Thực tế tình hình phát triển kinh tế xã hội ở vùng nông thôn tác động đến việc di dân: 6 2.. Tác động của quá trình di cư 21 III, NHỮNG GIẢI PHÁP CHO VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VỀ VI
Trang 1KHOA KINH TẾ
Đề tài báo cáo:
Phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn từ ảnh hưởng của dòng di dân đi Thực tế ở các vùng nông nước ta và các
biện pháp khắc phục vấn đề tiêu cực
GVHD: Huỳnh Viết Thiên Ân Môn học: Dân số phát triển Nhóm 2 thực hiện:
Trang 2II Tác động thực tế của việc di dân đối với sự phát triển của vùng nông thôn 6
1 Thực tế tình hình phát triển kinh tế xã hội ở vùng nông thôn tác động đến việc di dân:
6
2 Các hình thức di dân phổ biến của người lao động ở nông thôn 8
2.1 Hình thức xuất khẩu lao động ở Việt Nam 8
2.1.2 Nguyên nhân việc lựa chọn xuất khẩu lao động 10
2.1.3 Thực trạng đi xuất khẩu lao động ở VN 10
2.2 Hình thức di dân ra các đô thị lớn 16
2.2.2 Thực trạng việc di cư, số lượng và đặc điểm nhân khẩu học 18
2.2.4 Tác động của quá trình di cư 21
III, NHỮNG GIẢI PHÁP CHO VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VỀ VIỆC DI CƯ Ở
Danh mục bảng biểu
Hình 2: Số liệu về số lượng lao động đi làm việc ở các quốc gia 11
Hình 3: Tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn phân theo vùng(Cục TKQG) 12
Trang 3MỞ ĐẦU
Di dân là một hiện tượng xã hội phổ biến mà hầu hết quốc gia nào cũng
sẽ và phải đối mặt Di dân mang trong mình tính quố gia và quốc tế Di dândiễn ra trong phạm vi không gian, thời gian với những hình thái cụ thể khácnhau Có di dân nội vùng, nội địa, có di dân quốc tế, di dân tự do và di dân có
tổ chức, có kế hoạch Trong các dòng di dân đó có di dân tự do nông thôn –
do di chuyển khỏi nơi ở của mình, và sự khác biệt về điều kiện sống giữa cácvùng ngày càng gia tăng cũng là động lực khiến người dân di cư Di cư trongnước đã góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc di chuyểncủa người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu lao động trong các khu công
nghiệp và trong các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đồng thời thông qua đó
đã đóng góp vào phát triển kinh tế gia đình của số lượng lớn các gia đình cóngười di cư
Di cư trong nước có thể đóng góp nhiều hơn cho sự tăng trưởng kinh tế
cả ở cấp độ quốc gia và hộ gia đình Di cư có thể đẩy mạnh mối quan hệ giữanơi đi và nơi đến, không chỉ đơn thuần thông qua số tiền người di cư gửi về,
mà còn qua việc chuyển giao kiến thức và kỹ năng, và vì thế góp phần làmgiảm sự khác biệt giữa các vùng Hỗ trợ di cư còn là hỗ trợ quyết định củamỗi cá nhân và gia đình về cuộc sống của họ, hay nói cách khác việc hỗ trợnày sẽ đóng góp vào việc tạo sức mạnh về kinh tế vã xã hội cho người dân di
cư Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều thách thức đối với vấn đề này Các thách thứclớn nhất là đảm bảo các quyền cho người di cư nữ, nam, trẻ em trai và trẻ emgái
Trang 4Các tác động cụ thể của di cư, cho dù là tác động tích cực hay tiêu cựcđối với quá trình di cư trong nước: Cơ hội và thách thức đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội ở Việt Nam phát triển phụ thuộc vào các môi trường chính trị,kinh tế và xã hội, đồng thời phụ thuộc vào hành vi và nguồn lực của người di
cư và gia đình của họ Di cư chứa đựng những tiềm năng đáng kể có lợi cho
