1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những nội dung cơ bản trong triết lý đạo Phật và vận dụng trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp

11 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BAI THAO LUAN TRIẾT HỌC NHÓM 3 Đề tài thảo luận “Những nội dung cơ bản trong triết lý đạo Phật và vận dụng trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp” PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT VỚI VIỆC XÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP 1 Các định nghĩa 1 1 Văn hóa Quan niệm về văn hoá trên đây tương đối phù hợp với định nghĩa văn hoá do nguyên Tổng giám đốc UNESCO Fderico Mayord đưa ra, nhân dịp phát động “ Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá” (1988 1997) Ông viết “Văn hoá là tổng thể sống động các ho.

Trang 1

PHẦN 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT VỚI VIỆC XÂY DỰNG VĂN HOÁ

DOANH NGHIỆP 1.Các định nghĩa

1.1 Văn hóa

Quan niệm về văn hoá trên đây tương đối phù hợp với định nghĩa văn hoá do nguyên Tổng giám đốc UNESCO Fderico Mayord đưa ra, nhân dịp phát động “ Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá” (1988- 1997) Ông viết “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.”

"Nhật ký trong tù" năm 1943, Bác Hồ đã khẳng định "Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" (Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 3)

Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” , PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng:” Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.( Nhà xuất bản TP HCM, 1996)

Như vậy, bản chất văn hóa chứa đựng cái bản chất và năng lực của con người, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần được sử dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong mối quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên và môi trường xã hội

1.2 Văn hóa doanh nghiệp

Trang 2

Văn hóa doanh nghiệp là tập hợp các giá trị, chuẩn mực và niềm tin căn bản được tích lũy trong quá trình doanh nghiệp tương tác với môi trường bên ngoài và hòa nhập trong môi trường bên trong, giá trị và chuẩn mực này đã được xác lập qua thời gian, được truyền đạt cho những thành viên mới như một cách thức đúng để tiếp cận, tư duy và định hướng giải quyết những vấn đề họ gặp phải ( Edgar H.Schein, 2004)

Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (ILO):“Văn hoá doanh nghiệp

là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”

Văn hoá kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hoá mà các chủ thể tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của nó.( Đỗ Minh Cương, 2001) Văn hóa doanh nghiệp là Văn hóa kinh doanh của một doanh nghiệp

Theo PGS.TS Dương Thị Liễu: "VHDN là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp" (NXB kinh

tế Quốc Dân, 2006)

Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân: "Văn hoá công ty là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, (cách) nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên" (NXB Lao Động – Xã Hội, 2004) Định nghĩa này thể hiện hai đặc điểm của văn hoá doanh nghiệp : thứ nhất là VHDN liên quan đến nhận thức, thứ hai là VHDN có tính thực chứng

Từ những quan niệm về VHDN trên chúng ta thấy VHDN bao gồm các yếu tố, thủ pháp, nguyên tắc, hệ thống quan niệm, biểu tượng, giá trị hành vi của một cộng đồng doanh nghiệp có chức năng tổ chức, thống nhất mọi thành viên của doanh nghiệp hướng tới mục tiêu chung vì sự phát triển của doanh nghiệp Với ý nghĩa đó, chúng tôi xin hệ

Trang 3

thống lại và chọn ra một quan niệm về VHDN như sau của PGS.TS Đỗ Minh Cương (2013):

-“Là toàn bộ những nhân tố và sản phẩm văn hoá (vật thể và phi vật thể) được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, biểu hiện trong hoạt động kinh doanh và đời sống của nó” (Bài giảng tại Trường Đại học Kinh Tế - ĐH QG HN)

-“VHDN không chỉ là các giá trị tinh thần/ sản phẩm phi vật thể mà còn có các giá trị vật chất/ SP vật thể của nó” (Bài giảng tại Trường Đại học Kinh Tế - ĐH QG HN)

-“VHDN không chỉ nảy sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn trong

cả các sinh hoạt văn nghệ, thể thao, vui chơi, giải trí của nó”(Bài giảng tại Trường Đại học - ĐH QG HN)

