Trước những vấn đề đặt ra đối với hoạt động nhập khẩu ô tô cũng như ngành sản xuất ô tô Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của ho
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THU QUỲNH
TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ TỚI
NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THU QUỲNH
TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ
TíI NGµNH C¤NG NGHIÖP ¤ T¤ VIÖT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hê ̣ kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN ĐỨC VUI
Hà Nội - 2011
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 7
1.1 Cơ sở lý luận của hoạt động nhập khẩu 7
1.1.1 Khái niệm nhập khẩu 7
1.1.2 Vai trò, tác động của nhập khẩu hàng hóa tới đời sống kinh tế xã hội và tới ngành sản xuất trong nước 8
1.2 Các yếu tố tác động đến nhập khẩu ô tô 9
1.2.1 Sự thay đổi trong mức thu nhập và thị hiếu người tiêu dùng 9
1.2.2 Tự do lưu thông hàng hóa khi gia nhập WTO 13
1.2.3 Chính sách bảo hộ cao đối với ngành công nghiệp ô tô trong nước 14
1.3 Sự cần thiết của hoạt động nhập khẩu ô tô 14
1.3.1 Do thiếu hụt trong cung cầu ô tô trong nước 14
1.3.2 Góp phần thúc đẩy cạnh tranh trong nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa 17
1.3.3 Mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế 18
1.4 Kinh nghiệm nhập khẩu ô tô của một số quốc gia 19
1.4.1 Sự thiếu hụt trong cung cầu ô tô thế giới - nguyên nhân các quốc gia phải nhập khẩu ô tô 19
Trang 41.4.1.1 Cung ô tô thế giới 19
1.4.1.2 Tổng cầu và lượng ô tô tiêu thụ 22
1.4.1.3 Đánh giá cung cầu 24
1.4.2 Chính sách và thực trạng nhập khẩu ô tô của một số quốc gia 25
1.4.2.1 Mêxico 26
1.4.2.2 Malaysia 27
1.4.2.3 Hàn Quốc 30
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH, THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ CỦA VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG TỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM 34
2.1 Chính sách nhập khẩu ô tô của Việt Nam 34
2.2.1 Hàng rào thuế quan 34
2.1.2 Hàng rào phi thuế quan 40
2.1.2.1 Hàng rào kỹ thuật 40
2.1.2.2 Thủ tục hành chính quản lý ô tô nhập khẩu 43
2.2 Thực trạng hoạt động nhập khẩu ô tô của Việt Nam 45
2.2.1 Quy mô nhập khẩu 45
2.2.2 Cơ cấu nhập khẩu 46
2.2.3 Cơ cấu thị trường nhập khẩu 47
2.3 Tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam 49
2.3.1 Tổng quan ngành công nghiệp ô tô Việt Nam 49
2.3.1.1 Vị trí ngành ô tô Việt Nam trong khu vực và trên thế giới 49
2.3.1.2 Quy mô ngành 50
2.3.1.3 Năng lực sản xuất 53
2.3.2 Tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành 58
Trang 52.3.2.1 Đối với cơ cấu ngành 58
2.3.2.2 Đối với trình độ công nghệ của ngành 59
2.3.2.3 Đối với tỷ lệ nội địa hóa 60
2.3.2.4 Đối với cung cầu thị trường ô tô 62
2.3.2.5 Đối với các ngành công nghiệp phụ trợ 66
2.3.2.6 Đối với lao động trong ngành 68
2.3.2.7 Đối với vấn đề môi trường 69
2.3.2.8 Đối với cơ sở hạ tầng 70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM KHẮC PHỤC TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM 72
3.1 Dự báo nhu cầu ô tô của Việt Nam trong thời gian tới 72
3.2 Một số kiến nghị nhằm khắc phục những vấn đề tồn tại trong hoạt động nhập khẩu ô tô và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành 73
3.2.1 Đề xuất với Chính phủ 75
3.2.1.1 Tạo thị trường để các hãng ô tô mạnh dạn đầu tư 75
3.2.1.2 Khuyến khích thật sự công nghệ sản xuất linh kiện 76
3.2.1.3 Tăng cường hàng rào kỹ thuật với ô tô 77
3.2.1.4 Chấn chỉnh công tác quản lý nội bộ ngành 77
3.2.1.5 Sớm hoàn thiện và ban hành dự thảo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 78
3.2.1.6 Thay đổi quan điểm về cách hiểu “ngành công nghiệp ô tô Việt Nam” 79
3.2.1.7 Đề xuất dòng xe chiến lược 79
3.2.1.8 Xây dựng và phát triển công nghiệp phụ trợ ô tô 84
Trang 63.2.1.9 Định vị Việt Nam trong mạng lưới sản xuất ngành công nghiệp ô tô
khu vực ASEAN và Đông Á 85
3.2.1.10 Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giao thông 86
3.2.2 Đề xuất với doanh nghiệp nhập khẩu 88
3.2.2.1 Nghiêm chỉnh trong khai báo 88
3.2.2.2 Tăng cường sự hiểu biết về kỹ thuật và thủ tục 89
3.2.2.3 Nhập xe chất lượng tốt 89
3.2.2.4 Liên kết thành một khối thống nhất 90
3.2.3 Đề xuất với các doanh nghiệp trong ngành 90
3.2.3.1 Có kế hoạch nghiên cứu thị trường một cách nghiêm túc và tỷ mỷ 90 3.2.3.2 Đầu tư dây chuyền công nghệ để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh 91
3.2.3.3 Tăng cường công tác quảng cáo nhằm đẩy mạnh khối lượng sản phẩm tiêu thụ 91
3.2.3.4 Có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 93
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Organisation Tổ chức thương mại thế giới
3 ASEAN Asia South East Nation Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
4 AFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
5 AICO Asean Industrial
Cooperation Hợp tác công nghiệp ASEAN
6 FDI Foreign Direct
Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
7 CKD Complete knock-down Xe nguyên chiêc tháo rời,
100% linh kiện nhập khẩu
8 IKD Incompletely knocked
Down
Xe lắp ráp có một phần linh kiện nhập khẩu
9 CBU Complete Built-up Xe nguyên chiếc
10 USD United States Dollars Đô la Mỹ
11 VAMA VietNam Motors
Association Hiệp hội ô tô Việt Nam
14 SUV Sport Utility Vehicle Xe thể thao đa dụng, xe việt dã
15 MPV Multi Purpose Vehicle Xe đa dụng gia đình
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1.1 Xếp hạng 5 mẫu xe MPV/SUV và 5 mẫu xe du lịch 11 1.2 Bảng thống kê tổng số ô tô lưu hành trên cả nước 14 1.3 ổng lượng ô tô tiêu thụ trên cả nước (đơn vị: chiếc) 16 1.4 Sản lượng ô tô sản xuất của các quốc gia trên thế giới 19
1.5 Số xe trên 1.000 dân tại một số quốc gia trên thế giới năm
2.1 Các loại thuế áp dụng cho CBU & CKD theo thời kỳ 35
2.2 So sánh giá xe mới tại Việt Nam và nước sở tại tháng
2.3 Nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại 9 tháng đầu năm 2010 47 2.4 Thị trường nhập khẩu ôtô 9 tháng đầu năm 2009 48 2.5 Sản lượng ô tô các nước trong khu vực Châu Á 50
2.7 Các DN có vốn đầu tư nước ngoài lắp ráp ô tô ở Việt Nam
2.8 So sánh mục tiêu và thực hiện tỷ lệ nội địa hóa ô tô 61
2.10 Số lao động làm trong các doanh nghiệp 68 2.11 Thống kê số xe ô tô trên 1 km đường năm 2009 70
Trang 91.1 Doanh số các dòng xe phân theo khu vực địa lý 10
1.2 Sản lượng ô tô sản xuất trong nước của Malaysia qua các năm 29 2.1 So sánh giá xe ô tô (USD, tháng 11 năm 2003) 45 2.2 Tổng ô tô tiêu thụ trên cả nước theo từng thời kỳ 46
2.3 Thống kê số lượng các doanh nghiệp lắp ráp, sản xuất linh
2.4 Số lượng ô tô và linh phụ kiện năm 2009 57
2.6 Doanh số xe bán ra của VAMA năm 2008 - 2009 64
3.2 Bảng xếp hạng dịch vụ khách hàng năm 2009 93
