1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại

97 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Quản Lý Tài Chính Tại Trường Đại Học Thương Mại
Tác giả Trần Việt Thảo
Người hướng dẫn PGS.TS. Đàm Văn Huệ
Trường học Đại học Kinh tế
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó cần thiết phải tăng đầu tư từ ngân sách Nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục, đổi mới cơ chế quản lý tài chính, chuẩn hoá và hiện đại cơ sở trường

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀM VĂN HUỆ

HÀ NỘI- NĂM 2009

Trang 3

1.1 Các quan niệm về quản lý tài chính của trường đại học 6

1.1.3 Đặc điểm về nguồn tài chính cho giáo dục đại học 9 1.1.4 Quan niệm về quản lý tài chính của các Trường đại học 10

1.2 Nội dung quản lý tài chính của trường đại học 10

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính của trường đại học 25 1.3.1 Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với

1.3.2 Hình thức sở hữu và quy mô của trường đại học 26 1.3.3 Trình độ khoa học công nghệ và trình độ quản lý của trường đại học 27

1.4 Kinh nghiệm trong quản lý tài chính giáo dục đại học 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA

Trang 4

2.1 Khái quát về Trường Đại học Thương mại 36 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trường ĐHTM 36

2.1.3 Quy mô đào tạo, đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất 38 2.1.4 Tổ chức bộ máy kế toán – tài chính của Trường ĐHTM 41

2.2 Thực trạng quản lý tài chính của Trường ĐHTM 43

2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý tài chính của Trường ĐHTM 57

3.1.3 Quan điểm về hoàn thiện quản lý tài chính của Trường ĐHTM 67

3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính của Trường ĐHTM 67 3.2.1 Giải pháp khai thác nguồn thu của Trường ĐTM 68 3.2.2 Giải pháp quản lý chi tiêu và phân phối chênh lệch thu chi của

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Giáo dục và Đào tạo được coi là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, trong đó giáo dục đại học mang ý nghĩa quyết định Sản phẩm của GD ĐH hoàn toàn khác biệt so với các cấp giáo dục khác Ở đó cung cấp một nguồn nhân lực trình độ cao cho các ngành kinh tế quốc dân, cho phép kiến tạo ra nhiều giá trị gia tăng với cả số lượng và chất lượng

Ngày nay, thế giới khẳng định rằng đầu tư cho giáo dục đào tạo nói chung và GD ĐH nói riêng là đầu tư phát triển Đảng và Nhà nước ta cũng

khẳng định “giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu” [5,tr82] Điều đó chứng

tỏ chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của việc đầu tư và phát triển hệ thống giáo dục đặc biệt GD ĐH

Trong hệ thống các giải pháp để phát triển nền GD ĐH, giải pháp mang ý nghĩa chiến lược là cần phải tăng cường nguồn tài chính nhằm bổ sung, phát triển cơ sở vật chất cho GD ĐH Theo đó cần thiết phải tăng đầu tư từ ngân sách Nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục, đổi mới cơ chế quản lý tài chính, chuẩn hoá và hiện đại cơ sở trường lớp, trang thiết bị giảng dạy, nghiên cứu và học tập

Trường Đại học Thương Mại là trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo được thành lập theo quyết định số 733/NT ngày 14 tháng

9 năm 1961 trên cơ sở thống nhất các trường Thương nghiệp Trung ương, Trung cấp Thương nghiệp và Trung cấp Thương phẩm làm một trường, lấy tên là Trường Thương nghiệp Trung ương Năm 1965, trường được giao nhiệm vụ đào tạo đại học Năm 1979, trường đổi tên là Trường Đại học

Trang 8

Thương nghiệp Ngày 02 tháng 05 năm 1994, theo quyết định số 203/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi tên trường Đại học Thương nghiệp thành trường Đại học Thương Mại Trong suốt quá trình đào tạo, đặc biệt là từ những năm đổi mới nền kinh tế, nhà trường đã đầu tư nhiều công sức nghiên cứu đổi mới mục tiêu đào tạo ngành nghề, cơ cấu kiến thức, xây dựng hệ thống các chương trình, giáo trình, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo nhằm đáp ứng các yêu cầu hội nhập và phát triển của nền kinh tế Để đạt được điều đó thì một trong những vấn đề quan trọng là phải đổi mới công tác quản

lý tài chính của trường Đại học Thương Mại cho phù hợp với tình hình mới

và xu hướng chung của giáo dục đại học Vì vậy, đề tài “Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương Mại” đã được lựa chọn để làm luận văn thạc sỹ

- Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 01 năm

2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu

- Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21 tháng 03 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu

- Thông tư số 81/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 16 tháng 09 năm

2002 hướng dẫn kiểm soát chi đối với cơ quan hành chính Nhà nước thực

Trang 9

hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính, đơn vị thực hiện chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu

* Các công trình nghiên cứu như các bài viết đăng trên các tạp chí, luận văn, luận án đều đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập tới hoàn thiện quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp hành chính nói chung và các đơn vị sự nghiệp hành chính có thu nói riêng như:

- Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường

trực thuộc Đại học Quốc Gia Hà nội”- Lê Thị Quyên, Đại học Thương Mại,

2007

- Luận văn thạc sỹ “Tự chủ tài chính và công khai tài chính trong các

đơn vị sự nghiệp có thu tại Đại học Quốc gia Hà nội”- Trần Thị Thu Hà, Đại

học Kinh tế quốc dân, 2007

- Luận văn Thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với các

đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam” - Phan Việt Nga, Đại học Kinh tế quốc dân,

2004

- Luận văn thạc sỹ “Quản lý thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam”, Cao

Thị Thu Hương, Đại học Quốc gia Hà nội, 2006

- Ngoài ra, rất nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí đều có đề cập đến việc hoàn thiện quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu .Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay thì chưa có một đề tài nào đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trường ĐHTM

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích:

Trang 10

Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp hành chính có thu nói chung và của các trường đại học công lập Việt Nam nói riêng, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.Từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới và hoàn thiện việc quản lý tài chính tại Trường ĐHTM trong điều kiện hiện nay

Trang 11

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý tài chính của Trường ĐHTM trong thời gian tới

4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Việc quản lý tài chính của trường đại học công lập ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc quản lý tài chính của trường ĐHTM thời gian từ 2002 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng phép biện chứng và quan điểm lịch sử cụ thể, kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, so sánh, trừu tượng hoá

và khái quát hoá, sử dụng phương pháp phân tích thống kê để đưa ra những giải pháp cho hiện tại và tương lai

6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn:

- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những lý luận về quản lý tài chính trong những đơn vị sự nghiệp hành chính có thu

- Phân tích nhằm làm rõ thực trạng quản lý tài chính tại Trường ĐHTM

- Đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trường ĐHTM trong thời gian tới

Trang 12

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về quản lý tài chính của trường Đại học

Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính của Trường Đại học Thương Mại Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính của Trường Đại học Thương

Mại

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1.CÁC QUAN NIỆM VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1.1 Vài nét cơ bản về giáo dục đại học

Giáo dục là “Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [22, tr83]

Đại học là “Bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục” [22,tr83]

Giáo dục đại học hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cấp cao đẳng, cấp đại học và cấp sau đại học ( đào tạo thạc sỹ và đào tạo tiến sỹ), theo nghĩa hẹp

