1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự

11 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 43,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong các giai đoạn của hoạt động tố tụng dân sự, nó mang chính tính chất của các quan hệ diễn ra trong đời sống dân sự của xã hội nói chung. Để tìm hiểu rõ hơn về nguyên tắc này, em xin chọn đề tài: “Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự” cho bài tập học kỳ của mình

Trang 1

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG Error! Bookmark not defined I- Khái quát nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 1

1.Cơ sở của nguyên tắc Error! Bookmark not defined 2 Ý nghĩa của nguyên tắc 2

II- Nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 3

1 Các quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 3

2 Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 6

III- Kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trên thực tế 7

1 Về các quy định của pháp luật 7

2 Về phía đương sự 8

3 Về phía Tòa án 9

KẾT LUẬN 9

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc

cơ bản và xuyên suốt trong các giai đoạn của hoạt động tố tụng dân sự, nó mang chính tính chất của các quan hệ diễn ra trong đời sống dân sự của xã hội nói chung

Để tìm hiểu rõ hơn về nguyên tắc này, em xin chọn đề tài: “Nguyên tắc quyền tự

định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự” cho bài tập học kỳ của mình Do hiểu biết

còn hạn chế nên trong quá trình làm bài không tránh khỏi sai sót, kính mong thầy

cô góp ý để bài làm được hoàn thiện hơn và em có thể rút kinh nghiệm cho các môn học sau Em xin trân thành cảm ơn

NỘI DUNG I- Khái quát nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự.

Quyền tự định đoạt của đương sự là quyền của của đương sự (trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trong việc tự quyết định về quyền, lợi ích của họ và lựa chọn biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích đó

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự là một nguyên tắc cơ bản, đặc thù của tố tụng dân sự, chi phối cả quá trình tố tụng dân sự Nguyên tắc này được quy định khá sớm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam như tại Bản hướng dẫn

về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự ban hành kèm theo Thông tư của Tòa án nhân dân tối cao số 96/NCPL, Điều 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và Điều 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế Sau đó được quy định tại điều 4 BLTTDS 2004, hiện nay là BLTTDS 2015

1 Cơ sở của nguyên tắc

a Cơ sở lý luận

Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự luôn gắn liền với quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung Do đó cơ sở

để pháp luật tố tụng dân sự quy định đương sự trong tố tụng dân sự được thực hiện

Trang 3

quyền tự định đoạt của mình chính là các quyền lợi đã được pháp luật dân sự ghi nhận và bảo hộ

b Cơ sở thực tiễn

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự xuất phát từ các nguyên tắc trong giao lưu dân sự Trong quan hệ dân sự, các chủ thể có thể tự do xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm

và các chủ thể cũng hoàn toàn bình đẳng với nhau Nên khi có tranh chấp thì các đương sự trong tố tụng dân sự có thể tự mình quyết định việc tham gia tố tụng, tự thương lượng với chủ thể khác đang có tranh chấp với mình hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện, nếu không có năng lực hành vi tố tụng thì việc định đoạt sẽ được thực hiện thông qua người đại diện

Việc pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận quyền tự định đoạt của đương sự cũng là xuất phát từ thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án Ngày nay trong xã hội hiện đại các quan hệ dân sự diễn ra ngày càng nhiều, mâu thuẫn từ đó cũng phát sinh không ít, đòi hỏi cần được giải quyết nhanh chóng Một trong những phương thức giải quyết tranh chấp khi các bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp Tòa án giải quyết các vấn đề của đương sự trên cơ sở đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và trong phạm vi đó Đồng thời Tòa án tôn trọng sự thỏa thuận giải quyết vụ, nguyện vọng của đương sự bởi đó cũng là ý chí tự nguyện của đương sự

2 Ý nghĩa của nguyên tắc

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự có những

ý nghĩa sau:

Thứ nhất, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Khi có tranh chấp hoặc có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong các quan hệ dân sự đã, quyền và lợi ích của các chủ thể lúc này có thể bị xâm phạm thì họ quyết định việc bảo vệ các lợi ích của mình thông qua việc thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp hoặc quyết định khởi kiện ra trước Tòa án Ngay cả khi vụ việc đã thụ lý và giải quyết, đương sự vẫn có quyền rút yêu cầu khởi kiện hoặc tự thương lượng, thỏa thuận để giải quyết tranh chấp để đảm bảo tối đa và cân bằng lợi ích các bên

Trang 4

Thứ hai, về mặt pháp lý quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân

sự là quyền được phản ánh và quy định bởi các quyền nội dung trong các quan hệ dân sự Với việc quy định quyền tự quyết định của đương sự trong việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền lợi của mình về phương diện pháp lý là đã tạo điều kiện cho đương sự có thể tìm cho mình một phương thức để giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất

Thứ ba, về mặt kinh tế, khi thực hiện quyền tự định đoạt của mình trong một

số trường hợp (ví dụ như rút đơn khởi kiện, tự thỏa thuận, thương lượng với nhau

về việc giải quyết tranh chấp, rút kháng cáo,…), đương góp phần làm giảm bớt áp lực giải quyết các tranh chấp của Toà án, giúp cho các bên tiết kiệm được thời gian

và chi phí liên quan

II- Nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự.

