Thoát khỏi hệ thống ước lệ của “thơ cũ” thời trung đại, các nhà thơ mới lần đầu tiên nhìn cuộc đời bằng con mắt của chính mình Đề bài Suy nghĩ về câu nói “Thoát khỏi hệ thống ước lệ của “thơ cũ” thời trung đại, các nhà thơ mới lần đầu tiên nhìn cuộc đời bằng con mắt của chính mình, nhưng sự “thoát xác” ấy đến Xuân Diệu mới thật sự trọn vẹn” Bài làm Theo đà phát triển của xã hội, con người chúng ta ngày càng tiếp nhận nhiều kiến thức, tư tưởng mới Điều này càng khẳng định rằng con người ngày một.
Trang 1Đề bài: Suy nghĩ về câu nói: “Thoát khỏi hệ thống ước lệ của “thơ cũ” thời trung đại, các nhà thơ mới lần đầu tiên nhìn cuộc đời bằng con mắt của chính mình, nhưng sự “thoát xác” ấy đến Xuân Diệu mới thật sự trọn vẹn”.
Bài làm
Theo đà phát triển của xã hội, con người chúng ta ngày càng tiếp nhận nhiều kiến thức, tư tưởng mới Điều này càng khẳng định rằng con người ngày một thông minh hơn, sáng tạo hơn để theo kịp sự tiến bộ này Nền văn học Việt Nam cũng từ đó
mà phát triển bởi vì nó chính là “cuốn sách kỳ diệu”, ghi lại tất cả những suy nghĩ, cảm xúc của con người trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai Nhà văn Antona Phrăng xơ đã nhận xét "Đọc một câu thơ hay nghĩa là ta bắt gặp tâm hồn một con người", điều này là bởi vì đằng sau những câu chữ ấy là tấm lòng của thi nhân đã in dấu trong tác phẩm của mình Trải qua nhiều thời gian, các nhà thơ đã không ngừng đổi mới phong cách, ngôn ngữ và đặc biệt là tư tưởng để có thể theo kịp sự tiến bộ của thời đại Phong trào Thơ mới ra đời đánh dấu sự thay đổi hoàn toàn trong sáng tác văn học nước nhà và Xuân Diệu đã tiếp nhận sự đổi mới này một cách trọn vẹn Vì thế mà
đã có nhận xét rằng “Thoát khỏi hệ thống ước lệ của “thơ cũ” thời trung đại, các nhà thơ mới lần đầu tiên nhìn cuộc đời bằng con mắt của chính mình, nhưng sự “thoát xác” ấy đến Xuân Diệu mới thật sự trọn vẹn”
Đầu thập niên 1930, văn học Việt Nam diễn ra một “cuộc vận động” đổi mới thơ ca với sự xuất hiện của những làn sóng vô cùng mạnh mẽ, đầy cá tính và sáng tạo độc đáo, thoát khỏi hệ thống ước lệ của thơ cũ Trong thời kỳ này, thơ mới xuất hiện góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học nước nhà Khuynh hướng chung của
nó là khuynh hướng lãng mạn, là lý tưởng thẩm mỹ “cái tôi” của tác giả Điều này cho thấy, các thi nhân muốn thoát khỏi những nguyên tắc chung của thơ ca, họ muốn sáng tạo bằng chính cảm xúc của mình, cho thấy rằng cảm hứng sáng tác gắn liền với ý thức cá nhân Thơ mới là thơ của “cái tôi”, một “cái tôi” chưa bao giờ được nhắc đến trong thơ cổ, nó vượt lên những công thức ước lệ, khuôn khổ, khuôn mẫu vốn có của thơ văn xưa
Thời xưa, các nhà thơ cảm thụ và mô tả thế giới không bằng cặp mắt và ngôn
Trang 2Trong thơ cổ đều có những thể loại thơ nhất định như thất ngôn bát cú,thơ lục bát, thất ngôn tứ tuyệt, Mỗi thể loại đều có những nguyên tắc riêng mà mỗi nhà thơ đều phải tuân thủ một cách chặt chẽ Vì thế mà thơ cổ thường tuân theo những quy định và mang tính khuôn mẫu Hơn nữa, số chữ, số từ trong từng câu thơ, từng dòng thơ đều