1.3 Văn hóa doanh nghiệp theo tinh thần triết lý đạo phật

Những vấn đề cơ bản của triết lý đạo Phật theo tác giả Phạm Hữu Dung (2011) về thế giới quan, tư tưởng của phật giáo tập trung ở những mặt cơ bản sau:

1.3.1 Quan niệm của Phật giáo về thế giới quan

Vô tạo giả: Đạo phật cho rằng thế giới do các loại vật chất tạo thành Mọi sự vật

trong vũ trụ không do bất kì thần linh nào tạo ra bằng những phép màu mà là do phần tử vật chất nhỏ nhất tạo ra Những vật chất nhỏ bé đó được gọi là “bản thể” hay “thực tướng” Đây được xem như là nội dung cơ bản nhất và khác tất cả các tôn giáo khác

Thuyết Vô thường, Nhân – Duyên: Phật giáo cho rằng: tất cả mọi sự vật, hiện

tượng của thế giới này không có điểm khởi đầu và kết thúc; tất cả đều chuyển động không ngừng, biến đổi không ngừng và chịu sự chi phối bởi quy luật nhân quả hay là nhân duyên Trong đó, nhân là cái khởi đầu tạo ra kết quả còn duyên là phương tiện/điều kiện tạo ra tạo ra quả đó Khi nhân duyên hoà hợp thì sự vật sinh Khi nhân duyên tan rã thì sự vật diệt Các nhân duyên trong sự vật hiện tượng tác động chi phối và chuyển hóa lẫn nhau

Trang 4

Đạo Phật cho rằng: thời gian là vô cùng và không gian là vô tận Khi xem xét

từng sự vật hiện tượng, đạo Phật chủ trương phải đặt những sự vật hiện tượng đó trong một khoảng không gian và thời gian nhất định Nghĩa là phải tìm hiểu một sự vật, hiện tượng cụ thể từ điểm khởi đầu và kết thúc của nó

Nói tóm lại với những quan niệm về thế giới quan ở trên, tư tưởng triết lý đạo Phật

đã mang nhiều yếu tố duy vật biện chứng tiến bộ

1.3.2 Quan niệm của Phật giáo về nhân sinh quan

Nội dung tư tưởng, triết lý cơ bản của Phật giáo thể hiện rõ nhất ở “tứ diệu đế” -tức là 4 chân lý huyền diệu cao siêu để giải thoát nỗi khổ của chúng sinh gồm: Khổ Đế – Tập Đế – Diệt Đế - Đạo đế Thích Nhất Hạnh (2005): “trước kia và ngày nay ta chỉ nêu ra

và lý giải các chân lý về các nỗi đau khổ và giải thoát các nỗi đau khổ Cũng như nước của đại dương chỉ có một vị mặn Học thuyết của ta chỉ có một vị, đó là sự cứu vớt”- còn gọi là sự giải thoát

Khổ đế

Là chân lý bàn về các nỗi khổ của con người Đạo phật cho rằng cuộc sống con người là khổ ải Khổ đau là tuyệt đối, là bản chất của sự tồn tại của cuộc sống Cuộc sống của chúng sinh là bể khổ Trong các nỗi khổ mà từng chúng sinh phải chịu đựng có bốn nỗi khổ lớn mà ai cũng phải trải qua gọi là “tứ khổ”: sinh – lão – bệnh – tử khổ

Tập đế

Là sự tập hợp chứa đựng những chân tướng những sự khổ não, là nguyên nhân về các nỗi khổ đau Đạo Phật cho rằng nguyên nhân của khổ đau là do dục vọng – tham muốn của con người gây nên và đến khi chết vẫn phải chịu khổ đau Tất cả những nỗi khổ đau mà chúng sinh phải gánh chịu là do “nhị thập nhân duyên” tạo ra mà khởi đầu là

“vô minh”, tức là do nhận thức không đúng đắn và sáng suốt

Diệt đế

Là chân lý về cách giải thoát con người khỏi nỗi khổ đau Đạo Phật cho rằng chúng sinh muốn thoát khỏi mọi sự khổ đau thì phải từ bỏ mọi ham muốn, dục vọng, sự

Trang 5

giận dữ và mê muội – là những nguyên nhân cơ bản gây nên nỗi khổ đau trong cuộc đời người

