Hiện nay, xuất phát từ hiệu quả kinh tế-xã hội của nhiều mô hình nuôi trồng nấm đem lại, số lượng người dân trong tỉnh Phú Thọ đang có nhu cầu và mong muốn được học tập kinh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
TRẦN THỊ MỸ LINH
QUY TRÌNH VÀ HIỆU QUẢ NUÔI TRỒNG
CHỦNG NẤM SÒ TRẮNG (Pleurotus florida)
NHẬP KHẨU TỪ THÁI LAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
TRẦN THỊ MỸ LINH
QUY TRÌNH VÀ HIỆU QUẢ NUÔI TRỒNG
CHỦNG NẤM SÒ TRẮNG (Pleurotus florida)
NHẬP KHẨU TỪ THÁI LAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin gửi lờ i cảm ơn sâu sắc đến cô giáo – Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Liên, đã tâ ̣n tình giúp đỡ hướng dẫn e trong suốt thời gian thực hiện khó a luâ ̣n
Em xin bày tỏ lờ i cảm ơn đến thầy cô trong bô ̣ môn Sinh ho ̣c – Khoa Khoa học tự nhiên, Trườ ng Đa ̣i học Hùng Vương, đã ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i giú p đỡ và tạo điều kiê ̣n cho em trong thời gian thực hiê ̣n khóa luâ ̣n
Em xin trân thành cảm ơn gia đình ông Nguyễn Văn Tuấn Khu 6 – Vân Phú – Việt Trì – Phú Thọ đã giúp đỡ em trong quá trình thực nghiê ̣m ở mô
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa luận là trung thực Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc và được phép công bố
Phú Thọ, ngày … tháng … năm …
Sinh viên thực hiện
Trang 5MU ̣C LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
PHẦN II: NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Nguồ n gố c củ a Nấm 4
1.2 Giá tri ̣ dinh dưỡng và giá tri ̣ dươ ̣c liê ̣u của Nấm 5
1.3 Sơ lược về sự phát triển nghề trồng nấm trên thế giới 11
1.4 Sơ lược về sự phát triển trồng nấm ở Việt Nam 15
1.5 Khái quát chung về nấm sò 21
1.5.1 Đặc điểm sinh học của nấm sò 21
1.5.2 Một số yêu cầu khi nuôi trồng nấm sò P florida 22
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Phạm vi, nội dung nghiên cứu 25
2.2.1 Phương pháp nhân giống nấm sò trắng Pleurotus florida 25
2.2.2 Phương pháp chuẩn bị và xử lý nguyên vật liệu sử dụng trong nuôi trồng nấm sò trắng (Pleurotus florida) đại trà 26
2.2.3 Phương pháp cấy giống vào nguyên vật liệu 26
2.2.4 Phương pháp ươm sợi và chăm sóc 26
2.2.5 Phương pháp chăm sóc giai đoạn quả thể và thu hoạch 26
2.2.6 Phương pháp xử lý nguyên liệu sau thu hoạch 27
Trang 62.2.7 Phương pháp xử lý số liệu 27
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Nhân giống nấm sò Pleurotus florida 28
3.1.1 Nhân giống cấp 1 28
3.2 Chuẩn bị và xử lý nguyên vật liệu nuôi trồng nấm sò trắng Pleurotus florida 32
3.2.1 Chuẩn bị nguyên vật liệu, cơ sở vật chất, nhân công và xử lý nguyên liệu nuôi trồng nấm sò 32
3.2.2 Hấp khử trùng nguyên liệu 36
3.3 Cấy giố ng 39
3.4 Ươm sơ ̣i và chăm sóc nấm sò trắng Pleurotus florida 39
3.4.1 Ươm sơ ̣i 39
3.4.2 Chăm sóc và thu hái 40
3.5 Xử lí nguyên liệu sau thu hoạch 43
3.6 Đánh giá hiệu quả thu được từ mô hình 43
3.2 Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh giá trị dinh dưỡng của một số loại nấm phổ biến 7
(so với trứng gà) 7
Bảng 1.2 Hàm lượng vitamin và chất khoáng (so với trứng gà) 8
Bảng 1.3 Thành phần axit amin (amino acid) (so với trứng gà) 8
Bảng 3.1 Khả năng sinh trưởng hệ sợi nấm sò cấp I 28
Bảng 3.2 Khả năng sinh trưởng hệ sợi nấm sò cấp II 30
Bảng 3.3 Khả năng sinh trưởng hệ sợi nấm sò cấp III 31
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Hệ sợi nấm sò cấp I 29
Hình 3.3 Hệ sợi nấm sò trắng cấp III 32
Hình 3.4 Đảo trộn nguyên liệu 34
Hình 3.5 Đóng túi nguyên liệu 35
Hình 3.6 Túi nguyên liệu hoàn chỉnh 35
Hình 3.7 Sắp xếp túi nguyên liệu trong lò hấp khử trùng 37
Hình 3.8 Túi nguyên liệu sau khi hấp khử trùng 38
Hình 3.9 Cách ra ̣ch bi ̣ch nguyên liệu nuôi trồng nấm sò 40
Hình 3.10 Nấm sò giai đoa ̣n ra quả thể và chuẩn bi ̣ thu hoa ̣ch 41
Hình 3.11 Nấm sò đã đươ ̣c thu hoa ̣ch chuẩn bi ̣ sơ chế để mang bán 42
Trang 9PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Vấn đề an toàn thực phẩm, sức khỏe và bảo vệ môi trường luôn được coi trọng ở tất cả các quốc gia trên thế giới Để giải quyết vấn đề thực phẩm sạch và giầu dinh dưỡng, việc tăng cường sử dụng nấm ăn trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người đang là một giải pháp hữu hiệu
Sản phẩm nấm ăn đặc biệt tốt với sức khoẻ người sử dụng, an toàn và chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người Nấm ăn là nguồn thực phẩm quý, vừa thơm ngon vừa có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trong nấm nhiều hơn trong sữa, chiếm 8,41-47,42 % trọng lượng khô với nhiều axit amin quan trọng, trong đó có 25-35 % là axit amin tự do Protein của nấm không giống protein của động vật, nó không gây sơ cứng động mạch và không làm tăng cholesterol trong máu Đặc biệt, nghề nuôi trồng nấm đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người lao động, tận dụng lao động phổ thông lúc nông nhàn, sử dụng nguồn phế phụ phẩm nông lâm nghiệp, góp phần bảo vệ môi trường sống, phế liệu sau nuôi trồng nấm có khả năng tái tạo đất, làm phân bón rất tốt cho cây trồng [9]
Một trong những loài nấm ăn truyền thống đã được nuôi trồng ở nhiều
nước trên thế giới từ lâu là nấm sò trắng (Pleurotus florida) Ở Việt Nam,