bị giới hạn bởi một số lượng nhất định nên thơ cũ thường xúc tích, cô đọng và sâu sắc
Họ thường dùng thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp của con người, cụ thể là các hình ảnh hoa, lá, liễu, Do trong giai đoạn xã hội bấy giờ, các nhà thơ xưa chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, họ muốn thoát khỏi sự khuôn khổ ấy nhưng thực sự quá khó khăn Trong thơ văn lúc bấy giờ, khi nhắc đến việc miêu tả người phụ nữ thì trước hết là họ phải đẹp, có nhan sắc, có tài năng nhưng phải chịu sự khắc nghiệt, éo
le, ngang trái của cuộc đời Điển hình là nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm đặc sắc
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du, nàng được “nét cọ” của nhà thơ tài hoa này phác họa một cách tuyệt đẹp:
“Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một tài đành họa hai”
Tuy nhà thơ Nguyễn Du đã có những tư tưởng tiến bộ vượt thời đại, những quan điểm của ông sâu sắc và phong phú hơn trong tình yêu đôi lứa, cụ thể là cho Kiều “xăm xăm bóng tối vườn khuya một mình” đi tìm Kim Trọng, nàng có thể tự do
đi tìm hạnh phúc cá nhân của mình, không phụ thuộc vào cha mẹ và quan niệm cổ hủ của thời đại trước, nhưng đâu đó vẫn theo một quy luật là người phụ nữ đẹp thường gặp nhiều trắc trở, gian truân Tác phẩm “Truyện Kiều” là một điển hình xuất sắc
Không chỉ vậy, các nhà thơ xưa còn chịu ảnh hưởng của thơ Đường Tuy nó sang nước ta nhưng đã được các thi nhân thuần hóa, mang đậm phong cách dân tộc từ ngôn ngữ đến nội dung Đó là sự sáng tạo không ngừng của các thi nhân giúp cho nền văn học Việt Nam thêm phong phú Bên cạnh đó, thơ xưa cũng mang cấu trúc, đặc điểm riêng của thơ Đường Các tác phẩm này thường dùng chữ Hán, chính vì thế mà tuy nội dung, tư tưởng mang phong cách dân tộc nhưng vẫn còn mang nét gì đó của văn học Trung Quốc Không những vậy, một số tác phẩm còn sử dụng điển tích, điển
Trang 3cố Trung Quốc trong thơ văn của mình, góp phần làm tăng tính sâu sắc và tinh tế hơn cho tác phẩm Điều này cho thấy, lúc bấy giờ, các thi nhân xưa còn chịu ảnh hưởng khá lớn của thơ Đường Dù vậy, trong thời gian này, vẫn để lại những áng văn chương bất hủ, làm rung động tâm hồn người đọc Chẳng hạn như bài “Nam quốc sơn hà” của
Lý Thường Kiệt trải qua không biết bao nhiêu lần lên xuống của Mặt Trời nhưng nó vẫn in sâu trong tâm trí của người dân Việt Nam, còn được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc., mãi mãi vĩnh cửu cùng thời gian, mãi mãi trong tâm hồn người Việt qua chỉ vẻn vẹn bốn dòng thơ mà thôi:
