó là hai trong những đặc điểm quý ở vi sinh vật mà con người thường tận dụng Các nội dụng nêu trên được sắp xếp thành 2 bài: bài thứ nhất đề cập để cập tới các dinh dưỡng (hấp thụ) vật chất và năng lượng trong môi trường sống (gồm các loại môi trường); bài thứ hai đề cập đến quá trình tổng hợp và phân giải hợp chất hữu cơ ở ngoài tế bào

Cho nên SĐTD sẽ giúp HS hệ thống hoá kiến thức, giúp HS hình thành kiến thức mới, củng cố kiến thức đã học, sắp xếp chúng theo một hệ thống chặt chẽ và chỉ ra mối liên hệ giữa nội dung các bài học theo một sơ đồ nhất định nhằm HS hiểu bài học hơn Khi kết hợp đặc thù kiến thức vi sinh vật có thể giúp HS phát huy năng lực tự học, liên hệ thực tế đồng thời rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức cho HS giúp HS học tốt kiến thức phần 3: Sinh học vi sinh vật, sinh học 10

Vì vậy tôi chọn đề tài: " Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy

học phần 3: Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10 tại trường THPT Công nghiệp Việt Trì"

Trang 5

1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài cung cấp các thông tin về phương pháp dạy học sử dụng SĐTD trong phần 3: Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 sẽ giúp HS hệ thống hoá kiến thức, giúp HS hình thành kiến thức mới, củng cố kiến thức đã học, sắp xếp chúng theo một hệ thống chặt chẽ và chỉ ra mối liên hệ giữa nội dung các bài học theo một sơ đồ nhất định nhằm HS hiểu bài học hơn

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo tốt đối với sinh viên các ngành sư phạm nói chung và sư phạm sinh học nói riêng

1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu chung về SĐTD bao gồm: Khái niệm SĐTD, đặc điểm SĐTD,

ưu – nhược điểm của SĐTD trong dạy học sinh học

- Nghiên cứu về các nguyên tắc thiết kế SĐTD

- Điều tra thực trạng việc sử dụng SĐTD trong dạy học sinh học

- Nghiên cứu những hướng ứng dụng SĐTD trong dạy học sinh học 10

- Đề xuất quy trình sử dụng SĐTD trong dạy học phần 3: Sinh học VSV

- Thực nghiệm sư phạm, đánh giá tính phù hợp và hiệu quả của việc ứng dụng

SĐTD trong dạy học – Sinh học 10

1.4 Mục tiêu nghiên cứu

Sử dụng SĐTD trong dạy học phần 3: Sinh học vi sinh vật - Sinh học

10 tại trường THPT Công nghiệp Việt Trì nhằm phát huy năng lực tự học, sáng tạo của học sinh, hệ thống kiến thức mới bằng sơ đồ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn sinh học

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phần III: Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 tại trường THPT Công nghiệp Việt Trì

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phần 3: Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10

1.6 Giả thuyết khoa học

Trang 6

Nếu sử dụng SĐTD như một công cụ hỗ trợ dạy học trên cơ sở hệ thống hóa kiến thức theo quan điểm hệ thống thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Sinh học 10

1.7 Phương pháp nghiên cứu

1.7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Tham khảo phân tích và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài như: Các giáo trình, các luận văn khoa học, tạp chí… nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

1.7.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Thông qua việc sử dụng phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin từ phía

HS và GV để đánh giá sơ bộ về thực trạng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học Sinh học 10

1.7.5 Phương pháp thống kê toán học

Xử lý số liệu nhằm chứng minh giả thiết khoa học bằng cách sử dụng phần mềm Microsoft Excel, xác định các tham số đặc trưng mang tính khách quan

1.8 Cấu trúc đề tài

PHẦN I: MỞ ĐẦU

PHẦN II: NỘI DUNG

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3: Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10 tại trường THPT Công nghiệp Việt Trì

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 7

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử nghiên cứu phương pháp sơ đồ tư duy

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Sơ đồ tư duy được mệnh danh là "Công cụ vạn năng cho bộ não" là phương pháp ghi chú để sáng tạo Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 của thế kỉ XX, bởi Tony Buzan SĐTD được chính thức giới thiệu với thế giới lần đầu tiên vào mùa xuân năm 1947 với ấn bản của cuốn

đi trước được mang tên sử dụng trí tuệ của bạn ( Use Your Head) [9]

Dựa trên những lí thuyết SĐTD của Tony Buzan nhiều tác giả khác cũng đã nghiên cứu để phát triển kĩ thuật này cho từng lĩnh vực cụ thể như: Cuốn sách "Writing the natural way" của tác giả Gabereiele Rico là tác phẩm tiên phong trong việc ứng dụng SĐTD cho lĩnh vực ghi chép Giữa thập niên

70, Peter Russell đã làm việc chung với Tony Buzan và họ đã truyền bá kĩ xảo về Mind Map cho nhiều cơ quan quốc tế và học viện giáo dục Năm 1975 Joyce Wycoff đã kết hợp chặt chẽ với Tony Buzan để phát triển SĐTD thành một công cụ tư duy hiệu quả Trong cuốn "Ứng dụng bản đồ tư duy" Joyce Wycoff đã đưa ra hướng dẫn cụ thể trong hành trình khám phá khả năng của

bộ não, khám phá bản thân đồng thời cung cấp những gợi mở thiết thực, có thể áp dụng tức thì, giúp chúng ta ghi nhớ, thuyết trình, học tập, lập kế hoạch

… trong công việc cũng như cuộc sống bằng SĐTD Trong cuốn sách "Tôi tài giỏi bạn cũng thế" Adam Khoo đã dạy cách sử dụng SĐTD trong học tập

để đạt hiệu quả cao, tăng cường khả năng ghi nhớ của học sinh Jean-Luc Deleadriere với cuốn sách "Sắp xếp ý tưởng với sơ đồ tư duy" trong cuốn sách này tác giả đã hướng dẫn cách sắp xếp các ý tưởng trong công việc, quản lí công việc hàng ngày, ghi chú hiệu quả, quản lí các dự án, lập sơ đồ tư duy bằng máy tính

Như vậy ta thấy được hiệu quả của SĐTD trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, đặc biệt là trong giáo dục SĐTD đang được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và cả thầy cô giáo

Trang 8

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, SĐTD mới xuất hiện ở nước ta khoảng 5,6 năm trở lại đây thông qua một số tác phẩm được biên dịch lại như: Use your head, Mind Mad

at wrok, Mind Map Book… Tuy nhiên, thời gian đầu SĐTD ít được mọi người chú ý đến đặc biệt là HS, SV,các nhà sư phạm Hiện nay, việc sử dụng công cụ trên đang dần phổ biến trong giới trẻ Điển hình đó là hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phổ biến SĐTD của nhóm Tư duy mới (New Think Group - NTG) Nhóm này đã có công rất lớn trong việc biên dịch tác phẩm