Nguyên tắc được quy định tại điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

"

Điều 5 Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó

2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội"

Theo đó, nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự bao gồm:

1 Các quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự.

a Trong việc quyết định khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự.

Quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự là quyền định đoạt quan trọng của các chủ thể khi quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác Tòa án chỉ thụ lý giải quyết một vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu của các chủ thể Việc tham gia tố tụng của người yêu

Trang 5

cầu trong việc dân sự cũng chủ động như nguyên đơn trong vụ án dân sự Tuy nhiên yêu cầu của họ chỉ giới hạn trong phạm vi yêu cầu Tòa án công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của họ hoặc công nhận quyền, nghĩa vụ của họ Với việc khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự kịp thời, các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ được bảo vệ, thiệt hại sớm được khắc phục, ngăn chặn và chấm dứt được hành vi trái pháp luật

Ngoài quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự thì quyền tự định đoạt của đương sự còn thể hiện ở quyền quyết định việc khởi kiện hoặc không khởi kiện lại vụ án dân sự đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ví dụ người nộp đơn khởi kiện tranh chấp về thừa kế tài sản trước ngày 1-1-2017 bị tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ

án và trả lại đơn khởi kiện với lý do thời hiệu khởi kiện đã hết nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 thời hiệu khởi kiện vụ

án đó vẫn còn thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án

Quyền định đoạt của đương sự ở trường hợp này cũng bao gồm quyền quyết định đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn hay đưa ra yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên tham gia tố tụng Trong tố tụng dân sự, bị đơn có quyền phản tố (khởi kiện, đưa ra yêu cầu ngược lại) đối với nguyên đơn về một quan hệ pháp luật độc lập, có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn Về bản chất, quyền phản tố là

để bù trừ nghĩa vụ nên bị đơn hoàn toàn có quyền định đoạt và phải được giải quyết trong cùng một vụ án Ngoài ra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn và bị đơn muốn bảo vệ quyền, lợi ích độc lập của mình đối với đối tượng tranh chấp mà Tòa án đang xem xét và giải quyết thì họ có thể tự định đoạt việc tham gia của mình Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập và họ có thể chống lại

cả nguyên đơn, bị đơn

b.Trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của mình

Khi đương sự thực hiện hành vi khởi kiện thì họ hoàn toàn có quyền quyết định các hành vi tố tụng tiếp theo của mình đó là các quyền chấm dứt, thay đổi, bổ

Trang 6

sung các yêu cầu khởi kiện Trước khi mở phiên tòa thì quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự là không bị hạn chế, và được tòa án chấp nhận nếu đó là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức Còn tại phiên tòa sơ thẩm thì việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự bị hạn chế hơn, tòa án chỉ chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu Ngoài ra, trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng (trước hoặc trong phiên tòa) nguyên đơn có thể lựa chọn việc không yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện nữa bằng cách rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình Nếu việc rút yêu cầu của

họ là tự nguyện thì Tòa án chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu được rút hoặc đình chỉ giải quyết vụ án nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện Nguyên tắc này cũng được áp dụng tương tự với yêu cầu phản tố của bị đơn

Bên cạnh đó, BLTTDS còn quy định nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi

mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm phải được sự đồng ý của bị đơn Có ý kiến cho rằng điều này là vi phạm quyền tự định đoạt của đương sự (nguyên đơn) Tuy nhiên quy định này là hoàn toàn hợp lý bởi bị đơn đã tham gia vào suốt quá trình TTDS do giả thiết xâm hại đến quyền lợi của nguyên đơn, đến giai đoạn xét

xử phúc thẩm, họ cũng phải có quyền định đoạt trong giải quyết vụ án, nhất là khi việc rút đơn có thể do nguyên đơn gặp bất lợi nếu tiếp tục xét xử

c Trong thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự.

Xuất phát từ bản chất của quan hệ dân sự, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp dân sự ở bất cứ giai đoạn nào của

tố tụng dân sự, miễn là các thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của pháp luật

và không trái đạo đức xã hội Thỏa thuận của các đương sự có thể thông qua hòa giải mà Tòa án tổ chức hoặc tự thỏa thuận tại phiên tòa hay thỏa thuận để nguyên đơn rút đơn khởi kiện Các đương sự xuất phát từ mong muốn giải quyết nhanh chóng, hợp lý về lợi ích mà có thể định đoạt việc giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS Nếu các đương sự không muốn thỏa thuận hòa giải thì tòa không thể cưỡng ép, bắt buộc trái với ý muốn của họ

d Trong việc kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án.