“Nam quốc sơn hà nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Đối với thơ văn cổ,, hình ảnh mai, lan, cúc, trúc - bốn loài thực vật được xem là cao quý theo quan niệm của Trung Quốc và người Việt Nam ta, là biểu tượng tương ứng với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, là một trong những đề tài thường được nhắc đến trong thơ xưa Họ luôn cho rằng mai là loài hoa tượng trưng cho cốt cách thanh nhã của người quân tử Ngày trước, Cao Bá Quát cũng từng nói: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Có nghĩa: Cả đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai) cũng đã thể hiện ít nhiều cái mong muốn làm người quân tử, suốt đời trong sạch Đến hoa lan thì có những nét riêng biệt mà Khổng Tử gọi là “Vương giả chi hoa”, nó tượng trưng cho người quân
tử bất đắc chí Sang cúc thì lại khác, nó không chịu nở cùng các loài hoa khác mà chỉ
nở vào tiết lạnh của mùa thu, tượng trưng cho bậc quân tử ẩn dật, lánh đời Trúc thì tượng trưng cho đức tính nhẫn nại, tự cường của người quân tử, bởi vì dù sương mù tuyết lạnh nhưng nó vẫn tươi tốt và phát triển, trong khi những loại cây khác đã cằn cỗi, khô héo Bên cạnh đó, cây tùng, cây bách là biểu tượng của sự cứng cỏi, hiên ngang, chịu đựng của người quân tử Chính vì điều này mà khi nhắc đến nam nhân, những người có bản lĩnh “đầu đội trời, chân đạp đất”, các nhà thơ thường sử dụng loài cây này để miêu tả sự mạnh mẽ, kiên cường của nam nhi thời ấy
Trong thơ cổ thì khi nhắc đến “người”, nhất là miêu tả đều gắn liền với thiên nhiên Lúc bấy giờ, họ không bao giờ nói lên cảm xúc riêng của chính mình mà luôn
Trang 4mở rộng ra ngôn ngữ của cộng đồng, nhân dân và xã hội Nhưng duy chỉ có Hồ Xuân Hương đã xưng “em” trong tác phẩm của mình, thể hiện được con người làm chủ sự vật, sự việc, nhưng đây lại là lời than thân của người phụ nữ phải chịu đựng và chấp nhận số phận:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dù tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”
(Bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương)
Nhắc đến mùa thu, ta thường nhớ đến ba bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Khuyến
- một nhà thơ cổ của dân tộc, mang đậm phong cách riêng của ông, dùng cấu trúc theo luật thơ nhà Đường:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”
(Thu điếu, Nguyễn Khuyến)
Mùa thu không phải là đề tài mới lạ trong văn học Việt Nam và nó có một số đặc tính hằng hữu, thường được các nhà thơ xưa nhắc đến: Mùa thu là mùa của gió heo mây, của trời xanh, mùa của lá rụng, Nhưng khi phong trào thơ mới bắt đầu hình thành, các nhà thơ mới đã tạo ra sự mới lạ, dùng những hình ảnh khác để diễn tả mùa thu Điều này giúp cho nền văn học nước nhà được “sang trang mới” qua sự sáng tạo không ngừng của các tác giả trẻ, là những người tiếp thu và phát huy những truyền thống thơ văn của cha ông Ở thế hệ trẻ, họ được sống trong một thời đại tiến bộ, những suy nghĩ, tư tưởng, quan niệm cũng có những thay đổi nhất định Trong lòng họ
có một sự nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ để có thể cho ra đời những tác phẩm mang màu sắc mới, riêng biệt của chính mình, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc Chính vì vậy mà trong cuộc sống ngày nay, thơ văn có thể đáp ứng nhiều yêu cầu của bạn đọc, ngày một đổi mới và hoàn thiện hơn Thơ mới giúp cho các nhà thơ được “tự do”, được thoát khỏi những quy định chặt chẽ, cách gieo vần bằng trắc của thơ cũ trói buộc, họ thoải mái sáng tác, thả sức tưởng tượng, nói lên điều mình nghĩ, mình mong muốn cho người đọc cảm nhận Đây là điều mà có lẽ nhà thơ nào
