1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học SINH VIÊN bước đầu tìm HIỂU một số vấn đề về HIỆU lực của đề NGHỊ GIAO kết hợp ĐỒNG

38 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên Bước Đầu Tìm Hiểu Một Số Vấn Đề Về Hiệu Lực Của Đề Nghị Giao Kết Hợp Đồng
Tác giả Nguyễn An Khanh K55LKD, Vũ Thị Diệu Thúy K55B, Nguyễn Thùy Dung K55A
Trường học Khoa Luật
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 44,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, vì đề nghị giao kếthợp đồng thuộc về giai đoạn tiền hợp đồng, tức là khi hợp đồng vẫn chưa được xáclập nên các quy định của pháp luật về vấn đề này ít nhiều có phần hạn chế hơ

Trang 1

KHOA LUẬT

BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ

-ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆU LỰC CỦA ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Nguyễn An Khanh K55LKD

Vũ Thị Diệu Thúy K55B Nguyễn Thùy Dung K55A

Mục lục

Trang 2

2 Phân biệt với lời mời thương lượng………7

3 Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng trước khi có sự chấp nhận……….83.1 Thời điểm lời đề nghị giao kết có hiệu lực……… 8

3.2 Hiệu lực của đề nghị giao kết trước khi có sự chấp nhận đề nghị……… 9

BƯỚC ĐẦU CÓ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Danh mục tài liệu tham khảo……… 34

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình giao kết hợp đồng bao gồm hai yếu tố chính: Đề nghị giao kết hợp đồng

và chấp nhận đề nghị, trong đó một bên khởi động quá trình giao kết và bên kiahoàn tất nó Như vậy, đề nghị giao kết chính là yếu tố bắt nguồn cho sự ra đời củamột quan hệ hợp đồng Vì thế, trong lĩnh vực hợp đồng, các vấn đề liên quan đến

đề nghị giao kết luôn đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên, vì đề nghị giao kếthợp đồng thuộc về giai đoạn tiền hợp đồng, tức là khi hợp đồng vẫn chưa được xáclập nên các quy định của pháp luật về vấn đề này ít nhiều có phần hạn chế hơn.Song trên thực tế lại có không ít các tranh chấp liên quan đến việc xác định ý chíđích thực của người đưa đề nghị cũng như những nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ đềnghị giao kết hợp đồng

Xét về bản chất, đề nghị giao kết hợp đồng được hiểu là sự bày tỏ ý chí giao kếtcủa người đưa đề nghị Nói cách khác, người đưa đề nghị đã đơn phương cam kếtràng buộc mình vào một quan hệ hợp đồng trong tương lai, một khi đề nghị đóđược chấp nhận Nhưng, tính phức tạp của đề nghị giao kết hợp đồng không chỉnằm ở sự đa dạng của hình thức thể hiện (có thể là một lời chào hàng, một quảngcáo, hay một mẩu tin rao vặt trên báo…), quan trọng hơn, đó là vấn đề hiệu lựcpháp lý của đề nghị Mà để xác định được hiệu lực pháp lý của đề nghị giao kếthợp đồng, ta không thể không xem xét tới khía cạnh sự bày tỏ ý chí của người đưa

đề nghị

Rõ ràng đề nghị giao kết cũng là một phần của quan hệ hợp đồng Nếu như nềntảng của pháp luật hợp đồng nói chung là học thuyết tự do ý chí thì đề nghị giao

Trang 4

kết hợp đồng cũng không nằm ngoài nguyên tắc đó Lý thuyết cơ sở của học thuyếtnày là quan niệm cho rằng mỗi cá nhân chỉ có thể bị ràng buộc bởi ý chí của chínhmình, cũng có nghĩa là chính ý chí của các cá nhân sẽ làm phát sinh cho họ nhữngnghĩa vụ nhất định Không phải vô cớ khi cho rằng một khi thiếu đi ý chí xác lậpcác nghĩa vụ pháp lý từ phía người đưa đề nghị thì lời đề nghị không thể được coi

là một đề nghị giao kết hợp đồng.1

Vấn đề đặt ra ở đây là, khi nào thì một lời đề nghị được coi là một đề nghị giao kếthợp đồng? Và khi một người đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng, liệu anh ta có bịràng buộc bởi lời hứa của mình, nếu có thì sự ràng buộc đó ở chừng mực nào?Trong phạm vi bài nghiên cứu, nhóm sẽ đưa ra những tìm hiểu bước đầu để có thể

lý giải về căn bản cho những câu hỏi trên đây

1

? Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật kinh tế, NXB Công An Nhân Dân (2011)

Trang 5

Chương 1 : Một số quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong pháp luật Việt Nam.