"Mind Map at work", ra tiếng Việt

Năm 2009, Hoàng Đức Huy đã cho phát hành cuốn sách: "Bản Đồ Tư Duy - Đổi Mới Dạy Học" Đổi mới phương pháp dạy học là chuyển phương pháp truyền thụ một chiều, người học tiếp thu một cách thụ động sang gợi

mở định hướng cho học sinh tích cực học tập [8]

Năm 2009, dự án Việt – Bỉ với việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học đã tổ chức hội thảo “ Chỉ đạo quản lí hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông” Các đại biểu đều khẳng định đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mục tiêu hội thảo hướng đến dự án Việt - Bỉ với chuyên đề “Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học” cũng đã giới thiệu tài liệu Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học Tài liệu này đã giới thiệu một

số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như: phương pháp học tập theo góc, mảnh ghép, kĩ thuật khăn phủ bàn, đặc biệt là SĐTD [12]

Năm 2010, ứng dụng SĐTD trong dạy và học đã được triển khai thí điểm tại 355 trường trên toàn quốc và được nhiều giáo viên và học sinh hồ hởi tiếp nhận Kết quả ban đầu cho thấy: Việc vận dụng SĐTD trong dạy học khắc phục được dần thói quen học vẹt, tư duy máy móc và dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết và nắm bắt vấn đề một cách sâu sắc,

“ định vị trong đầu” được các kiến thức, sự kiện cơ bản, có cách nhìn nhận vấn đề một cách khoa học, hệ thống, không chỉ học tốt các kiến thức trong sách vở mà còn nắm bắt được các kiến thức trong thực tế cuộc sống [13]

Trang 9

Năm 2011, Trần Đình Châu và Đặng Thị Thu Thủy đã cho xuất bản cuốn "Dạy tốt - học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy" nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tìm hiểu về SĐTD và những ứng dụng của SĐTD trong dạy học các môn cơ bản ở chương trình THCS và THPT [3]

Năm 2011, Trần Đình Châu, Dự án Phát triển Giáo dục THCS II - Bộ Giáo dục & Đào tạo đã nghiên cứu "Thiết kế, sử dụng bản đồ tư duy đổi mới phương pháp dạy học và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường" Nội dung chuyên đề này đã giới thiệu phương pháp SĐTD và hướng dẫn sử dụng phương pháp này đối với từng đối tượng từ HS trung bình đến HS khá giỏi

và đối với GV [4]

Đến nay việc sử dụng SĐTD trong dạy học vẫn chưa được ứng dụng ở diện rộng và chưa thực sự trở thành một phương pháp phổ biến Đặc biệt việc vận dụng SĐTD vào trong dạy học Sinh học THPT vẫn chưa được trao đổi thảo luận nhiều, dù trên thực tế chúng ta cũng sử dụng không ít những kiểu

sơ đồ cho giảng dạy

Có thể nói: Việc vận dụng SĐTD vào dạy học Sinh học THPT vẫn đang là vấn đề khá mới mẻ Vì vậy để cụ thể hóa phương pháp này trong giảng dạy Sinh học, ứng dụng và triển khai trên diện rộng là vấn đề cần được tiếp tục bàn luận, trao đổi Tất cả những nghiên cứu trên thế giới và trong nước nói trên một mặt là gợi mở, định hướng cho tôi chọn đề tài này để tiếp tục nghiên cứu Với đề tài này, tôi mong muốn được góp phần vào việc cải tiến phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Sinh học ở THPT nói riêng

Trang 10

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1.1 Khái niệm

Khái niệm là những tri thức khái quát về dấu hiệu bản chất và thuộc tính chung nhất của từng nhóm sự vật, hiện tượng cùng loại; về những mối liên hệ tương quan tất yếu giữa các sự vật hiện tượng khách quan [6]

Khái niệm có vai trò rất quan trọng trong nhận thức bởi bì nó là cơ sở

để hình thành các phán đoán và tư duy khoa học Chính vì vậy, phát triển tư duy trong dạy học luôn phải gắn liền với sự hình thành và phát triển khía niệm trong đó có các khái niệm sinh học [10]

1.2.1.2 Khái niệm Sinh học

Khái niệm Sinh học là những khái niệm phản ánh dấu hiệu và thuộc tính chung, bản chất nhất của các cấu trúc sống, các hiện tượng, quá trình sống Khái niệm sinh học còn phản ánh những mối liên hệ, những mối tương quan qua lại giữa khái niệm với nhau [6]

Khái niệm chuyên khoa là khái niệm phản ánh sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ của một đối tượng sinh vật, hoặc phản ánh mối quan hệ riêng biệt giữa các đối tượng đó [6]

Khái niệm đại cương là khái niệm phản ánh những sự vật hiện tượng, quá trình, mối quan hệ cơ bản của sự sống, chung cho toàn bộ sinh giới [6]

1.2.1.3 Sơ đồ tư duy

SĐTD là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một kiến thức mới… bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết… Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ là theo mạch tư duy của mỗi người

1.2.2 Cơ sở khoa học của việc thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy

Trang 11

Như vậy hệ thống hoá kiến thức là đặt mỗi kiến thức vào đúng tọa độ trong mối quan hệ nhất định Hệ thống hoá kiến thức là một quá trình thực hiện các thao tác logic để sắp xếp kiến thức vào một hệ thống nhất định để cho một hiểu biết mới sâu sắc về bản chất đối tượng nghiên cứu Trong DH việc hệ thống hóa kiến thức được sử dụng để GV gia công nội dung tài liệu, SGK một cách cô đọng nhưng vẫn tải được nhiều thông tin, từ đó tổ chức HS lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc Hệ thống hoá kiến thức giúp HS chuyển các kiến thức từ tái hiện giáo khoa thành tri thức mang tính hệ thống, chế biến theo một quy trình cá nhân phù hợp với năng lực của người học

Đối với bộ môn sinh học, đặc biệt là phần 3: Sinh học vi sinh vật, kiến thức cơ bản nhất về vi sinh vật, chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh trưởng và sinh sản ở vi sinh vật đặc biệt về cấu trúc và bệnh truyền nhiễm được liên hệ chặt chẽ với nhau, được hình thành và phát triển theo một trật tự logic Giúp học sinh có được tư duy hệ thống, dễ dàng lĩnh hội và khắc sâu kiến thức Do vậy việc giúp cho người học có khả năng cũng như thói quen hệ thống hóa lại càng có vai trò quan trọng

Việc hệ thống hoá kiến thức trong dạy học Sinh học giúp học sinh củng

cố những điều đã học, sắp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ, đồng thời hình thành kiến thức dưới một góc độ mới, biết cách diễn đạt ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ của chính mình Hệ thống hóa chỉ thực hiện được trên cơ

sở thông tin được xử lí qua phân tích, tổng hợp Việc rèn luyện cho học sinh

kĩ năng hệ thống hóa trong dạy học sinh học là rất quan trọng Có nhiều cách

hệ thống hóa trong đó thiết kế và sử dụng SĐTD là một hướng phương pháp dạy học đem lại hiệu quả cao