nghề nuôi trồng nấm ăn nói chung và nuôi trồng nấm sò nói riêng đã chứng minh được hiệu quả đem lại trong thực tiễn Hiện nay, nghề nuôi trồng nấm cũng đã được các Sở Nông nghiệp, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Khoa học và Công nghệ của các tỉnh như Thái Nguyên, Nam Định, Hải Phòng, Hưng Yên, Quảng Ninh, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ … và một số tỉnh phía nam chú trọng phát triển, phổ biến, nhân rộng cho người dân từ khoảng
15 năm trở lại đây [8],[ 7]
Ở Phú Thọ, nghề nuôi trồng nấm đã được thực hiện thành công và đem lại hiệu quả cao tại các mô hình ở nhiều huyện như Tân Sơn, Thanh Sơn, Lâm Thao, Phù Ninh, Cẩm Khê, Thanh Ba, Thanh Thủy và thành phố Việt Trì…
Trang 10đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương, đặc biệt ở những huyện nghèo, miền núi, gặp nhiều khó khăn Sản lượng nấm sò tươi được sản xuất ra hiện nay chưa đủ đáp ứng cho nhu cầu thực tế trên thị trường
Hiện nay, xuất phát từ hiệu quả kinh tế-xã hội của nhiều mô hình nuôi trồng nấm đem lại, số lượng người dân trong tỉnh Phú Thọ đang có nhu cầu
và mong muốn được học tập kinh nghiệm để thực hiện nuôi trồng nấm sò tại
mô hình của gia đình đang ngày càng tăng lên Trong khi đó, để đảm bảo việc nuôi trồng nấm ăn nói chung và nuôi trồng nấm sò nói riêng luôn đạt hiệu quả cao, việc thực hiện các thao tác kỹ thuật (các bước) trong quy trình nuôi trồng nấm sò đại trà giữ một vai trò hết sức quan trọng Vì vậy, để góp phần tìm hiểu và phổ biến rộng rãi quy trình kỹ thuật nuôi trồng nấm sò đại trà năng suất cao, đề tài: “Quy trình và hiê ̣u quả nuôi trồng chủng nấm sò trắng
1.2 Mục đích
Thực hiện các kỹ thuật trong quy trình nuôi trồ ng chủ ng nấm sò trắng
(Pleurotus florida) nhập khẩu từ Thái Lan đại trà và đánh giá được hiệu quả nuôi trồng nấm sò tại mô hình nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học trong việc thực hiện các kỹ thuật trong quy trình nuôi trồng nấm sò , giúp cho người dân và các cơ sở nuôi trồng sản xuất nấm thực hiện việc nuôi trồng nấm
sò đạt hiệu quả cao
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá được hiệu quả nuôi trồng nấm sò tại mô hình nghiên cứu Ngoài ra, dựa trên kết quả thu được trong đề tài người dân có thể chủ động thực hiện được quy trình nuôi trồng
Trang 11nấm sò đại trà đạt hiệu quả cao từ đó giúp nâng cao thu nhập và chất lượng đời sống của con người
Trang 12PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nguồn gốc cu ̉ a Nấm
Trong một thời gian dài, các nhà phân loại học đã xếp nấm là thành viên của giới thực vật Sự phân loại này chủ yếu được dựa trên sự tương đồng trong cách sống giữa nấm và thực vật Cả nấm và thực vật chủ yếu đều không
di động, hình thái và môi trường sống có nhiều điểm giống nhau Thêm nữa,
cả hai đều có thành tế bào, điều mà giới động vật không có Tuy nhiên, hiện nay nấm lại được công nhận là một giới riêng biệt với thực vật hay động vật, chúng đã tách ra và xuất hiện xấp xỉ hơn một tỷ năm trước Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra những sự giống và khác về đặc điểm hình thái, sinh hóa và di truyền giữa nấm và các giới
Hiện tại nấm được chia làm 7 ngành:
- Ngành Chytridiomycota hay Chytrid (Nấm roi - nấm trứng): Chúng tồn tại rải rác khắp nới trên thế giới Chytrid sẽ sản sinh ra những bào tử động
mà có khả năng di chuyển linh động trong môi trường nước với một tiên mao duy nhất Vì thế một số nhà phân loại học đã phân loại chúng là những động vật nguyên sinh
- Ngành Blastocladiomycota trước đây từng được cho là một nhánh phân loại của Chytridiomycota Những dữ liệu phân tử và đặc điểm siêu cấu trúc gần đây đã đưa Blastocladiomycota vào một nhánh riêng giống như với các ngành Zygomycota, Glomeromycota và Dikarya Blastocladiomycetes là những sinh vật hoại sinh hoặc kí sinh của tất cả các nhóm sinh vật nhân chuẩn
Trong một thời gian dài, các nhà phân loại học đã xếp nấm là thành viên của giới thực vật Sự phân loại này chủ yếu được dựa trên sự tương đồng trong cách sống giữa nấm và thực vật Cả nấm và thực vật chủ yếu đều không
di động, hình thái và môi trường sống có nhiều điểm giống nhau Thêm nữa,
cả hai đều có thành tế bào, điều mà giới động vật không có Tuy nhiên, hiện
Trang 13nay nấm lại được công nhận là một giới riêng biệt với thực vật hay động vật, chúng đã tách ra và xuất hiện xấp xỉ hơn một tỷ năm trước Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra những sự giống và khác về đặc điểm hình thái, sinh hóa và di truyền giữa nấm và các giới
Hiện tại nấm được chia làm 7 ngành:
- Ngành Chytridiomycota hay Chytrid (Nấm roi - nấm trứng): Chúng tồn tại rải rác khắp nới trên thế giới Chytrid sẽ sản sinh ra những bào tử động
mà có khả năng di chuyển linh động trong môi trường nước với một tiên mao duy nhất Vì thế một số nhà phân loại học đã phân loại chúng là những động vật nguyên sinh
- Ngành Blastocladiomycota trước đây từng được cho là một nhánh phân loại của Chytridiomycota Những dữ liệu phân tử và đặc điểm siêu cấu trúc gần đây đã đưa Blastocladiomycota vào một nhánh riêng giống như với các ngành Zygomycota, Glomeromycota và Dikarya Blastocladiomycetes là những sinh vật hoại sinh hoặc kí sinh của tất cả các nhóm sinh vật nhân chuẩn.[4]
1.2 Gia ́ tri ̣ dinh dưỡng và giá tri ̣ dươ ̣c liê ̣u của Nấm
* Giá trị dinh dưỡng
Nấm ăn là nguồn thực phẩm quý, vừa thơm ngon vừa có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng protein trong nấm nhiều hơn trong sữa, chiếm 8,41- 47,42% trọng lượng khô với nhiều axit amin quan trọng, trong đó có 25-35%