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật, Chính phủ Việt Nam đã ưu tiên và tạo điều kiện rất lớn cho việc phát triển ngành công nghiệp ô tô với mong muốn đưa ngành công nghiệp ô tô trở thành ngành mũi nhọn vào năm 2020 Cụ thể, Nhà nước đã bảo hộ cho sản xuất ô tô trong nước thông qua việc ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu và thậm chí cả thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian tương đối dài Và một trong những thành quả của những nỗ lực ấy là sự ra đời của 16 liên doanh ô tô (VAMA) Tuy nhiên tính cho đến thời điểm hiện tại, công nghiệp ô tô Việt Nam chỉ mới dừng lại ở mức lắp ráp đơn thuần Việt Nam vẫn chưa sản xuất được linh kiện, phụ tùng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất lắp ráp các loại ô tô trong nước Bên cạnh đó giá xe ô tô ở Việt Nam thuộc vào dạng đắt nhất trên thế giới mà tỷ lệ nội địa hóa lại không cao Khi Việt Nam buộc phải cam kết dần mở cửa thị trường ô tô để trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), các nhà sản xuất và lắp ráp ô tô trong nước phải đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn, người tiêu dùng có thêm sự lựa chọn cho mình với kỳ vọng về giá cả và chất lượng nhất là khi so sánh với các loại
xe do doanh nghiệp trong nước sản xuất, lắp ráp Nhưng kết quả là, ô tô nhập khẩu vẫn gặp chính sách hạn chế lượng ô tô nhập khẩu do Bộ Tài chính, Bộ Công Thương đề ra, đặc biệt gần đây là việc tăng thuế đối với dòng xe ôtô nhập khẩu nguyên chiếc dưới 16 chỗ ngồi, trong khi các doanh nghiệp ô tô trong nước lại coi
đó là thời cơ để tiếp tục chiếm lĩnh thị trường với việc đưa ra mức giá ngất ngưởng
Do đó, những nỗ lực của Nhà nước đã không đạt được mục đích đề ra là tạo cạnh tranh, thúc đẩy ngành sản xuất trong nước phát triển và giá cả vẫn là vấn đề nhức nhối, người tiêu dùng vẫn là những người chịu gánh nặng về thuế và tài chính
Để có thể dần từng bước đưa nền công nghiệp ô tô của Việt Nam hòa vào xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tăng khả năng cạnh tranh của ô tô trong nước so với ô
Trang 11tô ngoại nhập, nhằm đạt được mục tiêu dài hạn là đưa ngành công nghiệp ô tô trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời bảo vệ được lợi ích người tiêu dùng Việt Nam, việc nghiên cứu tác động và sức ép của hoạt động nhập khẩu ô tô đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là vô cùng cấp thiết Nắm bắt được cơ chế, xu thế
và mức độ tác động đó, chúng ta sẽ thấy rõ những tồn tại trong hoạt động nhập khẩu
ô tô hiện nay và những sai lầm trong chính sách bảo hộ ngành công nghiệp ô tô non trẻ của mình Từ đó dần tìm ra những giải pháp phù hợp để dần khắc phục những hạn chế trong nhập khẩu và thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô trong nước phát triển Trước những vấn đề đặt ra đối với hoạt động nhập khẩu ô tô cũng như ngành sản xuất ô tô Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam” Với đề tài này, tác giả đã đi sâu phân tích và giải quyết được ba vấn đề đặt ra:
- Các yếu tố tác động đến hoạt động nhập khẩu ô tô
- Hoạt động nhập khẩu ôtô và tác động đến ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam
- Định hướng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu
Các công trình, đề tài khoa học về nhập khẩu ô tô chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam Một số nghiên cứu về nhập khẩu ô tô và ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thời gian gần đây điển hình như sau:
1 Kenichi Ohno – Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) và Viện nghiên cứu Chính sách quốc gia Nhật Bản, Mai Thế Cường - Diễn đàn Phát triển Việt
Nam (VDF) và Đại học Kinh tế Quốc Dân (NEU), Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam – Những việc cần làm để triển khai thực hiện Quy hoạch ngành:
rà soát lại quy hoạch phát triển ngành ô tô Việt Nam đến năm 2020 và nêu
Trang 12ra một số tồn tại cần xem xét khi thực hiện sửa đổi quy hoạch ngành trong tương lai Đề tài đã nêu ra được rất nhiều yếu tố tác động đến ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, tuy nhiên chưa phân tích sâu sát về ảnh hưởng của hoạt động nhập khẩu ô tô
2 Nguyễn Thị Phương Anh (2007), Hoạt động nhập khẩu ô tô cũ và tác động của nó tới nền sản xuất ô tô của Việt Nam: nêu bật được bức tranh
thực trạng hoạt động nhập khẩu ô tô cũ giai đoạn trước năm 2007, và phác thảo đôi nét về tác động tích cực và tiêu cực của chính sách nhập khẩu ô tô
cũ đến các doanh nghiệp sản xuất/ lắp ráp và thị trường ô tô trong nước Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả mới chỉ dừng ở các con số năm 2006 trở
về trước Trong khi các chính sách đó tới nay đã thay đổi rất nhiều lần Thêm vào đó, luận văn cũng mới chỉ nghiên cứu lĩnh vực nhập khẩu ô tô
cũ, chứ không nhắc đến lĩnh vực nhập khẩu ô tô nói chung
Ngoài ra, trên thế giới, đặc biệt là tại một số quốc gia có nền công nghiệp ô tô phát triển, hướng về xuất khẩu (như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Singapore …) hoặc một số nước nhập khẩu ô tô với số lượng lớn (như Mexico, Hàn Quốc, Malaysia …), khá nhiều công trình đã đề cập đến vấn đề nhập khẩu ô tô cũng như ngành công nghiệp ô tô của các quốc gia này Tác giả xin đưa ra một số nghiên cứu điển hình sau đây:
3 Biswajit Nag, Saikat Banerjee, Rittwik Chatterjee, Changing Features of the Automobile Industry in Asia: Comparison of Production, Trade and Market Structure in Selected Countries, Asia-Pacific Research and
Training Network on Trade, Working Paper Series, No 37: cho thấy quá trình phát triển ngành công nghiệp ô tô tại một số quốc gia Châu Á điển hình như: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan v.v và so sánh chính sách thương mại đối với sản phẩm này giữa các quốc gia với nhau
4 Ted Chu, Alejandro Delgado (2009), “Used Vehicle Imports Impact on
New Vehicle Sales: The Mexican Case”, Análisis Económico, Núm 55,
Trang 13vol XXIV: giúp định lượng được mức độ ảnh hưởng của việc nhập khẩu
xe cũ tới số lượng xe mới cần cung ứng cho thị trường thông qua việc xây dựng một mô hình dự báo số lượng xe mới cần sản xuất bao gồm biến số độc lập ( là giá cả, độ tuổi và số lượng xe đã qua sử dụng nhập khẩu) và một loạt các biến số phụ thuộc như GDP, lãi suất, lạm phát, tỷ giá v.v , vận dụng cho trường hợp Ba Lan Dựa trên mô hình này, phát triển thành
mô hình tính toán bằng công thức phức tạp hơn, vận dụng cho trường hợp của Mexico
5 Rodolfo LACY (2009), The Challenge of Used Car Imports and Retiring Old Vehicles in Mexico, Centro mario Molina: cho thấy tình trạng nhập
khẩu ô tô cũ với số lượng lớn từ Mỹ vào Mexico gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và gây áp lực lớn lên nền sản xuất ô tô trong nước Hiện tại, số lượng ô tô đã qua sử dụng tai Mexico lớn hơn nhiều so với xe mới
6 Timothy J Sturgeon (1998), The automotive industry in Vietnam: Prospects for development in a globalizing economy, Massachusetts
Institute of Technology: cho thấy toàn cảnh ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 1998 và chính sách của chính phủ Việt Nam hướng vào việc bảo hộ ngành công nghiệp ô tô non trẻ của mình trong bối cảnh toàn cầu hóa Tuy nhiên bài viết cũng không hề đi vào phân tích tác động của riêng việc nhập khẩu ô tô tới ngành này
Như vậy, cho đến nay cũng đã có mô ̣t số đề tài đề cập đến vấn đề nhập khẩu ô