sự phát triển kinh tế xã hội nhưng để có thể khai thác tiềm năng này, cần phảixây dựng các chính sách đồng bộ dựa trên sự hiểu biết đầy đủ về các dòng di
cư, quy mô và các đặc điểm nhân khẩu học của di cư trong nước Cần có hiểubiết về kinh nghiệm của người di cư, và tác động của những di chuyển này tớicác địa phương nơi đi và nơi đến
Tuy nhiên, hầu hết các số liệu cấp quốc gia và các dữ liệu có quy môlớn về di cư trong nước ở Việt Nam chưa thống kê được đầy đủ và chính xác
Có thể do phương pháp chọn mẫu và khái niệm về phạm vi di cư sử dụngtrong các cuộc điều tra là khác nhau hoặc có một số lượng lớn người di cưmột mình và các hộ gia đình di cư chưa được tính trong cuộc điều tra
Vì nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề di cư sẽ ảnh hưởng đếnquá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn như thế nào nên nhóm 2 đãchọn đề tài này để tìm hiểu và tìm ra những giải pháp trong vấn đề di cư ởnông thôn ảnh hưởng đến quá trình phát triển – xã hội
Trang 5I Tổng quan về di dân:
1 Khái niệm của di dân
- Theo nghĩa hẹp: di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổđến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong mộtkhoảng thời gian nhất định
- Theo nghĩa rộng: di dân là sự chuyển dịch bất kì của con người trongmột không gian
- Trong nghiên cứu di cư một số khái niệm cần quan tâm là:
● Nơi đi: Còn gọi là nơi xuất cư, là địa điểm cư trú trước khi một ngườirời đi nơi khác sinh sống
● Nơi đến: Là điểm kết thúc quá trình di chuyển, là địa điểm mà mộtngười dừng lại để sinh sống Nơi và địa điểm ở đây là ám chỉ một lãnhthổ, một đơn vị hành chính nhất định
● Người xuất cư hay còn gọi là người di cư đi là người rời nơi đang sinhsống để đi nơi khác
● Người nhập cư hay còn gọi là người di cư đến là người đến nơi mới đểsinh sống
● Luồng (dòng) di cư là tập hợp người đi ra khỏi vùng đang sinh sống vàđến cùng một vùng mới để cư trú theo những hướng nhất định vàonhững khoảng thời gian xác định
● Chênh lệch giữa số người đến và số người đi trong cùng một lãnh thổ,đơn vị hành chính trong cùng một khoảng thời gian nhất định được gọi
là di cư thuần túy
2 Đặc điểm về di cư:
Có rất nhiều nguyên nhân khiến người dân có thể di cư từ nơi này đến nơikhác để sinh sống Mỗi cá nhân có những quyết định khác nhau phụ thuộc vàonhiều yếu tố Các yếu tố đó gồm:
Trang 6- Các đặc trưng nhân khẩu học như: Tuổi, giới tính Các đặc trưng nàyquyết định vị trí của mỗi cá nhân trong chu kỳ cuộc sống và vai trò của họtrong gia đình và xã hội.
- Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của từng người Ở đây cóthể hiểu là trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật Các trình độ,
kỹ năng này có thể giúp hoặc ngăn cản họ tham gia vào lực lượng lao động ởđịa phương nơi đi và nơi đến
- Sự nắm bắt và nhận thức về các cơ hội tại địa phương nơi họ đangsinh sống và những địa phương nơi họ dự định ra đi Điều này sẽ thúc đẩy họ
ra đi hay ở lại
- Nhận thức về lối sống, điều kiện vật chất Đây là những điều cá nhânmong muốn đạt được Điều này cũng là những yếu tố góp phần hình thànhquyết định di cư
- Người thân và bạn bè cũng có thể ảnh hưởng tới quyết định di cư củamỗi cá nhân Người ta thường chọn chuyển đến những nơi bạn bè và ngườithân đang sống Đây là một hình thức di cư gọi là di cư dây truyền Do dichuyển theo dây chuyền, các dòng di cư từ một vùng này đến một vùng khác
có thể tiếp tục diễn ra khá lâu, ngay cả khi lý do lựa chọn ra đi ban đầukhông còn nữa