là axit amin tự do Protein của nấm không giống protein của động vật, nó không gây sơ cứng động mạch và không làm tăng cholesterol trong máu [11] Đáng lưu ý là trong nấm có các axit amin không thay thế với tỷ lệ cân đối Ngoài các axit amin thông thường và các amit, nấm ăn còn chứa các axit amin rất ít gặp và các hợp chất chứa nitơ quan trọng như: metionin sunfoxit, ß – alanin, axit cistric, hydroxy prolin, photpho xerin, xistation, canavanin, crreatinin, xitrulin, ornitin, glucozamin và etanolamin Hàm lượng lipit chiếm 1,39% - 10,53% Khoảng 72% axit béo là không bão hoà, chủ yếu là linoleic
Trang 14(chiếm 76% ở Lentinus edodes, 70% ở V volvacea và 69% ở A bisporus) là
các axit amin không thể thiếu được trong các khẩu phần thức ăn của con người Trong khi đó các axit béo bão hoà gặp với hàm lượng cao ở mỡ động vật lại có hại cho sức khoẻ Do đó nấm ăn được coi như là một loại thực phẩm lành mạnh
Trong 140 loài nấm ăn ở Nhật Bản phân tích cho thấy có tới 118 loài có chứa trung bình 0,126 mg vitamin B2/100 g nấm, 47 loài có chứa trung bình 1,229 g vitamin B2/100 g Vitamin B12 vốn không có trong thức ăn thực vật nhưng lại có khá nhiều trong nấm mỡ Rất nhiều loài nấm ăn có chứa tiền vitamin D Nấm ăn có chứa tiền vitamin A Những loài có chứa tiền vitamin
A là Cantharellus cibarius, Guepinia spathularia…vitamin C cũng có mặt
phổ biến trong nấm ăn, liều lượng trung bình khoảng 13 mg/100 g nấm [3] Nấm có chứa các enzim như amilaza, xenlulaza, lipaza, proteaza…và khá nhiều nguyên tố khoáng (K, Na, Ca, Fe, Al, Mg, Cu, Zn, S, Cl, P, Si…) Lượng chất khoáng có trong nấm ăn thường vào khoảng 7% tính theo trọng
lượng khô Trong các nấm mọc trên đất (Geophilous) thường chứa lượng chất
khoáng cao hơn các nấm mọc trên gỗ Tuy nhiên các giá trị dinh dưỡng còn phụ thuộc vào điều kiện nuôi cấy, chủng giống và điều kiện khí hậu, môi trường sinh thái
Bên cạnh đó nấm ăn còn chứa nhiều vitamin, axit amin, chất xơ, chất khoáng Ngoài các chất dinh dưỡng, một số loài nấm còn chứa hàng loạt các chất thơm có hoạt tính sinh học, chính các chất này đã tạo nên hương vị đặc biệt của nấm,làm cho chúng không chỉ là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mà còn trở thành loại gia vị không thể thiếu trong nghệ thuật ẩm thực [13], [11] Do đặc tính sinh học, các chất dinh dưỡng và vi chất có lợi cho sức khỏe con người dễ dàng được chuyển hóa thành năng lượng cho cơ thể, phù hợp với các giải pháp “ăn kiêng” dành cho các bệnh nhân tiểu đường, mỡ máu, gút cũng như người có thói quen ăn chay Sử dụng nấm thượng đẳng thì protein của nấm không giống như protein của động vật, nó không
Trang 15gây xơ cứng động mạch và làm tăng lượng cholesterol trong máu Xét về mặt dinh dưỡng nấm đứng ở giữa rau và thịt Trong nấm ăn còn có nhiều vitamin
A, B, C, D, E hàm lượng muối khoáng trong nấm cao hơn thịt và cá và gần gấp đôi so với các loại rau quả thông thường, đặc biệt trong nấm ăn không chứa độc tố như bảng 1.1, 1.2, 1.3 và bảng 1.4 Đối với người suy nhược cơ thể, các món ăn chế biến từ nấm giúp phục hồi sinh lực nhanh chóng Việc chế biến các món ăn cũng không đòi hỏi cầu kì mà vẫn rất ngon miệng như nấu cháo, nấu canh, xào, vừa có tác dụng bổ dưỡng vừa có tác dụng trị bệnh Cũng trong một bữa ăn gia đình, nấm sò có thể xuất hiện với nhiều món ăn khác nhau mà không gây nhàm chán về khẩu vị, phù hợp với mọi người trong gia đình
Bảng 1.1 So sánh giá trị dinh dưỡng của một số loại nấm phổ biến
Hidrat cacbon Tro Calo
Trang 16Ba ̉ ng 1.2 Hàm lượng vitamin và chất khoáng (so với trứng gà)
Bảng 1.3 Thành phần axit amin (amino acid) (so với trứng gà)
Đơn vi: mg/100g chất khô
* Giá trị dược liệu của nấm
Ngoài giá trị cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, nấm ăn còn có nhiều tác dụng dược lý khá phong phú như: Tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể: Các polisaccarit trong nấm có khả năng hoạt hóa miễn dịch tế bào, thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào lympho, kích hoạt tế bào lympho T và lympho B Nấm linh chi, nấm vân chi, nấm đầu khỉ và mộc nhĩ đen còn có tác dụng nâng cao năng lực hoạt động của đại thực
Trang 17bào.Kháng ung thư và kháng virus: Trên thực nghiệm, hầu hết các loại nấm
ăn đều có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư Với nấm hương, nấm linh chi và nấm trư linh, tác dụng này đã được khảo sát và khẳng định trên lâm sàng Nhiều loại nấm ăn có công năng kích thích cơ thể sản sinh interferon, nhờ đó ức chế được quá trình sinh trưởng và lưu chuyển của virut [1],[4] Dự phòng và trị liệu các bệnh tim mạch: Nấm ăn có tác dụng điều tiết công năng tim mạch, làm tăng lưu lượng máu động mạch vành, hạ thấp oxi tiêu thụ và cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim Các loại nấm như ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng), mộc nhĩ đen, nấm đầu khỉ, nấm hương, đông trùng hạ thảo đều có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipit máu, làm hạ lượng cholesterol,
triglycerit và beta - lipoprotein trong huyết thanh