Quyền kháng cáo là một phương tiện pháp lý để đương sự thực hiện quyền

tự định đoạt của mình Theo điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm

Trang 7

đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa cấp sơ thẩm Lúc này, quyền định đoạt thể hiện ở việc các đương sự đã tham gia tố tụng ở cấp sơ thẩm nhưng họ vẫn cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình chưa thực sự được đảm bảo hoặc bị bản án, quyết định ở cấp sơ thẩm xâm phạm đến thì họ có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa cấp Phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm

Ngoài việc quy định đương sự được thực hiện quyền kháng cáo thì đương sự cũng có quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo Nếu chưa hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo có quyền thay đổi bổ sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo ban đầu Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa (trong vụ án không còn có kháng cáo, kháng nghị) thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ Trường hợp đương

sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu của đương sự đã rút

Tuy nhiên, quyền kháng cáo của đương sự vẫn có những giới hạn nhất định, đương sự chỉ có quyền kháng cáo đối với những bản án sơ thẩm, các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Nhưng bên cạnh đó nếu đã hết hạn kháng cáo hoặc vụ án đã được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm mà đương sự phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định hoặc phát hiện phát hiện tình tiết mới thì vẫn có quyền đề nghị bằng văn bản tới cơ quan, người có thẩm quyền kháng nghị xem xét và kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Quyền định đoạt lúc này còn ngoài bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự còn giúp khắc phục, sửa chữa được những sai lầm, vi phạm pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án

2 Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm nguyên tắc quyền quyết định

và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự.

Nội dung nguyên tắc quyền định đoạt của đương sự còn thể hiện ở việc quy định trách nhiệm của Tòa án Theo đó, Tòa án chỉ thụ lí giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó” Như vậy, khác với tố tụng hình sự hay tố tụng hành chính, nếu không có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự Tòa án sẽ không được thụ lí giải quyết bất kì vụ việc nào Và khi thụ lý đơn thì tòa chỉ giải

Trang 8

quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, yêu cầu đó không giải quyết thiếu, hay vượt quá phạm vi

Cùng với việc quy định trách nhiệm của tòa án trong đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự, Bộ luật tố tụng 2015 còn quy định tại điều 4 nội dung: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.” Đây là quy định tiến bộ, đáp ứng được yêu cầu nhà nước phải phục vụ, đáp ứng được quyền và nhu cầu của nhân dân Đại biểu Lê Nam (Thanh Hóa) đã phát biểu tại Kỳ họp thứ 9 - Quốc hội khóa XIII khi thảo luận về dự án Bộ Luật tố tụng dân sự (sửa đổi) về việc đồng tình cao với qui định Tòa án không được quyền từ chối vụ việc dân sự của đương sự Mặc dù Tòa án sẽ gặp khó khăn khi giải quyết những trường hợp như vậy nhưng không thể vì lấy lý do không có điều luật áp dụng mà từ chối yêu cầu của họ, đẩy khó sang cho của dân

III- Kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trên thực tế.

Trong những năm gần đây Quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS ngày càng được quan tâm và được tạo điều kiện thuận lợi bảo đảm thực hiện trong thực tế Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, thì tính trung bình mỗi năm các Tòa án nhân dân đã giải quyết trên 150.000 vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình; trên 2.500 vụ việc về kinh doanh, thương mại; trên 2.000 vụ việc về lao động; tỷ lệ các vụ việc mà Tòa án phải giải quyết hàng năm tăng khoảng 15%1 Bộ luật tố tụng dân sự xác định cụ thể hơn quyền của đương sự trong hoạt động tố tụng và đề cao quyền tự định đoạt của các đương sự trong việc giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương

sự trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể như sau:

1 Về các quy định của pháp luật

Một là, BLTTDS năm 2015 hiện nay là chưa có những quy định cụ thể về rút yêu cầu và đình chỉ giải quyết việc dân sự Việc giải quyết các vụ án dân sự có nhiều điểm khác biệt với việc giải quyết việc dân sự nên không thể áp dụng tương

1 Số liệu theo Báo cáo số 43/BC-TANDTC báo cáo Tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật

tố tụng dân sự

Trang 9

tự các thủ tục Do đó cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể để tránh tình trạng lúng túng khi áp dụng pháp luật tố tụng dân sự trong thực tiễn