1.2.2.2 Cơ sở tâm lý học

Trong quá trình dạy học những năm trước đây, trong các tiết ôn tập chương một số giáo viên cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,…để học sinh học tập và cả lớp thường có chung cách trình bày giống của GV hoặc của tài liệu, chứ không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét

Về thực tiễn, những năm gần đây, nhiều GV đã áp dụng thành công dạy học với việc thiết kế SĐTD tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy

và trò trong các sinh hoạt ở tổ chuyên môn cũng như hoạt động dạy học của

Trang 12

nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua

“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” hoặc áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” mà Bộ GD&ĐT đang đẩy mạnh triển khai

Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học Sử dụng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH

1.2.2.3 Cơ sở nhận thức

Hiện nay, quá trình học hiểu là quá trình được các nhà khoa học hay các chuyên gia trong bất kì lĩnh vực nào sử dụng, nhằm xây dựng kiến thức mới Trong thực tế, Novak đã khẳng định rằng tạo thành kiến thức mới không chỉ là sự học hiểu ở trình độ cao mà còn phụ thuộc vào cách tổ chức cấu trúc kiến thức của mỗi cá nhân trong những vùng nhận thức riêng biệt, và thậm chí còn phụ thuộc vào cảm hứng trong việc tìm ra kiến thức mới (Novak 1977,

1993, 1998)

Việc sử dụng SĐTD vào dạy học bộ môn Sinh học giúp cải thiện dần tư duy lối mòn của học sinh, giúp các em tóm tắt được những nội dung cần ghi nhớ và tạo một hướng nhìn bao quát cho toàn bộ môn học, làm tăng tính tích cực và sự sáng tạo của học sinh

1.2.3 Thiết kế sơ đồ tư duy

Phương pháp học và làm việc với Sơ đồ Tư duy là cách học giúp não phát triển nhanh hơn bình thường, tăng tốc độ tư duy, khả năng sáng tạo & tư duy logic được kích hoạt nhờ cơ chế hoạt động của não giống với cách thức vận hành của Sơ đồ Tư duy

Trang 13

SĐTD là một công cụ hữu ích trong nhiều lĩnh vực, đă ̣c biê ̣t trong lĩnh vực giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn,

vì nó giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, v.v…

1.2.4 Những chú ý khi thiết kế SĐTD

- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề

- Luôn sử dụng màu sắc vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh

- Nố i các nhánh cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến các nhánh ở cấp 1,… bằng các đường kẻ, đường cong với màu sắc khác nhau

- Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ hay đường cong

- Nên dùng các đường cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều so với đường thẳng

Trang 14

- Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm

- Có thể chỉnh sửa, thêm bớt thông tin, thêm bớt nhánh, điều chỉnh sao cho đe ̣p, rõ ràng

- Một số điều cần tránh khi vẽ Sơ đồ Tư duy:

+ Tránh ghi la ̣i cả đoạn văn dài

+ Ghi chép quá nhiều ý không cần thiết

+ Dành quá nhiều thời gian để ghi chép

1.2.5 Ưu điểm, tồn tại của thiết kế SĐTD

 Ưu điểm:

hiện bằng đường nét, màu sắc, hình ảnh sẽ tác động vào kênh hình của người học, huy động tối đa các giác quan của học sinh Dùng bản đồ tư duy để minh họa sẽ làm giảm tính trừu tượng của nội dung bài học Không làm mất thời gian vẽ trên bảng và xóa bảng

- Làm cho nội dung bài học được trình bày ngắn gọn, cô đọng làm cho học sinh dễ tiếp thu, nhớ bài giảng lâu hơn

- Trong một thời gian ngắn có thể khái quát được một khối lượng kiến thức lớn, có lôgíc giúp học sinh tìm hiểu được bản chất quy luật, xâu chuỗi các kiến thức và tái hiện lại tri thức khi cần thiết

- Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh cùng thực hiện sơ đồ bài học,

dễ phát huy tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức

 Tồn tại:

- Một số nội dung, định nghĩa, khái niệm khi sơ đồ hóa không truyền tải hết nội dung khoa học của vấn đề

- Sơ đồ hóa chưa phải là sự nhận thức đầy đủ về lý luận mà chỉ mới là công

cụ để xây dựng lý luận Phải có sự kết hợp với các phương pháp khác để mở rộng kiến thức, liên hệ với thực tiễn, gắn với các vấn đề đặt ra trong cuộc sống

- Với những giáo viên chưa sử dụng thành thạo máy tính và các phần mềm hỗ trợ thì việc sơ đồ hóa nội dung kiến thức trên máy tính là tương đối

khó khăn

Trang 15

1.2.6 Sử dụng sơ đồ tư duy

1.2.6.1 Sử dụng SĐTD để củng cố kiến thức

SĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần… Sử dụng SĐTD vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ Các SĐTD thường được giáo viên sử dụng ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng

1.2.6.2 Sử dụng SĐTD để dạy bài mới

Dùng SĐTD để dạy bài mới: Giáo viên có thể tổ chức hoạt động nhóm (GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh SĐTD từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm của bài học) Hoặc cho HS lên trình bày, thuyết minh thông qua một SĐTD do GV đã chuẩn bị sẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa), hoặc SĐTD mà các em vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện GV có thể giới thiệu SĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm HS có chung 1 kiểu SĐTD, GV chỉ nên chỉnh sửa cho HS về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức (nếu cần)

1.2.6.3 Sử dụng SĐTD để tự học

Sử dụng SĐTD để tự học: học sinh xác định được vấn đề trọng tâm, sau đó hệ thống các kiến thức liên quan thành sơ đồ phân nhánh, rồi từ đó học sinh sẽ thiết kế thành nhưng sơ đồ theo tư duy của mỗi cá nhân Có thể áp dụng dùng sơ đồ trước hay sau khi học một bài học Việc phối hợp linh động nhiều phương pháp trong quá trình dạy và học, kết hợp với việc thiết lập sơ

đồ tư duy để hệ thống kiến thức đã giúp cho học sinh nắm được bài nhanh hơn và nhớ lâu hơn

Ví dụ 1: Khi dạy tiết 25 “Dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và nặng lượng ở

vi sinh vật ” thuộc Chương I, Phần 3 Sinh học 10 ta có một số SĐTD sau:

Trang 17

Ví dụ 2: Khi dạy bài 26 giảm tải hướng dẫn HS tự tìm hiểu “Sinh sản

của vi sinh vật ” thuộc Chương II, Phần 3 Sinh học 10 ta có một số SĐTD sau: (Sơ đồ minh hoạ)

Trang 19

Ví dụ 3: Khi dạy bài 29 “Cấu trúc các loại virut ” thuộc Chương III,

Phần 3 Sinh học 10 ta có một số SĐTD sau: (Sơ đồ minh hoạ)