Ham muốn hay dục vọng của con người là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nỗi khổ đau còn nguồn gốc sâu xa là từ “nhị thập nhân duyên” mà bắt đầu từ “vô minh” Cho nên theo đạo Phật, chúng sinh muốn diệt trừ nỗi khổ thì đầu tiên phải diệt trừ “vô minh‟ Vì

“vô minh” bị diệt thì trí tuệ mới sáng và hiểu rõ được bản chất sự tồn tại không còn dục vọng, không còn hành động sai quấy để tạo ra “nghiệp” Và chỉ có như vậy, chúng sinh mới thoát khỏi nỗi khổ vòng luân hồi sinh – lão – bệnh – tử

Đạo đế

Là chân lý về các con đường đúng đắn để giải thoát con người, bao gồm “bát chính đạo”- 8 con đường đúng đắn, sáng suốt Đây chính là xuất phát từ sự đúc kết quá trình tu hành đắc đạo của đức Phật Đạo Phật cho rằng đây là thử thách khó nhất của con người có đạo, là phải thực hành chính đạo vào trong đời sống và công việc của mình Trí tuệ dân gian Việt Nam đã tổng kết: Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì là tu tại chợ, thứ ba tu tại chùa

Đạo Phật đưa ra lý luận về “tam học” là: giới - định – tuệ Đây chính là quá trình tu hành để đạt đến giác ngộ.

-Giới: là những điều cấm quy định với những người tu hành để không phạm sai lầm do thân và ý tạo ra

-Định: là phương pháp làm cho người tu hành không tán loạn phân tâm, loại trừ ý nghĩ sai lầm tạo điều kiện cho trí tuệ bừng sáng

-Tuệ: là yêu cầu đòi hỏi phải có trí tuệ sáng suốt để diệt trừ vô minh, tham dục Chỉ có như vậy mới diệt trừ được nỗi khổ

Trong ba yếu tố trên, Giới được nhà Phật coi là quan trọng nhất, ngăn cản con người không phạm vào “ngũ giới” (còn gọi là năm điều cấm) là: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không bịa đặt, không uống rượu để định và tuệ phát sáng

Trang 6

Theo đạo Phật, gồm có tám con đường – cách để giải thoát nỗi khổ gọi là “bát chính đạo”

- Chính kiến: nhận biết đúng đắn

- Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn

- Chính ngữ: nói năng đúng đắn

- Chính nghiệp: hành động đúng đắn

- Chính mệnh: kiếm sống đúng đắn

- Chính tịnh tiến: nỗ lực đúng đắn, phải từ bỏ điều ác làm điều thiện

- Chính niệm: thương nhớ – tưởng nhớ đúng đắn, phải tập chung tâm và thần vào suy nghĩ, lời nói, hành động đúng

- Chính định: tập chung tinh thần vào một đạo đúng đắn

Mặt tích cực.

Chủ trương giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đau; thực hiện bình đẳng giữa các chúng sinh chống lại quan điểm phân biệt đẳng cấp, khuyên con người phải thương yêu lẫn nhau

Đạo Phật đã đề ra được lý thuyết về con đường giải thoát về mặt ý thức Điều này làm cho quần chúng nhân dân tin tưởng vì tìm thấy ở đạo này một sự an ủi, một niềm tin vào tương lai

Nghi lễ đạo Phật rất đơn giản, điều này phù hợp với hoàn cảnh của người dân lao động nghèo khổ thuộc các đẳng cấp dưới cho nên nó được hưởng ứng nhiệt tình Đạo phật phản ánh tình yêu thương đồng loại

Mặt hạn chế, tiêu cực:

Giáo lý của đạo Phật về nguồn gốc các nỗi khổ đau không phù hợp với thực tế, vì chỉ chú ý đến các nguyên nhân về chủ quan, nội tâm cá nhân, không chú ý đến các nguyên nhân khách quan, thuộc về xã hội Nhưng xét cho cùng, sự ra đời của đạo Phật

