1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực thẩm mỹ thông qua một số bộ luật luật cụ thể ở Việt Nam”

14 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 77,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuẩn mực xã hội được hình thành xuất phát từ chính những nhu cầu của hệ thống các quan hệ xã hội. Chuẩn mực xã hội cũng tham gia và trở thành một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động quản lý các mặt, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Để tìm hiểu rõ hơn về vai trò của các chuẩn mực xã hội, đặc biệt là chuẩn mực thẩm mĩ, em xin chọn đề bài: “Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực thẩm mỹ thông qua một số bộ luật luật cụ thể ở Việt Nam” cho bài tập lớn của mình.

Trang 2

MỞ ĐẦU

Chuẩn mực xã hội được hình thành xuất phát từ chính những nhu cầu của hệ thống các quan hệ xã hội Chuẩn mực xã hội cũng tham gia và trở thành một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động quản lý các mặt, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Để tìm hiểu rõ hơn về vai trò của các chuẩn mực xã hội, đặc biệt là chuẩn mực thẩm mĩ, em xin chọn đề bài:

“Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực thẩm mỹ thông qua một số bộ luật/ luật cụ thể ở Việt Nam” cho bài tập lớn của mình.

Do hiểu biết còn hạn chế nên bài viết còn nhiều thiếu sót, kính mong các thày,

cô giúp đỡ, sửa chữa để bài viết được hoàn thiện và em có thể rút kinh nghiệm cho các môn học sau Em xin trân thành cảm ơn

NỘI DUNG

I- Một số khái niệm

1.Chuẩn mực xã hội

a Khái niệm

“Chuẩn mực xã hội là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội

đối với mỗi cá nhân hay nhóm xã hội, trong đó xác định ít nhiều sự chính xác

về tính chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái có thể, cái được phép, cái không được phép hay cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi xã hội của mỗi người, nhằm củng cố, bảo đảm sự ỏn định xã hội, giữ gìn trật tự, kỉ cương, an toàn của xã hội” 1

b Hình thức biểu hiện và đặc trưng cơ bản

Chuẩn mực xã hội có hai hình thức biểu hiện là chuẩn mực xã hội thành văn và chuẩn mực xã hội bất thành văn

-Chuẩn mực xã hội thành văn là loại chuẩn mực xã hội mà các quy định, yêu cầu của nó thường được ghi chép lại thành văn bản dưới các hình thức khác nhau

1 Giáo trình xã hội học pháp luật- Ngọ Văn Nhân Trang 190

Trang 3

-Chuẩn mực xã hội bất thành văn là những loại chuẩn mực xã hội mà các quy tắc, yêu cầu của nó thường không được ghi chép lại bằng văn bản; chúng chủ yếu tồn tại và phát huy vai trò, hiệu lực của mình bằng con đường giáo dục truyền miệng và được củng cố, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

c Vai trò chuẩn mực xã hội đối với đời sống xã hội

Chuẩn mực xã hội được hình thành từ chính các quan hệ trong xã hội, tùy vào tính chất của từng quan hệ mà mỗi cá nhân trong quan hệ đó phải thực hiện những chuẩn mực nhất định.Chuẩn mực xã hội thực hiện chức năng hợp nhất quá trình hoạt động; đóng vai trò như một hệ thống tương tác giữa

cá nhân với các nhóm xã hội Không những thế nó còn góp phần điều tiết các quan hệ xã hội, tạo khuôn mẫu cho hành vi của con người, duy trì sự ổn định, hài hòa trong xã hội, bảo vệ trật tự, kỷ cương và an toàn xã hội

Chuẩn mực xã hội là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động quản lý các lĩnh vực của đời sống Nó là phương tiện định hướng, điều chỉnh các hành

vi của cá nhân trong các nhóm xã hội ở những điều kiện nhất định; đồng thời

là phương tiện kiểm tra xã hội đối với các hành vi của họ Nhờ có các chuẩn mực xã hội mà các cá nhân luôn phải xem xét, suy nghĩ, kiểm nghiệm trước khi thực hiện một hành vi nào đó; qua đó góp phần ngăn chặn, phòng ngừa những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật và tội phạm

Ngoài ra nhiều chuẩn mực còn được coi là những giá trị xã hội chi phối rộng rãi và được tuân theo một cách phổ biến như: giá trị pháp luật, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ…

2 Chuẩn mực thẩm mĩ

Quan hệ thẩm mỹ là một trong các mối quan hệ xã hội cơ bản Trong quan hệ thẩm mỹ, có ba bộ phận quan trọng nhất của đời sống thẩm mỹ con người, bao gồm đối tượng thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và thế giới nghệ thuật:

Trang 4

- Đối tượng thẩm mỹ, gồm cái đẹp, xấu; cái bi, hài; cái anh hùng, Nó chứa đựng các dạng phái sinh và các vùng tiềm ẩn của cái đẹp, cái xấu, cái bi hài; nó giải thích vì sao thiên nhiên lại chứa yếu tố thẩm mỹ, vì sao lại có cái bi,hài trong hiện tượng xã hội

- Chủ thể thẩm mỹ, phản ánh các hoạt động thẩm mỹ của chủ thể thông qua các giác quan của họ Các nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ đều là sự phản ánh các kinh nghiệm hoạt động thẩm mỹ của con người Năng khiếu,tài năng và thiên tài không tách rời chủ thể thẩm mỹ

- Thế giới nghệ thuật là bộ phận thứ ba Đây là nơi diễn ra sự tương tác giữa đối tượng thẩm mỹ và chủ thể thẩm mỹ, như: văn học, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh, Trong thế giới này, cái thẩm mỹ chứa đựng các phạm trù : cảm thụ, sáng tạo, đánh giá,

Các quan hệ thẩm mỹ đòi hỏi cần phải có các quy tắc, yêu cầu, tiêu chuẩn thẩm mĩ để định hướng, điều chỉnh, đánh giá hành vi thẩm mĩ của con người trong đời sống cộng đồng Từ đó đã tạo cơ sở cho sự nảy sinh, biến đổi

và phát triển của chuẩn mực thẩm mĩ

Ta có định nghĩa:

Chuẩn mực thẩm mĩ là hệ thống những quy tắc, yêu cầu về mặt thẩm

mĩ đối với hành vi xã hội của con người; tuân theo những quan điểm, quan niệm đang được thừa nhận rộng rãi trong xã hội về cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cái anh hùng, cái tuyệt vời… trong các mối quan hệ thẩm mĩ, trong hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, trong lối sống và sinh hoạt… của con người 2

Chuẩn mực thẩm mĩ có các đặc điểm:

Thứ nhất, có hình thức biểu hiện là chuẩn mực xã hội bất thành văn Nó tồn tại, phát triển, phát huy tác dụng và được lưu truyền bằng con đường

2 Tập bài giảng xã hội học-Trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân trang 175

Trang 5

truyền miệng, giáo dục, thông qua xã hội hóa cá nhân chứ không được ghi chép ở dạng văn bản bất kì nào

Thứ hai, có tính lợi ích Lợi ích ở đây bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, chuẩn mực thẩm mĩ trước tiên phải đáp ứng được các nhu cầu nhất định của cộng đồng hay cá nhân

Thứ ba, có tính hài hòa Tính hài hòa của chuẩn mực thẩm mỹ thể hiện

ở việc các quy tắc, yêu cầu về thẩm mỹ phải luôn được đặt trong mối tương quan, hài hòa với vác điều kiện, hoàn cảnh kinh tế- xã hội nhất định; hoặc phải phù hợp với từng tình huống cụ thể của đời sống

Cuối cùng, chuẩn mực thẩm mĩ mang tính khái quát, hình tượng Các quan niệm, quan điểm thẩm mĩ trong xã hội phản ánh ý chí chung của số đông, được đa số thành viên thừa nhận, tán thành và làm theo chứ không xuất phát từ ý kiến riêng của mỗi cá nhân Theo đó, chuẩn mực thẩm mĩ sẽ là một khuôn mẫu khái quát phù hợp với quy tắc, yêu cầu của xã hội để cho mỗi người noi theo

3 Chuẩn mực pháp luật

Pháp luật là một trong ba loại cụ thể của chuẩn mực thành văn, thể hiện

ở việc những quy phạm pháp luật cụ thể được nhà nước xây dựng và ban hành, ghi chép trong những bộ luật, đạo luật, các văn bản pháp luật

Với mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước lại có một chuẩn mực pháp luật

riêng Chuẩn mực pháp luật là tổng hợp các quy tắc xử sự thành văn do nhà

nước ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đang tồn tại khách quan trong xã hội nhất định.

