1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY

164 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Học Chó H'Mông Cộc Đuôi Trong Huấn Luyện Nghiệp Vụ Lùng Sục Phát Hiện Các Chất Ma Túy
Tác giả Trần Hữu Côi
Người hướng dẫn GS.TSKH. Đặng Huy Huỳnh, TS. Bùi Xuân Phương
Trường học Học viện Khoa học và Công nghệ
Chuyên ngành Động vật học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 10,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khả năng huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy của chó bản địa H'mông cộc đuôi .... Thang điểm lựa chọn tiêu chí về đặc điểm sinh học để chọn lọc chó bản địa H'mông cộ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi và một số kết quả cùng cộng tác với một số cộng sự khác

Các số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực, một phần đã được công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành và được sự đồng ý sử dụng số liệu của các đồng tác giả

Phần còn lại chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

Nghiên cứu sinh

Trần Hữu Côi

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Học viện Khoa học và Công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi để để tôi hoàn thành các nội dung trong chương trình đào tạo

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã giảng dạy, cung cấp các kiến thức mới để tôi hoàn thành các học phần và các chuyên đề trong chương trình đào tạo

Tôi xin chân thành cảm ơn các chuyên viên ở Học viện Khoa học và Công nghệ, ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành các hồ sơ trong quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thủ trưởng lãnh đạo Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga, lãnh đạo Viện Sinh thái Nhiệt đới cùng các đồng nghiệp đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn quan tâm,

hỗ trợ và động viên trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và công tác chuyên môn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Nghiên cứu sinh

Trần Hữu Côi

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Nguồn gốc và thuần hóa chó nhà 3

1.2 Đặc điểm hình thái chung của chó nhà 5

1.3 Đặc điểm một số cơ quan giác quan của chó 8

1.3.1 Cơ quan khứu giác 9

1.3.2 Cơ quan thị giác 10

1.3.3 Cơ quan thính giác 11

1.4 Những phản ứng cơ bản của hành vi 12

1.4.1 Phản ứng về thức ăn 12

1.4.2 Phản ứng bảo vệ, phòng thủ 13

1.4.3 Phản ứng định hướng 14

1.4.4 Phản ứng tìm kiếm 14

1.4.5 Phản ứng lệ thuộc 15

1.5 Đặc điểm hệ thần kinh của chó 15

1.6 Đặc điểm sinh lý, sinh hóa máu 17

1.7 Tình hình nuôi dạy, nghiên cứu chó nghiệp vụ 20

1.7.1 Tình hình nuôi chó nghiệp vụ trên thế giới 20

1.7.2 Tình hình nghiên cứu chó nghiệp vụ ở Việt Nam 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 25

Trang 6

2.3 Nội dung nghiên cứu 25

2.3.1 Điều tra khảo sát, bổ sung đặc điểm phân bố, sinh học, sinh thái của chó bản địa H'mông cộc đuôi 25

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm hành vi của chó bản địa H'mông cộc đuôi 25

2.3.3 Khả năng huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy của chó bản địa H'mông cộc đuôi 26

2.3.4 Xây dựng tiêu chí tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy 26

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Điều tra phỏng vấn 26

2.4.2 Phương pháp mô tả và thu số liệu hình thái 26

2.4.3 Thu và phân tích sinh lý sinh hoá máu 29

2.4.4 Nghiên cứu đặc điểm thần kinh 29

2.4.5 Nghiên cứu đặc điểm hành vi 29

2.4.5.1 Đặc điểm hành vi 29

2.4.5.2 Tính trội của chó 31

2.4.6 Nghiên cứu các cơ quan giác quan 31

2.4.6.1 Đặc điểm cơ quan thị giác 31

2.4.6.3 Đặc điểm cơ quan khứu giác 33

2.4.7 Huấn luyện, đánh giá khả năng thực hiện nghiệp vụ của chó 34

2.4.7.1 Huấn luyện chó nghiệp vụ các động tác cơ bản 34

2.4.7.2 Huấn luyện chó lùng sục và phát hiện chất ma túy 34

2.4.7.3 Đánh giá 34

SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU TỔNG QUÁT TRONG LUẬN ÁN 35

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của chó bản địa H'mông cộc đuôi 36

3.1.1 Đặc điểm phân bố 36

3.1.2 Một số chỉ số hình thái cơ thể 37

3.1.3 Màu lông 42

3.1.4 Kiểu tai 45

3.1.5 Độ dài đuôi 46

Trang 7

3.1.6 Đặc điểm sinh lý, sinh hoá máu 49

3.1.7 Đặc điểm một số cơ quan giác quan của chó bản địa H'mông cộc đuôi 58 3.1.7.1 Thính giác 58

3.1.7.2 Khứu giác 60

3.1.7.3 Thị giác 65

3.1.8 Các tính trội của chó bản địa H'mông cộc đuôi trong huấn luyện nghiệp vụ 67

3.1.9 Đặc điểm thần kinh của chó bản địa H'mông cộc đuôi 69

3.2 Đặc điểm hành vi xã hội của chó bản địa H'mông cộc đuôi 71

3.2.1 Hành vi giao tiếp 71

3.2.2 Mức độ hoạt động 73

3.2.3 Phản ứng với đối tượng lạ 74

3.2.4 Hành vi chơi đùa 76

3.2.5 Phản ứng với tiếng ồn 77

3.2.6 Hành vi xã hội của chó bản địa H'mông cộc đuôi 79

3.3 Khả năng huấn luyện chó bản địa H'mông cộc đuôi lùng sục phát hiện các chất ma túy 81

3.3.1 Sự hình thành phản xạ có điều kiện của chó bản địa H'mông cộc đuôi 81

3.3.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh tới sự hình thành phản xạ có điều kiện ban đầu của chó bản địa H'mông cộc đuôi 81

3.3.1.2 Ảnh hưởng của độ tuổi đến sự hình thành phản xạ có điều kiện ở chó bản địa H'mông cộc đuôi 84

3.3.1.3 Ảnh hưởng của giới tính tới hình thành phản xạ có điều kiện ở chó bản địa H'mông cộc đuôi 88

3.3.2 Kết quả huấn luyện chó bản địa H'mông cộc đuôi lùng sục phát hiện các chất ma túy 91

3.3.3 Ảnh hưởng của giới tính đến khả năng huấn luyện chó bản địa H'mông cộc đuôi 92

3.3.4 So sánh kết quả huấn luyện của chó bản địa H'mông cộc đuôi so với một số giống chó khác 94

Trang 8

3.4 Tiêu chí tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi huấn luyện nghiệp vụ lùng

sục phát hiện các chất ma túy 97

3.4.1 Xác định sự ảnh hưởng của một số đặc điểm sinh học đến kết quả huấn luyện chuyên khoa lùng sục phát hiện các chất ma tuý 97

3.4.2 Xây dựng tiêu chí tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi làm chó nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma tuý 100

3.4.2.1 Tiêu chí nhóm 1 (Nhóm tiêu chí về hình thái) 100

3.4.2.2 Tiêu chí nhóm 2 (Nhóm tiêu chí về đặc điểm sinh học) 102

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHẦN PHỤ LỤC 119

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

FCI Federation Cynologique Internationale

(Hiệp hội chó giống thế giới)

(Hiệp hội những người nuôi chó giống Việt Nam)

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng hợp một số chỉ số hình thái cơ thể chó bản địa H'mông cộc đuôi 38

Bảng 3.2 Chỉ số hình thái chó bản địa H'mông cộc đuôi 40

Bảng 3.3 Tỷ lệ bắt gặp màu lông của chó bản địa H'mông cộc đuôi 42

Bảng 3.4 Tỷ lệ bắt gặp các kiểu tai của chó bản địa H'mông cộc đuôi 45

Bảng 3.5 Tỷ lệ bắt gặp các nhóm độ dài đuôi của chó bản địa H'mông cộc đuôi 47

Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của chó bản địa H'mông cộc đuôi 50

Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu sinh hoá máu của chó bản địa H'mông cộc đuôi 52

Bảng 3.8 Khoảng cách nghe của chó bản địa H'mông cộc đuôi theo giai đoạn tuổi 58

Bảng 3.9 Khứu giác của chó bản địa H'mông cộc đuôi 61

Bảng 3.10 Khoảng cách nhìn của chó bản địa H'mông cộc đuôi theo độ tuổi 65

Bảng 3.11 Tỷ lệ các tính trội của chó bản địa H'mông cộc đuôi 67

Bảng 3.12 Tỷ lệ các dạng hoạt động thần kinh cấp cao của chó bản địa H'mông cộc đuôi 70

Bảng 3.13 Hành vi giao tiếp của chó bản địa H'mông cộc đuôi 72

Bảng 3.14 Phản ứng với đối tượng lạ của chó bản địa H'mông cộc đuôi 74

Bảng 3.15 Hành vi chơi đùa của chó bản địa H'mông cộc đuôi 76

Bảng 3.16 Phản ứng của chó bản địa H'mông cộc đuôi đối với tiếng ồn 78

Bảng 3.17 Đặc điểm các hành vi của chó bản địa H'mông cộc đuôi 79

Bảng 3.18 Ảnh hưởng của môi trường đến khả năng thành lập phản xạ có điều kiện ban đầu của chó bản địa H'mông cộc đuôi 82

Bảng 3.19 Sự hình thành phản xạ có điều kiện của chó bản địa H'mông cộc đuôi ở các độ tuổi (n = 30) 84

Bảng 3.20 Sự hình thành phản xạ có điều kiện của chó bản địa H'mông cộc đuôi ở các giới tính (n = 30) 88

Bảng 3.21 Kết quả đánh giá chó bản địa H'mông cộc đuôi lùng sục phát hiện các chất ma túy theo giai đoạn huấn luyện (n = 40) 91

Bảng 3.22 Ảnh hưởng của giới tính đến khả năng huấn luyện chó bản địa H'mông cộc đuôi lùng sục phát hiện các chất ma túy (n = 20) 93

Trang 11

Bảng 3.23 So sánh kết quả trong huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất

ma túy với một số giống chó nhập nội 95

Bảng 3.24 Tiêu chí về ngoại hình của chó bản địa H'mông cộc đuôi trong huấn luyện

nghiệp vụ 100

Bảng 3.25 Xếp cấp ngoại hình chó bản địa H'mông cộc đuôi 101 Bảng 3.26 Thang điểm đánh giá dạng thần kinh của chó bản địa H'mông cộc đuôi 102 Bảng 3.27 Thang điểm đánh giá về tính trội của chó bản địa H'mông cộc đuôi 102 Bảng 3.28 Thang điểm đánh giá về khứu giác của chó bản địa H'mông cộc đuôi 103 Bảng 3.29 Thang điểm đánh giá hành vi của chó bản địa H'mông cộc đuôi 103 Bảng 3.30 Thang điểm lựa chọn tiêu chí về đặc điểm sinh học để chọn lọc chó bản địa

H'mông cộc đuôi trong huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy 104

Bảng 3.31 Phân cấp xếp loại đánh giá theo điểm 104

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Minh họa một số phép đo được thực hiện trên chó 28

Hình 2.2 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát trong luận án 35

Hình 3.1 Sơ đồ phân bố của chó bản địa H'mông cộc đuôi tại các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam 37