Trang 7

với những tư tưởng triết lý cơ bản trên cũng đã có thể coi là một cuộc cách mạng vĩ đại trong xã hội Ấn Độ cổ đại chống lại những luật lệ hà khắc do chế độ đẳng cấp Varna, luật Manu và đạo Bàlamôn tạo nên Chính vì lẽ đó, đạo Phật ra đời nhanh chóng phát triển mạnh mẽ về số lượng tín đồ và trở thành tôn giáo thế giới Và đương nhiên, những nhà sư chân đất với màu vàng thánh thiện của Phật đã tiếp tục sự nghiệp giải thoát nỗi khổ đau của con người

Các tư tưởng, triết lý của đạo Phật có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều doanh nhân trên thế giới và thường có tác động tích cực tới hành vi, kết quả hoạt động, đạo đức và lối sống của họ Ví dụ, đạo Phật khuyên bảo làm kinh doanh mặc dù có nhiều cám dỗ của lòng tham nhưng vẫn phải giữ chính kiến, chính niệm, chính nghiệp; khuyến khích doanh nhân lãnh đạo đối xử nhân từ với người làm và chúng sinh, cố gắng làm việc thiện, tránh

sự gian trá, xấu xa và cố gắng làm việc thiện, có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội…Do

đó, các doanh nhân này có ý thức, tâm thái quyết tâm “tu tại chợ”, thực chất là làm kinh doanh có đạo đức và văn hóa theo triết lý của đạo Phật

Trang 8

PHẦN 2:

CÁC VẬN DỤNG NHẰM THÚC ĐẨY VẬN DỤNG TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT VÀO

XÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP

1 Văn hóa doanh nghiệp tại Tập Đoàn Hoa Sen.

1.1 Các sản phẩm hữu hình văn hoá doanh nghiệp của tập đoàn Hoa Sen

Kiến trúc:

Hình: Trụ sở chính tập đoàn Hoa Sen tại Bình Dương Ngày 8/8/2004 khánh thành trụ sở chính tại số 9 Đại lộ Thống Nhất, KCN Sóng Thần 2, Dĩ An, T.Bình Dương Sau 3 năm thành lập Hoa Sen đã đưa vào hoạt động trụ sở mới khang trang, hiện đại với lối kiến trúc bài trí mang đậm dấu ấn phật giáo, hình ảnh

mẹ Quan Âm được đặt tại vị trí trang nghiêm nhất, mỗi tầng và khu vực trong tòa nhà đều

có hình ảnh Phật Giáo Kiến trúc trụ sở là bộ phận nhận diện thương hiệu của Hoa Sen, thuộc về sản phẩm hữu hình

Logo và Slogan

Trang 9

Hình ảnh cách điệu của hoa sen tám cánh nở bung ra tượng trưng cho “Bát Chánh Đạo” và sự vươn lên mạnh mẽ trong thời kỳ mới của Tập đoàn

Màu vàng tám cánh sen rất hiện đại, thể hiện cách điệu 3D trên nền nâu đỏ đặc trưng màu sắc của Phật giáo, cũng là màu truyền thống của Tập đoàn Hoa Sen trong giai đoạn hơn 10 năm phát triển vừa qua Tài liệu hướng dẫn VHDN của Tập đoàn diễn giải:

“Màu vàng của ngôi sao vàng luôn dẫn lối trên con đường chính nghĩa, đúng đắn

„Trung thực”, màu vàng của sự ấm áp, “Thân thiện”, vui vẻ gắn liền với văn hóa của Tập đoàn Hoa Sen Đó chính là văn hóa 10 chữ T: “Trung thực – Trung thành – Tận tụy – Trí tuệ - Thân thiện” Xuyên suốt quá trình hoạt động, Tập đoàn Hoa Sen luôn gắn liền với những hoạt động hướng về cộng đồng, xây dựng một hình ảnh thân thiện, gần gũi đối với

xã hội

Bên cạnh đó, màu nâu đỏ trong logo là màu của sự giản dị, chân chất, bền bỉ nhưng vẫn thể hiện được sự mạnh mẽ, vững bền Qua đó, logo mới muốn chuyển tải thông điệp Tập đoàn Hoa Sen luôn phát triển vững mạnh và bền vững qua thời gian để đem đến cho khách hàng, xã hội những giá trị tốt đẹp nhất