Trang 7- Di chuyển nội địa:
+ Di dân nông thôn_thành thị
+ Di dân nông thôn_nông thôn
+ Di dân thành thị_nông thôn
+ Di dân thành thi_thành thị
Theo độ dài thời gian cư trú:
-Di chuyển lâu dài
-Di chuyển tạm thời
-Ngoài ra: di dân mùa vụ, di chuyển con lắc
Theo đặc trưng di dân:
-Di dân có tổ chức
-Di dân tự phát
II Tác động thực tế của việc di dân đối với sự phát triển
của vùng nông thôn:
1 Thực tế tình hình phát triển kinh tế xã hội ở vùng nông thôn
tác động đến việc di dân:
- Đặc điểm nền kinh tế ở nông thôn:
+ Cơ cấu dân số đa dạng, nguồn lao động dồi dào, giá rẻ
+ Khu vực nông thôn có việc làm nhưng không bền vững, mang tính thờivụ
+ Phần lớn là lao động tay chân, không có kinh nghiệm
+ Nên phát triển những ngành nghề thu hút nhiều lao động phổ thông, ítđầu tư chất xám
+ Nhà nước cần chú ý đầu tư hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ người dân vàtăng cường chính sách hỗ trợ để người nông dân chăm lo đời sống
- Tác động của việc di dân:
Tác động tích cực:
● Góp phần phát triển kinh tế gia đình ở địa phương nơi đi qua đó làmthay đổi bộ mặt làng quê ở nơi đi Tác động tích cực của người di cư
Trang 8đối với gia đình và địa phương nơi đi được đánh giá qua số tiền gửi vềgia đình, sử dụng tiền gửi của gia đình vào phát triển kinh tế, giáo dục
và chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình và đầu tưphát triển kinh tế ở địa phương
● Góp phần phát triển kinh tế ở địa phương, người di cư còn góp phầnphát triển kinh tế ở địa phương thông qua việc người di cư có thunhập cao đầu tư về phát triển ngành nghề ở địa phương Nhiều người
di cư đã học được kinh nghiệm sản xuất ở nơi đến, khi trở về quê họ
mở ngành nghề mới thu hút lao động địa phương qua đó cải thiện đờisống cho người lao động ở quê nhà
- Tác động tiêu cực:
● Thiếu lao động tại địa phương nơi đi: Khi người di cư tìm việc làmmột cách ồ ạt, do đặc trưng chủ yếu của người di cư là những ngườitrong độ tuổi lao động, nên ở lại nông thôn chỉ còn phụ nữ mang thai,nuôi con nhỏ và những người đã hết tuổi lao động, sức yếu không thể
đi làm ngoại tỉnh Điều này làm cho những người cao tuổi phải vất vảthêm, phải làm cả việc đồng áng mà đáng lẽ đến tuổi nghỉ hưu (trên
60 tuổi) họ không còn phải làm nữa Thậm chí có người đã đến 70tuổi rồi vẫn còn phải làm việc trên đồng ruộng Một số gia đình donhững người trong độ tuổi lao động di cư tìm việc làm nơi khác, nêntrẻ em dưới 14 tuổi đã phải thay thế cha mẹ làm việc
● Một số lối sống đô thị không phù hợp với truyền thống đã du nhậpvào cuộc sống hàng ngày ở nơi đi: Những nét văn hoá lối sống của đôthị không phù hợp với truyền thống ở nông thôn đã được thanh niên
di cư mang về như nhuộm tóc màu, trang phục kiểu lố lăng Điều nàylàm cho những người quen sống ở nông thôn khó chịu và cho là làmmất thuần phong mỹ tục ở nông thôn Ngay cả cha mẹ của thanh niên
di cư cũng không chấp nhận lối sống đó nên thường xảy ra mẫu thuẫntrong gia đình giữa hai thế hệ
Trang 9● Một tác động tiêu cực nữa cần phải kể đến, là một số nữ thanh niên
đã có quan hệ tình dục tiền hôn nhân và mang thai ngoài giá thú Số
nữ thanh niên này quay về quê cũ tìm sự giúp đỡ của gia đình Làmcho gia đình ở nơi đi không chỉ chịu thiệt thòi về kinh tế mà còn làgánh nặng tâm lý đối với họ, trước những dị nghị của những ngườixung quanh