tô và nghiên cứu ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành công nghiệp non trẻ này cho tới thời điểm hiện tại Chỉ có một số rất ít đề tài có đề cập đến khía cạnh này, song gần nhất cũng mới chỉ nghiên cứu đến năm 2006 Do
đó, trong quá trình thực hiện đề tài, để đảm bảo số liê ̣u được câ ̣p nhâ ̣t theo những quy đi ̣nh hiê ̣n hành, rút kinh nghiệm từ những đề tài trước đó đã nghiên cứu, tác giả
Trang 14sẽ sử dụng những số liệu cũng như văn bản , chính sách mới nhất về hoạt động nhập khẩu ô tô cũng như những tác động của nó tới ngành công nghiệp ô tô trong nước
3 Mục đích & nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ cơ sở của hoạt động nhập khẩu ô tô, tìm ra cơ chế, quy mô và mức độ tác động của nó tới ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam
Từ đó đưa ra đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực, nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng một ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phát triển bền vững
Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, phân tích một số yếu tố tác động đến hoạt động nhập khẩu ô tô; Tổng hơ ̣p cung cầu nhập khẩu ô tô trên thế giới, để từ đó trả lời được câu hỏi tại sao các quốc gia lại phải nhập khẩu ô tô; xem xét phương pháp quản lý nhập khẩu của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút kinh nghiệm cho Việt Nam
- Nghiên cứu, đánh giá thực tra ̣ng hoa ̣t đô ̣ng nhâ ̣p khẩu ô tô và tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành này, từ đó rút ra giải pháp khắc phục những tồn tại trong hoạt động nhập khẩu và định hướng phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động nhập khẩu ô tô và tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành công nghiệp này
Phạm vi nghiên cứu: thị trường ô tô của Việt Nam bắt đầu từ khi ngành công nghiệp ô tô Việt Nam ra đời (năm 1991) cho đến nay Ngoài ra, luận văn có tham khảo một số thị trường ô tô nhập khẩu trên thế giới như Mêxico, Hàn Quốc, Malaysia nhằm cung cấp cho người đọc cách tiếp cận sâu rộng hơn về hoạt động nhập khẩu ô tô cũng như tác động của nó tới ngành công nghiệp ô tô Viêt Nam, đồng thời đúc rút được những kinh nghiệm quý báu trong con đường xây dựng và phát triển ngành công nghiệp ô tô quan trọng của nước mình
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp chặt chẽ với nhau theo kết cấu logic Cụ thể, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin, tổng hợp, chọn lọc, thống kê và phân tích số liệu để có kết quả là
hệ thống những số liệu đáng tin cậy, phù hợp để minh chứng cho các luận cứ được trình bày trong luận văn Bên cạnh đó, tác giả còn áp dụng phương pháp so sánh, đối chiếu một số thông tin giữa các quốc gia với nhau Khi có đủ các số liệu cần thiết, tác giả còn thực hiện mô hình hóa, sơ đồ hóa các số liệu này để người đọc có được cái nhìn tổng quan hơn Ngoài ra, phương pháp giả thuyết cũng là một công cụ không thể thiếu được sử dụng trong luận văn, nhằm đưa ra được những kịch bản về những dòng xe chiến lược mà Việt Nam có thể áp dụng
6 Như ̃ng đóng góp mới của luâ ̣n văn
Phân tích các chính sách mới và mức độ tác động của hoạt động nhập khẩu ô
tô đối với ngành công nghiệp ô tô
Đưa ra đươ ̣c các đề xuất giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động nhập khẩu ô tô, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành công nghiệp ô tô trong nước
7 Kết cấu, nô ̣i dung luâ ̣n văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cung cầu, chính sách và thực trạng nhập nhẩu ô tô của một số quốc gia trên thế giới
- Chương 2: Chính sách, thực trạng hoạt động nhập khẩu ô tô của Việt Nam
và tác động tới ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
- Chương 3: Định hướng phát triển và một số kiến nghị nhằm khắc phục tồn tại trong hoạt động nhập khẩu ô tô và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC
GIA TRÊN THẾ GIỚI
1.1 Cơ sở lý luận của hoạt động nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm nhập khẩu
Xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế Nó không phải là những hành vi mua bán riêng lẻ mà
là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân Do đó xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh tế đối ngoại dễ đem lại những hiệu quả đột biến rất cao, hoặc có thể gây thiệt hại vì nó phải đương đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể tham gia nhập khẩu không dễ dàng khống chế được
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là để nhập về hàng hoá mà nếu sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu
Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển nền kinh tế trong nước, trong đó cân đối trực tiếp
ba yếu tố sản xuất: Công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động đóng vai trò quan trọng nhất
Trang 171.1.2 Vai trò, tác động của nhập khẩu hàng hóa tới đời sống kinh tế xã hội
và tới ngành sản xuất trong nước
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay của nước ta vai trò quan trọng của nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Đối với ngành sản xuất trong nước
Nhập khẩu cũng tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại tức
là tạo ra động lực buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, thúc đẩy sản xuất trong nước Tính cạnh tranh này được thể hiện qua giá cả hàng hóa, mẫu mã chủng loại cũng như chất lượng của hàng hóa Những yếu tố đó sẽ được người tiêu dùng cân nhắc so sánh
để lựa chọn tiêu dùng hàng nội hay hàng ngoại nhập
Đối với trình độ công nghệ của ngành: Nhập khẩu giúp tăng cường sự chuyển giao công nghệ, tạo ra sự phát triển vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm được chi phí và thời gian, giúp cho các doanh nghiệp trong ngành tiếp thu được trình độ công nghệ tiên tiến từ nước ngoài
và áp dụng để phát triển sản xuất trong nước
Đối với lao động trong ngành: tác động của nhập khẩu đối với lao động trong ngành sản xuất trong nước được thể hiện theo 2 chiều: giúp tăng tỷ lệ lao động có tay nghề, trình độ và giảm bớt lao động giản đơn
- Đối với đời sống xã hội
Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hoá đất nước
Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển nền kinh tế cân đối và ổn định
Trang 18 Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân Nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động
Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy sản xuất, thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài
Nhập khẩu tăng khả năng tiêu dùng, đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, qui cách, cho phép thoả mãn tốt hơn nhu cầu trong nước
1.2 Các yếu tố tác động đến nhập khẩu ô tô
1.2.1 Sự thay đổi trong mức thu nhập và thị hiếu người tiêu dùng
Trong thời gian đầu phát triển kinh tế, thu nhập của người dân Việt Nam còn thấp, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, do đó vai trò của ô tô thời gian này chỉ đơn thuần là một phương tiện vận tải, và ngành sản xuất ô tô cũng chỉ dừng lại ở mức lắp ráp đơn giản Nhưng trước tốc độ phát triển ngày càng nhanh của nền kinh