Trang 5cũng mong muốn, họ khao khát có thể đồng cảm với bạn đọc Qua mỗi tác phẩm, mỗi thi nhân đều gửi gắm những quan điểm, chân lý của cuộc sống tươi đẹp này Trong thơ mới, “cái tôi” cá nhân được đề cao, suy nghĩ, cảm xúc của riêng mình có thể được đón nhận mà không phải là ngôn ngữ của cộng đồng, xã hội chi phối Đây là điều mà các nhà thơ xưa không thể thực hiện Mỗi thời đại sẽ có những nhu cầu, nguyện vọng về tình cảm, cảm xúc cho chính mình Cũng chính vì dùng sự tưởng tượng, cảm xúc chân thật trong từng tác phẩm nên đôi khi cũng có thể đồng cảm cùng bạn đọc Người đọc
sẽ hiểu sâu sắc, kỹ lưỡng hơn về tác phẩm mà họ đọc Lúc này, văn học cũng trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn, ít trừu tượng và dễ đồng cảm hơn thơ cổ Nhưng dù là thơ
cũ hay thơ mới thì mỗi bài đều để lại cho đời những triết lý sâu sắc Do bởi các tác giả cảm nhận thơ bằng tất cả cảm xúc, trái tim và niềm say mê của mình Sự đổi mới trong ngôn ngữ thể hiện cách nhìn đời, nhìn thiên nhiên của “cái tôi” cá nhân
“Sự thoát xác này đến Xuân Diệu mới thực sự trọn vẹn” Quả thật là như vậy Ông đã từng được Hoài Thanh nhận định là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới Trước ông, đã từng có rất nhiều tác giả trong phong trào thơ mới nhưng tại sao Hoài Thanh lại nhận xét Xuân Diệu như vậy? Chắc có lẽ thơ Xuân Diệu có thể thấy được
“cái tôi” của nhà thơ bùng nổ mãnh liệt, phát triển ở mức độ cao và đem lại nhiều cái mới trong thơ ca
Thế nhưng, tác giả Thế Lữ lại được xem là người có đóng góp đáng kể vào việc hiện đại hóa văn thơ Việt Nam, là một trong những nhà thơ mới của nước ta mà không phải là nhà thơ mới nhất Điều này là do ông chưa thoát hẳn phong cách diễn đạt ước
lệ của thơ cũ, mặc dù thơ Thế Lữ đã có những cách tân táo bạo về hình thức nghệ thuật Ở thời kỳ đầu của thơ mới, những cách tân của Thế Lữ đã mở đường cho bút pháp của các nhà thơ sau này Thơ Thế Lữ nói lên khát khao được sống tự do, thoát khỏi tù túng để đến với thế giới bao la hơn Bài thơ “Nhớ rừng” mượn lời con hổ trong vườn bách thảo được xem là lời tâm sự của một lớp người đang đau khổ trong cuộc sống, chán ghét thực tại tầm thường, giả dối nhưng bất lực và chỉ biết chìm đắm trong dĩ vãng oai hùng, thể hiện tư tưởng giải phóng bản thân và khát vọng tự do một cách mạnh mẽ Dù muốn thoát ly, nhưng “cái tôi” của Thế Lữ trong mấy vần thơ vẫn buồn, chân trời thoát ly còn chưa được mở ra hết Từ xưa, trí tưởng tượng của con
Trang 6người đã tạo nên một xứ bồng lai tiên cảnh, đó là giấc mơ để xoa dịu, an ủi cuộc sống hiện tại của mình Thế Lữ cũng đã có những giấc mộng trong sáng tác của mình với những cảnh sắc huyền ảo:
“Trời cao xanh ngắt ô kìa Hai con hạc trắng bay về bồng lai.”