GD ĐH chỉ bao gồm cấp đại học hoặc cấp đại học và cấp cao đẳng

Trong phạm vi luận văn thạc sỹ, GD ĐH được hiểu theo nghĩa gồm cấp cao đẳng, cấp đại học và cấp sau đại học

Theo luật giáo dục Việt Nam, hệ thống giáo dục quốc dân gồm:

- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo

- Giáo dục phổ thông có hai bậc học là bậc tiểu học và bậc trung học, bậc trung học có hai cấp học là cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông

- Giáo dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và dạy nghề

- Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học, giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sỹ và trình độ tiến sỹ

Trong đó, đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện trong 3 năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp Đào tạo đại học trình độ đại học được thực hiện từ 4 đến 6 năm tuỳ theo từng ngành học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ

Trang 14

thông hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, từ 1 đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành

Như vậy, GD ĐH là bậc học cuối cùng trong hệ thống giáo dục quốc dân Tuy nhiên, GD ĐH ngày nay đã mang những quan niệm mới:

- GD ĐH là giáo dục sau trung học phổ thông Đây là quan niệm mới về giáo dục đại học của tổ chức văn hoá, giáo dục xã hội Liên hiệp quốc (UNESCO), được nhiều quốc gia thừa nhận

- GD ĐH đã mang tính đại trà, không còn giới hạn ở giáo dục tinh hoa như đại học truyền thống

Với quan niệm mới như vậy, GD ĐH thực chất là một hệ thống mở cho đào tạo đại học và làm cơ sở cho việc mở rộng các hình thức đào tạo mới như đào tạo từ xa, đại học mở Đồng thời làm phong phú thêm các hoạt động GD

ĐH (cung ứng GD ĐH, nội dung chương trình đào tạo, nguồn vốn đầu tư )

GD ĐH theo quan điểm mới có các đặc điểm sau:

- GD ĐH luôn gắn với giáo dục dạy nghề, là giáo dục dạy nghề Mỗi trường đại học đều có một danh mục ngành nghề cụ thể nhất định Danh mục ngành nghề đào tạo ấy không cố định, khép kín mà có tính mở theo yêu cầu của đời sống xã hội

- GD ĐH luôn song hành cùng nghiên cứu khoa học Không nghiên cứu khoa học nghĩa là không phải và không còn là đại học

- GD ĐH mang đậm tính dân tộc, đồng thời cũng đậm tính quốc tế Nó là đỉnh cao của dân tộc, là cửa ngõ để văn hoá, khoa học kỹ thuật quốc gia đến với thế giới và thế giới đến với nước ta Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên

mà các nguyên thủ quốc gia khi đến thăm các nước thường tới thăm các trường đại học

Trang 15

1.1.2 Vai trò của giáo dục đại học

GD ĐH đóng vai trò quyết định đối với việc phát triển kinh tế tri thức Kinh tế tri thức là kinh tế từ trí tuệ và của trí tuệ Đại học là nơi khai mở trí tuệ của con người, nơi đó đánh thức tài năng của con người Nếu giáo dục nơi

đó tốt thì các bậc kỳ tài sẽ đưa nền kinh tế đi lên Nếu giáo dục nơi đó xấu chỉ biết rập khuân thì không có tri thức để phát triển kinh tế Vì vậy GD ĐH

quyết định việc phát triển kinh tế tri thức

Trong thế giới hiện nay, GD ĐH không chỉ thể hiện sự trưởng thành của người học về mức độ tri thức, mà còn là cơ hội để người học đạt được các mục tiêu nghề nghiệp cá nhân và hiệu quả kinh tế Đứng trên bình diện cá nhân, GD ĐH cải tiến chất lượng cuộc sống của từng cá nhân chúng ta Hơn thế nữa, GD ĐH có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với xã hội nói chung

Nó mở ra cánh cửa cho sự hiểu biết của chúng ta đối với các mức độ phức tạp của xã hội hiện đại, và nó cho phép chúng ta đóng góp vào sự giàu mạnh của cộng đồng và dân tộc GD ĐH không phải chỉ là lợi ích tư (private benefit),

mà còn là lợi ích công vô cùng quí báu (public good) Một trong các chỉ số của một xã hội thịnh vượng là khi các công dân của xã hội đó tìm kiếm cơ hội giáo dục tốt hơn Ngày nay, sinh viên tốt nghiệp đại học các nhà lãnh đạo trong các doanh nghiệp, công ty tư nhân và chính phủ luôn hướng đến mục đích khai thác tối đa các lợi ích của GD ĐH Điều này giúp cho họ phát huy mức độ hiệu quả của những gì họ học được ở đại học và cho phép họ phục vụ cho quyền lợi của dân tộc, và rộng lớn hơn, cho cả thế giới

GD ĐH hiện đại là một trong những thành tích vĩ đại nhất của nền văn minh nhân loại Nhưng giá trị của GD ĐH không chỉ nằm trong các kiến thức chính xác và sâu sắc mà GD ĐH đem đến cho thế hệ trẻ, mà còn trong các giá trị đạo đức mà GD ĐH có thể giúp thế hệ trẻ đóng góp cho các tiến bộ xã hội khi họ ra trường và trở thành những người chín chắc và trưởng thành thực sự

Alexander Griboyedov, một nhà soạn kịch Nga thế kỷ 19 đã từng nói: "Con

Trang 16

người càng được giáo dục nhiều thì mức độ hữu dụng của họ đối với đất nước của họ càng tăng."[6,tr82] Ở ngưỡng cửa của thế kỷ 21, chúng ta cần

phải có thêm vào một điều nữa là những người được giáo dục là của cải quý báu và có giá trị nhất của toàn bộ xã hội vốn đang hướng về sự toàn cầu hoá

Hiện nay, cộng đồng thế giới đang trải qua các chuyển đổi quan trọng trong chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự Cơ cấu ý thức xã hội đang không ngừng thay đổi Các khái niệm cũng đang được chuyển đổi trong lúc thế giới đang trở nên có nhiều mâu thuẫn hơn Mối nguy hiểm của các mâu thuẫn quân sự cũng đang được thu nhỏ hơn, trong khi đó các mối đe doạ về các tai ương về sinh thái học có tính toàn cầu đang càng ngày càng tăng lên Cùng lúc đó, những người sống trong các đất nước khác nhau càng ngày càng có nhiều cơ hội hợp tác với nhau trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, khoa học

và văn hoá

Giáo dục cũng đang có nhiều thay đổi quan trọng Giáo dục đang ngày càng trở thành một công cụ để đạt được sự tích hợp giữa xã hội và các nguồn sản xuất không thể thiếu được của cộng đồng thế giới Hợp tác quốc tế trong giáo dục có thể giải quyết và thậm chí có thể vượt qua được các mâu thuẫn chính trị giữa các dân tộc Nó tạo điều kiện cho sự hiểu biết lẫn nhau và làm cho các dân tộc càng ngày càng gần nhau hơn

1.1.3 Đặc điểm về nguồn tài chính cho giáo dục đại học

Chế độ tài chính trong trường đại học là một hệ thống các nguyên tắc, các quy định, quy chế, chế độ của Nhà nước mà hình thức biểu hiện là những văn bản pháp luật, pháp lệnh, nghị định , ngoài ra nó còn thể hiện qua các quy chế, quy định của trường đại học đối với các hoạt động tài chính của trường đại học Các quy định này phải tuân theo các văn bản pháp quy của Nhà nước

có liên quan tới các hoạt động tài chính của trường đại học Như vậy, tài chính trong trường đại học là sự vận động của đồng tiền để thực hiện mục tiêu