1 Tiêu chí xác định đề nghị giao kết hợp đồng

Về mặt khái niệm, pháp luật Việt Nam cho rằng đề nghị giao kết hợpđồng là sự bày tỏ ý chí của một người về việc mong muốn giao kết hợp đồngvới một người khác trên một đối tượng và trong những điều kiện đã đượcngười đề nghị xác định rõ

Điều 390 BLDS 2005 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể”

Đề nghị giao kết hợp đồng có thể coi là giao dịch nằm ở “cận trên” củathương lượng và ở “cận dưới” của hứa hợp đồng: cao hơn thương lượng, đềnghị giao kết hợp đồng không phải là một lời mời đi vào bàn luận về nộidung chủ yếu của hợp đồng; thấp hơn hứa hợp đồng, đề nghị giao kết hợpđồng chưa phải là một cam kết về việc thực hiện một hợp đồng, bởi chưaxác định được người thụ hưởng cam kết đó

Luật Việt Nam hiện hành không có quy định riêng về hình thức đề nghị

Vì vậy, hình thức đề nghị tuân thủ các quy định chung về hình thức giaodịch.2 Đề nghị có thể được thể hiện bằng lời nói (trực tiếp hoặc được ghi âm

và phát lại), bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Ngay cả trong trườnghợp hợp đồng phải được giao kết theo một hình thức nhất định, thì đề nghịgiao kết hợp đồng cũng có thể được ghi nhận dưới hình thức khác

Ðề nghị giao kết hợp đồng sẽ trở thành hợp đồng một khi người được

đề nghị chấp nhận giao kết theo các điều kiện được đưa ra trong đề nghị đó

2

Điều 124 Bộ luật Dân sự

Trang 6

Chính vì vậy, việc xác định đâu là một lời đề nghị cần các tiêu chí xác định

cụ thể Giống với cách quy định của rất nhiều các quốc gia trên thể giới,pháp luật Việt Nam xác định một lời đề nghị giao kết thông qua các tiêu chísau:

Đề nghị giao kết hợp đồng phải chắc chắn hay người đưa đề nghị phảimong muốn được ràng buộc mình vào mối quan hệ hợp đồng

Ðề nghị giao kết hợp đồng phải chắc chắn nghĩa là phải thể hiện ý chí dứtkhoát của người đề nghị: hợp đồng sẽ phải được giao kết nếu lời đề nghịđược chấp nhận Nói cách khác, đề nghị phải thể hiện rõ ý định giao kết hợpđồng và mong muốn được ràng buộc của bên đưa ra đề nghị đối với bênđược đề nghị về những nội dung của đề nghị Điều này thể hiện ở chỗ khi đềnghị được gửi tới cho bên được đề nghị làm cho bên được đề nghị tin tưởngrằng chỉ cần trả lời chấp nhận là hợp đồng được ký kết, sự chắc chắn đó tạo

ra những ràng buộc pháp lý đối với bên đưa ra đề nghị.3 Để xác định ý chímong muốn bị ràng buộc, người ta dựa vào các tiêu chí: cách thức bên đềnghị trình bày một đề nghị (ví dụ: cách quy định rõ đó là bản “đề nghị giaokết” hoặc đơn giản chỉ là “lời mời thảo luận”), nội dung của đề nghị và bênnhận đề nghị Nói chung, đề nghị càng chi tiết, cụ thể thì càng có nhiều cơhội được xem như một đề nghị giao kết hợp đồng Nếu đề nghị không đượcgửi tới một hoặc một số người cụ thể, nó chỉ là một phần bảng báo giá hoặcđược gửi ra ngoài theo một thông báo rộng rãi, nó không tạo thành một đềnghị.4 Nói cách khác, nếu không thỏa mãn được điều kiện nêu trên thì lời đềnghị giao kết hợp đồng thực chất chỉ là một lời mời thương lượng

3

? ThS NGUYỄN VĂN PHÁI – Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh: Sửa đối, bổ sung các quy định liên quan đến đề nghị giao kết trong Bộ luật Dân sự.