Trang 20

1.2.7 Vai trò của sơ đồ tư duy trong dạy học

Cho học sinh làm quen với sơ đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho học sinh một số “sơ đồ tư duy” cùng với dẫn dắt của giáo viên để các em định hướng nhanh hơn

Hướng cho học sinh có thói quen khi tư duy lôgic theo hình thức sơ đồ hoá trên sơ đồ tư duy

Từ một vấn đề hay chủ đề chính đưa ra các ý lớn thứ nhất, ý lớn thứ hai, thứ ba mỗi ý lớn lại có các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại có các ý nhỏ hơn các nhánh này như “bố mẹ” rồi “con, cháu, chắt, chút, chít” các đường nhánh có thể là đường thẳng hay đường cong

Cho học sinh thực hành vẽ sơ đồ tư duy trên giấy: Chọn từ khóa - tên chủ đề hoặc hình vẽ của chủ đề chính cho vào vị trí trung tâm, chẳng hạn: cấu trúc tế bào, hô hấp tế bào, quang hợp, nguyên phân, giảm phân để học sinh

có thể tự mình ghi tiếp kiến thức vào tiếp các nhánh “con”, “cháu”, “chắt” theo cách hiểu của các em

Vẽ sơ đồ tư duy theo nhóm hoặc từng cá nhân:

- Đối với giáo viên, để thiết kế một SĐTD đối với một bài học, chúng

ta có thể thiết kế bằng bảng vẽ trên giấy, hoặc hệ thống kiến thức bằng sơ đồ trên bảng, hoặc có thể dùng phần mềm Mindmap Đối với phần mềm này giáo viên có thể thực hiện thành một giáo án hay một bài giảng điện tử với kiến thức được xây dựng thành một sơ đồ, qua đó còn có thể kết hợp để trình chiếu những nội dung cần lưu ý hay những đoạn phim có liên quan được liên kết với sơ đồ Qua đó có thể giúp học sinh hệ thống được kiến thức vừa học, khắc sâu được kiến thức trọng tâm

- Đối với học sinh, trước hết giáo viên phải giới thiệu một số SĐTD cho các em làm quen, sau đó hướng các em từ từ xây dựng các sơ đồ riêng cho mình Bước đầu, chỉ yêu cầu học sinh xác định được vấn đề trọng tâm, sau đó

hệ thống các kiến thức liên quan thành sơ đồ phân nhánh, rồi từ đó học sinh sẽ thiết kế thành nhưng sơ đồ theo tư duy của mỗi cá nhân Có thể áp dụng dùng

sơ đồ trước hay sau khi học một bài học, với bài học mới, có thể cho học sinh

Trang 21

xây dựng theo một nhóm, rồi dựa vào sơ đồ học sinh sẽ thảo luận, sau đó nhóm sẽ trình bày kiến thức theo hình thức thuyết trình dựa trên sơ đồ đã xây dựng, sau bài học thì có thể yêu cầu học sinh tự hệ thống lại kiến thức bằng sơ

đồ theo cách riêng của mình Việc phối hợp linh động nhiều phương pháp trong quá trình giảng dạy, kết hợp với việc thiết lập sơ đồ tư duy để hệ thống kiến thức đã giúp cho học sinh nắm được bài nhanh hơn và nhớ lâu hơn

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.3.1 Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng sơ đồ tư duy tại trường THPT Công nghiệp Việt Trì

1.3.1.1 Đối tượng điều tra

Tháng 1 năm 2018 tiến hành điều tra GV và HS trong môn Sinh học ở trường THPT Công nghiệp Việt Trì - TP Việt Trì – tỉnh Phú Thọ

1.3.1.2 Nội dung khảo sát

 Khảo sát hoạt động dạy của GV

Khảo sát tình hình dạy học Sinh học ở trường THPT nhằm xác định được những tiếp cận DH hiện đang được GV sử dụng rộng rãi, trên cơ sở đó

so sánh với việc dạy học Sinh học bằng SĐTD mà đề tài đề xuất Khảo sát các cách thức GV hướng dẫn HS hệ thống hóa kiến thức Khảo sát tình hình sử dụng sơ đồ trong các khâu của quá trình DH Sinh học và mức độ tích cực trong việc sử dụng sơ đồ, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp mà đề tài đề xuất Khảo sát những khó khăn GV thường gặp khi dạy các bài học phần sinh trưởng phát triển cũng như cách thức GV dạy phần sinh học vi sinh vật, trên

cơ sở đó có những biện pháp đề xuất hợp lý

 Khảo sát hoạt động học của HS

Khảo sát về tình hình học tập môn Sinh học để xác định: thái độ học tập, những khó khăn trong việc học, phương pháp học tập (cách thức mà HS chuẩn bị trước cho một bài học môn SH hoặc cách thức các em học kiến thức

vi sinh học), mức độ nắm vững kiến thức Sinh học của HS … Qua đó có những biện pháp giúp đỡ HS tăng hứng thú, tăng tính tích cực chủ động và có những biện pháp tốt hơn trong quá trình học tập nói chung và quá trình học tập phần 3: Sinh học vi sinh vật nói riêng

Trang 22

1.3.1.3 Phương pháp khảo sát

Sử dụng các phương pháp như điều tra bằng phiếu hỏi, dự giờ dạy, tham khảo bài soạn của một số GV dạy môn SH lớp 10; tiến hành quan sát hoạt động học tập của HS, xin ý kiến trao đổi với một số GV và HS về vấn đề liên quan Phân tích số liệu thống kê qua kết quả khảo sát, rút ra các kết luận

1.3.2 Điều tra tình hình sử dụng SĐTD trong dạy học sinh học phần 3: Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10

1.3.2.1 Cách tiến hành

Thăm dò mức độ hiểu biết, xây dựng SĐTD trong quá trình dạy học phần III Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10 THPT Công nghiệp Việt Trì Tiến hành điều tra GV và HS ở trường THPT Công ngiệp Việt Trì

1.3.2.2 Kết quả điều tra

Hoạt động dạy của giáo viên ( Phụ lục 1 )

Tôi tiến hành khảo sát 4 GV dạy môn sinh học của trường THPT Công nghiệp Việt Trì

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát việc mức độ sử dụng phương pháp sơ đồ tư

duy trong dạy học Sinh học 10 THPT

Ứng dụng

Mức độ

Thường xuyên Đôi khi Không bao

Sơ đồ tư duy từng bài 3 75 1 25 0 0

Sơ đồ tư duy từng chương 1 25 3 75 0 0

Sơ đồ tư duy từng chuyên đề 2 50 2 50 0 0

Trang 23

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát việc GV hướng dẫn HS sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3: Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10 THPT

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

Lập dàn ý hệ thống kiến thức 2 50 2 50 0 0

Sử dụng phần mềm Mindmap 2 50 2 50 0 0 Cho HS tự xây dựng sơ đồ riêng 0 0 4 100 0 0