Ngoài ra, nấm linh chi, nấm mỡ, nấm rơm, nấm kim châm, ngân nhĩ, mộc nhĩ đen còn có tác dụng làm hạ huyết áp Giải độc và bảo vệ tế bào gan: Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều loại nấm ăn có tác dụng giải độc và bảo vệ tế bào gan rất tốt Ví như nấm hương và nấm linh chi có khả năng làm giảm thiểu tác hại đối với tế bào gan của các chất như cacbon tetrachlorit, thioacetamit và prednison, làm tăng hàm lượng glucogen trong gan và hạ thấp men gan Nấm bạch linh và trư linh có tác dụng lợi niệu, kiện tỳ, an thần, thường được dùng trong những đơn thuốc
đông dược điều trị viêm gan cấp tính Kiện tỳ dưỡng vị: Nấm đầu khỉ có khả năng lợi tạng phủ, trợ tiêu hóa, có tác dụng rõ rệt trong trị liệu các chứng bệnh như chán ăn, rối loạn tiêu hóa, viêm loét dạ dày tá tràng Nấm bình có tác dụng ích khí sát trùng, phòng chống viêm gan, viêm loét dạ dày tá tràng, sỏi mật Nấm kim châm và nấm kim phúc chứa nhiều arginin, có công dụng phòng chống viêm gan và loét dạ dày Hạ đường máu và chống phóng xạ: Khá nhiều loại nấm ăn có tác dụng làm hạ đường máu như ngân nhĩ, đông trùng hạ thảo, nấm linh chi Cơ chế làm giảm đường huyết của đông trùng hạ thảo là kích thích tuyến tụy bài tiết insulin Ngoài công dụng điều chỉnh đường máu, các polisaccarit B và C trong nấm linh chi còn có tác dụng chống
Trang 18phóng xạ Thanh trừ các gốc tự do và chống lão hóa: Gốc tự do là các sản phẩm có hại của quá trình chuyển hóa tế bào Nhiều loại nấm ăn như nấm linh chi, mộc nhĩ đen, ngân nhĩ có tác dụng thanh trừ các sản phẩm này, làm giảm chất mỡ trong cơ thể, từ đó có khả năng làm chậm quá trình lão hóa và kéo
dài tuổi thọ Ngoài ra, nhiều loại nấm ăn còn có tác dụng an thần, trấn tĩnh, rất
có lợi cho việc điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh trung ương Gần đây, nhiều
nhà khoa học còn phát hiện thấy một số loại nấm ăn có tác dụng phòng chống AIDS ở mức độ nhất định, thông qua khả năng nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể [8]
* Giá trị kinh tế
Nền công nghiệp sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu hiện nay đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước trên thế giới Tổng sản lượng nấm trên toàn thế giới tăng hơn 18 lần trong 32 năm, từ 350.000 tấn năm 1965 lên 6.160.800
Có thể nói nấm ngày càng có giá trị to lớn trong nền kinh tế quốc dân, trong nghiên cứu khoa học giữ vai trò không thể thiếu trong vòng tuần hoàn vật chất trong tự nhiên
Trang 191.3 Sơ lược về sự phát triển nghề trồng nấm trên thế giới
Ngày nay, theo công bố gần đây cho thấy đã phát hiện trên 2.000 loài nấm, trong đó có khoảng 80 loài có thể ăn được và nuôi trồng thành công như nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm rơm, nấm mộc nhĩ, nấm kim châm, nấm đùi gà…, và nấm sử dụng trong lĩnh vực dược liệu như nấm linh chi, nấm phục linh, nấm vân chi, nấm đầu khỉ… Có trên 100 quốc gia/ vùng lãnh thổ trồng nấm, sản lượng nấm thế giới đạt khoảng 25 triệu tấn/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân 7% - 10%/ năm Các nước sản xuất nấm hàng đầu thế giới (số liệu năm 1994) là: Trung Quốc: 2.850.000 tấn (trong đó Đài Loan: 71.800 tấn), chiếm 53,79% tổng sản lượng nấm thế giới, Hoa Kỳ: 393.400 tấn (7,61%), Nhật Bản: 360.100 tấn (7,34%), Pháp: 185.000 tấn, Indonesia: 118.800 tấn, Hàn Quốc: 92.000 tấn, Hà Lan: 88.500 tấn, Ý: 71.000 tấn, Canada: 46.000 tấn, Anh: 28.500 tấn Theo Công Phiên (2012): Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đã áp dụng kỹ thuật tiên tiến và công nghiệp hoá nghề nấm nên đã đạt mức tăng trưởng gấp hàng trăm lần trong vòng 10 năm qua Nhật Bản đạt gần
1 triệu tấn nấm hương/ năm Hàn Quốc nổi tiếng với nấm Linh chi, mỗi năm xuất khẩu thu về hàng trăm triệu USD Tại Hàn Quốc, nhiều Viện, Trung tâm nghiên cứu nấm lớn đóng vai trò là đầu tàu để phát triển nghề trồng nấm mỗi năm đem lại hàng tỷ USD từ xuất khẩu Năm 2008 tổng giá trị sản xuất nấm ở Hàn Quốc đạt gần 8 tỷ USD, chiếm 3% tổng giá trị ngành nông nghiệp Trong đó, nấm ngân nhĩ chiếm 27,8%, đùi gà 23,3%, nấm sò 20,2%, nấm hương 19,3%, nấm mỡ 5,4% Hàn Quốc hiện là nước đang nhập khẩu nguyên liệu (mùn cưa, rơm rạ) từ Việt Nam và Trung Quốc để trồng nấm, đồng thời xuất khẩu nấm sang 80 quốc gia, trong đó có Việt Nam (Hiệp hội nấm ăn Hàn Quốc, 2010)
Trung Quốc là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới Năm 1995, sản lượng là 3 triệu tấn, chiếm 60% tổng sản lượng thế giới, riêng tỉnh Phúc Kiến 0,8 triệu tấn, chiếm 26,7% cả nước, 6,4% toàn thế giới Năm 2008, Trung Quốc đã sản xuất được 18 triệu tấn nấm tươi các loại Năm 2009, riêng tỉnh
Trang 20Phúc Kiến sản xuất gần 2 triệu tấn đạt giá trị trên 8,6 tỷ Nhân dân tệ thu hút trên 3 triệu lao động trồng nấm chuyên nghiệp Năm 2010, Trung Quốc sản xuất được 20,2 triệu tấn, tương đương mức giá trị khoảng 300 tỉ NDT (Tổng cục thống kê Trung Quốc, 2011) Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Đức (300 triệu USD), Hoa Kỳ (200 triệu USD), Pháp (140 triệu USD), Nhật Bản (100 triệu USD) Mức tiêu thụ nấm bình quân theo đầu người của Châu Âu, Mỹ, Nhật, Đức khoảng 4,0 - 6,0 kg/năm; dự kiến tăng trung bình 3,5%/năm Tại thị trường châu Âu nấm mỡ chiếm khoảng 80 - 95%, mộc nhĩ khoảng 10% thị phần Những năm trước của thế kỷ 20, Mỹ chiếm khoảng 50% thị trường nấm mỡ của thế giới Theo ITC, năm 2010 thế giới nhập khẩu 1,26 triệu tấn, giá trị 3,3 tỷ USD Trong đó nấm tươi 572 nghìn tấn, giá trị 1,52 tỷ USD; nấm chế biến ăn liền 504 nghìn 3 tấn, giá trị gần 1 tỷ USD, nấm khô 60,6 nghìn tấn, giá trị gần 740 triệu USD Từ năm 2006 đến 2010 tốc độ tăng trưởng thị trường xuất nhập khẩu nấm khoảng 10%/năm (Công Phiên, 2012) [10]
Sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu đang phát triển với tốc độ nhanh, xu thế ngày càng phát triển về qui mô, phương thức, nguyên liệu sản xuất Loại hình sản phẩm và chủng loại sản xuất ngày càng đa dạng Sản lượng nấm trên thế giới ước tính khoảng 6,1 triệu tấn trong năm 1997 và 12,2 triệu tấn trong năm 2002, sản lượng và chủng loại nấm ở các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng (Chang, 2006) Trong những năm gần đây với hơn 1 loài nấm mới,
bao gồm nấm mặt trời Agaricus blazei, nấm Sò vua, nấm Trân châu, nấm Vân
chi… có tiềm năng triển khai rất lớn, lượng tiêu thụ đã tăng lên nhanh chóng, một số nước đã thành lập các nhà máy để sản xuất nấm Wang và cộng sự (2005) Nấm ăn nói chung và mộc nhĩ nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống con người Từ thời hoàng đế La Mã loài người đã biết dùng nấm làm thức ăn và làm thuốc Khởi đầu từ thế kỉ thứ VI, người ta đã biết trồng các loại nấm để ăn mặc dù kỹ thuật còn thô sơ Nhiều tài liệu tham khảo của Chang & Miles (1987) cho thấy nấm tai mèo (mộc nhĩ) được trồng đầu
Trang 21tiên ở Trung Quốc, nấm kim châm, nấm hương, nấm rơm, nấm mộc nhĩ trắng được trồng vào khoảng năm 800-1800 sau công nguyên
Nghiên cứu và sản xuất nấm trên thế giới ngày càng phát triển mạnh
mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ Ở nhiều nước phát triển như Hà Lan, Pháp, Italia, Nhật Bản, Mỹ, Đức nghề nuôi trồng nấm đã được cơ giới hóa cao từ khâu xử lý nguyên liệu đến thu hái, chế biến nấm đều do máy móc thực hiện Các nơi ở khu vực Châu Á như Đài Loan, Trung Quốc, Malaixia, Indonexia, Singapo, Triều Tiên, Thái Lan nghề nuôi trồng nấm cũng phát triển rất mạnh mẽ Một số loài nấm ăn được
nuôi trồng khá phổ biến đó là nấm mỡ (Agaricus bisporus), nấm hương (lentinus edodes), nấm rơm (Volvariella volvacea), nấm sò (Pleurotus ostreatus), mộc nhĩ (Auricularia auricula)
Pháp và Anh là hai nước đầu tiên áp dụng kỹ thuât trồng nấm và chính người Pháp và người Anh di cư đã mang theo nghề trồng nấm sang Mỹ và các khu vực khác như Hà Lan, Ba Lan, Pungari Ở Pháp một nhà trồng nấm đạt tới 350 tấn/năm, Pháp xuất khẩu chiếm 80.000 tấn, Đài Loan chiếm 50.000 tấn trong tổng số lượng nấm trồng theo phương pháp trồng nhân tạo là 750.000 tấn
Vào những năm 1983-1984 sản lượng nấm trồng của thế giới chiếm khoảng 1,4 triệu tấn trong đó hơn 90% là các loại nấm mỡ, nấm hương, nấm rơm, nấm sò, mộc nhĩ và một số nấm thông dụng khác
Năm 1985 sản lượng nấm trên toàn thế giới là 1,7 triệu tấn trong đó riêng ở Mỹ là 270.000 tấn Trung Quốc, Hà Lan cũng là những nước có sản lượng nuôi trồng nấm cao
Riêng ở khu vực Đông Nam Á và Nhật Bản việc nuôi trồng nấm ăn mang những đặc thù riêng: Năm 1984 Đại Hàn đã sản xuất 869 tấn rễ nấm
Trichoderma mateutake một loại nấm ăn quý và đắt tiền có giá trị tổng cộng tới 24 triệu USD Cũng năm đó nước này đã sản xuất 19.000 tấn Agaricus bisporus cho thu nhập 10.293.000 USD Nấm hương được sản xuất với sản
Trang 22lượng 770 tấn trong đó xuất khẩu 445 tấn mang lại 9.025.000 USD Sản lượng mộc nhĩ khá đáng kể nằm vào khoảng 1.000 tấn có giá trị hơn 3 triệu USD, còn sản lượng nấm sò 2.400 tấn có giá trị 5.280.000 USD Trong những năm đầu thập kỷ 90 phong trào trồng nấm được phát triển mạnh mẽ, tổng sản lượng đạt khoảng 500 tấn/năm Thị trường tiêu thụ chủ yếu là nấm muối xuất khẩu sang Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan,
Trong số các loài nấm ăn, mộc nhĩ (Auricularia) là một trong số ít loài
nấm rất phổ biến, đặc biệt ở Châu Á Sản lượng mộc nhĩ vào năm 1981 được nuôi trồng chính ở khu vực các nước Nhật Bản, Đài Loan đạt tới 12.000 tấn, chiếm 1,1% tổng số các loài nấm ăn trên thế giới Cho đến những năm gần đây, sản lượng mộc nhĩ thu hoạch hàng năm đạt tới hàng trăm nghàn tấn khô
Ngày nay, khu vực Châu Á (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc,…) triển khai sản xuất nấm trên quy mô trang trại vừa và nhỏ, đặc biệt
là ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ gia đình Năm
2005, tổng sản lượng nấm trên thế giới đạt 20 triệu tấn nên trung Quốc chiếm sản lượng 50 % so với toàn thế giới [7] Những “nhà máy” sản xuất nấm có công suất từ 200-1000 tấn/1 năm được cơ giới hóa cao từ khâu xử lý nguyên liệu đến thu hái, chế biến đều do máy móc thực hiện Nghề trồng nấm ở các nước đã được cơ giới hoá cao, từ khâu xử lý nguyên liệu đến khâu thu hái, chế biến nấm đều do máy móc thực hiện và sản phẩm nấm được tạo ra được xuất khẩu ra các nước khác trên thế giới hàng triệu tấn mỗi năm như nấm hương, nấm linh chi, mộc nhĩ, Thông thường nấm xuất khẩu được bảo quản tươi, hoặc ở dạng sản phẩm chế biến hoặc bào chế thành trà và các loại thuốc quý đã mang về một nguồn ngoại tệ khổng lồ cho các nước này Năm 1981
- 1982, Mỹ xuất khẩu nấm với sản lượng 223.000 tấn, đạt giá trị khoảng 431 triệu USD Năm 1983, Hà Lan đã xuất khẩu 15.000 tấn nấm tươi, 49,105 tấn nấm đóng hộp Tây Đức sản xuất được 36.000 tấn nấm tươi Ở Châu Âu thị trường nấm tươi có doanh thu hơn 450 triệu USD mỗi năm và tiềm năng này trong ngành dược phẩm có thể lên đến 2,88 tỷ USD [11]