Hình 3.2 Hình dáng tổng thể chó bản địa H'mông cộc đuôi 39

Hình 3.3a Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu đen 43

Hình 3.3b Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu vàng 43

Hình 3.3c Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu đỏ hung 44

Hình 3.3d Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu trắng 44

Hình 3.3e Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu vện 45

Hình 3.4 Kiểu tai của chó bản địa H'mông cộc đuôi 46

Hình 3.5 Độ dài đuôi của chó bản địa H'mông cộc đuôi 47

Hình 3.6 Mối liên hệ tỷ lệ màu lông và kiểu tai 48

Hình 3.7 Mối liên hệ tỷ lệ màu lông và độ dài đuôi 48

Hình 3.8 Khoảng cách nghe của chó bản địa H'mông cộc đuôi theo giới tính 60

Hình 3.9 Khoảng cách nhìn của chó bản địa H'mông cộc đuôi theo giới tính 66

Hình 3.10 Hành vi giao tiếp theo giới tính của chó bản địa H'mông cộc đuôi 72

Hình 3.11 Mức độ hoạt động theo giới tính của chó bản địa H'mông cộc đuôi 73

Hình 3.12 Phản ứng với đối tượng lạ theo giới tính của chó bản địa H'mông cộc đuôi 75

Hình 3.13 Hành vi chơi đùa theo giới tính của chó bản địa H'mông cộc đuôi 77

Hình 3.14 Phản ứng với tiếng ồn theo giới tính của chó bản địa H'mông cộc đuôi 78

Hình 3.15 Hành vi xã hội của chó bản địa H'mông cộc đuôi theo giới tính 80

Hình 3.16 Ảnh hưởng của môi trường đến số lần thực hiện động tác 82

Hình 3.17 Ảnh hưởng của môi trường đến số lần tác động lên chó 83

Hình 3.18 Số lần thực hiện động tác theo giai đoạn tuổi 86

Hình 3.19 Số lần kích thích cơ học theo giai đoạn tuổi 86

Hình 3.20 Số lần khen theo giai đoạn tuổi 87

Hình 3.21 Số lần thưởng thức ăn theo giai đoạn tuổi 87

Hình 3.22 Số lần thực hiện động tác theo giới tính 89

Hình 3.23 Số lần kích thích cơ học theo giới tính 89

Trang 13

Hình 3.24 Số lần khen theo giới tính 90

Hình 3.25 Số lần thưởng thức ăn theo giới tính 90

Hình 3.26 Ảnh hưởng của giới tính đến huấn luyện kỷ luật cơ bản của chó bản địa H'mông cộc đuôi 93

Hình 3.27 Ảnh hưởng của giới tính đến huấn luyện chuyên khoa ma túy của chó bản địa H'mông cộc đuôi 94

Hình 3.28 Ảnh hưởng của các giống chó tới huấn luyện kỷ luật cơ bản 95

Hình 3.29 Ảnh hưởng của các giống chó tới huấn luyện chuyên khoa ma túy 96

Hình 3.30 Chọn mô hình hồi quy tuyến tính bằng phương pháp BMA 97

Hình 3.31 Mô hình tuyến tính giữa kết quả huấn luyện chuyên khoa ma túy với một số đặc điểm sinh học của chó bản địa H'mông cộc đuôi 98

Hình 3.32 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả huấn luyện chuyên khoa lùng sục phát hiện các chất ma tuý 99

Trang 14

MỞ ĐẦU

Hiện nay, vấn đề an sinh xã hội và an ninh quốc phòng là nhiệm vụ rất quan trọng đối với toàn xã hội, đặc biệt đối với các lực lượng vũ trang cũng như các lực lượng cứu hộ cứu nạn [1, 2] Chính vì vậy nhu cầu sử dụng chó nghiệp vụ càng trở nên quan trọng, cần thiết trong thực thi nhiệm vụ Trong khi đó những giống chó làm nghiệp vụ ở nước ta chủ yếu là chó nhập nội với giá thành cao, khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu ở Việt Nam kém Mặt khác những con lai không rõ nguồn gốc không phát huy được những tính trạng mong muốn trong việc huấn luyện làm chó nghiệp vụ

Các nguồn gen chó bản địa có tính thích nghi, chống chịu bệnh tật và khả năng sống trong điều kiện Việt Nam là tốt nhất, nhiều nguồn gen chó bản địa còn có giá trị

về kinh tế, an ninh quốc phòng như chó bản địa H'mông cộc đuôi, giống chó Bắc Hà,

đã và đang được khai thác sử dụng làm chó nghiệp vụ phục vụ cho lực lượng công

an địa phương [3] Song với thực trạng nhân nuôi chó tại Việt Nam, các giống chó bản địa có nguy cơ bị pha tạp bởi các nguồn gen nhập ngoại và bị pha tạp bởi chính các nguồn gen nội địa do công tác quản lý nhân giống chó chưa thực sự quan tâm [4] Trước tình hình đó việc bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn gen giống chó bản địa càng trở nên cấp bách

Với những kết quả nghiên cứu ban đầu của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga cho thấy, chó bản địa Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu làm chó nghiệp vụ [1, 2] Chó bản địa H'mông cộc đuôi được các chuyên gia khuyển học đánh giá rất cao về khả năng thực hiện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy Tuy nhiên việc nghiên cứu về các đặc điểm sinh học của chó H'mông cộc đuôi chưa đồng

bộ, chưa xác định được sự ảnh hưởng của chúng đến khả năng làm việc Để bổ sung

cơ sở dữ liệu phục vụ công tác nhân giống, huấn luyện và sử dụng chó bản địa H'mông cộc đuôi, nghiên cứu sinh đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của chúng trong huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy

Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được các đặc điểm sinh học, sinh thái, hành vi của chó bản địa H'mông cộc đuôi phục vụ cho huấn luyện chuyên khoa lùng sục phát hiện các chất

ma túy;

- Xây dựng được tiêu chí tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi thực hiện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy

Trang 15

Nội dung nghiên cứu

- Điều tra khảo sát, bổ sung đặc điểm phân bố, sinh học, sinh thái của chó bản địa H’mông cộc đuôi;

- Nghiên cứu đặc điểm hành vi của chó bản địa H’mông cộc đuôi;

- Khả năng huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy của chó bản địa H'mông cộc đuôi;

- Xây dựng tiêu chí tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy

Những đóng góp mới của luận án

- Lần đầu tiên cung cấp một cách hệ thống về đặc điểm phân bố, hình thái, sinh thái, sinh lý của chó bản địa H'mông cộc đuôi ở Việt Nam, làm cơ sở cho việc tuyển chọn giống chó có khả năng lùng sục phát hiện các chất ma túy;

- Lần đầu tiên cung cấp các dẫn liệu khoa học làm cơ sở cho việc xây dựng các nhóm tiêu chí để chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi phục vụ cho huấn luyện lùng sục phát hiện các chất ma túy;

- Dựa trên cơ sở sinh thái học, sinh học giúp cho việc xây dựng quy trình chăm sóc, huấn luyện các giống chó bản địa khác trong huấn luyện nghiệp vụ

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa hoa học

Đây là nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống mô tả cụ thể đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, đặc điểm sinh lý cũng như đặc điểm thần kinh Trên cơ sở đó huấn luyện thử nghiệm chuyên khoa lùng sục phát hiện các chất ma tuý Từ đó lần đầu tiên đưa ra được tiêu chí cơ bản để tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi làm chó nghiệp vụ

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp cơ sở khoa học cho công tác chọn lọc nhân giống, bảo tồn chó bản địa H'mông cộc đuôi Đồng thời cũng là tài liệu làm

cơ sở và đối chứng với các nghiên cứu sau trong lĩnh vực khuyển học

Kết quả nghiên cứu còn đưa ra các tiêu chí cơ bản để tuyển chọn chó bản địa H'mông cộc đuôi phục vụ huấn luyện lùng sục phát hiện các chất ma túy

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Nguồn gốc và thuần hóa chó nhà

Chó nhà (Canis familiaris) là một trong những loài thuộc bộ ăn thịt

(Carnivora), họ chó (Canidae) Bộ ăn thịt được biết đến có khoảng 35 loài được tách

ra cách đây từ mười triệu năm [5, 6] Chó nhà được coi là hậu duệ của chó sói đã được thuần hóa, có họ hàng gần nhất với sói xám hiện đại [7, 8], loài chó này chỉ khác nhau 0,04% về trình tự DNA mã hóa hạt nhân của nó [9, 10, 11]

Trong hệ thống phân loại, chó nhà được coi là một loài Canis familiaris

Linnaeus, 1578 Tuy nhiên do quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo đã tạo nên các kiểu hình của chó vô cùng đa dạng [12], từ đây thuật ngữ “giống chó” đã được xuất hiện Mỗi giống chó có hình thái đặc trưng riêng [13, 14], và khả năng làm việc rất khác nhau tạo thành các dòng chó chuyên biệt [15] Bởi vậy trong hệ thống phân loại các giống chó, thường gọi thực chất không phải là giống (genus) mà chỉ là một dạng kiểu hình, dạng, nòi (phenotype, type, race), nhưng đây là giống vật nuôi (breed), do vậy thống nhất tên gọi là giống chó (breed of domestic dog) [16] Hiện nay, có hơn

400 giống chó đã được đăng ký trên hệ thống của hiệp hội nhân nuôi chó thế giới (FCI) [17] được xếp vào 10 nhóm dựa vào kích thước, kiểu hình cũng như mục đích

sử dụng khác nhau [18 - 22]

Về nguồn gốc của chó nhà vẫn còn có những quan điểm khác nhau Hiện nay đang tồn tại 2 quan điểm: thứ nhất chó nhà có 1 tổ tiên là chó sói, quan điểm thứ 2 cho rằng chó nhà có đa tổ tiên, tức là chó nhà được hình thành từ nhiều loài ăn thịt khác nhau tuỳ thuộc vào khu vực địa lý đặc trưng Với sự phát triển của khoa học và công nghệ di truyền phân tử, nguồn gốc chó nhà ngày càng được làm sáng tỏ Năm 1997, lần đầu tiên các nhà di truyền học nghiên cứu đoạn gen trên vùng kiểm soát ty thể của chó nhà và chó sói, đã kết luận rằng hai dòng này đã tách ra từ 135.000 năm trước [23] Kết quả so sánh toàn bộ hệ gen chó nhà và chó sói của Wang và Freedman đều khẳng định mối quan hệ họ hàng xa giữa chó nhà và chó sói Tuy nhiên, Wang (2013) cho rằng chó nhà và chó sói đã tách ra từ 32.000 năm trước [24] Trong khi đó Freedman

và cộng sự (2014, 2017) có những phân tích lập luận chặt chẽ đã chỉ ra sự phân chia của chó nhà và chó sói vào khoảng từ 11.000 - 16.000 năm [25, 26] Cũng có một số nghiên cho rằng, quá trình thuần hóa đã bắt đầu từ hơn 25.000 năm trước, trong một hoặc một số quần thể chó sói ở châu Âu, Bắc Cực hoặc Đông Á [27] Năm 2021, A.R

Trang 17

Perri và cộng sự đưa ra một tài liệu về các bằng chứng hiện tại cho thấy loài chó nhà

đã được thuần hóa ở Siberia cách đây 23.000 năm bởi những người Bắc Siberia cổ đại, sau đó phân tán về phía Đông sang châu Mỹ và về phía Tây qua Âu - Á [28]

Quá trình thuần hoá chó nhà diễn ra từ rất sớm, chó nhà được coi là một trong những động vật đầu tiên được con người thuần hoá và nuôi dưỡng Có những bằng chứng cho rằng, chó là loài đầu tiên được thuần hóa bởi những người săn bắn hái lượm hơn 15.000 năm trước [29, 30] Chúng phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, và nó được coi là một trong những giống vật nuôi [31]; Chó được coi

là loài ăn thịt, ăn tạp phong phú nhất sống trong môi trường sống của con người [32, 33] Vào năm 2013, ước tính số lượng chó trên toàn cầu là từ 700 triệu [34] đến 987 triệu cá thể [35]