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát việc tình hình sử dụng SĐTD trong các khâu của quá trình dạy học Sinh học và mức độ tích cực trong việc sử dụng SĐTD

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

GV % GV % GV %

1 GV sử dụng sơ đồ trong các khâu

- Nghiên cứu tài liệu mới 0 0 4 100 0 0

- Củng cố, hoàn thiện kiến thức 0 0 4 100 0 0

Trang 24

Nhận xét: Từ bảng 1.3 cho thấy việc sử dụng sơ đồ của GV thường chỉ dùng trong khâu hoàn thiện tri thức (ôn tập, tổng kết) và chỉ thỉnh thoảng chứ không thường xuyên (75%) Trong khâu nghiên cứu tài liệu mới và khâu kiểm tra đánh giá, hình thức này còn ít được sử dụng Việc sử dụng các dạng sơ đồ chủ yếu vẫn là GV cung cấp sơ đồ dạng đơn giản cho HS, hoặc yêu cầu HS viết các sơ đồ đơn giản Một số GV chia sẻ việc sử dụng các dạng sơ đồ trong dạy và học là rất hiệu quả nhưng lại mất nhiều thời gian cho việc gia công, mặt khác việc sử dụng sơ đồ thông thường HS còn gặp khó khăn khi vận dụng

để giải đáp các yêu cầu của bài

Hoạt động học của học sinh ( Phụ lục 2 )

Tôi tiến hành khảo sát 157 HS lớp 10 tại trường THPT Công nghiệp Việt Trì Kết quả được thể hiện ở bảng 3.4

Bảng 1.4 Kết quả khảo sát mức độ tích cực của HS trong quá trình học môn SH

Chỉ coi việc học môn học là một nhiệm vụ 97 61,78 Không thích học môn Sinh học 9 5,73

Tự học bài học cả khi GV không hướng dẫn 19 12,1 Tìm đọc thêm các tài liệu có liên quan 29 18,47

Về ý thức học tập, đa số HS yêu thích môn học này chiếm số lượng nhiều (32,48%), phần lớn HS coi việc học là một nhiệm vụ (61,78%)

Trang 25

Đối với việc chuẩn bị bài mới, nhìn chung phần lớn HS đã có ý thức chuẩn bị trước bài học, song mức độ tích cực chủ động chưa cao Cụ thể số

HS không chuẩn bị gì chiếm tỉ lệ thấp (4,46%), nếu GV giao nhiệm vụ cụ thể thì số HS thỉnh thoảng có ý thức chuẩn bị bài tương đối cao (chiếm 50,96%),

số HS thường xuyên nghiên cứu trước bài học mới và ôn lại kiến thức cũ có liên quan còn thấp (14,01%) Đặc biệt số HS chủ động tự đọc tài liệu, SGK

mà không có hướng dẫn của GV (12,1%) và tỉ lệ HS tìm đọc thêm tài liệu liên quan ngoài SGK chiếm tỉ lệ thấp

Bảng 1.5 Kết quả khảo sát việc học tập phần 3: Sinh học vi sinh vật của HS lớp 10

đồ (24,84%) ít được HS áp dụng hơn

Mức độ nắm vững kiến thức thì đa số là HS hiểu nhưng vận dụng còn kém (47,77%), số HS hiểu và biết vận dụng chỉ chiếm (14,01%)

Trang 26

CHƯƠNG II: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN 3: SINH HỌC VI SINH VẬT – SINH HỌC 10 TẠI

TRƯỜNG THPT CÔNG NGHIỆP VIỆT TRÌ

2.1 Phân tích cấu trúc phần 3: Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10

2.1.1 Tổng quan chương trình sinh học 10

Sinh học vi sinh vật bao gồm 3 nội dung chính chia làm 3 chương: Chương 1: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

Chương 2: Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật

Chương 3: Virut và bệnh truyền nhiễm

Phần 3 nghiên cứu về vi sinh vật là nghiên cứu những cơ thể sinh vật đơn bào, những cơ thể này thuộc cấp cơ thể, nhưng là cơ thể đơn bào nên có những nội dung nghiên cứu ở cấp bào quan trường hợp này có nhiều nét giống như mức ctế bào Là cấp tổ chức của hệ sống nên cần được nghiên cứu

về hai mặt:

- Cấu trúc của cấp cơ thể đơn bào

- Các hoạt động sống của cấp cơ thể đơn bào, bao gồm trao đổi chất và năng lượng, sinh trưởng và sinh sản, còn cảm ứng ở mức rất đơn giản như ở mức tế bào

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi nghiên cứu phân tích nội dung, cấu trú c của chương 3: Sinh học vi sinh vật

2.1.1.1 Phân phối chương trình

Theo SGK Sinh học lớp 10 – ban cơ bản, trong phần 3: Sinh học vi sinh vật có 10 tiết ( 6 tiết lí thuyết + 1 bài thực hành) có nội dung chủ yếu như sau:

Phần III: Sinh học vi sinh vật Chương I: chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

24 Bài 22: Dinh dưỡng, chuyển

hóa vật chất và năng lượng ở

vi sinh vật

Mục III: Hô hấp và lên men : không dạy mà chuyển sang dạy trong bài thực hành

Trang 27

2.1.1.2 Vị trí của chương

Nội dung phần 3: Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10 nghiên cứu về vi sinh vật Phần này được trình bày theo cấu trúc:

Chương 1: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

Chương 2: Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật

Chương 3: Virut và bệnh truyền nhiễm

Cách trình bày đó giúp HS đi sâu vào tìm hiểu kiến thức vi sinh vật, sự sắp xếp các đơn vị kiến thức theo một trật tự logic, không chỉ cung cấp những hiểu biết về vi sinh vật mà còn là cơ sở giải thích các hiện tượng các quá trình sinh học, ứng dụng vào thực tiễn đời sống và sản xuất để phòng trừ một số bệnh, chăm sóc bảo vệ sức khỏe bản thân… Cho nên SĐTD sẽ giúp HS hệ thống hoá kiến thức, giúp HS hình thành kiến thức mới, củng cố kiến thức đã học, sắp xếp chúng theo một hệ thống chặt chẽ mà chỉ ra mối liên hệ giữa nội dung các bài học theo một sơ đồ nhất định nhằm HS hiểu bài học hơn Khi kết hợp đặc thù kiến thức vi sinh vật có thể giúp HS phát huy năng lực tự học,

Chương II: Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật

26 Bài 25 : Sinh trưởng của vi sinh vật

Lồng ghép: Giới thiệu các hình thức sinh sản của vi sinh vật - bài 26

27 Bài tập

28 Kiểm tra 1 tiết

29 Bài 27: Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật

30 Bài 28: Thực hành : Quan sát một số vi sinh vật

Chương III: virut và bệnh truyền nhiễm

31 Bài 29: Cấu trúc các loại vi rút

32

Bài 30+31: Sự nhân lên của vi

rút trong tế bào chủ - vi rút gây

bệnh

33

Bài 31+32: Ứng dụng của virút

trong thực tiễn - bệnh truyền

nhiễm và miễn dịch

Trang 28

liên hệ thực tế đồng thời rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức cho HS giúp HS học tốt kiến thức phần 3: Sinh học vi sinh vật, sinh học 10