Trang 17

phát triển, mục tiêu đào tạo Bản chất của vấn đề đầu tư cho giáo dục đào tạo

là đầu tư cho phát triển, cho sự hoàn thiện nhân cách con người Quản lý tài chính trong trường đại học là quản lý việc thu chi một cách có kế hoạch, tuân thủ các chế độ tài chính, sư phạm đã quy định và tạo ra được hiệu quả chất lượng giáo dục

1.1.4 Quan niệm về quản lý tài chính của các Trường đại học

Các trường đại học là những đơn vị có thu trong đó có các trường công lập và các trường dân lập Với đặc điểm, tính chất tổ chức hoạt động của các trường đại học nói chung và đại học công lập nói riêng là quản lý quá trình tiếp nhận, sử dụng, thanh quyết toán nguồn kinh phí Nhà nước cấp, quản lý hoạt động thu – chi tài chính và quản lý các loại tài sản, vật tư sử dụng phục

vụ cho hoạt động giáo dục và đào tạo

1.2.NỘI DUNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trong bối cảnh thực hiện Chiến lược giáo dục 2001-2010, quản lý tài chính của trường đại học phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Thực hiện đúng chế độ chính sách hiện hành

- Xác định và quản lý các khoản thu

- Khai thác và quản lý các nguồn thu

- Thanh quyết toán, báo cáo tài chính

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có nghiệp vụ về tài chính

Nội dung quản lý tài chính của trường đại học bao gồm:

- Quản lý các nguồn thu của trường đại học Trường đại học phải xác định đúng, đủ các nguồn thu theo quy định của Nhà nước, có kế hoạch khai thác các nguồn thu từ ngân sách Nhà nước và nguồn thu do nhà trường tự huy động được nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính của trường

- Quản lý chi tiêu của Trường đại học Trường cần phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính một cách hợp lý nhất, hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất nhằm đảm

Trang 18

bảo sự ổn định về các nguồn tài chính dài hạn và ngắn hạn, phục vụ các mục tiêu hoạt động tài chính của nhà trường Trường căn cứ vào các nguồn thu để lập kế hoạch chi tiêu sao cho đảm bảo thu bù chi và có phần chênh lệch Nội dung chi phải đúng đối tượng, đúng luật và tiết kiệm nhưng vẫn hiệu quả, đảm bảo chất lượng giảng dạy

- Phân phối chênh lệch thu chi Phần chênh lệch thu chi hàng năm sẽ được Thủ trưởng đơn vị trích lập các quỹ, sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn, theo thứ tự: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.Việc quản lý thu chi càng tốt thì phần chênh lệch càng lớn và do đó việc trích lập các quỹ sẽ hợp lý hơn, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong trường, tạo điều kiện tái đầu tư

cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy

Trong trường đại học, quản lý tài chính phải thực hiện những công việc sau:

- Tổ chức khai thác các nguồn lực tài chính

- Tổ chức phân bổ nguồn lực tài chính theo các mục tiêu đặt ra

- Chỉ đạo, điều phối các hoạt động tài chính - kế toán

- Kiểm tra, đánh giá

- Đổi mới

Trang 19

1.2.1 Quản lý nguồn thu

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản, là đầu tư phát triển Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Giáo dục đào tạo cùng với khoa học – công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Chính vì vậy, cần phải tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục, tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục, đổi mới cơ chế quản lý tài chính, chuẩn hoá và hiện đại hoá trường sở, trang thiết bị giảng dạy, nghiên cứu và học tập

Sự chuyển đổi của nền kinh tế đã làm thay đổi một cách căn bản quan điểm đầu tư cho giáo dục Đầu tư cho giáo dục và đào tạo không chỉ từ một nguồn gần như là duy nhất là ngân sách nhà nước như trước đây, mà một xã hội học tập, nhất thiết đầu tư cho giáo dục phải bao gồm các nguồn đầu tư sau:

- Nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp

- Nguồn thu từ học phí, các loại phí, lệ phí

- Các nguồn thu hợp pháp khác

1.2.1.1.Nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp

Giáo dục – đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Để phát triển sự nghiệp GD, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về

GD nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,

Trang 20

những năm qua Nhà nước ta đã dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sáchGD tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục

Chi cho GD- ĐT là một trong những nội dung quan trọng nhất của hoạt động chi NSNN Luật giáo dục ghi rõ: Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách GD, bảo đảm tỷ lệ NSNN chi cho GD tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp NSNN chi cho GD phải được phân bổ theo nguyên tắc công khai, tập trung dân chủ, căn cứ vào quy mô phát triển giáo dục, điều kiện phát triển KT-XH của từng vùng, miền và thể hiện được chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn

Đầu tư cho GD- ĐT được lấy từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước NSNN đóng vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho GD- ĐT Ngoài ra, Nhà nước còn dành một phần kinh phí từ ngân sách và sử dụng các nguồn khác để đưa cán bộ khoa học đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến

Ngân sách Nhà nước cấp cho trường đại học bao gồm các khoản mục sau:

- Một phần kinh phí hoạt động thường xuyên của trường đại học được Ngân sách Nhà nước bảo đảm

- Kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ, ngành, chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp có thẩm quyền giao, kinh phí thanh toán cho trường đại học theo chế độ đặt hàng để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước

- Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học theo dự án và kế hoạch hàng năm, vốn đối ứng do các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, kinh phí đầu tư ban đầu, đầu tư khuyến khích của Nhà nước đối với các trường ngoài công lập

Trang 21

Nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp hiện vẫn giữ vai trò chủ yếu

và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn tài chính của trường đại học Tuy nhiên, quy trình cấp phát ngân sách cho GD ĐH vẫn theo lối mòn của cách cấp phát theo nhu cầu thường niên.Trong các hạng mục dự chi hàng năm (chi thường xuyên, chi xây dựng cơ bản, chi sửa chữa nhỏ, chi mua sắm trang thiết

bị, chi đầu tư mới, chi theo chương trình, ), chi theo chương trình thường không đáng kể Tất cả các hạng mục chi trên đều được thực hiện theo chỉ tiêu đào tạo được giao hàng năm, dựa trên dự toán của các trường đại học

Từ việc thống nhất quan điểm “Giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu”, trong nhiều năm qua, đặc biệt là những năm đầu thế kỉ XXI, đầu tư cho giáo dục từ ngân sách nhà nước không ngừng tăng lên Năm 2008 đầu tư cho giáo dục đào tạo từ ngân sách Nhà nước đã đạt đến 20%/năm trong tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước, tăng hơn 2,9% so với năm 2004 và tăng hơn 6,3% so với năm 1998 Quy trình phân bổ ngân sách đã có những bước cải cách căn bản làm tăng tính hiệu quả của đầu tư cho GD

1.2.1.2 Nguồn thu từ học phí, các loại phí, lệ phí

Để tăng cường nguồn lực cho GD, thực hiện đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho giáo dục, điều 36 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước ưu tiên đầu

tư cho giáo dục” và “khuyến khích các nguồn đầu tư khác” Chính sách đó cho phép huy động mọi nguồn lực trong xã hội cho phát triển GD- ĐT nhằm chia sẻ bớt gánh nặng đối với Nhà nước Nguồn thu từ học phí, lệ phí đã góp phần tăng cường kinh phí đầu tư cho GD Thông qua việc thu học phí nhà nước cũng có thể điều tiết quy mô, cơ cấu đào tạo và thực hiện chính sách công bằng xã hội