● Nhiều thanh niên di cư mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục,HIV/AIDS tạo ra gánh nặng về chăm sóc về y tế, về tinh thần cho giađình
● Nhiều trẻ em đã chịu những cú sốc tâm lý khi cha mẹ chúng di cư tìmviệc làm ở nơi khác không thể chăm sóc chúng hàng ngày Các biểuhiện cụ thể là: Kết quả học tập kém đi, không nghe lời ông bà hoặcngười đỡ đầu Thậm chí có một số ít thanh thiếu niên, do thiếu vắng
sự chăm sóc của cha mẹ đã có hành động vi phạm pháp luật như: trộmcắp; sử dụng ma túy…
● Một số cặp vợ chồng đã ly hôn sau thời gian xa cách vì nhiều lý do:Không còn phù hợp về lối sống, nghi ngờ vợ (chồng) không chungthủy…
2 Các hình thức di dân phổ biến của người lao động ở nông thôn
2.1 Hình thức xuất khẩu lao động ở Việt Nam
2.1.1 Lý thuyết về XKLĐ
- Khái niệm: Xuất khẩu lao động Việt Nam ra nước ngoài, thường gọi tắt
là Xuất khẩu lao động Việt Nam, là hoạt động kinh tế dưới hình thức cungứng lao động Việt Nam ra nước ngoài theo hợp đồng có thời hạn, phục vụ chonhu cầu nhân công lao động của doanh nghiệp nước ngoài
- Đặc điểm:
● Đối tượng của hợp đồng lao động này là “sức lao động” một loạihàng hóa đặc biệt, không được định hình dưới hình dạng cụ thể mà đượcxác
Trang 10định thông qua khả năng hoàn thành công việc của người lao động, sứckhỏe, trí lực, trình độ chuyên môn tay nghề của người lao động.
● Đây là hợp đồng có tính chất xuyên quốc gia Các bên tham gia kýkết hợp đồng lao động sẽ đến từ các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau
● Xuất khẩu lao động là xu hướng của toàn cầu Hiện nay xu hướngdịch chuyển lao động ngày càng phổ biến, việc người sử dụng lao động đòihỏi trình độ lao động có tay nghề cao ngày càng nhiều mà trình độ lao độngtrong nước nhiều khi không thể đáp ứng được, khi đó việc sử dụng laođộng được cung ứng bởi thị trường lao động nước ngoài là rất cần thiết
● Đây là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng như thúc đẩyngười lao động tự mình nâng cao năng lực của bản thân trước sự cạnh tranhngày càng khốc liệt của thị trường lao động
Các hình thức xuất khẩu lao động:
● Người lao động xuất khẩu lao động theo hình thức hợp đồng được ký kếtvới doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ởnước ngoài
● Hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhậnthầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài
● Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thứcthực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làmviệc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề
● Hợp đồng cá nhân: Các quốc gia mà người lao động Việt Nam hướngđến: Hàn Quốc, Đài loan, Nhật bản, Singapore… Và ở đây các ngànhnghề người lao động Việt Nam sang làm chủ yếu là ngành Cơ Khí, Xâydựng, Chế biến thực phẩm, ngành ô tô…
Trang 112.1.2 Nguyên nhân việc lựa chọn xuất khẩu lao động:
● Tình trạng lao động nông thôn thiếu việc, mất việc làm Vấn đề lao động
và việc làm ở nông thôn vốn tồn tại từ nhiều năm nay, nhất là vào thờiđiểm hiện nay, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, không ítdoanh nghiệp phải ngừng sản xuất, công nhân mất việc làm, tạo ra mộtdòng di chuyển lao động về nông thôn Hiện tượng lao động mất việc vềquê không chỉ xảy ra tại các tỉnh miền núi xa xôi, mà đang có chiềuhướng gia tăng ở ngay các vùng được coi là vựa lúa của cả nước, haytrong vùng kinh tế trọng điểm với các khu công nghiệp (KCN), cụmcông nghiệp (CCN)