4

Trang 7

Ví dụ: một người sử dụng lao động đăng thông báo công khai về việc cầntuyển dụng một số người lao động trong một hoặc nhiều ngành, nghề, vớimức lương được xác định trước, không nhất thiết phải giao kết hợp đồng laođộng với bất kỳ người nào hội đủ điều kiện ghi trong thông báo, bởi người

đề nghị không nói rõ sẽ chấp nhận tuyển bất kỳ người nào có đủ điều kiệnhay chỉ tuyển những người có đủ điều kiện mà người đề nghị cảm thấy hợpvới mình trong quan hệ lao động Đây đơn thuần là một lời mời thươnglượng về việc làm Trái lại, nếu người sử dụng lao động thông báo trực tiếpcho một người xác định, đề nghị người sau này giao kết hợp đồng lao độngvới các điều kiện được ghi rõ trong đề nghị, thì đó là một đề nghị chắc chắn:một khi người nhận được đề nghị chấp nhận giao kết, thì người đề nghị cónghĩa vụ giao kết

Ðề nghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng và đầy đủ hay tính xác định của

đề nghị

Nghĩa là đề nghị phải ghi nhận rõ các nội dung cơ bản của hợp đồng, đểđảm bảo rằng khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị thì hợp đồngđược giao kết với nội dung được xác định trong đề nghị đó

Ngoài ra, cũng cần nói thêm rằng lời đề nghị giao kết chỉ có hiệu lựckhi nó hướng tới một hoặc một số người xác định; nói cách khác là pháp luậtViệt Nam không thừa nhận tính pháp lý của đề nghị giao kết ra công chúng(public offer) Điều này đã được quy định thông qua cụm từ “bên đã đượcxác định cụ thể” trong Điều 390 của Bộ luật Dân sự về Đề nghị giao kết.Như vậy, người nhận đề nghị có thể là một thể nhân hoặc pháp nhân: cánhân được xác định bởi họ tên, quốc tịch, hộ khẩu thường trú (hoặc địa chỉ

? Steven Emanuel and Steven Knowles (1991), Contracts (Fourth Edition), Emanuel Law Outlines, Inc, New York, p10

Trang 8

tạm trú); pháp nhân được xác định bởi tên gọi, trụ sở và quốc tịch Tính xácđịnh của người được đề nghị thường được thể hiện khi bên đề nghị gửi đềnghị giao kết hợp đồng, vì khi đó bên đề nghị đã xác định được họ muốngiao kết hợp đồng với ai Trái lại, nếu đề nghị không được gửi tới một hoặcmột số người cụ thể, nó chỉ là một phần bảng báo giá hoặc được gửi ra ngoàitheo một thông báo rộng rãi, nó không tạo thành một đề nghị.

2 Phân biệt với lời mời thương lượng

Ngoài việc xác định lời đề nghị giao kết thông qua các tiêu chí thì như

đã phân tích, một lời đề nghị giao kết phải là sự bày tỏ ý chí: mong muốnđược giao kết hợp đồng và chấp nhận ràng buộc bởi những đề nghị đã đưa racủa một chủ thể nào đó Chính vì vậy, gốc rễ của sự phân biệt giữa đề nghịgiao kết với lời mời thương lượng chính là sự thể hiện ý chí của chủ thể đưa

ra lời mời/lời đề nghị

Trước hết, lời mời thương lượng là hình thức một bên đưa ra lời mời tới chủthể khác với mong muốn chủ thể được mời sẽ đưa ra một đề nghị giao kếthợp đồng Về mặt hình thức, lời mời thương lượng khá giống với đề nghịgiao kết hợp đồng Tuy nhiên, khác với đề nghị giao kết, đề nghị thươnglượng chỉ thể hiện sự sẵn sàng của chủ thể đề nghị trong việc xem xét các đềnghị giao kết mà chưa thể hiện mong muốn giao kết hợp đồng Lời mờithương lượng thường tồn tại ở một số dạng sau:

- Mời đấu giá hoặc mời đấu thầu Đây là những hoạt động mang tính chấtmời gọi tất cả những chủ thể quan tâm đưa ra đề nghị giao kết, tức là đưa ra thươnglượng để đàm phán hợp đồng Bởi vậy, lời mời thầu hoặc mời đấu giá không đượcxem là đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ là đề nghị để một bên khác đưa ra đề nghịgiao kết hợp đồng Việc đưa ra giá bỏ thầu hoặc giá đấu giá chính là đề nghị giao kếthợp

Trang 9

đồng trong trường hợp này Nếu những đề nghị này thỏa mãn yêucầu của một cuộc đấu thầu hoặc đấu giá và được bên mời thầu hoặcmời đấu giá chấp nhận thì một hợp đồng sẽ được hình thành.