2.1.1.3 Phân tích logic kiến thức phần 3: Sinh học vi sinh vật

Phần ba : Giới thiệu các quá trình sinh học cơ bản đặc trưng ở cấp cơ thể, nhưng dành riêng cho những sinh vật có kích thước bé mà chủ yếu là vi khuẩn, vi nấm, cùng những ứng dụng của chúng Ngoài ra phần ba còn giới thiệu về virut mà cấu tạo của chúng còn đơn giản có thể là một hay nhiều tế bào cấu tạo nên hoặc chưa có cấu tạo là cơ thể vi sinh vật hoạt chỉnh Các sinh vật này có mối liên hệ với cấp độ tế bào với cơ thể đơn bào là sự chuyển hóa biệt hóa từng thành phần cấu trúc tế bào rồi đến các cơ thể đa bào

Bắt đầu từ chương một giới thiệu về các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, cũng là một cơ thể sống nên vi sinh vật cũng có nhu cầu về dinh dưỡng đã được đưa vào cơ thể phải qua quá trình phân giải các chất phức tạp thành đơn giản và quá trình tổng hợp các chất cần thiết cho cơ thể Học sinh được thực hành tự mình muối dưa, làm sữa chưa, qua đó cho các em thấy được ứng dụng của vi sinh vật trong cuộc sống

Chương 2 theo mô-tip giới thiệu cho học sinh về quá trình sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật, trong quá trình sinh trưởng này các vi sinh vật có chịu sự ảnh hưởng của môi trường, các yếu tố ngoại cảnh

Cuối cùng kết thúc phần Sinh học vi sinh vật là chương giới thiệu về đối tượng có cấu tạo chưa hoàn chỉnh nhưng là tác nhân gây nên nhiều bệnh tật cho con người và sinh vật là virut Học sinh được tìm hiểu về cấu trúc, quá trình sinh trưởng nhân lên của virut trong cơ thể vật chủ Và đặc biệt chú ý đến việc giới thiệu các loại virut gây bệnh , các ứng dụng của virut trong thực tiễn và các bệnh truyền nhiễm do virut gây ra và miền dịch Qua đây, giới thiệu cho sinh viên cách giữ gìn, ăn uống hợp vệ sinh, chăm sóc,sinh hoạt điều độ, vệ sinh bản than để có hệ miễn dịch tốt, tránh các bệnh do virut, vi khuẩn gây ra

2.1.2 Mục tiêu của dạy học phần 3: Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10

- Trình bày được đặc điểm về cấu trúc của vi sinh vật

- Nêu và giải thích được quá trình hấp thụ, phân giải, chuyển hóa vật chất ở vi sinh vật

- Trình bày được đặc điểm sinh trưởng, phát triển của vi sinh vật

Trang 29

- Nêu được cấu tạo, hoạt động sống của dạng sống kí sinh trong tế bào, tuy chưa phải cơ thể đơn bào nhưng khả năng biểu hiện hoạt động sống khi ở trong tế bào

- Hình thành kĩ năng quan sát, qua kính hiển vi để nhận biết một số dạng VSV Thực hiện được một số thí nghiệm ssể xác định hoạt động sống của VSV

- Từ hiểu biết về hoạt động của vi sinh vật mà có thái đôj đúng đắn trong việc phòng tránh một số loại bệnh

2.1.3 Phân tích nội dung phần 3 Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10

Trong phần này với chủ đề là "Sinh học vi sinh vật" có nghĩa là nghiên cứu về vi sinh vật Phần này được trình bày theo cấu trúc:

Chương 1: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

Chương 2: Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật

Chương 3: Virut và bệnh truyền nhiễm

Cách trình bày đó giúp HS đi sâu vào tìm hiểu kiến thức vi sinh vật, sự sắp xếp các đơn vị kiến thức theo một trật tự logic, không chỉ cung cấp những hiểu biết về vi sinh vật mà còn là cơ sở giải thích các hiện tượng các quá trình sinh học, ứng dụng vào thực tiễn đời sống và sản xuất để phòng trừ một số bệnh, chăm sóc bảo vệ sức khỏe bản thân… Cho nên SĐTD sẽ giúp HS hệ thống hoá kiến thức, giúp HS hình thành kiến thức mới, củng cố kiến thức đã học, sắp xếp chúng theo một hệ thống chặt chẽ mà chỉ ra mối liên hệ giữa nội dung các bài học theo một sơ đồ nhất định nhằm HS hiểu bài học hơn Khi kết hợp đặc thù kiến thức vi sinh vật có thể giúp HS phát huy năng lực tự học, liên hệ thực tế đồng thời rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức cho HS giúp HS học tốt kiến thức phần 3: Sinh học vi sinh vật, sinh học 10

2.2 Các nguyên tắc thiết kế sơ đồ tư duy

2.2.1 Nguyên tắc tiếp cận cấu trúc hệ thống

Nguyên tắc tiếp cận hệ thống xuất phát trên cơ sở xem xét các đối tượng như một hệ toàn vẹn [1] Các sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau và tác động với môi trường, vì vậy các phản ánh chúng cũng liên quan với nhau Hệ thống kiến thức bằng SĐTD là

Trang 30

hệ thống những mối liên hệ và tương quan tồn tại khách quan giữa các sự vật

và hiện tượng Chính sự xác lập mối quan hệ logic và liên tục trong quá trình hình thành hệ thống SĐTD là cơ sở của sự hình thành thế giới quan khoa học

Khi xem xét nguyên tắc tiếp cận hệ thống chính là xem xét mối quan hệ giữa tổng thể với bộ phận (mối quan hệ giữa hệ lớn và hệ con), mối quan hệ giữa các bộ phận (hệ con) với nhau và xem xét mối quan hệ giữa hệ với môi trường Trong đó hướng nghiên cứu vào việc khám phá tính chỉnh thể của đối tượng và các cơ chế đảm bảo tính chỉnh thể đó; làm sáng tỏ các mối quan hệ

đa dạng, phức tạp của hệ thống các đối tượng, hướng vào mô tả bức tranh lý thuyết thống nhất Thiết kế SĐTD trong dạy học phải được thực hiện theo nguyên tắc cơ bản của lý thuyết hệ thống