(Tiếng sáo thiên thai, Thế Lữ)
Ông dường như vẫn còn muốn trốn tránh cuộc sống hiện tại, đi tìm một thế giới khác kỳ diệu hơn, vui vẻ hơn
Chế Lan Viên cũng là một trong những nhà thơ mới của nước nhà Ông đã không ngừng tìm tòi, sáng tạo sao cho các tác phẩm của mình thật độc đáo, mới lạ Con đường thơ ca của nhà thơ này cũng trải qua nhiều biến động, khó khăn nhưng nó cũng không thể ngăn cản được sự đam mê của Chế Lan Viên dành cho thơ ca Thơ của tác giả này “trải qua” nhiều chủ đề, tùy theo từng thời điểm Trước cách mạng, thơ ca của Chế Lan Viên giống như một thế giới kinh dị, thần bí và bế tắc của một thời đại điêu tàn Nhưng sau cách mạng, ông đã đến với cuộc sống của nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng Trong thời kỳ 1960 - 1975, thơ ông sử dụng tính sử thi hào hùng, chất chính luận và đậm tính thời sự Tuy vậy, “cái tôi” cá nhân trong thơ của Chế Lan Viên vẫn còn chưa rõ ràng, thể hiện khuynh hướng suy tưởng triết lý nhiều hơn
Vậy thì, ở nhà thơ Xuân Diệu, chắc phải có những phong cách rất nổi bật, cũng lại rất mới lạ mới được xem là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới Trước tiên, Xuân Diệu có một cái nhìn và cách miêu tả thiên nhiên táo bạo, đó là “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Phải nói rằng, trong thơ Việt Nam chưa có ai cảm nhận mùa xuân như cách cảm nhận của Xuân Diệu Một điều đáng chú ý là Xuân Diệu không lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để so sánh vẻ đẹp con người như ta vẫn thường gặp trong thơ cổ mà lại lấy vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực để so sánh vẻ đẹp của thiên nhiên, đó cũng chính là đặc điểm trong thơ của ông Nếu ta gặp trong thơ của Nguyễn Du, nhan sắc của Thúy Vân được miêu tả “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” (Truyện Kiều), thì Xuân Diệu lại có cách so sánh khác “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” (Vội vàng)
Trang 7Con người bao giờ cũng là điều tuyệt diệu Không chỉ vậy, với cặp mắt “xanh non” và “biếc rờn”, nhà thơ Xuân Diệu nhận ra rằng trần gian đẹp biết bao nhiêu Những sự vật dù rất nhỏ bé, tầm thường nhưng chúng cũng làm cho những cảnh vật khác thêm rực rỡ, sáng chói, sinh động và đầy màu sắc qua các câu thơ của ông:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si.”
(Vội vàng, Xuân Diệu)
Nhà thơ Xuân Diệu đã miêu tả cảnh thiên nhiên giống như một thiên đường nơi trần gian, cớ sao lại phải tìm những chốn tiên cảnh khác Bướm ong thì có tuần tháng mật, đồng nội thì có muôn hoa, cành tơ thì có muôn lá, mắt người thì có ánh sáng Những câu thơ của ông nhanh gấp trong một nhịp điệu dào dạt và đầy sức sống
Ông là người khát khao sống đến mãnh liệt, muốn tận hưởng hết cuộc đời mình một cách trọn vẹn nhất Từ xưa đến nay, người ta chỉ tiếc mùa xuân khi nó không còn, chỉ tiếc thời gian khi nó trôi qua Nhưng với sự nhạy cảm đến lạ lùng của Xuân Diệu, ông đã thể hiện thái độ yêu cuộc sống đến mức độ say đắm, tiếc mùa xuân khi nó vẫn đang còn tồn tại:
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân đã già.”
(Vội vàng, Xuân Diệu)
Và rồi dường như nhà thơ Xuân Diệu đã nhận ra rằng, con người khao khát vô tận được sống nơi trần gian tươi đẹp chứa đựng biết bao điều kỳ diệu này, nhưng cuộc đời lại có những quy luật của nó, vô cùng nghiệt ngã và éo le:
“Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.”
(Vội vàng, Xuân Diệu)
Trang 8Trong đoạn thơ trên, Xuân Diệu đã xưng “tôi”, điều này cho thấy “cái tôi” cá nhân của nhà thơ được bộc lộ mãnh liệt và sâu sắc Nhà thơ Xuân Diệu không tưởng tượng, không mơ ước sẽ đến nơi nào khác xa xôi, ông luôn đối mặt với hiện thực trần gian mà nhà thơ cho rằng nơi đây muôn màu, muôn vẻ Ông khuyên chúng ta cần phải trân trọng vì cuộc đời quá ngắn ngủi và con người sinh ra chỉ có một lần, tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất, hãy sống sao cho đáng sống để khi về già, mình sẽ không hối tiếc những năm tháng đẹp đẽ nhất của cuộc đời
Tài năng của Xuân Diệu không chỉ dừng lại ở đó mà còn thể hiện ở cách dùng ngôn ngữ, hình ảnh táo bạo, mới lạ và gây hiệu quả thẩm mỹ cao Những sự vật, sự việc rất đỗi gần gũi, giản dị nhưng qua nét bút của nhà thơ lại trở nên sinh động và hoàn toàn khác lạ:
“Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối Vài miếng đêm u uất lẫn trong cành Mây theo chim về dãy núi xa xanh Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.”