- Niêm yết giá bán hàng hóa Chủ cửa hàng thường niêm yết giá bán hànghóa để khách hàng biết Tuy nhiên, việc niêm yết giá không phải là đề nghị giaokết hợp đồng mà chỉ đơn thuần là lời mời xem hàng Chủ cửa hàng chưa thể hiện ýđịnh mong muốn giao kết hợp đồng mà mới chỉ dừng ở việc đề nghị khách hàngtham khảo hàng hóa về mặt chất lượng, giá cả và sau đó đưa ra đề nghị giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa Chính vì vậy, việc khách hàng đồng ý mua và đề nghịthanh toán mới được coi là đề nghị giao kết hợp đồng Cửa hàng chấp nhận thanhtoán được coi là chấp nhận giao kết và khi đó hợp đồng mua bán hàng hóa giữa cácbên được hình thành

Ngoài ra, đề nghị giao kết hợp đồng cũng khác biệt với thông tin báo giá.Trong hoạt động kinh doanh thường diễn ra hoạt động báo giá nhằm cungcấp danh mục hàng hóa sẵn có và giá cả tương ứng cho từng sản phẩm Tuynhiên, báo giá không phải là đề nghị giao kết bởi nó không thể hiện mongmuốn giao kết hợp đồng mà chỉ đơn thuần cung cấp thông tin rằng bên báogiá sẵn sàng tham gia giao kết nếu có một đề nghị giao kết được đưa ra Hơnnữa, trên cơ sở báo giá đã được đưa ra, các bên có thể thỏa thuận về mộtmức giá phù hợp hơn trong thực tế khi thực hiện giao dịch mà không bắtbuộc phải tuân theo giá đã được thông báo

3 Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng trước khi có sự chấp nhận Việc

xác định xem lời đề nghị giao kết đã có hiệu lực hay chưa là một việc vô cùng quan trọng nhằm xác định liệu hợp đồng có được tạo lập hay không, qua đó giải quyết không ít những tranh chấp trong lĩnh vực hợp đồng Tuy

Trang 10

nhiên, vấn đề hiệu lực của đề nghị lại là một vấn đề phức tạp mà pháp luậtViệt Nam hiện nay còn đề cập chưa thực sự thỏa đáng và có những quy địnhtrái với những cách giải quyết chung của thế giới.

3.1 Thời điểm lời đề nghị giao kết có hiệu lực

Về thời điểm lời đề nghị giao kết có hiệu lực, pháp luật Việt Nam đã cónhững quy định tương đối cụ thể Theo đó, có hai căn cứ có thể xác địnhthời điểm lời đề nghị giao kết có hiệu lực: một là thời điểm do bên đưa đềnghị ấn định; và hai là trong thời điểm kể từ khi bên được đề nghị nhận được

đề nghị đó, trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thời điểm lời đềnghị có hiệu lực.5

Sau đó, các nhà làm luật cũng quy định rõ ràng về thời điểm nhận được đềnghị giao kết hợp đồng ngay tại khoản 2 Điều 391 BLDS thông qua cáctrường hợp được coi là nhận được đề nghị giao kết:

- Đề nghị được chuyển tới nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân, được chuyển tới trụ sở nếu bên được đề nghị là pháp nhân;

- Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;

- Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua cácphương thức khác

3.2 Hiệu lực của đề nghị giao kết trong thời gian chưa có sự chấp nhận

đề nghị.

Chừng nào đề nghị giao kết hợp đồng chưa được chấp nhận, thì hợp đồng

chưa được giao kết Theo những quy định tại khoản 2 Ðiều 390 Bộ luật Dân

5

Điều 391 Bộ luật Dân sự

Trang 11

sự về đề nghị giao kết, khi một bên đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ nộidung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời, thì không được mời ngườithứ ba giao kết trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đềnghị của mình Nói cách khác, một khi đề nghị có nêu rõ thời hạn hiệu lực,luật Việt Nam đã dự kiến khả năng yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trườnghợp bên đề nghị giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn đề nghị;

có nghĩa rằng, nếu bên đề nghị không giao kết với ai khác nhưng cũngkhông muốn giao kết với bên được đề nghị nữa, thì cũng không có quyềnhủy bỏ đề nghị.6

Như vậy, có cơ sở để nói rằng nếu đề nghị giao kết hợp đồng có ghi thờihạn trả lời, thì trong lúc thời hạn đó chưa hết, người đề nghị không có quyềnhủy bỏ đề nghị phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình

Việc này cũng đặt ra một số rắc rối khi giải quyết những vấn đề thực tiễnkhi phải trả lời câu hỏi liệu bên đề nghị có thể bị đặt vào tình trạng buộcphải giao kết khi bên được đề nghị chấp nhận đề nghị trong thời hạn? Đểgiải quyết được câu hỏi trên, ta cần xem xét đến các quy định về hủy bỏ đềnghị giao kết hợp đồng trong pháp luật Việt Nam