2.2.2 Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện dạy học

Quá trình dạy học gồm 6 thành tố cơ bản: Mục tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện - hình thức tổ chức - đánh giá, xét trong mối quan hệ giữa thầy và trò Nhiệm vụ của các nhà lý luận DH là nghiên cứu tìm ra những quy luật của sự tương tác giữa các thành tố này để điều khiển hợp lý quá trình DH nhằm đạt hiệu quả cao nhất Việc thiết kế và sử dụng BĐKN trong DH Sinh học nói chung và DH phần Sinh trưởng và phát triển nói riêng, cần phải thống nhất được 4 thành tố cơ bản của quá trình DH là mục tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện Bốn thành tố đó tác động qua lại với nhau một cách hữu

cơ, giải quyết tốt mối quan hệ này thì quá trình DH sẽ đạt kết quả cao

2.2.3 Nguyên tắc phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

Để đảm bảo nguyên tắc này, khi sử dụng SĐTD trong DH cần phải giải quyết một mâu thuẫn đó là: một bên kiến thức mang tính lý thuyết cao, các kiến thức hiện đại luôn được bổ sung và một bên là trình độ của HS Chỉ có thể giải quyết mâu thuẫn này bằng cách lựa chọn nội dung và hình thức bản

đồ sao cho đẹp, dễ quan sát, không quá phức tạp nhưng cũng không hình thức, đơn giản

Nguyên tắc này rất quan trọng, nó phải được quán triệt cả trước khi thiết kế và khi thiết kế SĐTD Việc thiết kế SĐTD phải phù hợp với các đối tượng khác nhau, nếu dễ quá thì HS khá và giỏi không hứng thú, còn nếu quá khó hoặc quá phức tạp sẽ gây tâm lý ngại cho các HS trung bình và HS yếu

Trang 31

Do vậy, việc thiết kế và sử dụng SĐTD sao cho phù hợp với các đối tượng là nguyên tắc cần được chú trọng

Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, khi thiết kế và sử dụng SĐTD cần tuân thủ theo các nguyên tắc khác như: Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, khoa học, nguyên tắc phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS, nguyên tắc đảm bảo việc đánh giá và tự đánh giá của HS…

2.3 Sử dụng SĐTD trong dạy học sinh học phần 3: Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10

2.3.1 Cách vẽ sơ đồ tư duy

(Theo Tony Buzan – Người sáng tạo ra phương pháp Mindmap – Sơ đồ tư duy) Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Tại sao lại phải

dùng hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp bạn

sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn

Ví dụ: Xây dựng SĐTD hệ thống toàn bộ kiến thức cho toàn Phần III:

Trang 32

nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng

Bước 4: Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ Bước 5: Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,…) Bước 6: Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các

đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều

Trang 33

Bước 7: Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm

Mẹo nhỏ:

- Hãy để trí tưởng tượng bay bổng, bạn có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các

ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn

- Dùng tối thiểu 3 màu để vẽ

- Mỗi nhánh chính là một màu riêng biệt, và các nhánh con, hình ảnh, chữ đi theo cũng nên cùng một màu với nhánh chính

- Có thể vẽ 2 mindmap, một mindmap nháp và một mindmap hoàn thiện

- Dùng "sự điên rồ" của mình để vẽ mindmap Bạn sẽ ngạc nhiên vì bản thân mình rất thông minh mà bình thường mình không nhận ra

- Có thể dùng mindmap để học bài, và người ta gọi nó là "học bài bằng cơ bắp"

Trang 35

 Gợi ý cách sử dụng phần mềm mindmap trên máy tính

- Bước 1: Tạo một Central idea (ý tưởng trung tâm)

Trên giao diện chính của Imindmap các bạn chọn File > New > Mindmap

-> chọn biểu tượng cho central idea >Start

Sau khi chọn một central idea thì trên giao diện xuất hiện central idea các bạn vừa chọn, tiếp theo các bạn nhấp đúp chuột trái và thay đổi nội dung, font, cỡ chữ, kiểu chữ theo ý muốn

Các bạn có thể phóng to, thu nhỏ central idea bằng cách nhấn chuột chọn biểu tượng central idea, xuất hiện 8 nút nắm màu xanh ở xung quanh Nhấn giữ chuột trái vào nút nắm bất kỳ và kéo vào để thu nhỏ hoặc kéo ra để phóng

to central idea theo ý muốn

- Bước 2: Thêm các nhánh

Imindmap gồm hai loại nhánh là Branch (nhánh trơn) và Box

Branch (nhánh có hộp văn bản đi kèm) Các bạn có thể thêm nhánh bằng

cách nhấn chọn central idea xuất hiện hai biểu tượng dấu +, các bạn chọn dấu cộng và chọn kiểu nhánh các bạn muốn thêm

Hoặc các bạn chọn central idea và chọn thẻ Insert > Branch

-> Child (nếu muốn thêm một nhánh trơn) Chọn Insert > Box > Child (nếu

muốn thêm một nhánh chứa hộp văn bản)

Để di chuyển nhánh các bạn nhấn chọn nhánh cần di chuyển, xuất hiện biểu tượng mũi tên bốn chiều như hình dưới, các bạn nhấn giữ chuột trái vào biểu tượng đó và kéo nhánh đến vị trí cần thiết thì nhả con trỏ chuột ra

Để thay đổi kiểu của nhánh các bạn chọn nhánh -> Branch -> Branch

Art, xuất hiện hộp thoại Branch Art các bạn chọn kiểu cho nhánh và

nhấn OK để thay đổi

Nếu các bạn muốn thay đổi hình hộp chứa văn bản của nhánh chứa hộp

văn bản thì các bạn chọn hộp văn bản và chọn biểu tượng Shape Sau đó lựa

chọn hình các bạn muốn

Thêm nhánh con cho các nhánh chính: chọn nhánh chính cần thêm nhánh sau đó chọn biểu tượng thêm nhánh trơn hoặc nhánh chứa hộp văn bản Các

Trang 36

bạn có thể thêm nhiều nhánh con cho một nhánh chính bằng các thao tác tương tự

- Bước 3: Thêm từ khóa

Với nhánh có hộp văn bản thì các bạn nhấn chọn chuột vào hộp văn bản

và nhập từ khóa, chỉnh sửa font, kiểu chữ và cỡ chữ cho nhánh Còn với nhánh trơn các bạn nhấn chọn nhánh và nhập từ khóa, chỉnh sửa font, kiểu chữ và cỡ chữ cho nhánh

Lưu ý: Nên sử dụng một từ khóa cho một nhánh

- Bước 4: Chọn mã màu cho các nhánh

Thay đổi màu sắc cho nhánh các bạn chọn nhánh -> Branch -> Branch

Color, xuất hiện hộp thoại Branch Color Picker các bạn chọn màu sắc cho

nhánh và nhấn OK để thay đổi

- Bước 5: Thêm các hình ảnh

Để sơ đồ sinh động hơn, dễ tư duy hơn thì các bạn có thể thêm các hình ảnh

mô tả ý tưởng của nhánh bằng cách nhấn chọn biểu tượng Images ở menu phía

bên phải hoặc chọn Insert -> Image Library để mở hộp thoại Image Library

Tại đây các bạn có thể tìm hình ảnh trong thư viện của Imindmap bằng

cách nhập từ khóa hình ảnh cần tìm trong ô Search the image library và nhấn Enter để tìm kiếm Sau đó chọn hình ảnh các bạn cần thêm vào sơ đồ