Trang 23Nấm ăn là loài thực phẩm đặc biệt bởi vì nó không phải là thực vật hay độ ng vật; sự gia tăng trong tiêu thụ và được đánh giá cao của nấm trong những năm qua là do hương vị, giá trị kinh tế, khả năng thích nghi với sinh thái và đặc biệt là đặc tính phòng chữa bệnh (Sanchez, 2004) Mộc nhĩ được công nhận là một chi quan trọng về mặt kinh tế, do nó có khả năng thích ứng với các điều kiện sinh thái khác nhau và thích hợp với nhiều điều kiện dinh dưỡng Đó là những lý do tại sao nuôi trồng nấm nói chung và mộc nhĩ nói riêng ngày càng tăng mạnh trên toàn thế giới Tổng sản lượng các nấm ở Nhật Bản trong những năm gần đây không thay đổi nhiều, mặc dù trên thực tế các loài nấm truyền thống như: nấm Hương, nấm Sò đang suy giảm Tuy nhiên các loài nấm như nấm sò vua, nấm vân chi, nấm linh chi, mộc nhĩ đang phát triển sản xuất nhanh chóng theo hướng cơ giới hóa rộng lớn [12]
1.4 Sơ lược về sự phát triển trồng nấm ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ xa xưa nhân dân ta dã biết thu hái nấm tự nhiên như mộc nhĩ, nấm hương, … để làm thức ăn Tuy nhiên mãi đến năm 1970 việc nghiên cứu và phát triển sản xuất nấm ăn mới bắt đầu được thực hiện Hơn
10 năm trở lại đây nghề trồng nấm mới được phổ biến ở các vùng nông thôn và được xem là nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao Một số tỉnh miền bắc như Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Ninh Bình, Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên,… đã có nhiều trang trại sản xuất và chế biến nhiều nơi hình thành hợp tác xã nấm, sản phẩm nấm tiêu thụ và xuất khẩu đều có giá trị kinh tế cao [7]
Nấm là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, chứa nhiều protein, nhiều loại vitamin như vitamin B1, B2, PP,… và các axit amin thiết yếu, không gây xơ cứng động mạch và không làm tăng lượng cholesterol trong máu Nấm còn có nhiều tác dụng dược lý khá phong phú như: tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, kháng ung thư và kháng virus, ngăn ngừa và trị liệu các bệnh tim mạch, hạ đường máu, chống phóng xạ, chống oxy hóa, giải độc và bảo vệ tế bào gan, an thần, rất có lợi cho việc điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh
Trang 24trung ương Trên thế giới có khoảng 2.000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loại nấm ăn ngon và được nuôi trồng nhân tạo Ở Việt Nam, ngành nấm đang ngày càng phát triển, các loại nấm được trồng phổ biến là: mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm linh chi các loại Nước ta có tiềm năng lớn về sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu do có nguồn nguyên liệu trồng nấm phong phú, nguồn lao động nông thôn dồi dào, điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển nhiều chủng loại nấm và có thể trồng nấm quanh năm Chúng ta đã cơ bản làm chủ được công nghệ nhân giống và sản xuất nấm đối với các loại nấm chủ lực, thị trường tiêu thụ nấm ngày càng rộng mở Chính vì vậy, ngày 16/4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 439/QĐ-TTg đưa nấm ăn, nấm dược liệu vào Danh mục sản phẩm quốc gia được ưu tiên đầu tư phát triển (theo “Cổng Thông Tin Điện Tử Chính Phủ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”) Thời gian qua đã có nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh nấm có hiệu quả ở quy mô hộ gia đình, trang trại, gia trại, hợp tác xã,
tổ hợp tác, doanh nghiệp sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh nấm Sản xuất nấm đang từng bước phát triển theo hướng chuyên nghiệp, quy mô hàng hóa; gắn kết đồng bộ các khâu sản xuất, sơ chế, bảo quản, tiêu thụ Nhờ vậy đã có nhiều mô hình bền vững, đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho nông dân Đồng thời, việc phát triển ngành nấm còn góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất trồng trọt nhờ sử dụng các phụ phẩm của trồng trọt Tuy nhiên, so với các nước sản xuất nấm trong khu vực và thế giới thì sản xuất nấm nước ta còn gặp nhiều hạn chế trong công nghệ, năng suất, chất lượng và sự đa dạng sản phẩm Việc sản xuất vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, thủ công nên chưa đảm bảo về số lượng, chất lượng; chưa có sự đầu tư đúng mức cho sơ chế, chế biến, bảo quản Do đó, sản lượng
và chất lượng sản phẩm chưa cao, khó có thể cạnh tranh với một số nước Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã hoàn thiện Đề án phát triển nấm
ăn và nấm dược liệu đến năm 2020 nhằm đáp ứng mục tiêu chung trong thời gian tới là xây dựng ngành sản xuất nấm theo hướng hàng hóa, tập trung quy
Trang 25mô công nghiệp; từng bước ứng dụng công nghệ cao, có sự gắn kết chặt chẽ
từ khâu nghiên cứu, sản xuất, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ, tạo thương hiệu nấm Việt Nam trên trường quốc tế; góp phần giải quyết việc làm, chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; 2 tạo ra nguồn hàng hóa có giá trị cao, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Phấn đấu đến năm 2015, cả nước sản xuất và tiêu thụ khoảng 400 ngàn tấn nấm các loại, xuất khẩu đạt 150 -
200 triệu USD/ năm Đến năm 2020, sản xuất tiêu thụ nấm tăng lên 1 triệu tấn/năm tạo thêm 1 triệu việc làm cho lao động nông thôn và đưa giá trị xuất khẩu lên 450 - 500 triệu USD/ năm (Quyết định số: 2690/QĐ-BNN-KHCN, ngày 12/11/2013)
Trong những năm gần đây, nước ta đã có nhiều nghiên cứu về nấm ăn