Hủy bỏ lời đề nghị giao kết

Một đề nghị giao kết hợp đồng có thể hủy ngang hay không là một trongnhững vấn đề gây tranh cãi nhất trong vấn đề hình thành hợp đồng Quy định

về hủy bỏ lời đề nghị giao kết, Bộ luật Dân sự Việt Nam có cách tiếp cận tráingược với cách tiếp cận chung của CISG và PICC, cụ thể, điều 393 Bộ luật

Dân sự 2005 quy định: “Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng

6

? TS Nguyễn Ngọc Điện: Hoàn thiện chế

độ pháp lý về xác lập hợp đồng

Trang 12

thực hiện quyền huỷ bỏ đề nghị do đã nêu rõ quyền này trong đề nghị thì phải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” Tuy nhiên, dường như cách tiếp cận

này lại không thực sự thuyết phục.7

Theo đó, có thể nói, một đề nghị về nguyên tắc sẽ không bị hủy ngang,trừ khi quyền hủy ngang được bên đề nghị quy định trước trong đề nghị

Mặc dù Điều 393 BLDS đưa ra thời điểm “bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” làm căn cứ để xác định hiệu lực của thông

báo hủy bỏ đề nghị của bên đề nghị, nhưng lại không nêu rõ thời điểm nàođược coi là bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị Nếu bên được đểnghị trả lời chấp nhận bằng miệng, thì thời điểm đó dễ dàng xác định là thờiđiểm bên đề nghị nhận được thông báo bằng miệng, nhưng nếu bên được đềnghị trả lời chấp nhận dưới dạng văn bản (bằng thư, điện tín, fax…), thì thờiđiểm bên được đề nghị trả lời là thời điểm người đó thể hiện xong ý chí chấpnhận của mình dưới dạng văn bản hay là thời điểm thông báo về việc chấpnhận đề nghị được gửi đi…, đây là điều mà Bộ luật Dân sự Việt Nam vẫnchưa giải quyết được

Ngoài ra, liên quan đến vấn đề hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng, khôngthể không nhắc đến yếu tố trách nhiệm pháp lý của người đưa đề nghị trongtrường hợp hủy bỏ đề nghị Mặc dù khoản 2, điều 390 BLDS đã dự liệu về

trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người đưa đề nghị “trong trường hợp

7

? ThS Nguyễn Văn Phái – Khoa Quan hệ

quốc tế, Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh: Sửa đối, bổ sung các quy định liên

quan đến đề nghị giao kết trong Bộ luật Dân sự

Trang 13

đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời”.

Tuy nhiên, quy định này của BLDS cũng vẫn còn tồn tại một số vấn đề.Thứ nhất, điều khoản này đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại

“nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng với người thứ ba” Ở đây, với cách sử dụng thuật ngữ “giao kết hợp đồng” có thể dẫn tới sự thiếu rõ ràng Liệu có

thể hiểu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ có thể phát sinh tại thời điểmgiao kết hợp đồng với bên thứ ba, tức là khi bên thứ ba chấp nhận đề nghị;hay ngay khi người đưa đề nghị khởi động quá trình giao kết hợp đồng vớibên thứ ba, cũng tức là kể từ khi đề nghị được gửi đến bên thứ ba thì tráchnhiệm bồi thường thiệt hại đã có thể được phát sinh Có lẽ, cách hiểu thứ hai

là hợp lý hơn Bởi lẽ, một trong những điều kiện tiên quyết để đề nghị giaokết hợp đồng có hiệu lực chính là mong muốn ràng buộc của người đưa đềnghị, với ý nghĩa như một cam kết đơn phương của ý chí Vì thế, về nguyêntắc, người đưa đề nghị cần phải thực hiện một cách có thiện chí cam kết củamình

Thứ hai, theo thông lệ quốc tế, ngay cả khi đề nghị giao kết hợp đồngkhông quy định rõ thời hạn trả lời, thì người đưa đề nghị vẫn phải duy trì đềnghị đó trong một “thời hạn hợp lý” Song khoản 2, điều 390 mới chỉ đề cập