Theo Luật giáo dục, học phí, lệ phí là khoản đóng góp của gia đình người học hoặc người học để góp phần đảm bảo cho các hoạt động GD Chính phủ quy định khung học phí, cơ chế thu và sử dụng học phí đối với tất cả các loại

Trang 22

hình trường, cơ sở giáo dục khác theo nguyên tắc không bình quân, thực hiện miễn giảm cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội và người nghèo

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ tài chính căn cứ vào quy định của Chính phủ về học phí, hướng dẫn việc thu và sử dụng học phí, lệ phí tuyển sinh của các trường và cơ sở giáo dục khác trực thuộc trung ương

Sau khi Nhà nước xoá bỏ hoàn toàn bao cấp trong GD, học phí có một vị trí rất quan trọng, chiếm một tỷ trọng khá cao trong tổng thu của trường, thậm chí có trường nguồn thu từ học phí cao gấp hơn 2 lần so với ngân sách Nhà nước cấp

Việc thực hiện chính sách học phí mang nhiều ý nghĩa khác nhau Thứ nhất, học phí là một trong những nguồn kinh phí quan trọng nhất để phát triển

GD ĐH trong điều kiện nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường Thứ hai, thông qua chính sách học phí, Nhà nước có thể thực hiện điều tiết quy mô

và cơ cấu GD ĐH Thứ ba, thông qua học phí, Nhà nước thực hiện chính sách

xã hội và thực hiện công bằng xã hội Với ý nghĩa như vậy, trong những năm

90 của thế kỷ trước, Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh chính sách học phí Lần thứ nhất, theo Quyết định số 241/TTg ngày 24/51993 của Thủ tướng Chính phủ thực hiện thu học phí đối với tất cả học sinh, sinh viên theo học tại các trường công lập (trừ bậc tiểu học) Đây là lần đầu tiên Nhà nước chính thức quy định mức học phí đối với giáo dục các cấp Lần thứ hai, sau 5 năm thực hiện Quyết định 241/TTg, mức học phí ở các cơ sở GD- ĐT công lập được quy định lại theo Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998, học phí được phân thành nhiều mức độ khác nhau Khung mức học phí chia theo khoảng cách lớn có ưu điểm là cho phép xác lập những mức khác nhau tuỳ thuộc vào loại trường, địa điểm trường và ngành nghề đào tạo phục vụ cho việc xác định và thực hiện chính sách về cơ cấu ngành nghề đào tạo

Trang 23

1.2.1.3 Các nguồn thu khác

Ngoài hai nguồn thu chính trên, các trường đại học còn có thể huy động sự đóng góp của các tổ chức kinh tế - xã hội và các cá nhân, các nguồn tài trợ của nước ngoài, các nguồn thu do hoạt động nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất tạo ra, các khoản thu từ hoạt động tư vấn chuyển giao công nghệ, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các cơ sở giáo dục, nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, Các nguồn thu này sẽ tạo điều kiện cho các trường nâng cấp

cơ sở vật chất, cải thiện đời sống của giảng viên và sinh viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập Nó cũng giúp khai thác tiềm năng của các thành phần, tổ chức kinh tế đóng góp kinh phí khi ngân sách còn hạn hẹp, đồng thời phát huy tính năng động của các trường đại học trong việc huy động nguồn tài chính cho GD-ĐT Với xu hướng nâng cao tính tự chủ về tài chính cho các trường đại học như hiện nay, việc tăng cường khai thác các nguồn vốn này đang trở thành một trong những chiến lược đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của trường đại học

Công tác nghiên cứu khoa học, tư vấn và dịch vụ trong các cơ sở đào tạo hiện chiếm khoảng 3%-4% tổng số kinh phí nghiên cứu khoa học của cả nước Đây là một tỷ lệ rất thấp Các sản phẩm nghiên cứu lại không được tiếp thị nên nhiều đề tài rất có ý nghĩa đối với sản xuất nhưng không được áp dụng, không được trao đổi, mua bán trên thị trường Cơ chế đầu tư cho nghiên cứu khoa học nói chung còn bị phân tán, hiệu quả thấp, chậm đổi mới

Sự liên kết giữa cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong công tác giảng dạy và nghiên cứu còn lỏng lẻo Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp còn hạn chế Vì vậy việc triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu rất hạn chế

Để tăng cường nguồn đầu tư cho phát triển GD- ĐT, thực hiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục, khuyến khích huy động và

Trang 24

tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục, cần thiết phải tranh thủ nguồn tài chính vay với lãi suất ưu đãi cho giáo dục từ Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á, các tổ chức quốc tế và các nước Thực hiện chế độ ưu đãi về sử dụng đất đai, vay vốn cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục Nhờ đó mà nguồn vốn ODA cho GD- ĐT những năm qua đã tăng đáng kể Việc ban hành Nghị định 06/2000/NĐ-CP quy định về việc hợp tác đầu tư với nước ngoài của bệnh viện, trường học, việc nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học, với nhiều điều khoản được ưu đãi như thuế, bảo đảm cân đối ngoại tệ đã thu hút nhiều đầu tư cho GD- ĐT Tuy nhiên, do còn thiếu kinh nghiệm, vừa học vừa làm nên nhiều chính sách về thu hút đầu tư còn chưa nhất quán và hay thay đổi gây khó khăn cho các nhà đầu tư Việc triển khai các dự án vốn vay ODA thường chậm trễ do nhiều nguyên nhân như: nội dung dự án do các nhà tài trợ giúp chưa sát với thực tế Việt Nam, thiếu các văn bản pháp quy hướng dẫn các thủ tục tiếp nhận và sử dụng ODA

1.2.2.Quản lý chi tiêu

- Chi thường xuyên: gồm tất cả các khoản xảy ra thường xuyên và liên tục hàng năm và được sử dụng hết trong năm đó, không thể dùng lại trong năm sau Chi thường xuyên gồm các khoản sau:

+ Chi tiền lương, tiền công

+ Chi học bổng, trợ cấp xã hội

+ Chi quản lý hành chính

+ Chi nghiệp vụ chuyên môn

+ Chi thuê chuyên gia, giảng viên

+ Chi bồi dưỡng nghiệp vụ hè

+ Chi cho công tác giáo dục, an ninh quốc phòng

+ Chi cho thi tốt nghiệp

Trang 25

+ Chi đề tài nghiên cứu khoa học

+ Chi sửa chữa thường xuyên

- Chi đầu tư phát triển, gồm chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị, chi thực hiện các dự án đầu tư khác theo quy định của Nhà nước

- Chi trả vốn vay, vốn góp

- Các khoản chi khác

Để đảm bảo các nội dung chi này, các trường đại học chủ yếu dựa vào nguồn cấp phát của NSNN Hiện nay, nguồn đầu tư của NSNN vẫn chiếm ưu thế trong tổng chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo do hệ thống trường công còn chiếm tỷ lệ lớn Mặt khác việc xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đào tạo còn chưa phổ biến nên chưa thu hút được các nguồn đầu tư khác cho hệ thống giáo dục Chi NSNN cho giáo dục bao gồm 4 nhóm chi sau:

- Nhóm 1: Chi cho con người Gồm lương, phụ cấp lương, phúc lợi, bảo

hiểm xã hội Đây là khoản chi bù đắp hao phí lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho giảng viên đại học, cán bộ công nhân viên của các đơn vị Khoản chi này theo kế hoạch chiếm khoảng 35-45% tổng chi của các trường và trong thực tế thì các trường cũng chi cao hơn kế hoạch, tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo được cuộc sống cho các giảng viên

Trang 26

- Nhóm 2: Chi quản lý hành chính Gồm công tác phí, công vụ phí như

điện, nước, xăng xe, hội nghị Đây là khoản chi mang tính gián tiếp đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ, chi kịp thời và cần phải quản lý tiết kiệm và có hiệu quả Khoản chi này thường chiếm khoảng 20% tổng chi thường xuyên

- Nhóm 3: Chi nghiệp vụ chuyên môn Gồm các khoản chi mua giáo trình,

tài liệu, sách giáo khoa, dụng cụ học tập, vật liệu, hoá chất phục vụ thí nghiệm, phấn viết tuỳ theo nhu cầu thực tế của các trường Khoản chi này nhằm đáp ứng các phương tiện phục vụ việc giảng dạy, giúp cho giảng viên truyền đạt kiến thức một cách hiệu quả Đây là khoản chi có vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, chiếm khoảng 15% tổng chi Hiện nay, trong thời đại công nghệ phát triển rất nhanh, nhu cầu thay đổi công nghệ phục vụ giảng dạy đang đòi hỏi một nguồn vốn lớn Vì vậy, việc tăng tỷ trọng chi cho giảng dạy và học tập là một trong những điều kiện để giúp nền giáo dục đại học nước nhà tránh tụt hậu so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới

- Nhóm 4: Chi mua sắm, sửa chữa Gồm các khoản chi cho việc sửa chữa,

nâng cấp trường, lớp, bàn ghế, trang thiết bị trong lớp học đảm bảo điều kiện

cơ sở vật chất cho việc giảng dạy và học tập Hiện nay tình trạng xuống cấp

cơ sở vật chất cho giảng dạy và học tập dẫn đến ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đào tạo Vì vậy khoản chi này cũng cần được chú trọng hơn trong thời gian tới

1.2.3 Quản lý và sử dụng các quỹ

Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, sau khi trang trải các khoản chi phí, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN theo quy định (thuế và các khoản phải nộp khác), số chênh lệch thu lớn hơn chi do Thủ trưởng đơn vị quyết định trích lập các quỹ, sau khi thống nhất với tổ chức Công đoàn, theo thứ tự sau:

Trang 27

- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, mức trích vào quỹ này là do Thủ trưởng đơn vị quyết định, nhằm mục đích đảm bảo thu nhập tương đối ổn định cho người lao động trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút, không đảm bảo kế hoạch đề ra

- Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, không vượt quá 3 tháng lương thực tế bình quân trong năm của đơn vị Quỹ này dùng để chi khen thưởng cho các tập thể và cá nhân người lao động, chi các hoạt động phúc lợi tập thể Thủ trưởng quyết định việc sử dụng và mức chi Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi sau khi đã thống nhất với tổ chức Công đoàn

- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Sau khi đã trích lập 3 quỹ trên Quỹ này được sử dụng nhằm tái đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn Trong phạm vi nguồn của quỹ, Thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng vào các mục đích trên theo quy định

Trường đại học không được trích lập các quỹ trên, từ các nguồn kinh phí sau:

- Kinh phí nghiên cứu khoa học đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ, ngành

- Chương trình mục tiêu quốc gia

- Tiền mua sắm, sửa chữa tài sản được xác định trong phần thu phí, lệ phí được để lại đơn vị theo quy định

- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản

- Vốn đối ứng các dự án, vốn viện trợ, vốn vay

- Kinh phí ngân sách Nhà nước cấp để thực hiện tinh giản biên chế

- Kinh phí ngân sách Nhà nước cấp thực hiện các nhiệm vụ đột xuất

- Kinh phí của các nhiệm vụ phải chuyển tiếp sang năm sau thực hiện

Trang 28

1.2.3.4 Hiệu quả kinh tế việc đầu tƣ vào giáo dục đại học

Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản, đầu tư cho sự phát triển toàn diện của con người Đầu tư cho giáo dục nhằm tạo ra vốn nhân lực, là một yếu tố

cơ bản trong sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Vốn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà một người lao động tích luỹ được Nó được đánh giá cao vì có tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng như vốn vật chất, vốn nhân lực là kết quả của đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai

Thực tế cho thấy trình độ đào tạo và kinh nghiệm công việc góp phần làm tăng thu nhập Sự thay đổi của tiền lương đối với người lao động tăng dần theo trình độ từ những người chỉ tốt nghiệp phổ thông cho đến những người tốt nghiệp loại giỏi của những trường đại học danh tiếng Tại sao lại như vậy?

Lý do là trình độ đào tạo trực tiếp làm tăng năng suất lao động của người lao động và tạo điều kiện cho họ đạt được những mức lương cao hơn Tuy nhiên,

để đạt được mức lương cao hơn, người lao động phải bỏ ra nhiều chi phí hơn

là đi làm ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông Vậy, liệu việc đi học đại học có đem lại nhiều lợi ích cho người lao động hay hơn hay không?

Tính hiệu quả của mọi hoạt động phần lớn thể hiện ở chỗ nó phải sinh được lợi nhuận sau khi đã trừ hết mọi chi phí Việc sản xuất hay cung ứng dịch vụ chỉ được xem là có hiệu quả khi và chỉ khi nó mang đến lợi nhuận Tính hiệu quả của hầu hết các hoạt động xã hội lại được đo bằng cán cân chi phí - lợi ích và sự lớn hơn của lợi ích so với chi phí bỏ ra trong mọi hoạt động luôn là minh chứng của hiệu quả

Hoạt động giáo dục, cũng như rất nhiều hoạt động xã hội tương tự khác, là hoạt động cung ứng dịch vụ cho con người Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả kinh tế của việc đầu tư cho giáo dục là cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội hoá giáo dục như hiện nay

Trang 29

Phân tích chi phí - lợi ích là một phương pháp giúp ra các quyết định dài hạn như có nên xây dựng một nhà máy hoặc là có nên đi học đại học hay không Vì vậy, cách thức đánh giá đúng đắn nhất là so sánh giá trị hiện tại của các chi phí với giá trị hiện tại của các khoản lợi Chỉ nên quyết định khi giá trị hiện tại của các khoản lợi lớn hơn giá trị hiện tại của các chi phí

Để đánh giá chính xác hiệu quả của việc đầu tư vào giáo dục, vấn đề quan trọng đầu tiên là phải xác định được các chi phí thích hợp Đó là các chi phí về con người, các phương tiện, trang thiết bị, tài liệu và đầu vào của khách hàng - người học

Chi phí về con người bao gồm chi phí trả lương cho giảng viên, các nhân viên và các chuyên gia tư vấn Các phương tiện bao gồm không gian phòng học, văn phòng, kho, các phương tiện vui chơi giải trí và các yêu cầu

về nhà cửa khác Nếu đất đai và các phương tiện này được hiến tặng, thì phải dùng giá trị thị trường ước định để đánh giá chi phí của chúng Trang thiết bị

và tài liệu là để chỉ đồ dùng như lớp học và đồ dùng văn phòng, các thiết bị giảng dạy như máy tính, các công cụ nghe nhìn, sách và máy móc khoa học, các tài liệu như bài kiểm tra và giấy Cũng như các loại chi phí khác, nếu trang thiết bị và tài liệu được biếu tặng thì chúng phải được tính đến như thể

là chúng được mua

Đầu vào của khách hàng - người học bao gồm tất cả các khoản chi phí

có liên quan đến việc đi học như học phí, chi phí đi lại Ngoài ra chúng ta còn phải tính đến khoản thu nhập phải hy sinh khi người học đã quyết định đi học đại học thay vì đi làm sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông

Cuối cùng, chúng ta cũng phải tính đến các chi phí khác như chi phí điện nước, phí bảo hiểm, chi phí bảo dưỡng chung các phương tiện, thiết bị và chi phí đào tạo Nói chung, tất cả các đầu vào đều cần được xác định cụ thể để đưa ra đánh giá giá trị của chúng

Trang 30

Đầu tư vào giáo dục tạo ra nhiều lợi ích cả trong và ngoài học đường Lợi ích trong học đường là những thành quả về tính hiệu quả mà hệ thống giáo dục đạt được Lợi ích ngoài học đường là sự cải thiện trong khả năng tạo

ra thu nhập của học viên và các ngoại ứng - lợi ích tích luỹ lại cho xã hội nói chung nằm ngoài lợi ích của các đối tượng thụ hưởng Lợi ích ngoài học đường thể hiện qua thành quả thu được trong hiệu suất làm việc của sinh viên, được phản ánh bằng sự chênh lệch trong mức thù lao hoặc trong năng suất lao động

Ngoài ra, việc đầu tư cho giáo dục cũng đem lại những lợi ích cho xã hội Người ta đã liệt kê được một loạt các lợi ích liên quan đến giáo dục như mức độ tội phạm giảm, sự gắn kết trong xã hội, thay đổi công nghệ, phân phối thu nhập, hiến tặng từ thiện và cả giảm tỷ lệ sinh đẻ Tuy nhiên, hầu hết các lợi ích xã hội gắn với giáo dục đều không luợng hoá được, vì vậy rất khó đưa lợi ích này vào đánh giá hiệu quả của giáo dục

Như vậy, sau khi đã chiết khấu các chi phí cũng như các lợi ích của việc đầu tư vào giáo dục, nếu giá trị hiện tại của các khoản lợi cao hơn giá trị hiện tại của các chi phí, thì việc đầu tư cho giáo dục để cải thiện vốn nhân lực bằng cách học đại học là có ý nghĩa Nếu giá trị hiện tại của các khoản lợi nhỏ hơn giá trị hiện tại của các chi phí, thì nên bắt đầu đi làm sau khi tốt nghiệp

Hình sau sẽ minh hoạ các phân tích trên đây về các khoản chi phí và lợi ích có liên quan đến hiệu quả của giáo dục đại học Từ độ tuổi 18 đến 22, sinh viên tốt nghiệp đại học phải mất 4 năm đi học, gây ra chi phí của việc đi học

và thu nhập bỏ lỡ mà họ có thể kiếm được nếu chỉ là một học sinh tốt nghiệp phổ thông Ngoài chi phí tư nhân, chính phủ cũng tăng chi tiêu của mình nếu giáo dục đại học được trợ cấp Sau khi tốt nghiệp ở tuổi 22, sinh viên đại học bắt đầu có thu nhập cao hơn đồng nghiệp tốt nghiệp phổ thông của mình, và như hình vẽ cho thấy, tiếp tục có thu nhập cao hơn cho đến tuổi 60, khi cả hai

Trang 31

nhóm người cùng nghỉ hưu Mức thu nhập gia tăng tổng cộng, được thể hiện bằng diện tích có tên gọi “lợi ích”, là lợi ích ròng của giáo dục đại học

Hình 1.1: Chi phí và lợi ích điển hình của giáo dục đại học

Công thức trong phân tích chi phí - lợi ích được đưa ra trong đánh giá kinh tế của các dự án giáo dục đại học là:

t t

t

t t

) 1 (

) Es -

1 38

số hạng thứ hai là tổng giá trị hiện tại của chi phí Tỷ suất chiết khấu thường được dùng là tỷ suất hoàn vốn của giáo dục

Nguồn: Kinh tế học, tập 1, David Begg, NXB Giáo dục 1992, trang

Thu nhập bỏ lỡ Lợi ích

Trang 32

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ với những thay đổi, phát triển về xã hội, kinh tế và chính trị Tác động của những biến đổi này đến trạng thái của

hệ thống giáo dục, đến nội dụng giáo dục và cấu trúc của các cấp bậc học là rất đa chiều Đặc trưng cơ bản nhất của giáo dục đại học là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho tất cả các lĩnh vực của xã hội Sự phát triển của hệ thống GD ĐH một mặt bị tác động, chi phối đồng thời cũng góp phần thúc đẩy các xu hướng phát triển chung của đời sống xã hội hiện đại

Quản lý tài chính là một hoạt động rất quan trọng không chỉ đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mà cả đối với các trường đại học Nó là một trong những yếu tố quyết định quy mô, chất lượng đào tạo cũng như uy tín của trường đại học, nhất là trong điều kiện xã hội hoá giáo dục và nâng cao tính tự chủ tài chính của các trường đại học hiện nay Hoạt động QLTC phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi trường đại học sẽ khuyến khích và tạo

cơ sở cho trường đại học phát triển

Hoạt động QLTC trong trường đại học liên quan tới nhiều đối tượng trong nền kinh tế Do đó, để hoạt động QLTC phù hợp với quy mô và tính chất của trường đại học, nhà quản lý phải tính đến tác động của nhiều nhân tố Nhìn chung, hoạt động QLTC của trường đại học chịu tác động của các nhân

Trang 33

điều kiện để phát huy tính chủ động, sáng tạo của trường đại học thì đó sẽ là động lực nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động QLTC của mỗi trường

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, Nhà nước quản lý gần như tất cả các dịch vụ xã hội, trong đó có GD- ĐT Khi đó, trường đại học được cấp toàn bộ nguồn kinh phí từ NSNN và việc sử dụng nguồn kinh phí đó như thế nào cũng hoàn toàn theo quy định của Nhà nước Trong điều kiện đó, mọi người dân trong xã hội đều có cơ hội học tập, tuy nhiên do nguồn NSNN còn hạn hẹp nên Nhà nước không đáp ứng được nhu cầu học tập của toàn xã hội, cả về quy mô lẫn về chất lượng giáo dục

Việc chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những bước phát triển vượt bậc về kinh tế - văn hoá - xã hội Theo đó, lĩnh vực giáo dục cũng có những thay đổi rõ rệt theo hướng xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đào tạo, giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước

Hiện nay, chính sách tài chính trong giáo dục đào tạo đối với các trường đại học công lập đổi mới theo hướng:

- Tạo quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm cho sự nghiệp có thu mà trước hết là Hiệu trưởng nhà trường

- Tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước và đầu tư cho GD-ĐT

- Đa dạng hoá các hoạt động huy động vốn đầu tư cho GD-ĐT

- Sắp xếp bộ máy và tổ chức lao động hợp lý

- Tăng thu nhập cho người lao động

1.3.2 Hình thức sở hữu và quy mô của trường đại học

Thông qua cơ chế QLTC đối với đơn vị hành chính sự nghiệp, các trường đại học công lập hay các trường đại học dân lập sẽ tuân theo các quy định khác nhau Trên cơ sở đó, tuỳ theo quy mô của mỗi trường sẽ điều chỉnh các quan hệ tài chính khác nhau trong trường, như việc xác định các hình thức