● Các nước kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng GDP cao, nhưng tốc
độ tăng dân số thấp, dẫn đến thiếu hụt về nguồn nhân lực, có nhu cầu vềnhập khẩu lao động, trong khi các nước chậm phát triển hoặc đang pháttriển cần đầu tư mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, giải quyết nạn thấtnghiệp, bổ sung nguồn thu ngân sách và thu nhập cho người lao động,rất cần đưa lao động ra nước ngoài làm việc
● Do sự chênh lệch về giá trị đồng tiền giữa các quốc gia nên số tiềnlương được quy đổi về tiền Việt là rất lớn Điều này sẽ giúp việc ngườilao động sẽ tích luỹ được một số vốn khá lớn sau khi trở về lại ViệtNam Đây có lẽ chính là điểm thu hút nhất và quan trọng khiến nhiềungười lựa chọn việc đi xuất khẩu lao động
2.1.3 Thực trạng đi xuất khẩu lao động ở VN:
Theo số liệu thống kê, năm 2022 cả nước đưa đi được 134.751 lao động(trong đó, có 53.340 lao động nữ, chiếm 39,6%); vượt 28,3% so với kế hoạchnăm và bằng 106,7% so với tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trongnăm 2022
Trang 12Hình 1: Số liệu về XKLĐ ởViệt Nam
Đây là năm thứ tư liên tiếp số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài vượt mức 100.000 lao động/năm Đặc biệt, thị trường Nhật Bản
có sự tăng trưởng vượt bậc với 54.504 lao động (24.502 lao động nữ) Các thịtrường khác, cụ thể: Đài Loan: 66.926 lao động (23.530 lao động nữ); HànQuốc: 5.178 lao động (473 lao động nữ); Ả rập - Xê út: 3.626 lao động (3.447lao động nữ); Malaysia: 1.551 lao động; còn lại là các thị trường khác: 3.016lao động
Hình 2: Số liệu về số lượng lao động đi làm việc ở các quốc gia
2.1.4 Tác động của việc XKLĐ đến sự phát triển về kinh tế xã hội vùng
nông thôn
❖ Ảnh hưởng tích cực:
Trang 13- Việc người di cư bằng hình thức ra khỏi vùng nông thôn đi xuất khẩu lao động thì sẽ làm giảm gánh nặng dân số và tạo việc làm ở vùng nông thôn.
Hiện nay, ở các vùng nông thôn có lượng dân số không có việc làm khá caohơn so với thành thị hay các thành phố lớn.Vào năm 2020, tổng số lao động ởvùng nông thôn là 36671007 chiếm 66,9% lực lượng lao động của cả nước.Tuy nhiên theo tổng cục thống kê, tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn năm
2020 là 1.75%.Trong đó Đồng bằng sông Hồng có tỉ lệ TN là 1,45%, Trung
du và miền núi phía Bắc là 0,67% Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miềnTrung là 2,14% Vùng Tây Nguyên là 1,29% và Vùng Đông Nam Bộ là 2,2%.Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỉ lệ TN cao nhất với 2,53%
Hình 3: Tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn phân theo vùng(Cục TKQG)
Vì cơ bản, các vùng nông thôn chưa được để ý đến nhiều nên không có nhiềudoanh nghiệp/xí nghiệp/công ty đặt vị trí làm việc ở nông thôn Điều này làmcho tỷ lệ thất nghiệp ở vùng nông thôn cao hơn so với ở thành thị Dẫn đếnviệc người dân ở nông thôn mong muốn được ra nước ngoài làm việc, khitham gia lực lượng lao động xuất khẩu, họ có thể nhận được việc làm với mứcthu nhập cao hơn so với làm việc tại nông thôn Không dừng lại ở đó, việcnày cũng tạo thêm cơ hội cho những người dân khác đang thất nghiệp ở nông
Trang 14thôn được người đi trước giới thiệu/hướng dẫn để tìm thấy công việc phù hợp.Điều này sẽ giảm thiểu con số thất nghiệp ở vùng nông thôn.
- Xuất khẩu lao động quốc tế giúp tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, tăng tài sản
cá nhân.