đến trường hợp đề nghị “có nêu rõ thời hạn trả lời” mà chưa xem xét tới

trường hợp đề nghị giao kết không nêu rõ thời hạn, dù trên thực tế, cáctrường hợp này lại khá phổ biến Vấn đề đặt ra là, nếu đề nghị không kèmthời hạn trả lời cụ thể thì trách nhiệm dân sự của người đưa đề nghị trongtrường hợp hủy ngang sẽ là gì? Ngay cả pháp luật thế giới như đã nói ở trêncũng còn khá nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề này Song ta cóthể xem xét vấn đề này dưới góc độ nghĩa vụ phát sinh từ một hành vi pháp

lý đơn phương Như đã biết, đề nghị giao kết hợp đồng được coi là một hành

Trang 14

vi pháp lý đơn phương của người đưa đề nghị Mà theo quy định tại điều 281BLDS thì hành vi pháp lý đơn phương được coi là một trong các căn cứ làm phátsinh nghĩa vụ Hơn nữa, ngay tại khoản 1, điều 390 BLDS cũng đã nhấn mạnh:

“Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên được đề nghị đã được xác định cụ thể.” Ở đây, theo cách quy định tại khoản 1, điều 390 có thể hiểu, pháp

luật đã suy đoán rằng khi một người đưa ra đề nghị giao kết hơp đồng tức là anh ta

đã tự nguyện “chịu sự ràng buộc về đề nghị này” Nói cách khác người đưa đề nghị

đã có ý chí xác lập những nghĩa vụ pháp lý đối với người nhận đề nghị, trong đóbao gồm cả nghĩa vụ duy trì lời đề nghị của mình Như vậy, có thể xem như việchủy bỏ nghĩa vụ của người đưa đề nghị là một hành vi vi phạm nghĩa vụ, đồng thờicũng đã xuất hiện yếu tố “lỗi” trong hành vi này Vì vậy, ngay cả trong trường hợp

đề nghị giao kết hợp đồng không kèm thời hạn trả lời, thì để đảm bảo quyền lợi củangười nhận đề nghị, vẫn cần xét tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người đưa

đề nghị nếu hủy bỏ đề nghị Song cũng phải nói thêm rằng, một thời hạn như thếnào được xem là “hợp lý” cũng cần được xem xét kỹ lưỡng trong từng trường hợp

cụ thể, tùy thuộc vào các yếu tố như bản chất của hợp đồng, đối tượng hợp đồnghay khoảng cách địa lý giữa các bên…

Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết

Cho đến khi đề nghị có hiệu lực, bên đề nghị có quyền đổi ý và quyếtđịnh không giao kết hợp đồng nữa hoặc thay thế đề nghị ban đầu bằng một

đề nghị khác, mà không quan tâm xem đề nghị ban đầu có được coi là có thểhủy ngang hay không Tuy nhiên, việc thay đối hay rút lại lời đề nghị cũngcần tuân theo những quy định cụ thể đã được pháp luật dự liệu Điều 392

Trang 15

BLDS quy định: “Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây:

a)Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại

đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị;

b)Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh”.

Theo đó, điều kiện duy nhất là bên được đề nghị phải nhận được thôngbáo rút lại đề nghị của bên đề nghị trước hoặc cùng thời điểm mà bên được

đề nghị nhận được đề nghị ban đầu Tuy nhiên, điểm b Khoản 1 Điều 392BLDS còn bổ sung thêm trường hợp: bên đề nghị có thể rút lại đề nghị nếuđiều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đềnghị nói rõ về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh.Quy định này tạo ra ưu thế pháp lý tuyệt đối cho bên đề nghị, khi bên đềnghị có thể áp đặt ý chí của mình đối với bên được đề nghị bằng cách ấnđịnh trước điều kiện thay đổi, rút lại đề nghị Trước khi hợp đồng được kýkết, vào bất cứ thời điểm nào mà điều kiện về việc thay đổi hoặc rút lại đềnghị (do bên đề nghị đã ấn định sẵn) phát sinh thì đề nghị của bên đề nghị sẽ

bị coi như là bị thay đổi hoặc rút lại Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của

đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới

Ngoài ra, cũng cần nói thêm, do pháp luật Việt Nam không thừa nhậntính pháp lý của đề nghị giao kết ra công chúng (public offer)8 nên ngay cả

8

? TS Nguyễn Ngọc Điện: Hoàn thiện chế

độ pháp lý về xác lập hợp đồng

Trang 16

trong trường hợp đề nghị giao kết đã có đầy đủ nội dung của một hợp đồng

và có ghi rõ thời hạn được duy trì để chờ được chấp nhận, người đề nghị vẫn

có quyền huỷ bỏ hoặc rút lại đề nghị mà không phải chịu trách nhiệm pháp

lý, nếu đề nghị này được gửi rộng rãi cho mọi người chứ không nhắm đếnmột địa chỉ nào xác định