Trang 34

huy động nguồn tài chính cho GD-ĐT hay việc phân phối chênh lệch thu chi hàng năm của trường như thế nào Với các trường đại học quy mô lớn, nguồn vốn lớn, vì vậy họ dễ dàng trong việc đầu tư nâng cấp và sử dụng các thiết bị một cách tiết kiệm, nâng cao trình độ giáo viên, cải cách tiền lương, có điều kiện sử dụng nguồn nhân lực hiếm hoi ở trình độ cao, kỹ năng giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Tuy nhiên, do quy mô lớn, bộ máy quản lý cồng kềnh nên việc thay đổi cơ chế quản lý kém linh hoạt và tốn kém Ngược lại, với quy mô nhỏ, các trường đại học sẽ dễ dàng thích ứng với những thay đổi về chính sách hoặc nhu cầu của thị trường lao động, nhưng lại khó có thể trang bị những trang thiết bị hiện đại, nâng cao trình độ của giáo viên do đó khó khăn trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy

1.3.3 Trình độ khoa học công nghệ và trình độ quản lý của trường đại học

Khoa học công nghệ phát triển đòi hỏi hoạt động QLTC phải thay đổi cho phù hợp, tránh lạc hậu và phải phù hợp với trình độ quản lý chung của trường đại học, giúp trường dễ dàng tiếp cận và thực hiện đúng mục tiêu của

cơ chế QLTC

Khoa học công nghệ và kỹ thuật ngày càng phát triển, tính truyền thống

về nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy trong trường đại học bị phá vỡ Để tăng tính hấp dẫn của mỗi khoá học và bảo đảm tính phù hợp của khoá học với thực tế sản xuất và đời sống, nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và hoạt động của trường đại học phải có sự chủ động về học thuật để thích ứng với những thay đổi hàng ngày của cuộc sống

Để khỏi bị lạc hậu, trường đại học thường xuyên phải gắn kết chặt chẽ với công nghiệp thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ Ngoài mục tiêu nâng cao chất lượng giảng dạy mang tính truyền thống, hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học hiện nay còn

Trang 35

phải đạt được mục tiêu mở rộng nguồn thu nhằm tăng thu nhập của trường Muốn vậy, trường đại học thường xuyên phải chuyển các nguồn lực nghiên cứu vào các đề tài và lĩnh vực mới Để đảm bảo thành công chính sách ưu tiên cho nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong môi trường cạnh tranh, quy trình cấp vốn cho hoạt động nghiên cứu phải hết sức năng động và linh hoạt Hệ thống QLTC đại học cần phải được thay đổi cho phù hợp

1.3.4 Điều kiện, môi trường kinh tế - xã hội

Những thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội và chính sách chi tiêu công cho GD ĐH là các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đổi mới hệ thống tài chính giáo dục đại học Trước hết, đó là sự xuất hiện của nền GD ĐH đại chúng, hệ quả là môi trường chính sách của GD ĐH đã từng bước thay đổi và ngày càng gắn chặt hơn với cấu trúc kinh tế - xã hội Những nhân tố trước đây được xem

là phù hợp với yêu cầu quản lý trường đại học thì nay không còn thích hợp và đòi hỏi phải có những cải cách, đổi mới Mục tiêu của sự đổi mới là nâng cao chất lượng đào tạo, sự thích ứng và tính công bằng trong các trường đại học

Yếu tố lao động và việc làm cũng đang có những thay đổi quan trọng Trong bối cảnh toàn cầu hoá và trước yêu cầu phát triển của một nền kinh tế trí thức, nhu cầu về lực lượng lao động của xã hội đang có sự thay đổi về chất Thay vì đòi hỏi một đội ngũ lao động phải được đào tạo trong các trường dạy nghề, trường trung học nghề hoặc trong các trường trung học chuyên nghiệp, trung học kỹ thuật trước khi bước vào thị trường lao động như trước đây, ngày nay xã hội đang có nhu cầu ngày càng tăng về lực lượng lao động được qua đào tạo ở trình độ đại học và sau đại học, các nhà khoa học và các chuyên gia bậc cao

Để đáp ứng yêu cầu học tập của xã hội, hệ thống GD ĐH ở hầu hết các nước đều phải mở rộng quy mô để tiếp nhận ngày càng nhiều sinh viên vào

Trang 36

học Kết quả là, số lượng các cơ sở đào tạo đại học tăng, mạng lưới các trường đại học ngày càng đa dạng hơn

Quy mô sinh viên tăng, số lượng trường đại học tăng nhưng chi phí công cũng như các nguồn lực cung cấp cho phát triển trường đại học không tăng tương ứng Điều này làm nảy sinh những bất cập và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng trong các trường đại học Nhằm ngăn chặn tình trạng suy giảm chất lượng GD ĐH, nhiều giải pháp đổi mới cả về tổ chức và quản lý đại học

đã được triển khai áp dụng Ngày nay, nâng cao chất lượng trong các trường đại học không còn là việc riêng của từng hệ thống đại học đơn lẻ mà đã trở thành mối quan tâm hàng đầu có tính toàn cầu của mọi quốc gia Mục tiêu của quá trình đổi mới chính sách quản lý đại học, trong đó có việc đổi mới hệ thống tài chính GD ĐH và từng bước trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học là nhằm nâng cao chất lượng trong các trường đại học

1.4.KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước

Trong bối cảnh sôi động của các xu hướng phát triển của đời sống xã hội hiện đại, GD ĐH ở các nước đã và đang phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức to lớn, đặc biệt là vấn đề giải quyết các mối quan hệ giữa quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo; giữa đào tạo và nghiên cứu, dịch vụ; giữa nhu cầu và nguồn lực cho phát triển Để giải quyết các yêu cầu đó, GD ĐH ở các nước đã và đang thực hiện các cuộc đổi mới và cải cách sâu rộng với các xu hướng sau:

- Xu hướng đại chúng hoá: Chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng và phổ cập Quy mô GD ĐH tăng nhanh Ở nhiều nước như Mỹ, Hàn Quốc tỷ lệ sinh viên đại học trong độ tuổi 18-26 lên đến 30-50%

Trang 37

- Xu hướng đa dạng hoá: Phát triển nhiều loại hình trường với cơ cấu đào tạo đa dạng về trình độ và ngành nghề theo hướng hàn lâm hoặc nghề nghiệp và công nghệ nặng về thực hành

- Tư nhân hoá: Để tăng hiệu quả đào tạo và thu hút nhiều nguồn lực ngoài NSNN cho GD ĐH, nhiều nước như Mỹ, Philippin phần lớn các trường đại học là đại học tư

- Bảo đảm chất lượng và nâng cao khả năng cạnh tranh Tập đoàn hoá

và công nghiệp hoá hệ thống GD ĐH

- Phát triển mạng lưới các đại học nghiên cứu để trở thành các trung tâm sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới, hiện đại Thông qua đào tạo và nghiên cứu để phát hiện và thu hút nhân tài khoa học và công nghệ

- Đẩy mạnh các loại hình dịch vụ đào tạo nhân lực quốc tế và khu vực Các trường đại học trở thành các cơ sở dịch vụ đào tạo nhân lực thu hút vốn đầu tư vào đào tạo từ nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển có nhu cầu tiếp cận với công nghệ hiện đại