và nấm dược liệu Linh chi là một loài nấm được dùng làm thuốc và cũng là loài nấm được tập trung nghiên cứu Nhóm tác giả Nguyễn Thị Chính và cộng sự (2005) đã nghiên cứu một số thành phần và hoạt chất sinh học của nấm
linh chi Garnoderma lucidum nuôi trồng ở Việt Nam Kết quả cho thấy loài
Linh chi này có đầy đủ các thành phần: protein, đường, lipit, muối khoáng, vitamin C với hàm lượng cao, 1-3)-β-D-glucan đạt 36%, có thể đưa vào điều trị khối u, ung thư, có khả năng chữa phần nào những gen bị sai hỏng [1]
Nghiên cứu về nấm ăn và nấm dược liệu ở Việt Nam tập chung theo chuỗi từ nghiên cứu chuyên sâu đến sản suất các sản phẩm tăng cường sức khỏe để cung cấp cho thị trường Năm 2002 bắt đầu điều trị thành công, khống chế được căn bệnh ung thư từ các loại nấm dược liệu, sử dụng thì điểm cho các bệnh nhân ung thư dùng bào tử nấm Linh chi phối hợp với các loại nấm khác như: nấm Vân chi, nấm Đồng tiền, nấm Đầu khỉ, sau một thời gian sức khoẻ bệnh nhân cải thiện rõ rệt Nhiều loại nấm dược liệu đã được công ty đưa ra nuôi trồng và được sử dụng phổ biến như: Đông trùng hạ thảo, mộc nhĩ, Linh chi, nấm Đầu khỉ, nấm Búp (Mặt trời), nấm Đồng tiền, đều là những loại đặc biệt có giá trị trong việc ngăn ngừa tế bào ung thư, dừng phát triển khối u, phòng chống tiểu đường và viêm gan Theo kết quả nghiên cứu,
Trang 26người bệnh sử dụng nhiều loại nấm phối hợp với nhau trong đó có cả nấm Vân chi, Linh chi, các loại tảo và các loại nấm khác đang ngăn ngừa ung thư Gần đây, nấm Đông trùng hạ thảo cordyceps militaris được nuôi trồng thành công tại Việt Nam bằng công nghệ đặc biệt ở quy mô phòng thí nghiệm với các thiết bị hiện đại và quy mô trang trại có điều khiển nhiệt độ lạnh, sản phẩm ở dạng sinh khối và quả thể
Thực hiện chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, Bắc Giang đã xây dựng” Đề án phát triển sản xuất nấm giai đoạn 2007-2010”.Tổng kinh phí hơn 43,7 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ 6 tỷ đồng, còn lại là vốn đối ứng của nhân dân Riêng trong năm 2007, ngân sách tỉnh hỗ trợ các địa phương trong vùng quy hoạch 1,35 tỷ đồng xây dựng 30 lán trại, 2 cơ sở chế biến nấm, đồng thời hỗ trợ giống cho hơn 1500 tấn nguyên liệu Đây là đề án có quy mô, mức hỗ trợ lớn nhất từ trước tới nay về phát triển nghề trồng nấm trên địa bàn [4], [5], [15] Nhìn chung, ở Việt Nam, nấm ăn cũng được biết đến và sử dụng từ lâu Tuy nhiên, chỉ hơn 10 năm trở lại đây, nghề nuôi trồng nấm mới được xem như là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế Các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm và mộc nhĩ (nấm mèo) Sản lượng đạt trên 10.000 tấn/năm Nấm được tiêu thụ tại thị trường nội địa và chế biến thành dạng hộp, muối xuất khẩu Các tỉnh phía Bắc như Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Nội đã có nhiều các cơ sở quốc doanh, tập thể, hộ gia đình trồng nấm
Trước đây, thời nhà Lý một số châu quận đã chọn nấm ăn là một trong những vật tiến vua Vào năm 1967, với sự giúp đỡ của một Công ty Nhật Bản, Bộ ngoại thương lúc bấy giờ đã thành lập Công ty nấm tại Lò Đúc - Hà Nội và đã chỉ đạo nhân dân sản xuất nấm mỡ (năm cao nhất là năm 1968 đã đạt được xấp xỉ 50 tấn nấm tươi) Nhưng do sản xuất phân tán, kinh nghiệm chưa
có và chiến tranh lan rộng nên việc sản xuất đã bị ngừng lại
Năm 1984, thành phố Hà Nội bắt đầu chủ trương phát triển nghề nấm
và vào cuối năm 1994 đầu năm 1995 tổ chức nông lương thế giới (FAO) tài
Trang 27chợ cho Hà Nội một dự án về phát triển nấm ăn đồng thời đưa cán bộ đi thăm tại Viện nấm Italia Dự án thành công và đã thành lập Công ty nấm tại Hà Nội Năm 1987, sản lượng nấm đạt 300 tấn nấm tươi ở 6 tỉnh phía Bắc Tuy nhiên, do sản xuất phân tán, ta lại áp dụng kỹ thuật trồng cổ truyền là chính, thời tiết nước ta khắc nghiệt ảnh hưởng nhiều đến sản lượng và năng suất nấm Do vậy việc phát triển nấm ở Việt Nam dậm chân tại chỗ và theo đồ thị phát triển như kiểu hình sin Vào năm 1990, khi quan hệ của nước ta mở rộng, một số nước đã đua kỹ thuật mới vào đầu tư hợp tác cho nghành nấm đặc biệt là Đài Loan, Nhật Bản, đồng thời chính phủ ta cũng chủ trương cho phát triển nghành nấm và tập trung xây dựng dự án nấm do Ủy Ban khoa học Nhà Nước chủ trì 1990-1994
Dự án đã xây dựng được phòng giống chuẩn, đào tạo được hàng ngàn người biết nuôi trồng nấm và hàng trăm cán bộ kỹ thuật Nghề nấm đã mở rộng ra 16 tỉnh thành trong cả nước như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Hà, Thái Bình, Thanh Hóa, Bình Định, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sài Gòn,
Năm 1994, sản lượng toàn quốc đạt khoảng 15.000 tấn nấm tươi trong đó riêng Nam Bộ đạt 13.000 tấn, các tỉnh như Thái Bình, Hà Nam Ninh đã đạt trên 40 tấn xuất khẩu/năm Đầu năm 1995, có thể nói ngành nấm được hình thành và ban đầu đi vào sản xuất ổn định ở nước ta Trong định hướng và chiến lược của Việt Nam đối với ngành hàng nấm đến năm 2010 là tận dụng 10% rơm rạ từ việc sản xuất lúa, mùn cưa từ chế biến gỗ và các bã mía (khoảng 4 triệu tấn nguyên liệu thô) để sản xuất nấm với chỉ tiêu đạt 1 triệu tấn nấm tươi (trong đó 50% cho tiêu thụ trong nước và 50% cho xuất khẩu)