Như vậy, đối với lời đề nghị giao kết (hướng tới một chủ thể xác định),thì luật có vẻ muốn buộc người đề nghị gìn giữ cam kết trong một thời hạnnào đó Bằng chứng là có quy định chỉ thừa nhận việc rút lại hoặc thay đổi

đề nghị trong trường hợp người được đề nghị nhận được thông báo rút lạihoặc thay đổi đề nghị trước hoặc cùng thời điểm với việc nhận lại đề nghị

Chương 2 : Một số quy định về đề nghị giao kết hợp đồng dưới góc nhìn

so sánh

1 Tiêu chí xác định một đề nghị giao kết hợp đồng.

Có thể thấy, quan điểm phổ biến về khái niệm đề nghị giao kết hợpđồng chính là coi đề nghị giao kết hợp đồng là một hành vi pháp lý đơnphương mà qua đó người đưa đề nghị bày tỏ ý chí giao kết hợp đồng vớingười được đề nghị theo những điều kiện nhất định Xuất phát từ quan điểmnày, pháp luật thế giới thường đưa ra hai tiêu chí căn bản để xác định một lời

đề nghị có mang tư cách của đề nghị giao kết hợp đồng hay không: thứ nhất

là dựa vào tính cụ thể của đề nghị và thứ hai là dựa vào mong muốn ràngbuộc của người đưa đề nghị đối với cam kết mình đưa ra Tuy đều dựa trênhai căn cứ này để xác định một đề nghị giao kết hợp đồng, song đi sâu vàoquy định của các nước trên thế giới ta sẽ thấy vẫn có những khác biệt nhấtđịnh

Trang 17

Trong pháp luật Pháp, khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng khôngđược quy định cụ thể tại BLDS nhưng thông qua các án lệ có thể rút ra haiđặc điểm căn bản được coi là căn cứ để xác định tư cách của một đề nghịgiao kết hợp đồng, bao gồm: tính cụ thể (précise) và tính chắc chắn (ferme).Tính cụ thể ở đây được hiểu là việc lời đề nghị giao kết phải chứađựng mọi yếu tố cốt yếu của hợp đồng sẽ được xác lập trong tương lai.Song, BLDS Pháp cũng không quy định rõ về khái niệm “yếu tố cốt yếucủa hợp đồng” đối với tất cả các loại hợp đồng Như vậy, về cơ bản, phápluật hợp đồng Pháp cho phép các bên tự do xác định những yếu tố nào đượccoi là “cốt yếu” cần được nêu rõ trong hợp đồng tùy thuộc cách nhìn nhậncủa mình Ngược lại, nếu như đề nghị không chứa đựng mọi yếu tố cốt yếucủa hợp đồng trong tương lai thì nó sẽ không được coi là một đề nghị giaokết hợp đồng mà chỉ đơn thuần được xem là một lời mời thương lượng Ví

dụ, trong một đề nghị bán tài sản phải nêu rõ về giá cả cũng như mô tả cụthể các đặc trưng của vật bán

Căn cứ thứ hai là tính chắc chắn của đề nghị Về bản chất, tính chắcchắn chính là ý chí của người đưa đề nghị mong muốn ràng buộc mình vàomột mối quan hệ hợp đồng trong trường hợp lời đề nghị được chấp nhận.Tức là về nguyên tắc, một đề nghị giao kết hợp đồng không thể chứa đựngnhững điều khoản bảo lưu (la réserve), bởi lẽ nó sẽ làm mất đi tính ràngbuộc chắc chắn của một đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên thực tế chothấy, trong một số trường hợp các điều khoản bảo lưu vẫn được chấp nhận,

mà theo đó lời đề nghị dù nếu được chấp nhận thì để thực hiện vẫn còn đikèm với một vài điều kiện nhất định Song điều khoản bảo lưu này cũng chỉđược chấp nhận nếu nó không khiến cho người được đề nghị hoàn toàn phụthuộc vào ý chí đơn phương của người đưa đề nghị Chính vì thế, các Thẩmphán sẽ kiểm soát các điều khoản bảo lưu Pháp luật Pháp cũng phân biệt

Trang 18

các điều khoản bảo lưu trong đề nghị giao kết thành: bảo lưu khách quan vàbảo lưu chủ quan.