tế, thu nhập người dân ngày càng tăng cao, đời sống người tiêu dùng Việt Nam cũng ngày càng được cải thiện, thì mỗi người đều muốn sở hữu một chiếc ô tô cho riêng mình, vừa để đáp ứng nhu cầu đi lại, vừa là một cách để thể hiện cá tính riêng
Do đó, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng xe nhập ngoại là điều tất yếu Một mặt do các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu ngày một khó tính của khách hàng, về mẫu mã và độ bền của sản phẩm Thứ hai là do nhiều dòng xe nhập ngoại vốn đã nổi tiếng từ lâu trên thị trường thế giới về kiểu dáng đa dạng phong phú và chất lượng cao Đặc biệt trong năm 2010, các dòng xe Hàn Quốc nhập khẩu bùng nổ trên thị trường Việt Nam Các model xe mới nhất của Huyndai, Kia với kiểu dáng thời trang, tiện nghi đầy đủ và giá thành hợp lý đã thổi cơn gió mới vào tâm lý và thói quen mua ô tô đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt Nam Với người tiêu dùng ngày nay, đặc biệt là giới trẻ, xe hơi là phương tiện giao thông cao cấp, chứ không phải là tài sản cả cuộc đời như trước
Trang 19đây Do nhu cầu công việc, cộng thêm mong muốn thể hiện mình, họ chọn lựa những mẫu xe hợp với khả năng tài chính trong thời điểm hiện tại và lên kế hoạch đổi xe mới trong vài năm tới Và xe nhập khẩu từ Hàn Quốc đã đáp ứng được nhu cầu đó Mặc dù có nhiều dòng xe của Hàn Quốc, Nhật cũng đã được liên doanh lắp ráp tại Việt Nam, tuy nhiên các dòng xe nhập khẩu nguyên chiếc vẫn được yêu thích hơn cả Bởi xe nội không nhiều mẫu mã thời trang như xe nhập Hàn Quốc, không bền bỉ như xe Nhật, không phong cách mạnh mẽ như xe Mỹ, không đẳng cấp tiện nghi được như xe Đức Đó chính là lý do nhiều người tiêu dùng vẫn chuộng các dòng xe nhập ngoại hơn
Tại Việt Nam hiện nay, các dòng xe đa dụng gia đình/xe việt dã (MPV/SUV)
là dòng xe bán chạy nhất, tổng doanh số bán ra năm 2010 đạt hơn 33 nghìn xe (trung bình gần 3.000 xe/tháng) Tiếp đến là dòng xe du lịch với doanh số 24 nghìn
Trang 20USD được ưa chuộng nhất Trong đó, dòng xe Toyota Innova đạt doanh số bán cao nhất trong nước
Bảng 1 1: Xếp hạng 5 mẫu xe MPV/SUV và 5 mẫu xe du lịch
Trang 21BMW Lamboghini
Hình 1 1: Các loại xe hạng sang đang được ưa chuộng hiện nay
Nguồn: www.vietbao.vn
Theo thống kê, trong năm 2007 Việt Nam có tới 5 chiếc Phantom được nhập
về trong khi tại Thái Lan không có chiếc xe nào còn Philipine có 2 chiếc Đến tháng 7/2008 tại Việt Nam hiện đã có 15 xe Rolls-Royce Phantom, hơn 20 chiếc Bentley
và BMW X6 xuất hiện ở thị trường Mỹ cuối tháng 4/2008 thì đầu tháng 7/2008 đã
có ở Việt Nam tới 7 chiếc
Trang 221.2.2 Tự do lưu thông hàng hóa khi gia nhập WTO
Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải tham gia một loạt các cam kết quốc tế, trong đó không ngoại trừ cam kết mở cửa cho ô tô nhập khẩu xâm nhập vào thị trường nội địa thông qua một loạt các chính sách như: cắt giảm thuế nhập khẩu, cho phép nhập khẩu ô tô cũ, bãi bỏ các chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước Do đó, cạnh tranh trong ngành này được dự báo sẽ gay gắt hơn (cả về chủng loại, chất lượng và giá…) dẫn đến việc nhập khẩu ô tô sẽ giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn về chủng loại, chất lượng và giả cả Tuy nhiên, điều này sẽ không đến ngay lập tức do lộ trình mở cửa ngành này tương đối dài
Không chỉ cam kết giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong khuôn khổ WTO, Việt Nam còn tham gia các cam kết tự do hóa thương mại khu vực, mà theo đó, mức cắt giảm còn lớn hơn so với cam kết WTO, bao gồm:
Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (CEPT/AFTA): Các loại xe ô tô chở người 10 chỗ trở lên và xe tải đều đã được cắt giảm xuống mức 5% từ năm 2006 Riêng loại xe chở người 9 chỗ ngồi trở xuống sẽ giảm xuống 0% vào năm 2018
Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA): Đối với xe chở người theo lộ trình cắt giảm xuống mức 50% năm
2018 Xe được thiết kế đặc biệt (đi trên tuyết, xe chơi gôn) đã được cắt giảm xuống 50% vào năm 2006 Xe tải dưới 5 tấn sẽ được cắt giảm xuống 45% năm 2014 Xe tải từ 5 đến 10 tấn sẽ cắt giảm xuống 30% năm 2012
Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA): Hầu hết các loại xe ô tô được đưa vào danh mục không phải giảm thuế Đối với các loại xe thiết kế đặc biệt như xe chở rác, xe đông lạnh, cam kết cắt giảm xuống 0% vào năm 2016
Trang 231.2.3 Chính sách bảo hộ cao đối với ngành công nghiệp ô tô trong nước
Cho tới nay, Chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều chính sách nhằm hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô trong nước, từ chính sách thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc
và linh kiện ô tô, chính sách huy động vốn, chính sách công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực Đặc biệt là chính sách thuế nhập khẩu đã góp phần rất lớn trong việc hạn chế hoạt động nhập khẩu ô tô vào Việt Nam, khiến cho giá bán ô tô nhập khẩu cao hơn rất nhiều so với giá bán tại nước sở tại Tác giả sẽ đi sâu phân tích chính sách này trong Chương 2 của Luận văn
1.3 Sự cần thiết của hoạt động nhập khẩu ô tô
1.3.1 Do thiếu hụt trong cung cầu ô tô trong nước
Trước năm 1975, nguồn cung cho thị trường ô tô trong nước hoàn toàn dựa vào việc nhập khẩu từ nước ngoài Cho đến năm 1991, ngành công nghiệp ô tô bắt đầu khởi sắc và góp phần vào giải quyết phần nào nhu cầu sử dụng ô tô, nhưng vẫn không thể nào thay thế hoàn toàn việc nhập khẩu xe
Bảng 1 2: Bảng thống kê tổng số ô tô lưu hành trên cả nước
Trang 24Năm Tổng số (xe) Tăng hàng năm (xe) Tốc độ tăng (%)
Nguồn: Ủy ban an toàn giao thông quốc gia và Hiệp hội VAMA
Như vậy, có thể thấy nhu cầu sử dụng ô tô của nước ta khá cao và gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây Theo dự báo đến năm 2020, nhu cầu đi lại tại 2 thành phố lớn nhất cả nước là Hà Nội và Hồ Chí Minh tăng gấp 3 lần năm
2010 Xe dưới 9 chỗ được dự báo sẽ tiếp tục giữ vị trí đầu trong giai đoạn tới Lý do chính là do sự tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định của đất nước Kể từ khi luật doanh nghiệp có hiệu lực cho tới nay, thành phần kinh tế tư nhân phát triển mạnh tạo ra lượng cầu lớn đối với vận tải hàng hóa đồng thời nhu cầu sử dụng ô tô con của các doanh nghiệp cũng rất lớn Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh dẫn tới sự gia tăng của các sản phẩm công nghiệp Đây cũng là một yếu tố làm tăng lượng cầu vận tải hàng hóa bằng đường bộ Việc sản xuất tập trung theo từng vùng, vậy nên việc phân phối các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp cho thị trường trong và ngoài nước cũng đòi hỏi sự hỗ trợ đắc lực của vận tải đường bộ
Trang 25Hơn nữa, những năm gần đây chính phủ quan tâm đầu tư mạnh vào phát triển cơ sở
hạ tầng của giao thông đường bộ (chủ yếu là nâng cấp các tuyến đường cũ), thêm vào đó là mức sống trung bình của người dân dần được cải thiện Những nguyên nhân trên càng kích thích sự gia tăng số lượng ô tô
Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước chưa thể đáp ứng được nhu cầu về ô tô của cả nước, do vậy chính phủ một mặt khuyến khích sản xuất, lắp ráp xe trong nước, một mặt có cơ chế định hướng việc nhập khẩu các chủng loại ô tô