S J Olsen (1977) đã cho rằng chó nhà có nguồn gốc châu Á, nhận định này dựa trên những đặc điểm tương đồng về hình thái giữa chó nhà và chó sói Trung Quốc

(C lupus chanco) và chó sói Tây Tạng (C lupus laniger) [36] Bên cạnh đó dựa vào

kết quả nghiên cứu của Peter Savolainen và Ya-Ping Zhang đã chỉ ra rằng chó nhà tại khu vực Đông Nam Á có mức độ đa dạng di truyền cao nhất và có quan hệ gần gũi với sói xám Đồng thời các tác giả cũng đưa ra giả thuyết chó nhà được thuần hoá đầu tiên ở Đông Nam Á cách đây 33.000 năm và khoảng 15.000 năm trước chó nhà bắt đầu

di cư đến Trung Đông và Châu Phi [37 - 40]

Chó là một trong những loại thức ăn phổ biến trong khẩu phần ăn của con người ở Châu Á [41], các đảo Thái Bình Dương [42, 43] và Bắc Mỹ [44, 45, 46], đặc biệt quan trọng trong những tháng mùa đông lạnh giá Đây là bước quan trọng trong việc thuần hóa chó của con người

Với sự phát triển của chăn nuôi gia súc, chó giúp việc là cần thiết trong việc quản lý, chăn thả gia súc thời nguyên thủy Với nhiệm vụ đầu tiên của chó chăn gia súc là bảo vệ đàn gia súc, vì vậy phải lựa chọn những dạng chó: mạnh, dữ tợn, sức chịu đựng cao, có khả năng chống trả các loài thú ăn thịt khác Dần dần chó cũng được sử dụng vào các mục đích quân sự nhằm chiến đấu chống lại kẻ thù Từ đó các giống chó có kích thước lớn được ưu tiên tuyển chọn

Sự đa dạng hình thức săn bắn và việc sử dụng công cụ, vũ khí cùng với sự chuyên biệt hoá theo con mồi đã dẫn đến sự phong phú và đa dạng trong nhóm chó săn

Trang 18

1.2 Đặc điểm hình thái chung của chó nhà

Các giống chó khác nhau thì có các đặc điểm về hình dạng, kích thước, màu sắc riêng biệt [15] Các phát hiện khảo cổ cho thấy rằng những con chó cổ đại có kích thước khác nhau Dấu tích của những con chó thời kỳ đồ đá cũ cao 45 - 60 cm được tìm thấy ở Trung Đông, Iraq, Israel, những con chó lớn (trên 60 cm) được tìm thấy ở Đức, ở Nga Ukraine [47, 48]), dưới 45 cm, ở Thụy Sĩ ở Pháp Tây Ban Nha và Đức [49] Chiều cao tối đa được ghi nhận ở một con chó giống Great Dane là 109 cm tính đến vai với trọng lượng 111 kg và chiều dài 221 cm Chó Mastiff Zorba của Anh hai lần được ghi vào sách kỷ lục Guinness thế giới với tư cách là con chó nặng nhất thế giới vào tháng 11 năm 1989, cân nặng của nó 155,6 kg với chiều cao đến vai là 94cm [50, 51]

Các giống chó hiện đại cho thấy sự khác biệt về kích thước, ngoại hình và hành

vi hơn bất kỳ loài vật nuôi nào khác [52, 53] Cũng có nghiên cứu đã chỉ ra các mối liên hệ với kích thước và hành vi của cơ thể Chó càng lớn thì càng ít biểu hiện lo lắng, sợ hãi hoặc loạn thần kinh [54] Những con chó nhỏ cũng có hành vi hung dữ hơn những con chó lớn hơn như sủa, gầm gừ, nhe răng, cắn hoặc cố gắng cắn người [55] P McGreevy (2013) đã chỉ ra 32 hành vi không mong muốn có liên quan đến chiều cao, trọng lượng cơ thể, chỉ số chiều cao và sọ, hoặc chiều cao và cân nặng [56] Những con chó thấp hơn cho thấy sự chú ý và sợ hãi hơn những con chó cao hơn, những con chó ngắn hơn cũng tỏ ra hung dữ hơn đối với cả đối tượng lạ và chủ Khi trọng lượng cơ thể giảm, tính dễ bị kích động và hiếu động thái quá

Khái niệm ngoại hình của chó là toàn bộ cơ thể thống nhất của nó, song để cho

dễ quan sát thì thường quan sát ngoại hình thông qua 7 phần chính: đầu, cổ, thân, đuôi, chi trước, chi sau và màu sắc lông [23, 57]

Đầu là đặc điểm đặc trưng của giống chó, về hình dáng đầu thường có hình tròn, hình nhọn, hình vuông và hình chữ nhật [58 - 67] Đầu gồm 2 phần, hộp sọ và mõm Trong nghiên cứu về hình dáng bên ngoài của đầu, thường nghiên cứu về kích thước của hộp sọ, mõm và tỷ lệ chiều dài của mõm với chiều dài đầu Mõm có kiểu hình khác nhau như: thẳng, hóp, hếch, dài, ngắn… [67, 68]

Cổ là nơi tiếp giáp của đầu và thân Nhờ cổ, đầu thực hiện nhiều chuyển động cần thiết cho sự định hướng của con chó Cổ có thể được xem xét ở các khía cạnh về tính linh động, hình dạng, khối lượng, chiều dài… [68]

Trang 19

Ngoại hình của thân: Thân chó được chia thành những phần sau đây: bướu vai, lưng, eo lưng, mông, đuôi, ngực và lồng ngực, bụng và chi [68]

Bướu vai: là phần mình được giới hạn ở phía trước là cổ, ở phía sau là lưng, ở hai bên là hai bả vai Cơ sở của bướu vai là 4 - 5 mấu có ngạnh của đốt sống ngực Khi đánh giá bướu vai nên chú ý đến chiều cao, chiều rộng và chiều dài của nó Bướu vai cao, rộng, tương đối dài và có cơ bắp là những đặc điểm của một con chó tốt [68]

Lưng: là phần mình giữa bướu vai và thắt lưng, bên phải và bên trái được giới hạn bằng rẻo sườn của lồng ngực, nó bao gồm khoảng 8 - 9 đốt sống lưng và những đoạn trên của xương sườn lưng được đánh giá theo chiều rộng, chiều dài và hình dáng Thường phân biệt lưng rộng với lưng hẹp, lưng dài với lưng ngắn, lưng võng với lưng ngù, lưng mềm với lưng cứng Lưng thẳng, rộng, dài đều là lưng đẹp [68]

Eo lưng: là phần mình bị giới hạn bởi lưng ở phía trước, bởi mông ở phía sau

và ở hai bên vùng bẹn Phần eo lưng gồm bảy đốt sống của eo lưng có mấu thẳng đứng và nằm ngang [68]

Mông: là phần mình bị giới hạn phía trước bởi eo lưng ở phía sau là đuôi và hai bên là đùi Xương chậu và xương cùng nằm ở phần mông Khi đánh giá mông cần chú ý đến chiều rộng và chiều dài, độ tròn và đường chóp của nó Mông thường có các dạng như sau: rộng, hẹp, dài, ngắn, phẳng, tròn, thẳng, xệ, hếch Chó có loại mông tương đối rộng, đặc biệt là ở cá thể cái, dài, tròn và hơi xệ là chó tốt [68]

Đuôi: đuôi gồm 6 đốt sống đuôi, xét theo chiều dài thì đuôi có loại dài, loại ngắn Chiều dài của đuôi được ước tính theo tỷ lệ đến gót chân sau Chiều dài đuôi

có phần cuối đuôi chạm đến gót chân được coi là tiêu chuẩn và căn cứ vào đặc điểm này để đánh giá phân loại các giống chó Tuy nhiên cũng có những giống chó đuôi ngắn tự nhiên (cuối đuôi chưa đến gót chân sau) Trước đây do điều kiện sử dụng, đảm bảo vệ sinh cũng như theo nhu cầu của con người đuôi của một số giống chó được cắt ngắn bằng biện pháp phẫu thuật Tuy nhiên ngày nay với sự phát triển về đạo đức chăn nuôi động vật việc cắt bỏ đuôi không được khuyến khích Ngoài ra, hình dạng của đuôi cũng là một trong những đặc điểm biến đổi nhiều nhất giữa các giống chó Hình dạng đuôi có thể là thẳng, cong dạng lưỡi liềm hay lưới hái, xoắn ở phần cuối, xoắn ốc, cuối đuôi có móc hay đuôi có các vết gãy Trong đa số các giống chó việc xuất hiện các vết gãy trên đuôi đều được coi là sự phát triển lệch lạc và có dấu hiệu bất thường Những trường hợp này thường bị loại bỏ [69]

Trang 20

Ngực và lồng ngực: Phần phía trước của lồng ngực gọi là ngực Lồng ngực bị giới hạn bởi các bộ phận như sau: ở phía trên là bướu vai và lưng ở phía dưới là xương ngực, ở phía trước là khoảng trống giữa vai và chỗ bắt đầu cổ họng nối với mình, ở phía sau là những xương sườn cụt Ngực và lồng ngực được đánh giá theo chiều rộng, chiều dài, chiều sâu, thể tích và hình dáng Lồng ngực thường có dáng phẳng, ô van cụt, hình thùng Đối với tất cả các giống chó cần phải có lồng ngực rộng, tương đối sâu và dài

Bụng: là phần có thành bụng mềm, đoạn từ xương sườn cụt đến xương chậu

Về hình dáng, bụng có dạng thon đều, béo mỡ và xệ Đối với tất cả các giống chó cần

có dáng bụng thon đều mới tốt

Chi: Chi được đánh giá theo hình dáng, độ nở nang, cơ bắp và độ mở của các góc khớp

Chi trước, gồm xương bả vai, xương cánh tay, khớp khuỷu, cẳng tay, cổ chân, khớp đốt bàn chân và bàn chân Tư thế đứng của chó được coi là đúng, trong trường hợp nếu các chi được đặt thẳng lên mặt đất, song song với nhau và mở ra bằng chiều rộng của ngực Bàn chân có hình vòm các ngón chân kín sát nhau và áp sát mặt đất Các góc khớp mở như sau: khớp vai 90 - 1000, khớp khuỷu 120 - 1300

Chi sau gồm xương đùi, cẳng chân, khớp gối, xương bàn chân và bàn chân Khi nhìn từ phía sau các chi sau phải song song với nhau, có các góc của đốt khớp như sau: góc đùi khoảng 80 - 850, góc mở khớp gối 125 - 1350

Lông của chó nhà có hai loại là đơn và kép Loại kép, thường xuất hiện ở những giống chó sống ở vùng khí hậu lạnh, được tạo thành từ một lớp lông bảo vệ thô và một lớp lông mềm Loại đơn, chỉ có lớp phủ trên cùng Sắc tố lông có thể bị chuyển màu xám sớm và xuất hiện ngay cả ở chó một năm tuổi; điều này có liên quan đến các hành vi bốc đồng, hành vi lo lắng, sợ tiếng ồn và sợ người hoặc động vật không quen thuộc [70]

Về cấu tạo chung, chia thành năm kiểu chủ yếu [68, 69, 70]:

- Cấu tạo kiểu thô: Được biểu thị bằng kiểu đầu hình khối, ngắn rộng và cổ ít

cử động, bộ xương nặng, các chi hơi ngắn, hệ cơ nặng nề ít cử động Chó có kiểu cấu tạo thô thường sống lâu, có sức sống và thích nghi tốt với các điều kiện nuôi dưỡng khác nhau Chó kiểu cấu tạo này thường có hoạt động thần kinh cao mạnh, điềm tĩnh nhưng ít linh hoạt Phần lớn chó Becgie Cap-caz và Trung Á thuộc loại cấu tạo này

Trang 21

- Cấu tạo kiểu mảnh mai: Được biểu thị bằng những tính chất ngược lại với kiểu cấu tạo thô Khung xương mình và các chi mảnh mai Da mỏng dễ căng và đàn hồi tốt, lông mềm mại và hầu như không có lông mao dưới Hệ cơ bắp phát triển kém

Có hoạt động thần kinh yếu, không điềm tĩnh, không linh hoạt Sức sống và khả năng thích nghi với điều kiện sống thay đổi thấp Phần lớn các giống chó lùn có kiểu cấu tạo này

- Cấu tạo cường tráng: Được biểu thị bằng bộ xương vững chắc, hệ cơ bắp phát triển tốt và có đường nét nổi rõ rệt, da mỏng, đàn hồi tốt Hoạt động thần kinh cao cấp thường là mạnh, điềm tĩnh và linh hoạt Phần lớn chó Becgie Đông Âu thuộc loại cấu tạo này

- Cấu tạo gầy còm: Bộ xương ít phát triển, nhưng chắc, hệ cơ bắp mỏng, không

có các lớp mỡ dễ nhận thấy được qua lớp da, gân nổi rõ, đầu tương đối nhỏ, cổ cử động tốt, vận động nhanh nhẹn Chó có kiểu cấu tạo này sức sống tốt Chịu đựng được thay đổi hoàn cảnh dễ dàng Loại hoạt động thần kinh cao cấp mạnh, linh hoạt nhưng thường không điềm tĩnh Phần lớn giống chó Dobermann, Laika thuộc kiểu cấu tạo này

- Cấu tạo yếu ớt: Được biểu thị bằng sự phát triển mạnh các mô mỡ dưới da,

và ở giữa những lớp cơ Da uốn nếp, cổ thường hay có yếm Bụng xệ, vận động uể oải Loại hoạt động thần kinh cấp cao mạnh, điềm tĩnh nhưng ít linh hoạt

Cấu tạo và ngoại hình được chú ý đặc biệt khi chọn đôi để gây giống để làm tăng thêm các đặc điểm mong muốn và giảm bớt những đặc điểm không cần thiết ở các thế hệ sau

1.3 Đặc điểm một số cơ quan giác quan của chó

Bất kỳ sự định hướng nào cũng dựa trên việc sử dụng các giác quan cảm nhận: khứu giác, thính giác, thị giác, vị giác… Các cơ quan cảm nhận bổ sung và thay đổi lẫn nhau phụ thuộc vào các đặc tính của môi trường xung quanh Sự định hướng không gian của động vật là một quá trình tổng hợp phức tạp Xúc giác, vị giác là những cơ quan cảm nhận tác động gần; thị giác, thính giác, khứu giác, hệ thống cảm ứng là những cơ quan cảm nhận tác động xa Ngoài ra có nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, chó có thể nhận thấy từ trường của trái đất [71]

Trang 22

1.3.1 Cơ quan khứu giác

Khứu giác là cơ quan cảm nhận mùi, rất quan trọng đối với chó Nó ảnh hưởng tới hành vi sinh dục, tính chất bố mẹ, hành vi lãnh thổ và hoạt động xã hội

Chó có diện tích vùng khứu giác ở mũi là 85 cm2, số lượng các đầu cảm nhận

là 2,3.108 Khoa học đã chứng minh được rằng, chó có khả năng cảm nhận được sự hiện diện của một phân tử chất có mùi trong một lít không khí và cảm nhận được mùi của một phân tử trong một ml nước [72]

Số lượng thụ thể nhạy cảm với mùi ở chó nhiều hơn con người khoảng 40 lần, dao động từ khoảng 125 triệu đến gần 300 triệu ở một số giống chó Điều này được cho là làm cho khứu giác của nó nhạy hơn tới 40 lần so với con người [73]

Chó có khả năng ghi nhớ mùi và liên kết chúng với những tình huống nhất định Chó cùng một lúc tiếp nhận và phân chia nhiều mùi, tức là khứu giác của chúng

có tính phân tích:

- Cho khái niệm rõ ràng về khoảng cách;

- Độ cảm nhận cao đối với những mùi rất nhẹ trên nền các mùi nặng hơn, điều này giải thích cho hiệu quả tìm dấu vết của chúng;

- Xác định hướng di chuyển của động vật, điều này rõ ràng có liên quan đến khả năng phân biệt cường độ những mùi lạ nhỏ nhất, làm gia tăng sức tập trung của

nó về hướng chuyển động của động vật hay ngược lại

Nhờ có bộ phân tích khứu giác, chó có khả năng phân biệt cường độ, độ lâu

và độ tươi mới của mùi Đã xác định được khả năng của chó phân biệt các mùi có độ lâu hơn kém nhau 3 - 5 phút, còn trí nhớ về mùi của chó, cho phép truy nguyên các mùi gần giống nhau Đối với tất cả mọi tính chất của mùi, đều có thể thiết lập ở chó các phản xạ có điều kiện, đó là một thuận lợi để huấn luyện và sử dụng có kết quả ở chó nghiệp vụ [74]

Đa số các cá thể chó đều có khả năng nhanh chóng xác định hướng đi, dấu vết của các loài vật hoặc của con người Việc tìm kiếm, đuổi theo và phát hiện ra người hoặc động vật trực tiếp theo mùi, dấu vết, được gọi là ngửi thấp Khi làm việc với phương pháp ngửi thấp, chó đi theo đường vết, đầu cúi thấp xuống dưới [72]

Năng lực của chó cảm nhận được người và động vật khác từ khoảng cách này hay khoảng cách kia, được gọi là cự ly độ nhậy, còn việc sử dụng dòng di chuyển của không khí để tìm kiếm và phát hiện người và động vật khác, gọi là ngửi cao Trong

Trang 23

trường hợp ngửi cao, chó đi ngẩng cao đầu, ngược chiều gió đón bắt mùi trong dòng không khí [72, 74]

Sự thích nghi khứu giác, là một trong những tính chất của bộ phận phân tích khứu giác, chúng thích nghi với việc tiếp nhận các mùi có cường độ, độ phức tạp khác nhau với những đặc điểm khác nhau Thích nghi khứu giác có thể là tích cực khi ngưỡng kích thích thấp xuống còn độ nhạy của bộ cảm nhận tăng lên, khi đó chó có khả năng đón bắt lượng tối thiểu chất mùi, truy vết những vết có thời gian ủ lâu hoặc giám định mùi theo các vi mùi đặc định Trong trường hợp thích nghi khứu giác tiêu cực, thì ngược lại Ngưỡng kích thích tăng cao, còn độ nhậy của các bộ cảm nhận đối với mùi cụ thể thấp xuống và sau một thời gian nào đó, chó không cảm nhận được mùi, kể cả khi mùi có cường độ lớn, chó mất vết và không thể tìm lại được Sự suy giảm cảm nhận mùi thường xuất hiện khi cơ quan cảm nhận khứu giác phải làm việc trong thời gian dài với chất phát mùi có cùng nồng độ Thông thường, hiện tượng này xuất hiện khi chó truy vết mà chạy nhanh, không rời khỏi đường vết Sự thích nghi không xảy ra đối với những cá thể chó được huấn luyện truy vết theo đường zíc zắc

Chó săn có khả năng lần theo dấu vết sau thời gian 100 giờ và có thể theo đường vết 160 km để tìm được mục tiêu của chúng [75, 76]

Các phản xạ khứu giác là nền tảng của phản ứng tìm kiếm bằng khứu giác và đảm bảo cho sự định hướng bằng khứu giác của chó Ở phần lớn loài chó, phản ứng tìm kiếm bằng khứu giác rất phát triển và nổi trội Trong thành phần của phản ứng này, có các phản xạ: ngửi, tìm kiếm, phát hiện vết mùi, xác định và lựa chọn hướng

đi truy theo đường vết, tìm phương vị hoặc phát hiện nguồn của mùi Trong huấn luyện chó, có thể xây dựng các phản xạ đối với cường độ, độ lâu, độ cá biệt của mùi

và các phản xạ phân giải bằng khứu giác khác [74, 77]

1.3.2 Cơ quan thị giác

Thị giác ở chó rất tinh nhanh và có vai trò quan trọng trong mối quan hệ tương

hỗ khi biểu lộ nét mặt, tư thế của thân, tai và đuôi

Bộ phận phân tích thị giác tiếp nhận các sóng ánh sáng và đảm bảo thị giác của động vật Nhờ có thị giác, chó xác định được màu, hình dáng, độ lớn, tốc độ, hướng đi của các vật thể, khoảng cách đến các vật thể và định hướng được trong không gian Ánh sáng được tiếp nhận thông qua các tế bào cảm giác của võng mạc

Trang 24

mắt: tế bào hình que và tế bào hình nón Các tế bào hình que và hình nón là hai bộ phận của thị giác [78]

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thế giới thị giác của chó bao gồm màu vàng, xanh lam và xám Chúng gặp khó khăn trong việc phân biệt màu đỏ và xanh lá cây khiến tầm nhìn màu của chúng tương đương với chứng mù màu đỏ-xanh lá cây ở người [79] Chó sử dụng màu sắc thay vì độ sáng để phân biệt màu [80 - 83]

Thị giác của chó cảm nhận kém hơn con người về màu xám, có thể phát hiện

độ sáng với độ chính xác chỉ bằng một nửa so với con người [84, 85]

Mắt của các giống chó khác nhau có hình dạng, kích thước và cấu tạo võng mạc khác nhau Một số giống chó mõm dài, đặc biệt là chó săn cảnh, có tầm nhìn lên tới 270° (so với 180° của con người) Một số giống chó đầu rộng, mũi ngắn có tầm nhìn tương tự như người [79]

Chó nhìn rõ vật thể cỡ trung bình ở khoảng cách từ 100 - 150 m So với người, thị giác của chó yếu hơn nhiều, nhưng chó nhìn tốt hơn người trong điều kiện thiếu ánh sáng, khi trời tối Chó nhìn thấy người đang vận động ở khoảng cách 800 - 900m, nhưng sẽ giảm xuống còn 500 - 600 m nếu vật thể đứng yên [74]

1.3.3 Cơ quan thính giác

Thính giác có vai trò quan trọng trong cuộc sống của chó Trong đó hành vi xã hội phần lớn dựa trên những tín hiệu âm thanh không chỉ giữa chó với nhau, mà còn trong sự giao tiếp giữa chó với người Những tín hiệu âm thanh rất quan trọng không chỉ đối với chó đang thức, mà cả cho chó đang ngủ Khi chó nghe thấy âm thanh mới hoặc âm thanh mà chúng quan tâm, thì nó không chỉ dựng tai lên, mà còn quay cả người hoặc quay đầu, và lần lượt nghiêng đầu lúc về hướng này, lúc về hướng khác, xác định nguồn gốc âm thanh và khoảng cách của nó

Dải tần số nghe của chó là từ 16 - 40 Hz (so với 20 - 70 Hz đối với con người)

và lên đến 45 - 60 kHz (so với 13 - 20 kHz đối với con người), có nghĩa là chó có thể phát hiện âm thanh vượt xa giới hạn trên của phổ thính giác con người [86, 87]