(Tương tư chiều, Xuân Diệu)
Cách miêu tả buổi chiều thật mới lạ, một buổi chiều tương tư thật buồn Gió thì lướt thướt, vài miếng đêm thì u uất, Bằng nghệ thuật nhân hóa hình ảnh gió, đêm, cho ta thấy không gian lúc này thật tẻ nhạt, thất vọng và hình ảnh thiên nhiên dường như cũng buồn theo con người Con người chúng ta làm chủ thể, làm chủ thiên nhiên
và mọi vật
Không những vậy, Xuân Diệu còn tiếp thu văn hóa phương Tây và dùng khả năng sáng tạo, kế thừa các yếu tố truyền thống của thơ văn xưa đã tồn tại trong tâm hồn nghệ sĩ khát khao giao cảm với cuộc đời này Được mệnh danh là “ông hoàng của thơ tình”, nhà thơ Xuân Diệu luôn rất đa cảm về tình yêu đôi lứa - một trong những đề tài luôn được người đọc đón nhận, những dòng thơ của ông đã để lại những ấn tượng thật khó phai mờ:
“Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm, em ơi !
Trang 9Anh nhớ anh của tháng ngày xa khơi Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm.”
(Tương tư chiều, Xuân Diệu)
Nhắc đến chủ đề tình yêu, chúng ta thường có rất nhiều cảm xúc yêu thương, giận hờn và đặc biệt là tương tư, nó là cảm giác khơi nguồn cho tình yêu đôi lứa được
“chắp cánh” bay xa Nhưng với người có cảm xúc tột cùng mãnh liệt về yêu thương tột độ đắm say thì càng có nhiều cảm xúc đặc biệt hơn:
“ Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài.”
(Xa cách, Xuân Diệu)
Tuy là hai người đang ngồi gần nhau nhưng chàng trai vẫn còn sợ rằng tình yêu của họ sẽ xa cách Nhà thơ Xuân Diệu đã diễn đạt tình yêu nơi trần gian một cách cụ thể, đầy đủ, thể hiện ở cả hai phương diện, đó là tinh thần và nhục thể Trên cuộc đời này, con người chúng ta không thể sống mà không có tình yêu thương bởi vì “Nơi lạnh lẽo nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình thương” (M.Go-rơ-ki):
“Làm sao sống được mà không yêu Không nhớ không thương một kẻ nào.”
(Bài thơ tuổi nhỏ, Xuân Diệu)
Tình yêu trong thơ của Xuân Diệu giống như là một “khu vườn” đủ mọi hương sắc, làm bản nhạc đủ mọi âm thanh và dù ở cung bậc nào nó cũng nồng nàn, say đắm đến cuồng nhiệt và mang đậm phong cách phương Tây Một sự mới lạ nữa trong thơ của Xuân Diệu, khác với các nhà thơ cũ, tình yêu của họ thật kín đáo, lặng lẽ mà
“Tương tư” của Nguyễn Bính là một ví dụ điển hình:
“Nắng mưa là bệnh của trời Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này.”
(Tương tư, Nguyễn Bính)
Còn với Xuân Diệu, nhà thơ như nói lên hết cảm xúc của mình qua câu thơ:
Trang 10“Anh nhớ em, em hỡi ! Anh nhớ em”
(Tương tư chiều, Xuân Diệu)
Câu thơ chính là tâm trạng thật của chàng trai được bộc lộ một cách thẳng thắn chứ không hề lặng lẽ, khéo léo
Với sự đóng góp to lớn của Xuân Diệu cho nền văn học Việt Nam, ông đúng là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới Sự xuất hiện của ông đã góp phần làm cho nền văn học nước ta thêm phong phú, đa dạng và dạt dào tình cảm con người Lời nhận xét trên hoàn toàn đúng đắn, giúp cho ông có thêm niềm tin, ý chí, nỗ lực để sáng tạo thêm những tác phẩm mang phong cách của riêng mình