Bảo lưu khách quan được hiểu là những điều kiện có thể kiểm soát

được bởi bên một bên thứ ba, ví dụ đề nghị “với điều kiện giới hạn trong số lượng hàng có sẵn” Lời đề nghị này vẫn được xem là đề nghị giao kết hợp

đồng do nó vẫn đảm bảo được tính chắc chắn, bởi lẽ người đưa đề nghịkhông thể đề nghị bán số lượng hàng vượt quá lượng hàng mà anh ta có.Ngược lại, bảo lưu chủ quan (hay bảo lưu tương đối) là những điềukiện đi kèm cho phép bên đề nghị chấp nhận hay không đối tác giao kết

hoàn toàn dựa trên những tiêu chí chủ quan Ví dụ “Đề nghị được thực hiện với điều kiện có sự xác nhận lại” Rõ ràng, bên đề nghị ở đây đã không đưa

ra bất kỳ một cam kết chắc chắn nào Trong trường hợp này, các thẩm phán

sẽ phải kiểm tra bản chất của điều khoản bảo lưu này để rút ra kết luận vềtính chủ quan hay khách quan của nó (ví dụ điều kiện này vẫn sẽ được chấpnhận trong một đề nghị giao kết hợp đồng lao động chẳng hạn).9

Bên cạnh hai căn cứ này, một số học giả còn xem xét đến một tiêu chíthứ ba để xác định một đề nghị là đề nghị giao kết hợp đồng Đó là đề nghịgiao kết phải được thể hiện ra bên ngoài.10 Điều này xuất phát từ quan điểmcho rằng một đề nghị giao kết không thể chỉ dừng lại ở ý chí bên trong của

Trang 19

người đưa đề nghị Cho dù minh thị hay ngụ ý, hướng đến một người haynhiều người thì đề nghị giao kết cũng phải được thể hiện ra bên ngoài, haynói cách khác, phải có ít nhất một người nhận thức được nó Ví dụ: Khingười bán hàng trưng bày hàng hóa trong tủ kính hay trên sạp hàng chính là

họ đã ngầm biểu lộ ý chí “đề nghị bán hàng”

Những tiêu chí này giúp phân biệt một lời đề nghị giao kết hợp đồngvới một lời mời thương lượng (invitation à entrer en pourparlers) Nếu thiếumột trong các đặc điểm trên thì lời đề nghị chỉ được xem như một lời mờithương lượng đơn thuần chứ không phải môt đề nghị giao kết hợp đồng.Một vấn đề cũng được quan tâm đó là giá trị pháp lý của một quảng cáo Vềnguyên tắc, pháp luật Pháp có sự phân biệt giữa một quảng cáo và một đềnghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, một vài quảng cáo vẫn có giá trị nhưmột đề nghị giao kết hợp đồng, cho dù quảng cáo đó không có đủ các đặcđiểm căn bản của một đề nghị giao kết Chỉ cần nó hoàn toàn cụ thể thì nóvẫn có thể được coi là một đề nghị giao kết Khi người nhận đề nghị chấpnhận sẽ tạo thành 1 tiền hợp đồng, mà không cần có thêm bất kỳ cuộcthương lượng nào khác Và vì thế trong trường hợp này, pháp luật cho rằngngười đăng quảng cáo đã có ý chí giao kết hợp đồng rõ ràng.11

Pháp luật Mỹ cũng đưa ra ba tiêu chí để xác định một lời hứa có phảimột đề nghị giao kết hợp đồng, theo đó một đề nghị giao kết phải: thể hiện

11

? Hélène Jupille, Les engagements publicitaire: http://www.juripole.fr/memoires/prive/Helene_Jupille/partie1.html

Ngày đăng: 27/06/2022, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. PGS.TS Ngô Huy Cương, “Về yếu tố ưng thuận của Hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 07 và 08/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về yếu tố ưng thuận của Hợp đồng
8. PGS.TS Ngô Huy Cương, “Tự do ý chí và sự tiếp cận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do ý chí và sự tiếp cận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay
9. ThS. Nguyễn Văn Phái , “Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 24(185)/Tháng 12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đếnđề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự
10. Dương Anh Sơn, “Các quy định của BLDS năm 2005 về chào hàng và chấp nhận chào hàng-Nhìn từ góc độ luật học so sánh”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6(37)/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định của BLDS năm 2005 về chào hàng vàchấp nhận chào hàng-Nhìn từ góc độ luật học so sánh
12. Contractual agreement - offer and acceptance: http://e-lawresources.co.uk/Offer-and-acceptance.php Link
1. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 2. Bộ luật Dân sự Pháp Khác
3. Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) Khác
4. Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán quốc tế 1980 (CISG ) Khác
5. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật kinh tế, NXB CAND, 2011 6. Jay M. Feinman, Luật 101- Mọi điều bạn cần biết về pháp luật Hoa Kỳ, NXB Hồng Đức, 2012 Khác
11. Andrew Burrows, Offer and acceptance, and some of resulting legal relations –Casebook on Contract, Hart Publishing, 2007 Ed Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w