Chó có thể xác định vị trí của âm thanh nhanh hơn nhiều so với khả năng của con người, cũng như nghe thấy âm thanh ở khoảng cách gấp bốn lần Khi nghe ngóng, chó quay đầu và hướng vành tai về phía âm thanh, xác định hướng với độ chính xác đến 3 độ Độ nhạy thính giác của chó, cho phép sử dụng rộng rãi các kích thích âm

Trang 25

thanh khác nhau trong thực tiễn huấn luyện, trong đó có tiếng người dưới dạng các khẩu lệnh [71]

Trong bộ phân tích thính giác, khi bị âm thanh tác động kéo dài, sẽ xảy ra sự thích nghi, nhưng chậm hơn rất nhiều, so với các cơ quan cảm giác khác Sự thích nghi diễn ra nhanh hơn đối với âm thanh tần số cao Sự mệt mỏi diễn ra nhanh hơn khi bị các tiếng ồn và âm thanh mạnh tác động kéo dài Siêu âm, người không nghe được, nhưng chó lại nghe rất tốt Những siêu âm thanh mạnh gây cho chó cảm giác khó chịu và sợ hãi

1.4 Những phản ứng cơ bản của hành vi

Hành vi của chó nhà là một loạt các hoạt động, tính cách của con chó trước những tác động của bản thân và môi trường sống bao gồm cả các sinh vật xung quanh cũng như những vật chất vô sinh Đây là những phản ứng của chó với các kích thích

dù bản thân nó mong muốn hay không, nhận thức được hay không nhận thức được

Hiện nay có hơn 1000 giống chó được xác định, nhưng chỉ có chưa đến 1/4 trong số này được nghiên cứu về hành vi [88]

Hành vi của các giống chó có sự khác nhau do đặc điểm của từng giống và là kết quả của quá trình chọn lọc nhân giống và sử dụng [89] Các giống chó có tính xã hội cao biểu hiện sự sợ hãi và hung hăng ít hơn những giống chó có tính xã hội thấp [90 - 93]

Hành vi giao tiếp của chó là cách chó truyền tải thông tin đến những con chó khác, hiểu thông điệp từ con người và diễn đạt thông tin mà chó đang truyền [74]

Hành vi giao tiếp của chó bao gồm ánh mắt, nét mặt, tiếng sủa, tư thế cơ thể Con người giao tiếp với chó bằng cách sử dụng giọng nói, tín hiệu tay và tư thế cơ thể Đây là cơ sở để huấn luyện chó nghiệp vụ [94]

Giống chó đóng vai trong quan trọng trong việc xác định hành vi, tính cách của con chó Mối liên quan của tuổi và giới tính đến hành vi chưa được xác định rõ ràng [95, 96]

1.4.1 Phản ứng về thức ăn

Thức ăn, là nền tảng sự sống của chó, là yếu tố quyết định trong việc hình thành nhiều phản ứng khác của hành vi Ở chó, các phản xạ có điều kiện, được thiết lập trong giai đoạn tìm kiếm và ăn thức ăn Sự thiếu hụt thức ăn trong giai đoạn đang lớn và phát triển của chó con, sẽ làm cho nó có hoạt năng mạnh về tìm kiếm thức ăn,

Trang 26

có phản ứng mạnh đối với loại thức ăn Nếu có chế độ nuôi đúng đắn, điều độ, phản ứng về thức ăn sẽ phát triển và bộc lộ một cách ôn hòa [97]

Đa số các phản xạ có điều kiện và các kỹ năng ở chó, được xây dựng dựa trên phản xạ thức ăn và phản ứng về thức ăn của hành vi Việc hiểu biết, nắm chắc ý nghĩa của phản ứng về thức ăn của hành vi, giúp cho huấn luyện viên dễ dàng định hướng trong việc lựa chọn phương pháp, biện pháp huấn luyện chó, trong việc sử dụng đúng kích thích thức ăn, cũng như cho phép thực hiện các động tác huấn luyện một cách hài hòa, đúng phương pháp [97]

1.4.2 Phản ứng bảo vệ, phòng thủ

Phản ứng này cấu thành do một nhóm lớn các phản xạ di truyền bẩm sinh và tập luyện được, nhằm bảo tồn sự sống khỏi sự tấn công của kẻ thù và những yếu tố nguy hiểm khác nhau của môi trường bên ngoài Nó cho phép chó theo tín hiệu nhất định khả năng chạy khỏi mối nguy hiểm hoặc tích cực chống lại nó Đối với chó trưởng thành, phản ứng này có thể được thể hiện dưới 3 hình thức: phòng thủ tích cực, phòng thủ thụ động và kết hợp (phản ứng hung dữ, hèn nhát) [97]

Phản ứng phòng thủ chủ động, được thiết lập trong trường hợp huấn luyện

viên tiếp xúc với chó một cách cân bằng, bình tĩnh, mềm mại Để có được phản ứng này, cần phải tổ chức tốt giai đoạn giáo dưỡng chó con, từ 2 đến 6 tháng tuổi Trong giai đoạn này, phải luyện cho chó con phát triển tính năng hoạt của tất cả các phản ứng, không để xảy ra tính thụ động, thận trọng và hèn nhát, độ hung dữ vừa phải và cảnh giác với đối tượng lạ Những con chó có phản ứng bảo vệ phòng thủ chủ động thường dễ huấn luyện và phục vụ tốt, có hiệu quả trong công tác [97]

Phản ứng phòng thủ bị động, được hình thành khi tổ chức không đúng giai

đoạn giáo dưỡng chó con, cũng như trong trường hợp đối xử thô bạo, nghiêm khắc với chó trong thời gian huấn luyện, tập luyện Việc thường xuyên lạm dụng các kích thích mạnh, nhất là kích thích gây đau đớn, sẽ làm cho chó thụ động, uể oải, thận trọng, sợ hãi, dần chuyển thành hèn nhát Những con chó có phản ứng phòng thủ bị động thường không năng hoạt, sợ hãi các kích thích mạnh, bỏ chạy hoặc trốn tránh các điều kiện khó khăn [97]

Phản ứng bị động trong hành vi gây cản trở việc thiết lập các phản xạ có điều kiện tích cực Các phản xạ có điều kiện đã xây dựng đối với khẩu lệnh, điệu bộ rất dễ

bị cản trở bởi các kích thích đủ loại bên ngoài Những con chó như vậy có phẩm chất

Trang 27

phục vụ và làm việc thấp Nếu tính bị động chuyển thành sợ hãi và hèn nhát thì phải loại chó ra khỏi diện sử dụng [97]

Phản ứng hung dữ, hèn nhát, phản ứng này hình thành ở chó non từ 6 - 8 tháng

tuổi, khi cố gắng phát triển tính hung dữ nhưng chó chưa có phản ứng tích cực và độ dũng cảm tối thiểu [97]

Phản ứng hung dữ của hành vi thường có ở nhũng con chó có hành vi phòng thủ tích cực nổi trội và khi sử dụng quá nhiều động tác phát triển hung dữ trong quá trình huấn luyện Chó quá hung dữ cũng cản trở việc huấn luyện và sử dụng trong công tác, nhất là khi sử dụng vào mục đích truy tìm người và bảo vệ Những con hung

dữ thường sử dụng cho công tác tuần tra, nếu quá hung dữ đặc biệt thì phải thải loại

Những cá thể chó không hung dữ nhưng có phản ứng hành vi năng hoạt thì có thể sử dụng trong công tác tìm kiếm cứu hộ và trong các lĩnh vực khác, nơi tính hung

dữ và hiếu chiến không cản trở việc huấn luyện và sử dụng chúng [97]

1.4.3 Phản ứng định hướng

Là phản ứng hành vi bẩm sinh đối với các kích thích mới hoặc bất thường, cường độ lớn, biểu hiện dưới dạng phản xạ định hướng tìm hiểu môi trường xung quanh và các phản xạ thăm dò về ngửi, nghe ngóng, quan sát… Các phản xạ định hướng là cơ chế khởi động và là điểm bắt đầu của quá trình thiết lập các phản xạ có điều kiện mới của chó Khi chó đã tích lũy được một số lượng lớn các phản xạ có điều kiện, phản ứng định hướng sẽ trở nên ôn hòa và cuối cùng, sẽ kết hợp với các phản xạ có điều kiện mới thiết lập, đảm bảo khả năng định hướng của chó trong điều kiện phức tạp Phản ứng định hướng phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài, có thể chuyển đổi sang các phản ứng hành vi khác như ăn, phòng thủ tích cực, phòng thủ tiêu cực

Trang 28

Phản ứng tìm kiếm bằng khứu giác gắn liền với hoạt động ngửi của chó gồm: tìm kiếm và phát hiện dấu vết của mùi tại hiện trường, xác định độ lâu của vết và hướng đi của con người, truy theo vết và tìm kiếm nó, phát hiện đồ vật theo mùi Nếu chú ý quan sát, mỗi khi đặt chó vào đường vết, có thể dễ dàng nhận biết và phân biệt được các bộ phận cấu thành của phản ứng tìm kiếm bằng khứu giác gồm: tìm kiếm dấu vết của mùi do đối tượng để lại trên hiện trường; xác định hướng đi của đối tượng; truy theo đường vết; phát hiện và bắt giữ đối tượng Trong thực tiễn huấn luyện có nhiều trường hợp không thể huấn luyện để truy theo đường vết Qua nghiên cứu đã làm rõ, nhiều cá thể chó không có một số thành phần của phản ứng tìm kiếm bằng khứu giác, hoặc có nhưng không phát triển Những cá thể đó không sử dụng được trong huấn luyện cho mục đích truy tìm và không thể sử dụng trong công tác giám biệt nguồn hơi [97]

1.4.5 Phản ứng lệ thuộc

Là những hành động mang tính phản xạ có điều kiện, phức tạp, bẩm sinh của động vật, biểu hiện dưới dạng đợi chờ, nhận biết, vui mừng, chiều chuộng, tuân thủ, nghe lời, bảo vệ và canh gác chủ Phản ứng này được hình thành qua thời gian dài chung sống và quan hệ chan hòa của huấn luyện viên với chó, không thể thiếu trong huấn luyện và sử dụng chó nghiệp vụ Quan hệ tốt giữa huấn luyện viên và chó là điều kiện cơ bản để chó chịu làm việc trong mọi hoàn cảnh [97]

1.5 Đặc điểm hệ thần kinh của chó

Trên cơ sở quá trình nghiên cứu lâu dài trong phòng thí nghiệm về các tính chất riêng của hoạt động phản xạ có điều kiện ở chó, Pavlốp đã đưa ra học thuyết về các dạng hoạt động thần kinh cao cấp và đề ra cách phân loại khoa học các dạng đó Nền tảng của sự phân loại này là những khác nhau về dạng hành vi của chó đối với một và chỉ một loại kích thích, gắn liền với các tính chất của các quá trình kích thích

và ức chế; và những khác nhau về dạng hành vi thì được xác định theo cường độ, độ cân bằng và độ năng hoạt

Cường độ, tính cân bằng và độ năng hoạt của các quá trình thần kinh sẽ quyết định những đặc điểm nổi trội của hệ thần kinh ở chó Mọi sự kết hợp giữa các tính chất cơ bản của các quá trình thần kinh sẽ quyết định các dạng hoạt động thần kinh cao cấp I.P.Pavlốp (1941) [98] đã đúc kết ra 4 dạng cơ bản của hoạt động thần kinh cao cấp, tương tự với các dạng năng hoạt của hành vi do nhà khoa học Hypocrat phát