Nói chung, hiện nay việc phát triển sản xuất nấm ở Việt Nam nói riêng, trên thế giới nói chung đã và đang phát triển ngày càng mạnh mẽ, đem lại nhiều lợi nhuận cho nguời sản xuất, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Bên cạnh đó, mới đây trên thế giới và ở Việt Nam, nhiều nhóm tác giả
đã nghiên cứu theo hướng tìm hiểu về đặc điểm sinh học và công nghệ nuôi
Trang 28trồng một số loài nấm mới nhằm tìm ra những điều kiện và kỹ thuật nuôi cấy phù hợp nhất để thu được đạt năng suất và chất lượng nấm cao nhất Năm
2013, Phan Hữu Hùng, Hoàng Ngọc Ánh, Đỗ Thị Thiên Lý, Viện nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã
“nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của chủng nấm hương lai từ núi Lanbiang, Lâm Đồng và chủng nấm thương mại Nhật Bản” Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp lai bắt cặp giữa dòng đơn nhân và đa nhân đã loại bỏ các đột biến có hại của bố mẹ, tạo nên con lai có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn chủng bố mẹ
Nghề nuôi trồng nấm tại tỉnh Phú Thọ đã và đang phát triển mạnh và rộng rãi ở các huyện, điển hình như huyện Tam Nông, Cẩm Khê, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Phù Ninh, Hạ Hòa, Thanh Ba đã thành lập hợp tác xã nuôi trồng nấm với quy mô lớn Theo ông Nguyễn Văn Tuấn cho biết: Với bước khởi đầu thuận lợi, trồng nấm đã đem lại lợi ích kinh tế không nhỏ, hướng phát triển giúp lao động nông thôn có việc làm ổn định trong những lúc nông nhàn để từng bước nâng cao đời sống kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ nghèo bền vững tại đi ̣a phương
Nhờ làm ăn hiệu quả, cơ sở trồng nấm của gia đình ông Nguyễn Văn Tuấn có địa chỉ đặt trên địa bàn của địa phương đã có tổng doanh thu mỗi năm hơn 900 triệu đồng, trừ chi phí thu nhập gần 200 triệu đồng/năm; tạo việc làm thường xuyên cho 10 người, lao động thời vụ khoảng 50 người, với mức lương từ 3-4,5 triệu đồng/người/tháng Hàng năm, gia đình ông Tuấn còn thường xuyên vận động và giúp đỡ các hộ có sức lao động có đất đai và một số vốn nhất định để có thể làm và mở rộng quy mô cũng như phổ biến được
mô hình, kỹ thuật nuôi trồng nấm và mộc nhĩ hiệu quả cao tại địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế
và ổn định việc làm tại địa phương
Trang 291.5 Khái quát chung về nấm so ̀
1.5.1 Đặc điểm sinh học của nấm sò
1.5.1.1 Phân loại học
Nấm sò trắng về mặt phân loại học thuộc :
Chi: pleurotus Họ: Pleurotaceae Bộ: Agricales Lớp phụ: Hymenomycetidae Lớp: Hymenomycetes
Ngành phụ: Basidiomycotina Ngành: Nấm thật Eumycota Giới: Nấm (Fungi)
1.5.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo hệ sợi nấm sò P forida
Nấm sò thuộc về mô ̣t chi có tới 50 loài khác nhau Tuy nhiên chỉ có khoảng 10 loài được nuôi trồng, gồ m nhiều loại khác nhau về màu sắc và hình
dáng như: nấm sò tím (Pleurotus ostreatus), nấm sò hoàng ba ̣ch (Pleurotus
cornucopiae), nấm so ̀ Thá Lan (PleurotusFlorida) Nấm sò có da ̣ng hình
phễu, mọc thành cụm, mỗi cánh nấm gồ m 3 phần: mũ, phiến và cuố ng nấm
Nấm sò có đặc điểm chung là tai nấm có da ̣ng phễu lê ̣ch, phiến nấm mang bào tử kéo dài xuống đến chân, cuống nấm gần gố c có những lớp lông nhung nhỏ mịn Tùy từng loa ̣i nấm thì tai nấm khi còn non có màu sâ ̣m hoă ̣c tố i nhưng khi trưở ng thành có màu sáng hơn
Nấm có giai đoa ̣n sinh trưởng dài, giai đoa ̣n này bắt đầu từ bào tử đảm
hữu tính nảy mầm cho sợi tơ dinh dưỡng sơ cấp và thứ cấp, khi sợi nấm hút đầy đủ dinh dưỡng từ giá thể sợi nấm hình thành cơ quan sinh sản là tai nấm, tạo thành quả thể hoàn chỉnh Chu kỳ của nấm la ̣i bắt đầu khi nấm sinh bào tử đảm và hình thành quả thể
Quả thể nấm phát triển qua nhiều giai đoạn: dạng san hô, dạng dùi trống, dạng phễu dạng phễu lệch, dạng lá lục bình Từ giai đoạn phễu sang
Trang 30dạng phễu lệch có sự thay đổi về chất, còn từ giai đoạn phễu sang giai đoạn dạng lá lục bình có sự nhảy vọt về khối lượng Vì vậy, thu hái nấm bào ngư nên chọn lúc tai nấm vừa chuyển sang dạng lá Hệ sợi nấm gồm hệ sợi nguyên có vách ngăn và sợi cứng không vách ngăn ngang, màng dày, đường kính sợi khoảng 3,5- 6,5 mm
Quả thể vừa hoặc lớn, mũ nấm có đường kính khoảng 5-21 cm, khi nhiệt độ cao mũ nấm có màu gần trắng, khi nhiệt độ thấp mũ nấm có màu tro hay màu nâu tro Phiến nấm màu trắng, xếp khít nhau, men dài xuống cuống
và có thể dính lại thành dạng phân nhánh Cuống nấm màu trắng có khi màu nâu nhạt
Khi nuôi ở nhiệt độ thích hợp và thoáng khí, cuống nấm dài, phần gốc
có phủ lông ngắn hoặc mọc dính liền với các cuống khác, kích thước 1-3 x
2-3 cm Thịt nấm màu trắng, lúc đầu hơi mềm, sau đó khi già sẽ hơi dai Khi phơi khô có mùi rơm Bào tử hình elip dài, không màu, kich thước 3-4,5 x 7-9
nm
1.5.2 Một số yêu cầu khi nuôi trồng nấm sò P florida
Nấm sò có thể trồ ng được quanh năm nhưng đều chịu sự ảnh hưởng
củ a các yếu tố khác nhau như:
- Dinh dưỡng: Sợi nấm sò sử du ̣ng trực tiếp nguồn xelulozơ của giá thể ngoài ra có thể bổ sung thêm nguồn đạm (cám, ure), khoáng (super lân, vôi, amon phosphate) Việc bổ sung sẽ giúp sợi nấm mọc nhanh hơn, sản lượng nấm cao hơn nhưng cũng dễ nhiễm các tạp khuẩn, tạp nấm hơn
- Nhiệt độ: Nhiệt độ cần cho ủ tơ trong khoảng 20 - 30oC và để nấm tạo quả thể là từ 15 - 25oC
- Độ ẩm: Trong thời kỳ tưới đón nấm, độ ẩm không khí không được dưới 70%, tốt nhất là 80 - 95% Độ ẩm cơ chất tốt nhất là 60 - 65%
- Ánh sáng: Không cần nhiều ánh sáng, tốt nhất là 100 - 200 lux (ánh sáng phòng, ánh sáng khuếch tán)