Hai là, về quyền của đương sự quy định còn chưa rõ ràng Ví dụ như Điều

244 BLTTS quy định đương sự có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ mà không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu, nhưng không giải thích cụ thể thế nào là “vượt quá” Trong khi thực tiễn đã có nhiều trường hợp đương sự tưởng có thể thay đổi, bổ sung nhưng lại Vượt quá về chủ thể nghĩa vụ, về giá trị yêu cầu, về quan hệ pháp luật tranh chấp,… và không được Tòa án chấp nhận nên phải khởi kiện ở vụ án khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Việc quy định như trên đã hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự nhất là khi các yêu cầu mới vượt quá nhưng lại có liên quan đến yêu cầu ban đầu Vì vậy, cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật giải thích thế nào là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, đồng thời sửa đổi một số trường hợp giữa các yêu cầu có mối liên quan thì đương sự có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu vượt phạm vi yêu cầu ban đầu.2

Ba là, việc quy định Viện Kiểm sát nhân dân tham gia vào các phiên tòa, phiên họp là không cần thiết Quan hệ tranh chấp dân sự, thương mại là quan hệ tư, quyền định đoạt là thuộc về đương sự, nên phải hạn chế sự can thiệp của cơ quan nhà nước Viện kiểm sát chỉ nên tham gia vào các vụ án có liên quan đến lợi ích của Nhà nước (như tiền thuế, khoản đóng góp cho nhà nước, tài sản công) hoặc một bên đương sự là người chưa thành niên, có nhược điểm thể chất, tâm thần Sự tham gia của Viện kiểm sát ở hầu hết các phiên tòa, phiên họp nhưng chỉ phát biểu

ý kiến về việc chấp hành pháp luật không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ việc trong khi việc thực hiện quyền kiểm sát này hoàn toàn có thể thông qua kiểm tra hồ sơ vụ án BLTTDS cần quy định theo hướng giới hạn hơn nữa việc tham gia Viện Kiểm sát trong tố tụng dân sự

2 Về phía đương sự

Trên thực tế, số lượng đương sự hiểu biết đầy đủ về các quy định của pháp luật là rất ít và đa số không nắm rõ hết được quyền tự định đoạt của mình nếu không được tư vấn nên không thực hiện được một cách đầy đủ, tự bảo đảm quyền lợi cho bản thân mình Ví dụ trên thực tế còn nhiều trường hợp nộp đơn khởi kiện

2 A nộp đơn khởi kiện yêu cầu B phải bồi thường thiệt hại 10.000.000 đồng do có hành vi xâm phạm, sức khỏe của A Tại phiên tòa, A muốn thay đổi yêu cầu khởi kiện, nâng số tiền bồi thường thiệt lên 15.000.000 đồng do phát sinh chi phí chữa trị Tuy nhiên yêu cầu vượt quá phạm vi nên không được tòa chấp nhận.

Trang 10

ở tòa án không có thẩm quyền giải quyết, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi đã hết thời hiệu khởi kiện nên bị trả lại đơn hay đương sự kháng cáo khi hết thời hạn pháp luật quy định Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trên cả nước, nhất là vùng sâu vùng xa, khu vực biên giới, hải đảo để tất cả mọi người có chiều sâu hiểu biết pháp lý Khi đương sự nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, Tòa án có thể phổ biến về các quyền cho đương sự được biết và tìm hiểu giúp thực hiện có hiệu quả quyền tự định đoạt của chính họ

3 Về phía Tòa án

Về phía tòa án, đội ngũ thẩm phán vẫn còn một số cá nhân không hiểu hết, không hiểu đúng hoặc cố tình hiểu sai các quy định về nguyên tắc quyền định đoạt của đương sự nói riêng và các quy định của BLTTDS nói chung Điều này khiến cho những sai sót, vi phạm pháp luật vẫn còn tồn tại trong việc giải quyết các vụ việc dân sự Ví dụ như sai sót trong việc trả lại đơn khởi kiện, không xem xét hết các yêu cầu của đương sự hoặc quyết định của bản án vượt phạm vi yêu cầu đương sự,… làm hạn chế việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS Để khắc phục điều này cần nâng cao trình độ của người tiến hành tố tụng đặc biệt là Thẩm phán, ngoài trình độ, kỹ năng chuyên môn, cần chú trọng cả việc nắm bắt được tâm lý của đương sự, phản ứng nhanh nhạy và tạo dựng được lòng tin của các đương sự trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự

KẾT LUẬN

Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển thúc đẩy nền kinh tế của đất nước cũng đồng nghĩa với việc phải thúc đẩy sự tham gia vào quan hệ dân sự của các chủ thể Muốn thực hiện được điều đó cần phải tạo cơ sở pháp lý vững chắc để các chủ thể tích cực tham gia vào các quan hệ dân sự cũng như giải quyết các bất đồng tranh chấp có thể xảy ra.Việc xây dựng và hoàn thiện nguyên tắc quyền định đoạt của đương sự nói riêng và xây dựng, hoàn thiện pháp luật nói chung là thực sự cần thiết, cần có sự chung tay của cả Nhà nước và người dân

Ngày đăng: 27/06/2022, 17:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w