Trang 29

hiện trước đây [99] Đó là các dạng :

- Mạnh, không cân bằng, hưng phấn- Sangvinik

- Mạnh, cân bằng, linh hoạt - Flegmatik

- Mạnh, cân bằng, không linh hoạt- Khôlerik

- Yếu, ức chế - Melankhôlik

Sự phân bổ của từng cá thể chó thuộc dạng nào trong các dạng hoạt động thần kinh cao cấp trên đây, do các tính chất bẩm sinh của các tế bào thần kinh vỏ não quyết định Kết quả thí nghiệm của nhiều nhà khoa học đã xác định, những đặc điểm về tính dạng của hoạt động thần kinh cao cấp của chó, bắt đầu hình thành ngay trong độ tuổi mới sinh, nhưng việc hoàn thiện các trung tâm thần kinh, trong điều kiện tập luyện hợp lý, cho phép tăng cường các quá trình kích thích và ức chế; cân bằng và phát triển độ năng hoạt của chúng đến độ nhất định Ví dụ, bằng việc luyện tập từng bước cho chó quen với các kích thích mạnh, có thể nâng cao quá trình kích thích trong

hệ thần kinh [99]

Hoạt động thần kinh cao cấp ở chó được hình thành dưới sự tác động của con người Do đó, dạng hoạt động thần kinh cao cấp của chó, bên cạnh các yếu tố di truyền, sẽ có các đặc điểm cá thể, được thể hiện trong phản ứng hành vi Có thể nêu

ra nhiều ví dụ, chẳng hạn, nhiều cá thể chó có cùng dạng hoạt động thần kinh cao cấp, nhưng đối ngược nhau về cách thể hiện phản ứng của hành vi [99]

Nghiên cứu trên 2 nhóm đối tượng chó, một nhóm được nuôi thả tự do, một nhóm nuôi trong cũi Sau hai năm, phát hiện sự khác biệt rất lớn trong hành vi của chúng Những con chó được thả tự do thì rất mạnh dạn, linh hoạt, nhanh chóng quen người và môi trường mới Những con được nuôi trong cũi thì thể hiện hành vi hoàn toàn khác Chúng chạy trốn khỏi người, nhìn sợ hãi, nằm xuống đất, run rẩy, thể hiện hèn nhát, là những đặc trưng của dạng hoạt động thần kinh cao cấp yếu Mặc dù từ đầu, tất cả các cá thể này đều thuộc dạng hoạt động thần kinh cao cấp mạnh [99]

Sự hiểu biết về dạng hoạt động thần kinh cao cấp có ý nghĩa quan trọng không chỉ về lý thuyết mà cả về thực hành Cả người chỉ đạo lẫn huấn luyện viên đều phải nắm vững những đặc điểm về dạng hoạt động thần kinh cao cấp của những cá thể chó đang huấn luyện, để biết cách sử dụng các kích thích trong quá trình xây dựng phản

xạ có điều kiện [99]

Trang 30

1.6 Đặc điểm sinh lý, sinh hóa máu

Máu là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức khỏe của động vật Có thể đánh giá cả tình trạng sinh lý và bệnh lý của động vật bằng cách đánh giá các chỉ tiêu huyết học và sinh hóa của máu [100, 101] Người ta biết rằng các yếu tố như chế độ ăn uống, tuổi, giới tính, giống và khí hậu ảnh hưởng đến các thông số sinh hóa và huyết học của chó khỏe mạnh về mặt lâm sàng [102, 103, 104] Ảnh hưởng của tuổi đến các chỉ số máu của động vật đã được xác định ở một số loài động vật có vú, ví dụ, ở

bò trắng "Fulani" [105], dê và cừu Nigeria [106], chó thổ dân Nigeria [102], chuột khổng lồ châu Phi [107] và thỏ New Zealand [108] Ảnh hưởng của giới tính đến các chỉ số máu của động vật được xác định ở lạc đà [109] và chó Doberman [110]

Chức năng hệ thống máu: Máu là một hệ thống chức năng đảm bảo cung cấp oxy và chất dinh dưỡng kịp thời đến các tế bào mô và loại bỏ các sản phẩm trao đổi chất từ các cơ quan [111]

Các chức năng sinh lý của máu rất phức tạp:

- Hô hấp: vận chuyển oxy đến các cơ quan, mô và loại bỏ carbon dioxide từ chúng;

- Dinh dưỡng: việc chuyển các chất dinh dưỡng từ ruột đến các mô và cơ quan;

- Bài tiết: cung cấp các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất đến các

cơ quan bài tiết - phổi, thận, ruột, da;

- Điều hòa: vận chuyển hormone, vitamin, enzym đến các cơ quan và mô của

cơ thể; duy trì isotonia trong các mô; duy trì độ pH không đổi; điều nhiệt;

- Bảo vệ: sinh tổng hợp và vận chuyển các chất bảo vệ-kháng thể, chất chống oxy hóa, kháng enzym, hệ đệm, các yếu tố đông máu, trung hòa một số chất độc, v.v.;

- Cơ học: việc tạo ra áp suất cần thiết trong các khoang và các cơ quan để hình thành và thực hiện các chức năng vật lý của cơ thể

Ở động vật có xương sống bậc cao, quá trình tạo máu và phân phối máu chịu ảnh hưởng chủ yếu của hệ thần kinh trung ương, các tuyến nội tiết, tức là thành phần máu, qua trung gian điều hòa thần kinh và phản ánh rất tinh tế bản chất của quá trình trao đổi chất của cơ thể theo quy luật và bệnh lý của nó

Do đó, bằng thành phần của máu, chính xác hơn là bằng những thay đổi của

nó, người ta có thể phán đoán sinh lý của môi trường bên trong cơ thể, các quá trình vật lý diễn ra trong đó, hoạt động của một số cơ quan

Trang 31

Thành phần máu Máu là một mô không đồng nhất Nó bao gồm một phần chất lỏng (huyết tương) và các tiểu thể - hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu Lượng máu trong

cơ thể chó từ 5 - 10% trọng lượng cơ thể con vật

Huyết tương chiếm phần lớn thể tích máu (khoảng 60%) với áp suất thẩm thấu

ổn định, phản ứng tích cực của môi trường (pH) và thành phần hóa học Huyết tương bao gồm nước (90 - 92%) và các chất khô (8 - 10%) - protein, nguyên tố khoáng, carbohydrate, lipid, các hợp chất hoạt tính sinh học Tổng hàm lượng protein là 6,6 - 8,2% thể tích huyết tương (ở người lớn 200 - 300 g), các thành phần chính là: albumin 4,0 - 4,5%, globulin 2,8 - 3,1%, fibrinogen 0,1 - 0,4% Huyết tương chứa các thành phần, nồng độ của chúng thay đổi: enzym (ví dụ, lipase và amylase), vitamin, hormone, các sản phẩm hòa tan của quá trình thủy phân các chất thực phẩm trong đường tiêu hóa, cũng như các sản phẩm được thải ra ngoài [112] Thành phần huyết tương có thể thay đổi đáng kể trong trường hợp mắc các bệnh truyền nhiễm, xâm lấn, rối loạn chuyển hóa, cho chó ăn không đúng cách, cũng như trong thời kỳ mang thai, sinh nở và cho con bú ở cá thể cái Các yếu tố giống nhau có thể gây ra những thay đổi trong tổng số các yếu tố hình dạng, cũng như tỷ lệ giữa chúng

Tế bào máu bao gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu Mỗi phần tử đóng một vai trò với những chức năng cụ thể

Hồng cầu: Một con chó có 5 - 9 triệu hồng cầu trong 1 mm3 Số lượng hồng cầu có thể tăng hoặc giảm trong các tình huống bệnh lý Sự gia tăng các tế bào hồng cầu được tìm thấy trong bệnh đa hồng cầu và giảm sự thiếu máu Sự thay đổi trong hồng cầu cũng xảy ra trong các tình huống sinh lý, chẳng hạn như cho ăn, mang thai, tuổi của động vật…

Thể hồng cầu có hình dạng không đồng nhất, có dạng hai mặt lõm, dạng đĩa, dạng bạch cầu, dạng hồng cầu gai, hình cầu, hình vòm hoặc dạng khí khổng Ở chó, hình dạng của các tế bào hồng cầu có thể thay đổi khi di chuyển trong các mao mạch Đây là sự thay đổi hình dạng từ hai mặt lõm thành hình parabol Sự thay đổi hình dạng này có ý nghĩa liên quan đến chức năng trao đổi khí [113] Các yếu tố quyết định hình dạng của hồng cầu bao gồm: hệ thống các protein màng (bộ xương); thành phần lipid của màng, thành phần hóa học; nồng độ của các ion; ATP; PO2; các yếu

tố tĩnh điện (điện tích bề mặt màng và trạng thái ion hóa của protein tế bào); trạng thái của phân tử hemoglobin và cấu trúc nội bào

Trang 32

Bạch cầu: Kích thước của bạch cầu lớn hơn kích thước của hồng cầu, nhưng

số lượng bạch cầu nhỏ hơn hồng cầu và tiểu cầu Đường kính của bạch cầu từ 5 đến

22 micronmet Cấu trúc của bạch cầu là những tế bào có nhân lớn Nhân của bạch cầu chiếm gần như toàn bộ thể tích của tế bào Ở chó, số lượng bạch cầu trong 1 mm3

máu là 5 - 10 nghìn Sự gia tăng nồng độ bạch cầu rất có thể cho thấy sự hiện diện của nhiễm trùng, ký sinh trùng hoặc một quá trình viêm Ngoài ra, số lượng bạch cầu

có thể tăng lên trong trạng thái sinh lý, như sau:

- Sau khi cho ăn nhiều;

- Trong thời kỳ động dục ở cá thể cái;

- Với công việc thể chất cường độ cao;

- Quá trình căng thẳng;

Theo cấu trúc và chức năng, có năm loại bạch cầu: bạch cầu ưa bazơ, bạch cầu

ái toan, bạch cầu trung tính, tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân Chức năng của bạch cầu rất đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, chức năng quan trọng của chúng là bảo

vệ cơ thể động vật khỏi bị nhiễm trùng, ký sinh trùng, các chất lạ, đồng thời cũng làm sạch các mô của các tế bào chết già và ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư

có trong bất kỳ cơ thể động vật nào Đó là số lượng bạch cầu thường được sử dụng như một giá trị chẩn đoán Tỷ lệ phần trăm các loại bạch cầu khác nhau được gọi là công thức bạch cầu

Tiểu cầu: Ở chó, giống như hồng cầu, tiểu cầu là những tế bào không có nhân

So với hồng cầu và bạch cầu, tiểu cầu là những tế bào nhỏ nhất Chức năng chính của tiểu cầu là đông máu Số lượng tiểu cầu ở chó được tính trong khoảng 300 - 600 nghìn trong 1 mm3 máu Tiểu cầu được hình thành trong tủy xương đỏ Sự hình thành tiểu cầu được kích thích bởi sự mất máu Tuổi thọ của tiểu cầu là khoảng 100 ngày

Khi động vật bị ốm, công thức máu sẽ thay đổi Đối với chó, những thay đổi

về số lượng bạch cầu trung tính, tế bào lympho, nồng độ hemoglobin trung bình, giảm glucose và tổng số protein, nhưng tăng ALT được thể hiện trong bệnh viêm ruột ở

chó [114] Hoặc, khi một con chó bị nhiễm Angiostrongylus vasorum, số lượng bạch

cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan) tăng lên [115] Ngay cả khi vận động, các giá trị của thể tích hồng cầu, hemoglobin giảm, trong khi các giá trị của bạch cầu, bạch cầu trung tính và bạch cầu ái toan lại tăng lên Tuy nhiên, tất cả các giá trị đều nằm trong phạm

vi kiểm soát [116]