Bảng 1 3: Tổng lượng ô tô tiêu thụ trên cả nước (đơn vị: chiếc)
5 tháng đầu năm
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam
Hiện nay, lượng ô tô sản xuất trong nước (gồm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) đã đáp ứng 68% nhu cầu ô tô, trong đó dòng xe trên 10 chỗ đáp ứng với tỷ lệ áp đảo gần 95% và xe tải khoảng 77% Còn dòng xe đến 9 chỗ sản xuất trong nước mới đáp ứng khoảng 64%, xe chuyên dụng và xe khác chưa đạt 10% 5 tháng đầu năm 2011, sản lượng của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam đạt 44.966 xe, trong khi xe nhập khẩu
là 26.900 chiếc Như vậy việc nhập khẩu ô tô với xu hướng ngày càng tăng trong
Trang 26những năm gần đây đã đóng góp một phần không nhỏ đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Việt Nam
1.3.2 Góp phần thúc đẩy cạnh tranh trong nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
Về mặt lý thuyết, việc nhập khẩu ô tô nước ngoài với tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng cao hơn hẳn xe được lắp ráp tại Việt Nam sẽ là một động lực lớn thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tích cực cải tiến công nghệ, nâng cao kỹ năng quản lý và kỹ năng vận hành của các đội ngũ lao động, từ đó giúp ngành công nghiệp ô tô còn non trẻ của Việt Nam phát triển nhanh hơn, hội nhập cùng với các quốc gia tiên tiến trên toàn thế giới Tuy nhiên trên thực tế, động lực này đã gần như
bị triệt tiêu và đi ngược với mục đích ban đầu của nó Nguyên nhân là do hàng rào bảo hộ của Nhà nước đối với các doanh nghiệp trong nước được dựng lên quá cao, làm mất đi động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành này
Bên cạnh đó, phát triển công nghệ là một trong những mục tiêu quan trọng của ngoại thương Đây vừa là mục tiêu trước mắt vừa là mục tiêu lâu dài của quá trình công nghiệp hóa Trong điều kiện hiện nay, nền công nghiệp trong nước còn yếu, trình độ thấp, chúng ta không có cách nào tốt hơn là cần thực hiện một quá trình chuyển giao công nghệ từ ngoài vào, qua con đường ngoại thương để tranh thủ công nghệ mới của nước ngoài, áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể nước ta
Nhìn lại chặng đường khôi phục, xây dựng và phát triển kinh tế trong mấy thập niên vừa qua chúng ta thấy rõ được vai trò của khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế Sau chiến tranh, cơ sở vật chất kỹ thuật hết sức thiếu thốn, nghèo nàn, chỉ có một số nhà máy lớn đầu ngành là có máy móc sản xuất công nghiệp Năng suất lao động thấp, không khai thác được tiềm năng của con người và tự nhiên, cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Đặc biệt là ngành công nghiệp sản xuất ô tô hầu như không có Nguồn cung duy nhất của thị trường trong nước là các nhà sản xuất nước ngoài Đứng trước tình hình đó, ta chủ trương nhập khẩu một số loại ô tô mà phần lớn là ô tô đã qua sử dụng, linh kiện phụ
Trang 27tùng sản xuất ô tô để phục vụ cho công cuộc cải tiến nền sản xuất trong nước theo hướng công nghiệp hóa Việc nhập khẩu nhằm hai mục tiêu:
- Thứ nhất, nhập khẩu ô tô, linh kiện phụ tùng sản xuất ô tô phục vụ cho
sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao chất lượng phục vụ ngành vận tải, và các ngành có liên quan
- Thứ hai, Nhập khẩu ô tô, linh kiện phụ tùng sản xuất ô tô đặc biệt là các
loại xe chuyên dùng để phát triển ngành cơ khí, ngành giao thông vận tải
từ đó, sản xuất, vận chuyển các công cụ, dụng cụ, máy móc phục vụ cho quá trình cơ giới hóa nông nghiệp nông thôn
Có thể nói, việc nhập khẩu các loại xe chuyên dụng (mà chủ yếu là xe đã qua
sử dụng) đã làm cho năng suất và chất lượng sản xuất của một số ngành tăng lên đáng kể như ngành xây dựng, kiến trúc, xây dựng cơ sở hạ tầng, nông nghiệp nông thôn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế Nhìn chung, tác động của nhập khẩu ô tô tới quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa mang tính chất xâu chuỗi, sự phát triển của lĩnh vực này kéo theo sự phát triển của lĩnh vực khác
Nhờ nhập khẩu ô tô có chọn lọc về chất lượng và giá cả đã nâng cao được chất lượng của những loại xe cung cấp trên thị trường, từ đó tiết kiệm được thời gian và chi phí vận chuyển Điều này góp phần tích cực vào việc làm cho hàng hóa được bày bán trên thị trường được phong phú, đa dạng, giá cả phải chăng tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân có thể mua hàng hóa phù hợp với túi tiền của mình để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống
1.3.3 Mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
Chiến lược “mở cửa kinh tế” là một trong những chiến lược kinh tế đối ngoại của nước ta, thực chất là mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại Chúng ta thấy rõ
Trang 28rằng ngoại thương và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác có tác động quan hệ phụ thuộc qua lại lẫn nhau Hoạt động nhập khẩu thúc đẩy các hoạt động ngoại thương cũng như các hoạt động kinh tế đối ngoại khác phát triển Chẳng hạn nhập khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng quan hệ vận tải quốc tế mặt khác các quan hệ này lại tạo tiền đề cho việc mở rộng sản xuất trong nước Ô tô cũng là một trong những mặt hàng được nhập khẩu ngày càng nhiều ở nước ta hiện nay, vì thế hoạt động nhập khẩu mặt hàng này cũng đóng góp không nhỏ vào thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển
Việt Nam cũng như bao nước khác không thể nằm ngoài xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế Vì thế việc thực hiện lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô là những việc làm cần thiết, phù hợp với các cam kết trong APTA, AICO và WTO
1.4 Kinh nghiệm nhập khẩu ô tô của một số quốc gia
1.4.1 Sự thiếu hụt trong cung cầu ô tô thế giới - nguyên nhân các quốc gia phải nhập khẩu ô tô
1.4.1.1 Cung ô tô thế giới
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2007 sản lượng ô tô toàn cầu đã tăng 12,6%
- một mức tăng chưa phải là cao trong một khoảng thời gian dài Sau 2 năm đầy biến cố 2008 – 2009 ngành công nghiệp ô tô toàn cầu lại có những dấu hiệu phục hồi với con số 70,4 triệu ô tô năm 2010 (tăng trưởng 10%) Năm 2011 ngành công nghiệp này lại được dự báo tăng trưởng 7,1% Đây là những dấu hiệu tốt cho thấy ngành công nghiệp ô tô trên thế giới đang nỗ lực đáp ứng nhu cầu về ô tô ngày càng tăng của người tiêu dùng toàn cầu
Bảng 1 4: Sản lượng ô tô sản xuất của các quốc gia trên thế giới
Đơn vị: Chiếc
Trang 29Trong số các quốc gia có ngành sản xuất ô tô phát triển, Nhật Bản là quốc gia
đã vươn lên dẫn đầu về sản lượng ô tô sản xuất ra và duy trì được vị thế trong 2 năm
2008 - 2009 Đặc biệt, sản lượng xuất khẩu của Nhật Bản đạt 4,37 triệu xe trong 11 tháng đầu năm 2010 Tuy nhiên sau thảm họa động đất tháng 3/2011 vừa qua tại Nhật Bản, nguồn cung cấp linh kiện và các bộ phận lắp ráp ô tô từ các công ty ở Nhật Bản đã bị gián đoạn một thời gian Công ty IHS Automotive cho rằng sự gián đoạn nếu cứ tiếp tục kéo dài sẽ có thể khiến ngành ô tô toàn cầu giảm tới 35% sản lượng, nếu nguồn cung cấp linh kiện và phụ tùng từ Nhật bị gián đoạn trong vòng