Chuẩn mực pháp luật có những đặc trưng cơ bản là tính xã hội, tính cưỡng chế và tính giai cấp Theo đó, chuẩn mực pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, cầm quyền ban hành ra chuẩn mực đó, xác lập trong các bộ luật, đạo luật; Pháp luật trước hết được xem xét như một hiện tượng xã hội, nảy sinh từ các tiền đề có tính chất xã hội, tức là những nhu cầu khách quan

Trang 6

của thực tiễn đời sống xã hội, phản ánh các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định; Tính cưỡng chế là trưng chỉ có ở pháp luật, không có ở các loại chuẩn mực xã hội khác Pháp luật do nhà nước xây dựng, ban hành và bảo đảm thực hiện Với tư cách của mình, nhà nước là một tổ chức hợp pháp, công khai, có quyền lực bao trùm toàn xã hội Nhà nước không chỉ xây dựng và ban hành pháp luật, mà còn có các biện pháp tác động nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện thông qua việc nhà nước thường xuyên củng cố và hoàn thiện bộ máy công cụ thể hiện quyền lực nhà nước như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù…

II- Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực thẩm mỹ

Giống như bất cứ một chuẩn mực nào khác, trong mối quan hệ với pháp luật, chuẩn thẩm mỹ và chuẩn mực pháp luật có sự tác động qua lại, củng cố lẫn nhau, cùng nhau thực hiện các chức năng điều chỉnh hành vi còn người, quản lý xã hội

1 Chuẩn mực thẩm mĩ tác động đến chuẩn mực pháp luật

Thứ nhất, chuẩn mực thẩm mỹ là cơ sở lý luận và thực tiễn để nhà nước xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực xây dựng, quy hoạch đô thị, văn hóa – nghệ thuật, quảng cáo, du lịch, bảo tồn di sản văn hóa, thời trang…

-Trong quan hệ với pháp luật, chuẩn mực thẩm mỹ điều chỉnh hành vi thẩm mỹ của con người phù hợp với các quan điểm, quan niệm trong xã hội

về cái đẹp, cái xấu, cái cao cả… Để các bộ luật, đạo luật được thực hiện hiệu quả trên thực tiễn, được nhân dân đón nhận và tuân thủ thực hiện thì khi ban hành ấy phải phù hợp với chuẩn mực thẩm mỹ Nghĩa là , các bộ luật, đạo luật cũng phải có giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mĩ và theo tiêu chuẩn của giá trị thẩm mĩ đang phổ biến trong xã hội Ta có thể thấy rõ điều này qua ví dụ về

Điều 8 Luật Quảng cáo năm 2012:

Trang 7

“Điều 8 Hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo

1 Quảng cáo những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều 7 của Luật này.

2 Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh, quốc phòng.

3 Quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.

4 Quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội.

5 Quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng kỳ, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

6 Quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật.

7 Quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân.[…]”

Những trường hợp bị cấm tại điều trên trong Luật Quảng cáo đều là những điều không phù hợp với quan niệm thẩm mỹ của nhân dân ta, trong văn hóa giao tiếp, ứng xử, đối nhân xử thế hay quan niệm về lòng yêu nước, truyền thống văn hóa, không ai muốn những giá trị thẩm mỹ tốt đẹp này lại bị xúc phạm, ảnh hưởng xấu,… Nên trong trường hợp này, quy định của pháp luật được người dân tuân thủ và thực hiện nhanh chóng hơn

-Ngoài ra trên thực tế, có một số quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực thẩm

mỹ, do phù hợp và đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của nhà nước về tổ chức, quản lý xã hội, đã được nhà nước thừa nhận và vận dụng vào trong các đạo luật Ví dụ trong việc bảo vệ môi trường, một số hành động đẹp như vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ

Trang 8

cảnh quan thiên nhiên, hình thành nếp sống tái chế tiết kiệm, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường vừa đáp ứng được chuẩn mực thẩm mỹ lại vừa đáp ứng được nhu cầu của nhà nước trong hoạt động bảo vệ môi trường Những

hành động đó đã được Nhà nước thừa nhận tại điều 6 Luật Bảo vệ môi

trường năm 2005

“Điều 6 Những hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích

1 Tuyên truyền, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học.

2 Bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

3 Giảm thiểu, thu gom, tái chế và tái sử dụng chất thải.

….

9 Xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thân thiện với môi trường.

10 Phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư.

11 Hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ

hủ tục gây hại đến môi trường.