Trang 33

Như vậy, máu là môi trường bên trong cơ thể tạo điều kiện tối ưu cho hoạt động của tất cả các hệ thống troang cơ thể chó, đồng thời là tấm gương phản chiếu mọi biến đổi trong cơ thể [117]

1.7 Tình hình nuôi dạy, nghiên cứu chó nghiệp vụ

1.7.1 Tình hình nuôi chó nghiệp vụ trên thế giới

Chó đã được các lực lượng thực thi pháp luật sử dụng từ thời trung cổ với các mục đích như: truy lùng những kẻ phạm tội, bảo vệ các phiên tòa Bỉ là nước đầu tiên chính thức thành lập đơn vị cảnh sát huấn luyện và sử dụng chó nghiệp vụ vào năm 1899 Ngày nay, chó nghiệp vụ được sử dụng rộng rãi trong lực lượng quân đội, cảnh sát các nước, đặc biệt là tại châu Âu và Mỹ Cảnh sát Đức mở trường chuyên nghiệp huấn luyện chó nghiệp vụ vào năm 1920 và quyết định chọn giống chó thuần chủng Shepherd - chó Becgie Đức với tính thông minh, bản lĩnh làm giống chó nghiệp vụ chủ đạo [118]

Trong thế chiến thứ hai, phát xít Đức sử dụng chó Becgie trong các trại tập trung để truy lùng các tù nhân trốn trại, do vậy những người yêu chuộng hoà bình có định kiến không tốt về giống chó này Chiến tranh kết thúc, nước Đức bị chia cắt thành 2 quốc gia Đông Đức và Tây Đức Phần lớn chó Becgie bị chết, chỉ còn lại một

số làm mẫu và người Đức bắt đầu khôi phục lại giống chó này với các hướng hoàn toàn độc lập nhau

Giống chó Đông Đức thân hình hơi thô nhưng không mất tính đặc thù của giống, chúng có những nét thô trên mặt, đi đứng hơi nặng nề, mặc dù vậy vẫn là một giống chó rất tuyệt Giống chó Tây Đức đĩnh đạc, trang nhã, thân hình cân đối, bản lĩnh kiên cường [119]

Chó Becgie Đức được đưa vào Liên Xô cũ năm 1904 [120] và chúng được sử dụng làm chó cứu thương trong chiến tranh Nga - Nhật Năm 1907 giống chó này được sử dụng trong ngành cảnh sát Hiện tại, chó nghiệp vụ ở Nga cũng như nhiều nước khác trên thế giới phát triển theo nhiều hướng, trường phái khác nhau và phục

vụ các mục đích khác nhau Tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia, chó nghiệp vụ được chia thành 2 hướng rõ rệt Hướng thứ nhất - chó nghiệp vụ phục vụ cho nền Quốc phòng, An ninh quốc gia, đây là chó trong các trung tâm của Bộ Quốc phòng, ngành Cảnh sát, Hải quan được sự giám sát và chỉ đạo của các cơ quan chính phủ và không công khai, do bí mật quốc gia Hướng thứ hai - chó ở các câu lạc bộ của từng quốc

Trang 34

gia hoặc liên quốc gia, đây là các tổ chức mở có thể trao đổi thông tin hoặc cập nhật thông tin dễ dàng với nhau Hai hướng này có mối liên hệ chặt chẽ và bổ trợ cho nhau

về chất lượng, nguồn giống và kỹ thuật chăm sóc, đào tạo Nhưng nhìn chung thì chó nghiệp vụ ở hướng thứ nhất có chất lượng, phẩm chất cao hơn so với chó nghiệp

vụ ở hướng thứ hai Việc xây dựng định hướng phát triển ngành chó nghiệp vụ của một quốc gia cần phải có thông tin nhiều chiều, phải dựa vào các chuyên gia khuyển học có kinh nghiệm, nhập chó từ nước ngoài về phải có định hướng và nguồn gốc rõ ràng, nhất là đối với lĩnh vực an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội [121]

Tùy theo mục đích sử dụng và nhiệm vụ mà mỗi lực lượng thực thi pháp luật các nước lựa chọn giống chó để huấn luyện và sử dụng cho phù hợp Các loại chó làm việc bao gồm chó tìm kiếm và cứu hộ, chó phát hiện ma túy, vũ khí hóa học, chó bảo vệ… [122, 123]

Một số giống chó chủ yếu được sử dụng hiện nay là những dòng chó thuần chủng như Labrador để xác định nơi đặt bom, cất giấu ma túy, Malinois để bảo vệ, tấn công, truy tìm nguồn hơi người, hỗ trợ áp giải tội phạm, Cocker lùng sục phát hiện nơi cất giấu ma túy, Doberman Pinscher để bảo vệ, tấn công, Becgie được dùng trong tất cả các nhiệm vụ… Một số chó nghiệp vụ còn được huấn luyện trong lực lượng cảnh sát dù hoặc lính dù trong các nhiệm vụ tấn công từ trên không hoặc không vận [124]

1.7.2 Tình hình nghiên cứu chó nghiệp vụ ở Việt Nam

Từ năm 1954, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đã tiến hành tổ chức nuôi dạy

và sử dụng chó nghiệp vụ với 2 cở sở lớn là Trường 24 Biên phòng nay là Trường trung cấp 24 Biên phòng và Trung Tâm 32 nay là Trung tâm quản lý, huấn luyện và

sử dụng động vật nghiệp vụ Các cơ sở này đã nhập, nuôi thích nghi các giống chó Becgie của Liên Xô, Đức và thử nghiệm huấn luyện các giống chó nội như chó Mèo (một dạng chó bản địa của Việt Nam nhưng chưa xác định được rõ ràng về giống vào thời điểm huấn luyện), chó lai (chó bản địa lai với các giống chó ngoại)

Một thực trạng khó khăn trong việc chăn nuôi, nhân giống là các giống nhập nội thích nghi kém, khó nuôi nên phải nhập đi nhập lại Kết quả thu thập từ hồ sơ chó nghiệp vụ và các tài liệu của Trường 24 và Trung tâm 32 cho thấy sự thích nghi của chó nhập nội phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: chất lượng đàn chó nhập về, chế độ dinh dưỡng, tình hình bệnh tật và các yếu tố khí hậu nói chung Tỷ lệ chết được tính trong

Trang 35

vòng 3 năm Chó Becgie Đức chết 50%, chó Becgie Liên Xô chết 41,49%, đồng thời

tỷ lệ chết cũng rất khác nhau giữa các năm Nếu tính phần trăm theo năm trên tổng

số con chết trong 3 năm từ năm thứ nhất đến năm thứ 3 là 58%; 14% và 28%, đối với chó Đức và 56,4%; 25,6% và 17,9% đối với chó Nga Như vậy có thể thấy rằng tỷ lệ chết lớn nhất là năm đầu sau nhập [4]

Bên cạnh đó, huấn luyện thử nghiệm 3 giống chó bao gồm chó Becgie của Liên Xô, Becgie Đức và chó lai giữa chó bản địa với hai giống trên, đã cho thấy cả 3 giống chó được đánh giá có số điểm gần tương đương nhau Tuỳ từng khoa mục mà các giống chó khác nhau có số điểm không giống nhau Cụ thể đối với khoa mục kỷ luật cơ bản, chó Becgie Liên Xô được đánh giá tốt nhất với điểm số 2,26 điểm Khoa mục truy vết Becgie Đức lại tốt hơn các giống khác với kết quả đạt 2,2 điểm Tuy nhiên mức độ chênh lệch giữa các giống là không cao Điều này cho thấy chó lai giữa giống của Việt Nam - Becgie Đức, Việt Nam - Becgie Liên Xô chỉ số thông minh (mức độ tiếp thu) không khác nhiều so với dòng bố mẹ nhập nội, hơn nữa khả năng chống chịu đối với môi trường Việt Nam tốt hơn rất nhiều so với chó ngoại bố mẹ

Do vậy việc định hướng chọn dòng chó Việt Nam có sức chống chịu tốt lai với chó nước ngoài có chỉ số thông minh cao để tạo ra con lai có những tính trạng mong muốn

là có cơ sở khoa học và tính khả thi cao

Những năm gần đây, công tác huấn luyện chó nghiệp vụ ở nước ta được quan tâm đầu tư phát triển Nhiều giống chó ngoại nổi tiếng như Malinois, Becgie, Labrador, Rottwailer, Cocker v.v… đã được nhập vào nước ta Sau nhiều năm nhân nuôi và huấn luyện chúng đã hỗ trợ tích cực và có hiệu quả cho các lực lượng chức năng trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự xã hội Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của giống chó ngoại là khả năng thích nghi không cao trong điều kiện nóng ẩm của nước

ta, hay mắc bệnh, chi phí con giống và nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng đòi hỏi ở mức cao Do đó, bên cạnh nghiên cứu và sử dụng các giống chó ngoại, đã có những công trình nghiên cứu về giống chó bản địa Việt Nam phục vụ cho công tác An ninh - Quốc phòng [125]

Giống chó bản địa Việt Nam được các chuyên gia nghiên cứu về chó đánh giá rất cao về hình thái, tính cách cũng như khả năng làm việc của chúng trong công tác nghiệp vụ [1, 2, 126, 127]

Trang 36

Trong số các giống chó bản địa đáng chú ý là chó bản địa H'mông cộc đuôi Một trong những giống chó xuất hiện và được nuôi nhiều ở vùng cao thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên ) Đây là giống chó được người dân H’mông chọn và sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng ngày như săn bắt, trông nhà, bảo vệ gia súc [128, 129]

Theo nghiên cứu, chó bản địa H'mông cộc đuôi có khả năng vận động linh hoạt, thông minh, bản lĩnh [125], có khả năng làm việc tương đương với các giống chó nghiệp vụ đã được nhập nội [1, 2]

Giống H’mông cộc đuôi đã được công nhận là giống chó bản địa cấp quốc gia theo QĐ VN/002.20.9.2009 (VKA - Vietnam Kennel Association - Hiệp hội những người nuôi chó giống Việt Nam)

Từ năm 2013 đến năm 2015, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga thực hiện đề tài nghị định thư cấp quốc gia “Ứng dụng công nghệ gen trong công tác chọn lọc chó bản địa H'mông cộc đuôi” đã cho thấy khả năng ứng dụng và thay thế một số giống chó nhập ngoại trong huấn luyện chó lùng sục và phát hiện các chất ma túy tại Trung tâm quản lý, huấn luyện và sử dụng động vật nghiệp vụ/ Bộ Công an Cho đến nay, giống chó này vẫn đang được Trung tâm này sử dụng Tuy nhiên, do số lượng cá thể không được bổ sung thêm sau khi đề tài kết thúc khiến đàn giống không có sự phát triển Nguyên nhân một phần là do các cá thể chó đã quá tuổi thực hiện nghiệp vụ, bị đào thải và một số dịch bệnh khiến số lượng chó bản địa H'mông cộc đuôi ở đây còn rất ít