Khi lao động ra nước ngoài làm việc, tất nhiên là họ có thu nhập, hơn nữa thunhập cao hơn làm việc trong nước Thông thường, người Việt Nam đi làmviệc ở nước ngoài có thu nhập ròng cao hơn làm việc trong nước khoảng 3lần Nhờ có thu nhập ròng cao, người lao động gửi khoản tiền đó về gia đìnhlàm khoản tiết kiệm Theo ước tính của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Lao động
- Việt Nam, năm 2007, chỉ riêng lao động Việt Nam ở nước ngoài chuyển vềnước khoảng 2 tỷ USD3 Khoản tiền người lao động gửi về nhà được chia làhai phần: một phần gia đình chi tiêu vào việc nâng cao mức sống, chăm sócsức khỏe của gia đình đặc biệt là chi tiêu cho việc học tập của con cái gópphần nâng cao dân trí; một phần lớn dành để tiết kiệm nhằm mục đích đầu tưtrong tương lai.Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, bình quân hàngnăm, mỗi lao động tiết kiệm được xấp xỉ 4.000 USD Nếu người lao động đilàm việc 5 năm ở nước ngoài, họ có thể tiết kiệm được 20.000 USD đây làkhoản tiền có thể giúp gia đình tự đầu tư hoặc góp vốn sản xuất sản xuất kinhdoanh Điểu này sẽ góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở vùng nôngthôn nói riêng và cả nước nói chung
- Người xuất khẩu lao động góp phần thiết lập những mối quan hệ chặt chẽ giữa hai quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi trong trao đổi thương mại, tăng cường hợp tác về chính trị, văn hoá, khoa học - kĩ thuật của hai quốc gia.
Chúng ta có thể nói đến việc các nhà máy của các doanh nghiệp lớn ở Hàn,Nhật… Khi đầu tư và đặt vị trí nhà máy ở Việt Nam Vì lượng người xuấtkhẩu lao động ở nước mình sang các nước như Hàn, Nhật… khá nhiều -chiếm phần lớn lượng lao động xuất khẩu ở các nước Nhận thấy một thịtrường lao động tiềm năng đã thúc đẩy các nước như Hàn, Nhật… đặt nhàmáy và đầu tư cho Việt Nam Điều này đã tạo điều kiện công ăn việc làm, cải
Trang 15thiện đời sống tại các vùng nông thôn (vì đại đa số thì các nước này đặt cácnhà máy tại các vùng nông thôn vì nguồn nhân công giá rẻ, chi phí ít) Mở ramối quan hệ hợp tác giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư, sự giao lưu vănhoá giữa hai quốc gia Đồng thời, Việt Nam chúng ta còn có thể học hỏi đượcnhững kiến thức về khoa học - kĩ thuật của các nước đang phát triển.
- Người xuất khẩu lao động góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại vùng nông thôn.
Khi số lượng lớn/nhỏ người lao động di chuyển ra nước ngoài làm việc thì họđược tiếp nhận những công nghệ tiên tiến và những kiến thức hiện đại, có ýthức kỷ luật và lối sống văn minh hơn, trình độ ngoại ngữ và tay nghề, kỹnăng nghề nghiệp của người lao động cũng dần được nâng cao Do vậy, cácvùng nông thôn có thể tiết kiệm được chi phí đào tạo nguồn nhân lực Đồngthời, khi những người lao động này quay trở về nông thôn, họ sẽ mang theonhững kiến thức và các kỹ năng mà họ được tích lũy và rèn luyện ở nướcngoài để áp dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh mà họ tham gia ở nôngthôn Điều này góp phần thúc đẩy năng suất lao động, chất lượng sản phẩm vàđóng góp tích cực giúp nền kinh tế tại vùng nông thôn tăng trưởng
❖ Ảnh hưởng tiêu cực:
- Sự di chuyển của những người lao động sang Quốc gia khác sẽ làm giảm
nguồn cung nhân lực tại nông thôn, là một trong những nguồn lực có ý nghĩa