Cũng liên quan đến giáo lý Phật giáo, việc Tập đoàn Hoa Sen lấy hoa sen làm tên gọi và logo của mình, còn hàm ý sự vô nhiễm, trừng thanh, kiên nhẫn, viên dung, thanh lương, hành trực, ngẫu không và bồng thực của những con người đang ngày ngày lao động và dày công vun đắp những giá trị lớn lao hơn

Ngay từ đầu thành lập Tập đoàn Hoa Sen người sáng lập đã nghĩ đến hình ảnh hoa sen, là loài hoa biểu trưng cho sự tinh khiết, biểu tượng của Phật giáo Trên logo của Tập đoàn Hoa Sen có hai màu rất rõ, đó là màu vàng và màu nâu sẫm Màu vàng tượng trưng cho Đức Phật và Đạo Phật, màu nâu là màu tượng trưng cho chiếc áo của các vị tu sĩ Phật giáo Trong logo là hình hoa sen có tám cánh, tượng trưng cho Bát chánh đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh tuệ), dưới hình hoa sen là hai bàn tay đưa lên biểu hiện cho sự nâng niu, trân trọng

Trang 10

Ngày thành lập công ty của chúng tôi là ngày 8/8/2001, và cũng là ngày vía Đức Bồ tát Quán Thế Âm (19/6 âm lịch)

2 Một số vận dụng nhằm phát triển văn hoá doanh nghiệp:

2.1 Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở các giá trị và quy chuẩn của văn hoá doanh nghiệp.

Đào tạo cho cán bộ, nhân viên một cách hệ thống ngay buổi đầu họ gia nhập doanh nghiệp là một công tác quan trọng Ngoài những kiến thức về sản phẩm, quản trị…của doanh nghiệp, công tác đào tạo về VHDN cần phải được đào tạo riêng để nhân viên có thể cảm nhận đươc sự phù hợp của nhân viên với VHDN ngay từ đầu để có thể yên tâm cống hiến và đi theo đường lối chung của doanh nghiệp

Ví dụ: Nói về những tố chất người Hoa Sen thì Ông Lê Phước Vũ (Chủ tịch HĐQT) thường nhắc tới "Trung thực – trung thành – tận tâm - trí tuệ - thân thiện" Trí tuệ chỉ được xếp ở vị trí thứ tư vì Hoa Sen tin rằng "với tính Trung thực – trung thành" với tổ chức thì sẽ tạo nên một sức mạnh kết dính, với Trí tuệ kết hợp với Trung thực – Trung thành sẽ tạo ra những giá trị mới cho tổ chức đó là điều kiện cần phải có ở con người Hoa Sen Điều kiện đủ khi biến Trí Tuệ thành Tài năng được xem trọng khi nó gắn với quá trình cống hiến, tinh thần lao động vì tập thể, vì lợi ích chung Vì vậy, để đảm bảo một nguồn nhân lực chất lượng cao và bền vững thì họ phải đáp ứng được các giá trị và quy chuẩn của VHDN, có ý thức gắn bó với doanh nghiệp

2.2 Tăng cường thực hành, phát huy triết lý đạo Phật vào hoạt động kinh doanh

Với phương châm “mua đúng bán đủ”, “Làm ăn chân chính” liệu đứng trước mọi cạnh tranh gay gắt từ đối thủ thì đạo Phật có trở thành triết lý kinh doanh đúng đắn?

“Triết lý đạo Phật” nói riêng và VHDN nói chung đã trở thành tài sản quý giá của

cả doanh nghiệp Làm nên sự khác biệt, sức mạnh cạnh tranh giữa nhiều đối thủ trong và ngoài nước Chính vì thế những triết lý kinh doanh xây dựng trên nền tảng đạo Phật cần được giữ gìn và phát triển hơn nữa trước sự biến động thị trường dựa trên những giá trị

cơ bản đạo Phật về “Thế giới quan, nhân sinh quan”

Ngày đăng: 26/06/2022, 18:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1 Các sản phẩm hữu hình văn hoá doanh nghiệp của tập đoàn Hoa Sen Kiến trúc: - Những nội dung cơ bản trong triết lý đạo Phật và vận dụng trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp
1.1 Các sản phẩm hữu hình văn hoá doanh nghiệp của tập đoàn Hoa Sen Kiến trúc: (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w