Như vậy chó bản địa H'mông cộc đuôi là một trong những giống chó tốt, có khả năng thực hiện nghiệp vụ Ngoài ra từ năm 2016 nhóm nghiên cứu của trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã nghiên cứu mối quan hệ di truyền giữa các giống chó bản địa Việt Nam và mối quan hệ giữa chúng với các giống chó khác trên thế giới Kết quả cho thấy chó bản địa H'mông cộc đuôi có những halotyp dạng E, đây được coi là dấu hiệu

của những giống chó cổ xưa có nguồn gốc châu Á [130 - 133]

Năm 2021, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đã huấn luyện thử nghiệm thành công giống chó bản địa dạng sói tìm kiếm phát hiện bom mìn còn lại sau chiến tranh tại Việt Nam trong khuôn khổ đề tài cấp Quốc gia: “Nghiên cứu lựa chọn và huấn luyện giống chó bản địa dạng sói phục vụ tìm kiếm, phát hiện bom mìn còn lại sau chiến tranh tại Việt Nam” Kết quả cho thấy, giống chó bản địa dạng sói hoàn toàn

Trang 37

đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ và có thể được sử dụng vào thực tế

Như vậy có thể thấy, ngành nuôi dạy chó nghiệp vụ nước ta đã có từ lâu, nhưng việc nghiên cứu sâu về từng đối tượng, làm cơ sở đề xuất, huấn luyện và đưa vào ứng dụng thực tế, phù hợp với từng chuyên ngành là chưa thực sự được thực hiện bài bản

và hệ thống Chính vì vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá khả năng làm chó nghiệp vụ của giống chó bản địa Việt Nam nói chung, chó bản địa H'mông cộc đuôi nói riêng sẽ mở ra hướng đi mới cho ngành nuôi dạy chó nghiệp

vụ nước ta Góp phần vào công tác an sinh xã hội, an ninh, quốc phòng và bảo tồn nguồn gen động vật bản địa ở các địa phương nói riêng, Việt Nam nói chung

Trang 38

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là chó bản địa H'mông cộc đuôi (thuộc loài chó nhà

Canis familiaris) với một số đặc điểm sinh học (hình thái, sinh lý, sinh hoá và hành

vi), sinh thái và khả năng huấn luyện nghiệp vụ chuyên khoa lùng sục phát hiện các chất ma túy

- Phân chia đối tượng nghiên cứu thành các nhóm theo độ tuổi [134]:

+ Nhóm 1 (giai đoạn chó con): 0 - < 3 tháng tuổi;

+ Nhóm 2 (giai đoạn chó choai): 3 - 8 tháng tuổi;

+ Nhóm 3 (giai đoạn trưởng thành): > 8 - 18 tháng tuổi

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Trại chó Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga;

+ Trung tâm quản lý, huấn luyện và sử dụng động vật nghiệp vụ - Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động - Bộ Công An;

+ Các hộ nuôi chó H’mông cộc đuôi ở Hà Nội và vùng phụ cận;

+ Tỉnh Hà Giang và Lào Cai

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 đến 2020

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Điều tra khảo sát, bổ sung đặc điểm phân bố, sinh học, sinh thái của chó bản địa H'mông cộc đuôi

- Đặc điểm phân bố của chó bản địa H'mông cộc đuôi;

- Đặc điểm hình thái của chó bản địa H'mông cộc đuôi;

- Một số đặc điểm sinh sinh hóa máu của chó bản địa H'mông cộc đuôi;

- Đặc điểm phát triển của các cơ quan giác quan: Cơ quan khứu giác; Cơ quan thị giác; Cơ quan thính giác;

Trang 39

- Phản ứng với đối tượng lạ;

- Hành vi chơi đùa;

- Phản ứng với tiếng ồn

2.3.3 Khả năng huấn luyện nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy của chó bản địa H'mông cộc đuôi

- Khả năng thực hiện khoa mục kỷ luật;

- Khả năng thực hiện khoa mục nghiệp vụ lùng sục phát hiện các chất ma túy;

- So sánh khả năng huấn luyện nghiệp vụ của chó bản địa H'mông cộc với một

Xác định vùng phân bố của chó bản địa H'mông cộc đuôi bằng phương pháp khảo sát thực địa tại một số địa phương (Hà Giang, Lào Cai…), sử dụng GPS để định

vị, kết hợp với phỏng vấn người dân địa phương, hỏi ý kiến chuyên gia và tra cứu tài liệu chuyên ngành về phân loại [120, 135]

2.4.2 Phương pháp mô tả và thu số liệu hình thái

Quan sát chó (200 cá thể) từ nhiều hướng khác nhau: Phía trước, phía sau, hai bên sườn ở cự ly 3 - 4 m Khi đó chó phải đứng cân đối trên địa thế bằng phẳng và toàn thân dồn đều lên các đầu chi Đặt thước đo chiều cao và thước dây vào gần chó một cách nhẹ nhàng để chó không có phản ứng tự vệ [135] Minh họa một số phép

đo thực hiện trên chó được mô tả ở hình 2.1

Dụng cụ đo: Thước dây; thước đo chiều cao; thước compa

Trang 40

Vị trí và cách đo:

- Chiều dài đầu:

Dùng thước dây hoặc thước kẹp từ xương chẩm đến đỉnh mũi theo 1 đường thẳng

- Chiều cao trước:

Dùng thước kẻ, thước vuông đo ở điểm cao nhất của vai đến mặt đất

- Chiều cao sau:

Dùng thước kẻ, thước vuông đo ở điểm cao nhất của mông, ở xương cánh chậu

- Chiều dài thân:

Dùng thước kẻ, thước vuông đo từ điểm nồi phía trước của xương cánh tay đến đỉnh xương ngồi

- Chiều rộng ngực:

Dùng thước kẻ, thước vuông đo khoảng cách giữa hai khớp bả vai

- Vòng ngực:

Dùng thước dây đo vòng quanh sau bả vai và gần khuỷu tay

- Chiều cao chân trước:

Dùng thước kẻ đo từ khuỷu tay vuông góc xuống mặt đất

- Vòng cổ chân:

Dùng thước dây đo vòng quanh cổ chân trước, trên gốc ngón chân thứ năm

- Chiều dài xương chậu:

Dùng thước kẹp hoặc thước dây đo từ đỉnh của xương cánh chậu đến đỉnh của xương mồi

- Đo cân nặng:

Dùng cân bàn để cân trọng lượng chó (phạm vi cân từ 0 – 60kg)

Ngày đăng: 27/06/2022, 05:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Hữu Côi, Bùi Xuân Phương, Đinh Thế Dũng, Nguyễn Tiến Tùng, Khả năng huấn luyện chó nghiệp vụ giống H’mông cộc đuôi và chó dạng sói, Tạp chí KHKT chăn nuôi, 2011, 2 (143), 27 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng huấn luyện chó nghiệp vụ giống H’mông cộc đuôi và chó dạng sói
2. Trần Hữu Côi, Bùi Xuân Phương, Khả năng thực hiện nghiệp vụ của chó bản địa H'mông cộc đuôi giai đoạn 2007-2011, Tạp chí KHKT chăn nuôi, 2012, 10 (163), 10 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng thực hiện nghiệp vụ của chó bản địa H'mông cộc đuôi giai đoạn 2007-2011
3. Nguyễn Văn Bộ, Khai thác và phát triển nguồn gen chó bản địa H'mông cộc đuôi và chó Bắc hà phục vụ công tác an ninh, Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ quỹ gen, Nhà xuất bản Bộ Công an, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và phát triển nguồn gen chó bản địa H'mông cộc đuôi và chó Bắc hà phục vụ công tác an ninh
Nhà XB: Nhà xuất bản Bộ Công an
4. Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thiện, Đỗ Xuân Thanh, Võ Văn Sự, Một số đặc điểm sinh học của một số giống cho nghiệp vụ nước ta, Tuyển tập các công trình nghiên cứu chăn nuôi, Viện Chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1993, 154 - 161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học của một số giống cho nghiệp vụ nước ta
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
5. R. K. Wayne, Molecular systematics of the Canidae / R. K. Wayne, E. Geffen, D. Girman, K. Koepfl, L. Lau // Syst. Biol, 1997, 46 (4), 622 - 653 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molecular systematics of the Canidae
6. E. A. Ostrander, The canine genome / E. A. Ostrander, R. K. Wayne // Genome Research, 2005, 1706 - 1716 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The canine genome
7. A. F. Frantz, Laurent Bradley, G. Daniel Larson, Greger Larson &amp; Orlando Ludovic, Animal domestication in the era of ancient genomics, Nature Reviews Genetics, 2020, 21 (8), 449 - 460 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Animal domestication in the era of ancient genomics
8. Anders Bergstrửm; Laurent Frantz; Ryan Schmidt; Erik Ersmark; Ophelie Lebrasseur; Linus Girdland Flink, Audrey T. Lin; Jan Storồ; Karl Gửran Sjửgren;David Anthony; Ekaterina Antipina; Sarieh Amiri; Guy Bar Oz; Vladimir I.Bazaliiskii; Jelena Bulatović; Dorcas Brown; Alberto Carmagnini; Tom Davy Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Minh họa một số phép đo được thực hiện trên chó - Một số chỉ số cơ bản của chó: - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 2.1. Minh họa một số phép đo được thực hiện trên chó - Một số chỉ số cơ bản của chó: (Trang 41)
Hình 2.2. Sơ đồ nghiên cứu tổng quát trong luận án - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 2.2. Sơ đồ nghiên cứu tổng quát trong luận án (Trang 48)
3.1.2. Một số chỉ số hình thái cơ thể - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
3.1.2. Một số chỉ số hình thái cơ thể (Trang 50)
Hình 3.2. Hình dáng tổng thể chó bản địa H'mông cộc đuôi - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 3.2. Hình dáng tổng thể chó bản địa H'mông cộc đuôi (Trang 52)
Bảng 3.3. Tỷ lệ bắt gặp màu lông của chó bản địa H'mông cộc đuôi - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Bảng 3.3. Tỷ lệ bắt gặp màu lông của chó bản địa H'mông cộc đuôi (Trang 55)
Hình 3.3a. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu đen - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 3.3a. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu đen (Trang 56)
Hình 3.3b. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu vàng - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 3.3b. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu vàng (Trang 56)
Hình 3.3d. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu trắng - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 3.3d. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu trắng (Trang 57)
Hình 3.3c. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu đỏ hung - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 3.3c. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu đỏ hung (Trang 57)
Hình 3.3e. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu vện - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 3.3e. Chó bản địa H'mông cộc đuôi màu vện (Trang 58)
Hình 3.4. Kiểu tai của chó bản địa H'mông cộc đuôi - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 3.4. Kiểu tai của chó bản địa H'mông cộc đuôi (Trang 59)
Bảng 3.5. Tỷ lệ bắt gặp các nhóm độ dài đuôi của chó bản địa H'mông cộc đuôi - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Bảng 3.5. Tỷ lệ bắt gặp các nhóm độ dài đuôi của chó bản địa H'mông cộc đuôi (Trang 60)
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu sinh lý máu của chó bản địa H'mông cộc đuôi - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu sinh lý máu của chó bản địa H'mông cộc đuôi (Trang 63)
Hình 3.8. Khoảng cách nghe của chó bản địa H'mông cộc đuôi theo giới tính - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Hình 3.8. Khoảng cách nghe của chó bản địa H'mông cộc đuôi theo giới tính (Trang 73)
Bảng 3.9. Khứu giác của chó bản địa H'mông cộc đuôi - LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHÓ H''MÔNG CỘC ĐUÔI TRONG HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ LÙNG SỤC PHÁT HIỆN CÁC CHẤT MA TÚY
Bảng 3.9. Khứu giác của chó bản địa H'mông cộc đuôi (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w