quan trọng đóng góp và tăng trưởng và phát triển của nông thôn Một nơi cóthể để thu hút được nhiều nhà đầu tư, nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp chọn làmnơi làm việc là nơi đó có thể có nguồn nhân lực dồi dào, giá thành nhân công
rẻ Mà nông thôn là vùng đất lý tưởng để đáp ứng những tiêu chí trên Nếu thuhút các nhà đầu tư thuận lợi thì sẽ kéo theo tiếng vang lớn đến các nhà đầu tưkhác sẽ tham gia vào vùng đất đó Điều này sẽ thúc đẩy nhanh quá trình pháttriển kinh tế - xã hội tại vùng nông thôn Tuy nhiên, việc người dân có khảnăng lao động tại vùng di dân đi xuất khẩu lao động thì sẽ dẫn đến nông
Trang 16thôn thiếu đi lượng người lao động Điều này sẽ không đáp ứng được nhu cầucủa các doanh nghiệp/người đầu tư vì tại nông thôn đã thiếu đi lượng ngườilàm việc và các nhà doanh nghiệp/người đầu tư sẽ không chọn vùng đất nôngthôn làm nơi làm việc Dẫn đến việc vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế -
xã hội tại nông thôn sẽ khó mà có thể phát triển mạnh mẽ
- Việc lợi dụng những người lao động không biết nhiều thông tin về vấn đề xuất
khẩu lao động cũng như mong muốn lựa chọn những quốc gia có mức thu nhập cao để lừa đảo Những người lao động này thường sẽ phải trả một
khoản phí rất lớn, hàng trăm triệu đồng với mong muốn có thể kiếm được mộtmức thu nhập cao với quy trình đơn giản Thậm chí nhiều người còn bất chấpluật pháp, lựa chọn việc đi xuất khẩu lao động “chui” Sau khi phát hiện bị lừathì họ đã mang trên mình một khoản nợ lớn, điều này sẽ gây cản trở rất lớnđến đời sống của người lao động Nhiều người thậm chí có thể vì vậy mà chánnản, lâm vào các tệ nạn xã hội Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến sự pháttriển của toàn xã hội
- Xuất khẩu lao động có thể gây ra những vấn đề tiêu cực cho xã hội ở nông
thôn như việc mất cân bằng giới tình Vì đại đa số tỷ lệ nam giới tham gia
xuất khẩu lao động nhiều hơn so với nữ giới Điều này dẫn đến tình trạng mộtgia đình sẽ thiếu đi một người con trai làm chỗ dựa cho ba mẹ, một ngườichăm sóc/chăm lo cho bố mẹ, một người anh chăm sóc/dạy dỗ cho các emmình, một người chồng và một người bố Những sự thiếu hụt trong gia đình
sẽ làm thiếu đi tình cảm gia đình, dễ dẫn tới những mâu thuẫn trong gia đìnhhay cộng đồng
- Người đi xuất khẩu lao động sẽ bị tổn thương về tinh thần Việc người lao
động từ một quốc gia này sang một quốc gia khác dễ dẫn đến tình trạng “bắtnạt” hay “phân biệt đối xử”, dù rằng nó không thường xuyên xảy ra nhưng nó
có thể luôn xuất hiện đối với bất kì ai đi xuất khẩu lao động Điều này sẽ dẫnđến người đi xuất khẩu lao động cảm thấy bị tự ti, buồn bã, chán nản hay nghĩđến những điều tồi tệ Bên cạnh đó, bản thân nhiều người lao động chưa nắm
Trang 17rõ chính sách về lương, bảo hiểm, nhà ở của nước mà họ đến làm việc và sựkhác biệt về ngôn ngữ/văn hóa đã hạn chế và gặp khó khăn nhiều đến việchiểu biết và chấp hành pháp luật tại nước họ đến làm việc Việc họ không thểhiểu rõ về những quyền, lợi ích hợp pháp của mình sẽ dễ bị vi phạm pháp luậttại đất nước đó Và không biết vận dụng luật pháp nước họ để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình Chính những điều này đã dẫn đến nhiều ngườixuất khẩu lao động có khuynh hướng sống khép kín hơn, cùng với việc phảisống xa gia đình trong môi trường hoàn toàn mới khiến họ dễ gặp các vấn đề