12 tuần thì sản lượng ô tô toàn cầu sẽ giảm mất gần 5 triệu xe Trong khi đó, sản lượng của Nhật Bản chiếm 13% tổng nguồn cung ô tô toàn cầu Đồng thời, họ cũng
là nguồn cung hơn 15% linh kiện điện tử cho ngành ô tô toàn cầu, và hơn 60%xi silicon Cũng vì biến cố này mà General Motors đang có cơ hội giành lại danh hiệu nhà sản xuất ôtô lớn nhất thế giới, vị trí mà họ để rơi vào tay Toyota khi thị trường khủng hoảng năm 2008 Năm ngoái, GM gần như đã đuổi kịp Toyota, khi chỉ bán ít hơn 28.000 xe
Trang 30Hình 1 2: Xu hướng chiếm lĩnh thị trường ô tô thế giới năm 2011
của các hãng ô tô hàng đầu
Nguồn: www.vietbao.vn
Theo Automotive News, những tháng đầu 2011, thị trường ôtô thế giới đảo ngược hoàn toàn Trải qua bao sóng gió, ôtô Mỹ dần phục hồi, trong khi Nhật Bản không thể khai thác tiếp ngành công nghiệp bởi gần như toàn bộ hệ thống sản xuất
bị sụp đổ theo trận động đất vào tháng 3
Năm 2009, Trung Quốc từ một quốc gia với sản lượng ô tô sản xuất chỉ đứng hàng thứ 3, 4 thế giới đã vượt qua Nhật Bản vươn lên thành nước sản xuất ô tô nhiều nhất thế giới (gần 14 triệu chiếc) Tuy nhiên, lượng xe xuất khẩu của Trung Quốc lại rất khiêm tốn Năm 2010, Trung Quốc đã xuất khẩu 544.900 chiếc ô tô, một con số quá nhỏ so với những nước sản xuất ô tô lớn như Nhật Bản, Đức và Hàn Quốc, thấp hơn cả các thị trường ô tô đang phát triển khác như Ấn Độ và Brazil Trong tổng số 544.900 chiếc ô tô xuất khẩu của Trung Quốc năm 2010 vừa qua có 282.900 xe du lịch và 261.900 xe thương mại, tức là tương đương nhau về số lượng Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu xe du lịch chỉ đạt 1,66 tỷ USD, trong khi xe thương
Trang 31mại đạt 4,75 tỷ USD Vướng mắc lớn của các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc khi xuất khẩu là bị chấm điểm trong trong các bài kiểm tra an toàn của xe tại châu Âu (tiêu chuẩn ADAC), khiến ô tô Trung Quốc thường xuyên bị giễu là chất lượng kém Tại Trung Đông và châu Phi, ô tô Trung Quốc đã được thị trường chấp nhận, nhưng lại không tạo được chỗ đứng do không đủ phụ tùng thay thế cung cấp cho khách hàng và chất lượng dịch vụ kém
Tổng xuất khẩu ô tô năm 2010 của Đức đạt 4,24 triệu xe, với tỷ lệ xuất khẩu đạt 76,29% sản lượng Hàn Quốc xuất khẩu được 2,77 triệu xe năm 2010
Xuất khẩu ô tô của Ấn Độ khá ổn định ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng Năm tài chính 2009-2010 (tính từ tháng 4/2009 đến hết tháng 3/2010), Ấn Độ xuất khẩu được 1,8 triệu chiếc ô tô, tăng 17,9% so với năm trước Theo dự báo chính thức, xuất khẩu ô tô của nước này trong năm tài chính 2010-2011 sẽ tăng 10-15%
Tỷ lệ xuất khẩu trên sản lượng ô tô của Ấn Độ đã tăng từ mức 6,63% của năm tài chính 2003-04 lên 12,84% trong năm 2009-10
1.4.1.2 Tổng cầu và lượng ô tô tiêu thụ
Cho đến ngày nay, tùy theo từng giai đoạn phát triển, thị trường ô tô vẫn tiếp tục phát triển theo những hướng khác nhau cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô ở mỗi quốc gia Sự khác biệt thể hiện rõ nét nhất giữa các nước phát triển và các quốc gia đang phát triển Theo thông tin của Hiệp hội sản xuất ô tô Nhật Bản (JAMA), từ năm 2000 đến năm 2005, thị trường ô tô thế giới chỉ tăng bình quân hàng năm là 2% trong đó các nước Châu Âu không tăng, Nhật và Mỹ tăng ít còn các nước Châu á tăng 7% và Nam Mỹ tăng 5% Thị trường ô tô ở các nước phát triển từ gần như bão hòa về ô tô phổ thông với chức năng đơn thuần là phương tiện
đi lại, bắt đầu chuyển sang phát triển các sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật công nghệ cao, mẫu mã thời trang, có các tính năng đặc biệt
Trong khi đó, thị trường Trung Quốc, ấn Độ và ASEAN về lâu dài có tiềm năng lớn do mật độ xe/1.000 dân còn rất thấp so với các nước Châu Âu, Mỹ, Nhật
Là khu vực tập trung đông dân cư nhất thế giới nhưng tỉ lệ sử dụng xe còn rất thấp
Trang 32do thu nhập của người dân còn thấp, trung bình trên 10 xe/1.000 người; Tuy nhiên, khi chất lượng cuộc sống đang ngày một được cải thiện nhanh chóng tại các quốc gia này nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc, đây quả là miền đất hứa cho các nhà sản xuất xe biết tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu tại các thị trường này Đặc biệt, ở Trung Quốc, năm 2010 đánh dấu một năm xuất khẩu xe hơi ảm đạm nhưng lại là năm cho thấy đây là thị trường tiêu thụ xe hơi lớn nhất thế giới, vượt qua cả Mỹ và Nhật Bản với doanh số 18,06 triệu xe trong năm 2010, đạt mức tăng trưởng hơn 32% so với năm 2009
Bảng 1.5: Số xe trên 1.000 dân tại một số quốc gia trên thế giới năm 2009
Stt Tên nước Số xe/1.000 người
Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê của các nước năm 2009
Hơn nữa, trên thế giới chỉ có một số quốc gia có tiềm lực mạnh trong lĩnh vực sản xuất ô tô, trong khi đó nhu cầu ô tô toàn thế giới tăng lên chóng mặt mỗi ngày Điển hình tại thành phố Bắc Kinh – Trung Quốc, tại một thời điểm trong tháng 12/2010, số xe đăng ký xin cấp mới lên đến 5.000 chiếc/ngày Tại Hoa Kỳ, cường
Trang 33quốc về xe hơi, cứ 1.000 người dân thì có tới 820 ô tô được sử dụng làm phương tiện di chuyển Tiếp theo là Italia (677), Đức (623), và Pháp (600)
1.4.1.3 Đánh giá cung cầu
Qua các phân tích trên cho thấy trên toàn thế giới cũng như trong nội bộ từng quốc gia đều diễn ra tình trạng thiếu hụt số lượng ô tô để cung cấp đủ cho nhu cầu của về ô tô trên toàn cầu cũng như sự chênh lêch lớn về giá bán xe tại nhiều quốc gia Điều này dẫn đến tình trạng nhập siêu mạnh ở nhiều quốc gia chưa đủ năng lực
để xây dựng ngành công nghiệp cho riêng mình và tình trạng vẫn tiếp tục nhập khẩu tại những quốc gia được đánh giá là hàng đầu thế giới về sản xuất ô tô Thêm vào
đó, việc sản xuất và tiêu thụ ô tô trên thế giới còn phải gánh chịu nhiều tác động tiêu cực từ nền kinh tế toàn cầu trong suốt một thập kỷ qua Điển hình có 3 tác động tiêu cực lớn:
- Một là, giá xăng dầu thế giới lên xuống thất thường, ảnh hưởng lớn tới
người tiêu dùng, từ đó tác động không nhỏ tới sản xuất và tiêu thụ ôtô Giá dầu lửa thời gian qua biến động rất lớn Số liệu thống kê về biến động giá dầu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy trong 4 năm từ 2003 đến 2006, giá dầu thô tăng bình quân 108,3% Kể từ năm 2007 giá dầu thô đã tăng đột biến lên trên 100 USD/thùng Từ cuối năm 2008 giá hạ có lúc chỉ còn 33 USD/thùng, nhưng từ tháng 5/2009, giá dầu lửa bắt đầu tăng nhanh tới 75 USD/thùng, rồi 81,37 USD/thùng, hiện đang chạm ngưỡng 82 USD/thùng Giá dầu tăng là thách thức to lớn vì mức tiêu dùng ô tô trên các thị trường giảm sút, từ đó làm ngành chế tạo ô
tô bị suy giảm theo
- Hai là, ngành công nghiệp ô tô là một trong những nạn nhân bị tổn thất
nghiêm trọng nhất bởi khủng hoảng tiền tệ tín dụng và suy thoái kinh tế thế giới Năm 2009, do khủng hoảng tiền tệ tài chính thế giới, sản lượng ô
tô các nước giảm đi đáng kể, nhất là Nhật Bản, Mỹ, Đức Nhiều các “đại gia ô tô” sừng sỏ như General Motors, Chrysler (Mỹ) bị sập tiệm, còn các