Ngoài ra, các văn bản luật của nhà nước điều chỉnh các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, trật tự công cộng …khác chính là những minh chứng cho mối liên hệ này

Thứ hai, chuẩn mực thẩm mỹ có tác dụng định hướng, điều chỉnh hành

vi pháp luật của các cá nhân phù hợp với các quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực thẩm mỹ Trong nhiều trường hợp vì những lý do nhất định, các cá nhân không biết đến quy định của pháp luật, nhưng do các quy tắc pháp luật phù hợp với các chuẩn mực thẩm mỹ, các cá nhân thực hiện hành vi pháp luật dựa trên các quan điểm, quan niệm thẩm mỹ của họ

Điều 17 Luật cán bộ, công chức quy định:

Trang 9

Điều 17 Văn hóa giao tiếp với nhân dân

1 Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.

2 Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ.”

Tác phong, thái độ lịch sự, hay cách giao tiếp khiêm tốn đúng chuẩn mực là những chuẩn mực thẩm mỹ trong ứng xử không chỉ cán bộ, công chức

mà mỗi cá nhân chúng ta đều biết đến và cố gắng thực hiện theo Đặc biệt là ở một người cán bộ, công chức, họ càng hiểu vị trí của mình là người phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân thì không được hách dịch, cửa quyền Có những người cán bộ, công chức đã đọc và nắm rõ quy định luật này nhưng cũng có những người bằng cách nào đó chưa biết những quy định chi tiết, cụ thể văn hóa ứng xử được quy định nhưng họ vẫn thực hiện là do chính những quan niệm về chuẩn mực thẩm mĩ trong ứng xử của họ phù hợp với quy định của pháp luật

Cùng với các chuẩn mực thẩm mỹ trong ứng xử là chuẩn mực thẩm mỹ trong cách ăn mặc Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg Ban hành quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước:

“Điều 5: Trang phục

1 Khi thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải ăn mặc gọn gàng, lịch sự.

2 Cán bộ, công chức, viên chức có trang phục riêng thì thực hiện theo quy định của pháp luật.”

Đối với bất kì một cán bộ, công chức, viên chức hay nhân viên công sở nào bất kì, họ đều biết và ý thức về việc mình phải ăn mặc gọn gàng, lịch sự Bởi môi trường xung quanh họ

là môi trường chuyên nghiệp, đồng nghiệp và sếp hay đối tác

Trang 10

của họ sẽ có những đánh giá và nhận xét không tốt về con người họ nếu không ăn mặc như thế hay đơn giản mặc như vậy là họ thấy đẹp, phù hợp và tự tin Và việc ăn mặc đẹp là nhu cầu thẩm mĩ tất yếu nhưng chưa đủ, đẹp và đi liền với gọn gàng, lịch sự Việc họ lựa chọn trang phục thực chất là do chính quan niệm về thẩm mĩ của bản thân họ chi phối và đồng thời hành vi này lại phù hợp với các quy định của pháp luật

2 Chuẩn mực pháp luật tác động lại chuẩn mực thẩm mĩ.

Trong đời sống xã hội có rất nhiều chuẩn mực xã hội như: chuẩn mực chính trị, chuẩn mực tôn giáo, chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực thẩm mỹ, chuẩn mực pháp luật… và pháp luật trong đó có những đặc trưng về sức mạnh cưỡng chế, luôn giúp cho các chuẩn mực tốt đẹp khác phát huy được tối

đa giá trị của mình

Đối với chuẩn mực thẩm mỹ, là một chuẩn mực mà ở trong từng giai đoạn, xã hội lại có những quy tắc mất đi, những quan niệm mới hình thành và đồng thời không ngừng biến đổ, vận động Pháp luật giúp cho những chuẩn mực thẩm mỹ tốt đẹp và tiến bộ luôn được củng cố, phát huy, đồng thời loại

bỏ những quy tắc thẩm mĩ đã lạc hậu, lỗi thời

Ví dụ: Nếu như trước đây các phiên chợ có thể được họp ngay đường

làng với rau quả quen thuộc, đủ mùi gia vị, bánh trái, trở thành một nét đẹp văn hóa thì ngày nay xã hội phát triển, lại không còn là chuẩn mực thẩm mĩ phù hợp ở các thành phố, khu dân cư nữa Đô thị dân cư đông đúc, ven đường vỉa hè không thể trở thành nơi họp chợ hay kinh doanh và trở nên mất mĩ quan đô thị, gây mất an toàn giao thông, người đi bộ phải đi xuống lòng

đường nguy hiểm Trước bất cập này, Nhà nước ta đã ban hành Luật xử phạt

vi phạm hành chính để điều chỉnh vấn đề lấn chiếm vỉa hè, xây dựng một

Ngày đăng: 27/06/2022, 17:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w