Để di chuyển hình ảnh các bạn nhấn giữ chuột trái và kéo hình ảnh đến vị trí cần đặt Để phóng to, thu nhỏ hình ảnh các bạn thực hiện như phóng to, thu nhỏ central idea

Cuối cùng, sau khi đã hoàn tất sơ đồ tư duy các bạn có thể xuất sơ đồ ra

file ảnh, document, chia sẻ qua web… bằng cách chọn File -> Export &

Share Xuất hiện hộp thoại Export các bạn có thể chọn kiểu xuất và làm theo

hướng dẫn để nhanh chóng xuất file hoặc chia sẻ file

Trang 37

2.3.2 Sử dụng SĐTD trong dạy kiến thức mới

Bước 1: Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài học lên bảng bằng hình vẽ bất kì trên bảng của lớp mà không ghi bài theo kiểu cũ Bước 2: Giáo viên cho học sinh ngồi theo nhóm thảo luận sơ đồ tư duy của mỗi học sinh đã chuẩn bị trước ở nhà để đối chiếu với sơ đồ tư duy của các bạn trong nhóm

Bước 3: Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn cấp số 1 và gọi học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn

Bước 4: Sau khi học sinh vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, giáo viên đặt câu hỏi tiếp ở nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp 2 tương tự học sinh đã hoàn thành nội dung sơ đồ tư duy của bài học mới ngay tại lớp

Bước 5: Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu vào sơ đồ tư duy của từng cá nhân

Bước 6: Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều

Bước 7: Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm

Ví dụ : Dạy học Bài 29: Cấu trúc các loại virut – Chương III Phần

ba - Sinh học 10

Hoạt động 1: Lập BĐTD Mở đầu bài học, GV có thể cho HS lập

SĐTD theo nhóm hay cá nhân với các gợi ý: Tìm những ý chính cần nghiên cứu trong bài học

Cụ thể trong bài học này, chúng ta nghiên cứu 2 ý chính Thứ nhất là Cấu tạo: bao gồm thành phần cơ bản, một số virut còn có thêm vỏ ngoài bao bọc… Thứ hai là Hình thái: Bao gồm mấy loại cấu trúc,

Nhờ có quá trình xây dựng SĐTD ban đầu như vậy, học sinh sẽ dễ dàng tiếp thu những nội dung chính của bài học hơn

Trang 38

Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về SĐTD Cho một vài HS hoặc

đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập Qua hoạt động này vừa biết rõ việc hiểu kiến thức của các

em vừa là một cách rèn cho các em khả năng thuyết trình trước đông người, giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, đây cũng là một trong những điểm cần rèn luyện của học sinh nước ta hiện nay

Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện SĐTD Tổ chức cho

HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh SĐTD về một số thân mềm khác, từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm của bài học

Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD GV cho HS lên

trình bày, thuyết minh về kiến thức hình chữ nhật thông qua một SĐTD do

GV đã chuẩn bị sẵn

Trang 40

Khi HS đã thiết kế BĐTD và tự “ghi chép” phần kiến thức như trên là các em đã hiểu sâu kiến thức và biết chuyển kiến thức từ SGK theo cách trình bày thông thường thành cách hiểu, cách ghi nhớ riêng của mình

2.3.3 Sử dụng SĐTD trong hoàn thiện tri thức

SĐTD để củng cố kiến thức, hoàn thiện tri thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần… Sử dụng SĐTD vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ Các SĐTD thường được giáo viên sử dụng ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng

Ví dụ 1: Hệ thống kiến thức Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật - Phần III: Sinh học vi sinh vật

Ngày đăng: 27/06/2022, 21:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
t đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề (Trang 13)
1.3.2. Điều tra tình hình sử dụng SĐTD trong dạy học sinh học phần 3: Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
1.3.2. Điều tra tình hình sử dụng SĐTD trong dạy học sinh học phần 3: Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 (Trang 22)
Bảng 1.3. Kết quả khảo sát việc tình hình sử dụng SĐTD trong các khâu của quá trình dạy học Sinh học và mức độ tích cực trong việc sử dụng SĐTD - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
Bảng 1.3. Kết quả khảo sát việc tình hình sử dụng SĐTD trong các khâu của quá trình dạy học Sinh học và mức độ tích cực trong việc sử dụng SĐTD (Trang 23)
Bảng 1.2. Kết quả khảo sát việc GV hướng dẫn HS sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3: Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10 THPT - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
Bảng 1.2. Kết quả khảo sát việc GV hướng dẫn HS sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3: Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10 THPT (Trang 23)
Lồng ghép: Giới thiệu các hình thức sinh sản của vi sinh vật - bài 26 - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
ng ghép: Giới thiệu các hình thức sinh sản của vi sinh vật - bài 26 (Trang 27)
Bước 7: Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm. - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
c 7: Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm (Trang 33)
trình bày, thuyết minh về kiến thức hình chữ nhật thông qua một SĐTD do GV đã chuẩn bị sẵn - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
tr ình bày, thuyết minh về kiến thức hình chữ nhật thông qua một SĐTD do GV đã chuẩn bị sẵn (Trang 38)
Bảng 3.2. Kết quả phân loại trình độ lĩnh hội kiến thức của học sinh qua 2 lần kiểm tra trong thực nghiệm - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
Bảng 3.2. Kết quả phân loại trình độ lĩnh hội kiến thức của học sinh qua 2 lần kiểm tra trong thực nghiệm (Trang 48)
Bảng 3.3. Phân loại trình độ HS qua các lần kiểm tra trong thực nghiệm - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
Bảng 3.3. Phân loại trình độ HS qua các lần kiểm tra trong thực nghiệm (Trang 48)
Từ các bảng số liệu trên ta có biểu đồ tần suất tổng hợp bài kiểm tra ở các lớp TN và ĐC: - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
c ác bảng số liệu trên ta có biểu đồ tần suất tổng hợp bài kiểm tra ở các lớp TN và ĐC: (Trang 50)
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất tổng hợp các bài kiểm tra khối lớp TN và ĐC. - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất tổng hợp các bài kiểm tra khối lớp TN và ĐC (Trang 50)
Bảng 3.7. Kiểm định X điểm trắc nghiệm - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
Bảng 3.7. Kiểm định X điểm trắc nghiệm (Trang 52)
Bảng 3.8. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
Bảng 3.8. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm (Trang 53)
3.5.2. Đánh giá việc hình thành kĩ năng ở học sinh (Phụ lục 5) - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
3.5.2. Đánh giá việc hình thành kĩ năng ở học sinh (Phụ lục 5) (Trang 54)
2 Hình thành được cách học môn  sinh học riêng  của bản thân - Sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học phần 3 sinh học vi sinh vật – sinh học 10 tại trường THPT công nghiệp việt trì
2 Hình thành được cách học môn sinh học riêng của bản thân (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w