Trang 34đại gia khác như Toyota, Honda (Nhật Bản), Daewu, Hyundai (Hàn Quốc), Mercedes, Volkswagen (Đức) cùng một số hãng lớn khác của các nước phát triển đã bị thiệt hại nghiêm trọng
Trong năm 2009, lần đầu tiên tiêu thụ ô tô ở Mỹ bị sụt giảm kể từ năm 2006: lượng ô tô tiêu thụ ở Mỹ trong năm 2009 chỉ có 10 triệu chiếc, trong khi số ô tô bị
“ế ẩm” lên tới 14 triệu chiếc Các nhà kinh tế Mỹ cho biết tới năm 2020 lượng ô tô
sử dụng ở Mỹ sẽ giảm chừng 25 triệu chiếc Trong khi đó Hiệp hội đăng kiểm ô tô của Nhật Bản cho biết liên tục trong 3 năm qua, lượng ô tô gia đình Nhật Bản liên tục giảm sút Tính đến cuối năm 2009, số ô tô và xe gắn máy ở Nhật Bản là 79 triệu chiếc, giảm 169.700 chiếc Đây là lần đầu tiên xảy ra tình trạng giảm sút tiêu thụ ô
tô ở Nhật Bản Tuy nhiên, tại một số nước đang phát triển ít bị tác động bởi khủng hoảng tài chính thế giới như Trung Quốc và Ấn Độ, ngành công nghiệp ô tô “sinh sau đẻ muộn” lại có cơ may phát triển Sản lượng ô tô Trung Quốc năm 2010 lên tới
75 triệu chiếc, đứng thứ hai thế giới sau Nhật Bản, và dự kiến sẽ lên tới trên 200 triệu chiếc vào năm 2020
- Ba là, tình trạng ô tô gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, làm tăng hiệu
ứng nhà kính Đây là thách thức lớn đối với tương lai phát triển của ngành
ô tô thế giới Tại Trung Quốc hiện nay có tới 1/5 số thành phố ở Trung Quốc bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do khí thải ô tô “Hiệp hội ô tô điện thế giới” kêu gọi chính phủ các nước cần nhanh chóng áp dụng một
số biện pháp cấp bách như ban hành pháp quy về phát triển ô tô chạy xăng dầu, hạn chế tối đa việc thải khí gây ô nhiễm, cố gắng phấn đấu tới năm
2020 số lượng ô tô thân thiện với môi trường chiếm từ 7% tới 12% thị phần ô tô thế giới
1.4.2 Chính sách và thực trạng nhập khẩu ô tô của một số quốc gia
Để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc nhập khẩu ô tô nhằm phát triển về lâu dài ngành công nghiệp ô tô trong nước, việc nghiên cứu, phân tích thực trạng nhập khẩu ô tô song song với việc đánh giá chính sách của Nhà nước
Trang 35trong phát triển ngành công nghiệp ô tô là vô cùng cần thiết Nhập khẩu ô tô hợp lý kết hợp với các biện pháp thúc đẩy sản xuất trong nước cân bằng, bền vững chính là chìa khóa để mở ra một tương lai cho ngành công nghiệp ô tô phát triển lâu dài Mê
xi cô, Malaysia và Hàn Quốc là 3 quốc gia điển hình cho các xu hướng phát triển ngành công nghiệp ô tô với những biện pháp, chính sách khác nhau của chính phủ, nhưng đều dẫn đến một kết quả khả quan đáng để Việt Nam học tập
1.4.2.1 Mêxico
Công nghiệp ô tô đang là ngành chủ chốt của Mexico Từ năm 1925 Mexico
đã có công ty lắp ráp ô tô dạng KD của hãng FORD, hãng GM năm 1937, hãng CHRYSLER năm 1983 Nhu cầu ô tô lúc đó chỉ nằm ở một bộ phận xã hội nên sản lượng còn hạn chế Việc nhập khẩu CBU (xe nguyên chiếc nhập khẩu) là được phép nhưng thực tế lại bị cấm nên đến năm 1961 số hãng lắp ráp KD đạt tới 12 hãng Những hãng này phát triển tới quy mô sản xuất 60.000 chiếc một năm Thời
kỳ này chính phủ đề ra chính sách ô tô nhằm thay thế nhập khẩu ô tô con Nội dung chủ yếu của pháp lệnh này là cấm nhập khẩu dạng CBU và rút bỏ giấy phép của những hãng lắp ráp trong nước có tỷ lệ sản xuất trong nước chưa đạt 60%
Từ thập niên 60 Mêhicô bước vào thời kỳ phát triển và trở thành nước sản xuất ô tô có vị trí cao trên thế giới vào thập niên 80 Số xe ô tô sản xuất năm 1981
đã đạt 597.000 chiếc, bao gồm cả xe ô tô con, xe chở hàng, xe buýt và xe tải, đứng thứ 12 trên thế giới trong số 50 nước sản xuất ô tô Ngay cả năm 1985 là năm đang trong giai đoạn khủng hoảng kéo dài suốt từ năm 1983 đến năm 1989, số ô tô sản xuất vẫn đạt là 398.000 chiếc, chiếm vị trí thứ 15 trên thế giới Năm 1986 Mexico gia nhập GATT và ảnh hưởng đầu tiên đối với ngành ô tô là huỷ bỏ chính sách cấm nhập khẩu CBU
Về lĩnh vực phụ tùng ô tô cũng có những thay đổi như từ tháng 6 năm 1985, 99,1% phụ tùng nhập khẩu còn là đối tượng cấp phép nhưng đến cuối năm 1987 chỉ còn 14,3% Năm 1988 chính phủ ban hành chính sách chuyển sang khuyến khích xuất khẩu Ngành công nghiệp ô tô đã phát triển thành ngành công nghiệp then chốt
Trang 36của Mexico, có tỉ trọng đóng góp vào GDP là 1,5%, tỉ lệ ô tô chiếm trong tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 35%
Tại Mexico hiện nay có 5 hãng sản xuất ô tô hoàn chỉnh độc quyền chi phối thị trường và đều là tư bản nước ngoài Thể chế này khiến trong tương lai khó có hãng nào tham gia thêm vào thị trường ô tô bất kể là tư bản nước ngoài hay trong nước Trong ngành công nghiệp chế tạo phụ tùng không có xí nghiệp tư bản nước ngoài và có khoảng hơn 500 hãng Ngành phụ tùng hiện đang phân làm hai cực trong đó 40 xí nghiệp hàng đầu của ngành này chiếm gần 70% toàn bộ sản lượng của ngành và hầu hết kỹ thuật được đưa vào từ nước ngoài Mexico đã phát triển thành công ngành công nghiệp ô tô dựa vào việc phó thác các hãng sản xuất lắp ráp cho tư bản nước ngoài và củng cố các hãng sản xuất phụ tùng bằng tư bản dân tộc Việc Mexico thành công trong việc thay thế nhập khẩu và trong cải biến ngành ô tô thành một trung tâm thu ngoại tệ là một điểm đáng lưu ý và là tấm gương để các quốc gia có ngành sản xuất ô tô chưa phát triển như Việt Nam học hỏi Hơn nữa, Mexico có lợi thế do ở gần Mỹ về mặt địa lý, điều này tạo cho Mexico nhiều cơ hội học hỏi công nghệ kỹ thuật từ Mỹ cũng như dễ dàng thu hút các nhà tư bản đầu tư
từ Mỹ sang Có thể nói Mexico đã sử dụng rất tốt chính sách mạng lưới quốc tế của các nhà sản xuất ô tô nước ngoài mà không bắt buộc các nhà tư bản dân tộc phải góp vốn
1.4.2.2 Malaysia
Đối với một quốc gia Đông Nam Á như Malaysia, sản xuất ô tô được coi là ngành chủ chốt cho sự nghiệp phát triển công nghiệp theo kế hoạch tổng thể các ngành công nghiệp tại Malaysia Tham gia vào ngành này là hầu hết các tập đoàn kinh doanh lớn như: Petronas, PNB, Sime Darby, Lion, Berjaya, DRB-HICOM, Tan Chong, Oriental
Hiện nay, tại Malaysia có tất cả 8 liên doanh sản xuất xe du lịch với công suất lắp ráp 158.700 xe/năm, 2 nhà máy sản xuất xe thương dụng là Inokom và MTB với tổng công suất 424.000 xe/năm và 300 xí nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô
Trang 37Tổng số lao động trực tiếp tham gia vào ngành này ước tính khoảng 45.080 người 8 liên doanh trên đã tiến hành lắp ráp 20 nhãn hiệu xe, 94 mẫu xe và 204 các loại xe khác Khối lượng và thị phần của các loại xe do các liên doanh này lắp ráp đang giảm dần đi do sự xuất hiện của các loại xe mang nhãn hiệu quốc gia như Proton, Perodua và xe van Inokom Thị trường xe du lịch của Malaysia được xem lớn nhất
so với các nước Đông Nam Á Để tạo đà phát triển bền vững cho ngành công nghiệp ô tô, Chính phủ Malaysia đã đưa ra những chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế quan nhằm khuyến khích các nhà sản xuất thực hiện sâu rộng chương trình nội địa hoá, “chiếc xe mang nhãn hiệu quốc gia” và định hình các biện pháp nhằm cơ cấu lại ngành công nghiệp ô tô, tăng tính hiệu quả và cạnh tranh trong khu vực