về tâm lý
2.2 Hình thức di dân ra các đô thị lớn.
2.2.1 Nguyên nhân của di cư
Di cư trong nước không phải là một hiện tượng mới trong xã hội ViệtNam mà đây là một phần của lịch sử Sau khi thống nhất đất nước năm 1975
đã có một sự di chuyển dân số lớn từ thành phố về các khu vực nông thôn Xuthế di cư này một phần là do chương trình tái định cư theo kế hoạch của Nhànước đưa cư dân thành phố về các khu vực kinh tế mới và một phần lý dokhác là người dân trở về nơi cư trú cũ của mình sau chiến tranh Kể từ nhữngnăm 1970 trở đi, các chương trình di chuyển có sự hỗ trợ của Nhà nước đưangười vào các khu kinh tế mới vẫn tiếp tục và tạo thành một loại hình di cưchính trong nước ở Việt Nam. Những năm 1990 chứng kiến sự thay đổi trongcác chính sách di cư có tổ chức của Chính phủ Các chương trình di cư khôngcòn tập trung vào các vùng kinh tế mới nữa mà chuyển sang các chương trìnhtái định cư lồng ghép với chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc và cácchương trình phục hồi ven biển.Tuy nhiên bên cạnh các chương trình di cưtheo kế hoạch của Chính phủ, trong giai đoạn này hiện tượng di dân tự dotrong nước cũng bắt đầu phát triển Những sự di chuyển này nằm ngoài kếhoạch của Nhà nước và liên quan tới tác động của chính sách Đổi Mới trongnhững năm 1980 và là điểm khởi đầu cho quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế
Trang 18tập trung sang nền kinh tế theo định hướng thị trường Những cải cách nàylàm giảm nhẹ một số điều kiện mà trước đây vẫn hạn chế sự di chuyển, cụ thể
là xóa bỏ hệ thống bao cấp liên quan chặt chẽ với việc đăng ký hộ khẩu của
hộ gia đình và bắt đầu áp dụng cơ chế khoán cho hộ gia đình Chính điều nàykhiến người nông dân không còn bị bó buộc với ruộng đồng nữa và đồng thờibắt đầu tạo nên thị trường đất đai, từ đó cho phép người dân linh hoạt hơn khi
di chuyển sau khi chuyển nhượng hoặc cho thuê lại đất đai của mình
Việc di cư trong nước có thể được phân chia thành nhiều giai đoạn Giaiđoạn đầu diễn ra trong các xã hội truyền thống trong đó quy mô di dân bị hạnchế Sau đó đến giai đoạn chuyển tiếp đặc trưng bởi sự ra tăng nhanh về mức
độ di dân ( đặc biệt là di dân nông thôn - đô thị) trong giai đoạn tiền côngnghiệp hoá Sau cùng, di dân ra đô thị đạt đến ngưỡng bão hoà ở các xã hộihiện đại, được thay thế bởi quá trình phi đô thị hoá với sự mở rộng các hìnhthái di chuyển quốc tế và đến các khu vực ngoại ô
Sự di chuyển dân số thường được lý thuyết hoá từ nhiều khu vực truyềnthống lan truyền sang khu vực hiện đại của nền kinh tế, nơi mức tiền lươngcao hơn nhiều hơn Trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng và đình đốn, cácdòng di dân lao động hướng vào khu vực kinh tế phi chính thức, Điều này xảy
ra ngay cả trong những quốc gia phát triển, ở đó các khu vực truyền thống vàhiện đại vẫn đan xen với nhau Cũng từ các tiếp cận kinh tế, người ta đã xemxét quá trình di dân từ hai phía là cung và cầu Sự tồn tại nhu cầu lao độngdịch vụ ở khu vực đầu đến là nguyên nhân dẫn đến sự ra tăng khả năng cungcấp lao động và dịch vụ thông qua di cư
Động lực dẫn đến di dân bị chi phối chủ yếu bởi các yếu tố kinh tế, vănhoá, xã hội ở những cấp độ khác nhau Sự chênh lệch về mức sống và cơ hộiphát triển giữa các vùng miền là nguyên nhân dẫn đến quá trình di dân ở cấp
độ vi mô, người di chuyển ra đi với hi vọng có được một cuộc sống tốt đẹphơn tại nơi ở mới Có 4 nhóm yếu tố cơ bản quyết định việc ra đi của người dicư: đó là những nhân tố cơ bản liên quan đến đầu đi, đầu đến, các trở lực