Ngành công nghiệp ô tô Malaysia hình thành qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất : từ giữa những năm 60, họ nhập khẩu xe dạng CKD và kéo theo sự phát triển của các cơ sở lắp ráp trong nước Đến những năm đầu của thập kỷ 80, Malaysia đã có 15 công ty lắp ráp xe bao gồm cả các công ty của Châu Âu và Nhật Bản
- Giai đoạn thứ hai : bắt đầu từ năm 1983 bằng việc hình thành dự án sản xuất xe du lịch quốc gia Proton và Perodua
Một điểm rất đáng chú ý là sự bảo hộ rất cao của chính phủ đối với ngành công nghiệp ô tô trong nước Malaysia áp dụng thuế suất nhập khẩu rất cao đối với
xe nhập khẩu nguyên chiếc(CBU): từ 140% đến 300%; xe nhập dưới dạng CKD: từ 42% đến 80% Do sự bảo hộ này mà Proton đã trở thành nhãn hiệu ô tô số một tại thị trường Malaysia và cả tại thị trường các nước ASEAN Xe Proton và Peerodua gần như độc chiếm thị trường ô tô Malaysia (đến 90% thị phần), chỉ còn lại 10% thị phần chia cho 25 nhà sản xuất khác tại nước này
Từ tháng 7 năm 1998, Malaysia bắt đầu triển khai chương trình chế tạo xe tải nhẹ (van) quốc gia mang tên Inokom Permas dựa trên mẫu xe Renault do một liên doanh chế tạo trong đó phía Malaysia nắm 68% vốn Sản lượng ô tô quốc gia của Malaysia hiện nay rất lớn so với các nước trong khu vực Đông Nam Á Năm 2008,
Trang 38doanh số bán xe của Malaysia đạt 520.000 xe, năm 2009 lượng xe bán ra giảm nhẹ 2% do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Năm 2009, Perodua trở thành mác xe bán chạy nhất Malaysia, chiếm 31,1% thị phần thị trường ôtô tại đây, tăng so với 30,5% thị phần có được trong năm 2008 Một mác xe nội địa khác là Proton đang chiếm 27,6% thị phần, tăng so với 25,9% của năm 2007 Thị phần thuộc về các mác xe nước ngoài là: Toyota chiếm 15,2%, Honda chiếm 7,2% và Nissan chiếm 5,9%
Đồ thị 1 2: Sản lượng ô tô sản xuất trong nước của Malaysia qua các năm
Nguồn: Báo Sài Gòn tiếp thị số ra ngày 22-5-2002 và Autopro 2010
Cho đến thời điểm hiện tại, Chính phủ Malaysia vẫn tiếp tục ủng hộ việc bảo
hộ cho ngành công nghiệp ô tô của mình bắng cách quyết định trì hoãn 2 năm chưa
áp dụng việc giảm thuế suất theo lộ trình thực thi các qui định của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Nhờ các chính sách của chính phủ Malaysia, năm 2009 Malaysia trở thành thị trường xe du lịch lớn nhất Đông Nam Á Như vậy, từ sự thành công của ngành công nghiệp ô tô Malaysia, chúng ta nhận thấy họ đã có ý thức rất sớm về tầm quan trọng của ngành công nghiệp và có sự đầu tư đúng hướng Chính phủ Malaysia đã có sự hỗ trợ rất tích cực bằng cách tạo ra sự bảo hộ hợp lý, xây dựng chiến lược phát triển quốc gia có tính khả thi và trải qua các giai đoạn khác nhau Vai trò của chính phủ trong sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô của quốc gia này đã để lại một dấu ấn rất đáng chú ý, đáng để chúng ta học tập
Trang 391.4.2.3 Hàn Quốc
Thời kỳ đầu những năm 60, Hàn Quốc là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới Tuy nhiên, từ năm 1961, ngành công nghiệp ôtô nội địa được ưu tiên đặc biệt để phát triển Trong vòng 20 năm, từ con số không, Hàn Quốc đã xuất khẩu hàng loạt ô tô với chất lượng cao cạnh tranh với cả xe Nhật Hàn Quốc xây dựng một chiến lược với các giai đoạn 5 năm một và trên thực tế đã đạt được kết quả rất khả quan
5 năm đầu (1962-1966): lắp ráp xe dạng SKD
5 năm sau đã chuyển sang lắp ráp CKD ở quy mô lớn (1967-1971)
5 năm tiếp theo phát triển kiểu xe riêng của Hàn Quốc (1972-1976)
Đặc điểm chính của ngành công nghiệp ô tô Hàn Quốc là các ngành nguyên liệu như sắt thép, cao su không đi trước ngành công nghiệp ô tô mà lại song song phát triển cùng ngành công nghiệp ô tô, nhưng chính sách phát triển công nghiệp ô
tô những năm 70 là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến thành công của ngành công nghiệp Chủ trương của chính phủ là hạn chế cạnh tranh trong nước, làm cho các xí nghiệp có lãi, giúp cho quá trình tích luỹ tư bản và đầu tư quy mô lớn, nói cách khác
là hỗ trợ việc tiến hành sản xuất với quy mô lớn, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh quốc tế, điều khiển xuất khẩu và thu ngoại tệ Do vậy các hãng mới tham gia vào thị trường không phải dễ dàng Việc nhập khẩu ô tô nguyên chiếc cũng được tự
do hoá nhưng trên thực tế các hãng sản xuất ô tô trong nước vẫn được bảo hộ nhờ các biện pháp thuế quan và chế độ thuế giá trị gia tăng (sự thực là việc nhập khẩu ô
tô từ Nhật bị cấm) Cụ thể, Nhà nước có chính sách khuyến khích liên doanh với công ty nước ngoài để học hỏi công nghệ được đặt lên hàng đầu Đến năm 1972, phụ tùng nội địa trong ngành công nghiệp ôtô Hàn Quốc đã tăng lên mức gần 60% Hơn thế nữa, tổng sản phẩm tăng khổng lồ, từ 1.777 chiếc năm 1962 lên 37.290 năm 1975 – một con số đáng kinh ngạc cho thấy sự phát triển thần kỳ của một ngành công nghiệp còn non trẻ này Đến năm 1979, tổng sản phẩm đã nhảy vọt lên 204.447 chiếc và cuối thập kỷ đó, tỷ lệ nội địa hóa đã đạt trên 90%, cùng với những
Trang 40cải tiến về chất lượng, tính hiệu quả nhằm mở rộng và chiếm thị phần thế giới Mặc
dù các con số này còn nhỏ nhưng chúng là biểu tượng cho bước đi lịch sử trong sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô Hàn Quốc
Thời điểm bắt đầu giai đoạn thành công là từ những năm 1980 với những bước ngoặt về việc thay đổi chiến lược, chính sách, quy định Trong giai đoạn này, việc sản xuất ôtô dần được chuyển đổi thành hệ thống theo định hướng thị trường, có sự điều chỉnh cơ cấu các loại sản phẩm Chính phủ khuyến khích, ưu tiên việc áp dụng công nghệ hiện đại, tạo khả năng cạnh tranh cao; tăng cường hợp tác với các ngành công nghiệp ôtô thế giới, nhập khẩu công nghệ và thành lập các liên doanh với các nhà sản xuất ôtô hàng đầu thế giới; gỡ bỏ hạn chế tiêu dùng xe cá nhân…
Tham vọng vươn ra thế giới đã buộc các nhà sản xuất ôtô Hàn Quốc phải điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất và chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt về độ an toàn và khí thải Bên cạnh đó, việc đầu tư phát triển xe cỡ nhỏ của các nhà sản xuất ôtô cũng góp phần tạo nên bộ mặt mới cho ngành công nghiệp ôtô Hàn Quốc Đến năm 1987, Hàn Quốc đã giành được 4% thị trường xuất khẩu toàn cầu và đứng ở vị trí thứ 8 trong các nhà xuất khẩu lớn nhất
Đầu những năm 90 chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ đối với ngành công nghiệp ôtô Hàn Quốc, một phần do giá dầu tăng cao, sự suy thoái toàn cầu và quá trình cải cách bộ máy quản lý Việc cải thiện chất lượng để đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về độ an toàn và khí thải của Mỹ, EEC và các nước phát triển khác được chú trọng đặc biệt
Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã tác động nghiêm trọng tới ngành công nghiệp ôtô Hàn Quốc, song điều đó lại giúp thay đổi cơ cấu và chính sách phù hợp Chính phủ nước này đã ký biên bản ghi nhớ với Mỹ để giải quyết những vấn đề liên quan đến thuế, thủ tục đăng ký cũng như cải thiện nhận thức của người tiêu dùng về các thương hiệu xe nước ngoài Chính cơ chế mở cửa, tăng cường hợp tác liên doanh và thu hút đầu tư nước ngoài đã vực dậy ngành công nghiệp ôtô nói riêng và nền kinh tế Hàn Quốc nói chung