Như vậy, xu hướng chung của GD ĐH trên thế giới là chuyển dần sang khu vực tư nhân Tuy nhiên, thực tế hiện nay NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo trong tổng nguồn vốn đầu tư cho GD ĐT Hệ thống GD ĐT của các nước đều

bị thiếu hụt về tài chính, do các lý do sau:

- Nhu cầu đào tạo đại học trong những năm gần đây tăng nhanh

- Các hình thức hỗ trợ cho các đối tượng thuộc cấp giáo dục thấp tăng lên

- Nhu cầu đào tạo phải thay đổi phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động nhiều biến động và phải đáp ứng được nhiều đối tượng khách hàng khác nhau

Trang 38

- Sự bùng nổ kiến thức trong thời đại của công nghệ thông tin đã làm cho các kỹ năng và cơ sở vật chất bị hao mòn vô hình nhanh chóng

- Yêu cầu mở rộng việc nghiên cứu khoa học và đáp ứng các tiêu chuẩn

về chất lượng GD ĐH

Chính vì vậy, xu hướng quốc tế là tăng quyền tự chủ trong QLTC và quản lý nhân sự của các cấp cơ sở trong hệ thống giáo dục xuống tận cấp trường - cấp phải đối mặt thường xuyên với các vấn đề thực tiễn của người dạy và người học, đồng thời cũng là cấp có khả năng phân bổ và sử dụng các nguồn lực thích hợp nhất Xu hướng này chính là công cuộc cải cách tài chính trong tiến trình cải cách giáo dục đã được thực hiện có hiệu quả ở một số nước phát triển Cải cách tài chính trong tiến trình cải cách giáo dục chính là

sự phân công và phân bổ lại các nguồn kinh phí phục vụ cải cách giáo dục có hiệu quả, đạt chất lượng cao

1.4.1.1 Kinh nghiệm của Mỹ

Nguồn kinh phí và tỷ lệ chi tiêu cho GD ĐH ở Mỹ là rất lớn, gồm: sự

hỗ trợ tài chính rất lớn của Nhà nước và xã hội Ngân sách hàng năm của Nhà nước Mỹ dành cho giáo dục luôn có xu hướng gia tăng (ví dụ năm 1985 đầu

tư cho lĩnh vực này vào khoảng 300 tỷ đôla, năm 1989 là 353 tỷ, đến năm

1999 đã đạt 635 tỷ đô la) nên phần chi cho giáo dục đại học cũng lớn theo Hiện nay, tỷ lệ đầu tư cho giáo dục chiếm khoảng 7% GDP, và nếu kể cả phần chi của xã hội thì toàn bộ chi tiêu cho GD ĐT hàng năm xấp xỉ khoảng

1000 tỷ đô la, trong đó GD ĐH chiếm đến 2/3, tức hơn 700 tỷ đô la

Trong cơ chế QLTC tập trung, nhà trường nhận các nguồn tài trợ về giảng viên, tài liệu học tập, phương tiện đi lại và một phần kinh phí Với việc phân bổ ngân sách theo các tiêu chuẩn định sẵn như vậy đã bị chỉ trích là có hại chi việc thiết kế các chương trình, đặc biệt là làm mất khả năng sáng tạo của đội ngũ, ngăn cản sự đổi mới của nhà trường và hạn chế khả năng tham

Trang 39

gia của các nhà giáo dục và cha mẹ học sinh Các nhà kinh tế học giáo dục Hoa Kỳ cho rằng nhà trường chỉ có thể thực hiện cải cách giáo dục một cách hiệu quả nếu có hai chiến lược cơ bản: chiến lược quản lý tài chính và chiến lược hiệu quả chi phí và chất lượng Các nghiên cứu trong lĩnh vực trường tư

ở Mỹ cũng cho thấy rằng phi tập trung hóa trong 4 lĩnh vực: quyền lực, thông tin, tri thức và kinh phí sẽ làm tăng hiệu quả và chất lượng đào tạo trong nhà trường Để tự chủ, nhà trường cần có quyền lực thực sự đối với ngân sách, có quyền quyết định phân bổ chúng như thế nào và ở đâu Đó chính là quyền tự chủ về tài chính của nhà trường

Khi trao quyền tự chủ về tài chính cho các nhà trường, các nhà quản lý quận huyện tiếp tục kiểm soát các chi phí của nhà trường như nhà cửa, lương giáo viên, các khoản mua sắm ban đầu Các nhà quản lý quận huyện cần đưa

ra danh mục các trang thiết bị chất lượng và buộc nhà trường phải tuân theo

Do đó, các chuyên gia QLTC cấp huyện tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với nhà trường trong quá trình tự chủ về tài chính Họ tiếp tục quyết định số tiền

mà mỗi trường được nhận, trợ giúp các nhà lãnh đạo nhà trường về mặt kỹ thuật, tài chính, giá cả, chỉ đạo và hướng dẫn các khoản chi tiêu, mua sắm của nhà trường

Trong thực tế, ở Mỹ không có một hệ thống thống nhất cho quyền tự chủ tài chính trong các nhà trường Điều này dẫn đến các nhà trường có quyền khác nhau đối với việc sử dụng ngân sách Có trường tự chủ 80% ngân sách,

kể cả lương giáo viên Có trường chỉ được quản lý một phần nhỏ như trả lương cho giáo viên hợp đồng hay mua sắm các trang thiết bị nhỏ Một số quận huyện cho phép trường học tự tuyển giáo viên phù hợp với trường nhưng trong một khuân khổ luật định nhất định Từ đó các trường chỉ có thể thuê giáo viên ít kinh nghiệm hoặc giáo viên làm việc thêm giờ để giảm giá

Trang 40

thành phải trả cho đội ngũ Một số quận, huyện khác thì lại cho phép các trường học thuê giáo viên dựa trên mức chi phí cơ bản

Để thực hiện tự chủ tài chính trong các nhà trường được tốt đòi hỏi sự hợp tác, đặc biệt là sự hợp tác của lãnh đạo nhà trường, các thanh tra viên và giáo viên Vì vậy, nhà trường cần có các quyền sau đây:

- Quản lý chuyên môn: Nhà trường phải được tự tuyển chọn đội ngũ, quyết định thời gian làm việc của các tổ chuyên môn, phân công lao động hợp

lý đối với các thành viên trong nhà trường

- Quản lý các khoản chi tiêu cho giáo viên và các phương tiện sử dụng trong nhà trường

- Kiểm soát các nguồn cung cấp: Nhà trường chủ động tìm người cung cấp các dịch vụ và các thiết bị khi họ cần

- Quyền cho các nhà trường chuyển các khoản tiền chưa chi tiêu của họ sang năm học sau

Khi trao quyền tự chủ về tài chính cho nhà trường, việc phân bổ ngân sách giáo dục được thực hiện theo các phương thức sau:

- Mỗi trường học được nhận một số tiền dựa trên đầu học sinh Chính quyền liên bang định mức chi phí cơ bản cho mỗi học sinh và cung cấp kinh phí này cho mỗi trường học Đối với các bang mà có sự khác biệt quá nhiều trong học sinh giữa các cấp quận huyện, các trường thì cần có thời gian để thích nghi với sự chuyển đổi này

- Định mức kinh phí cấp trên đầu học sinh tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông thì khác nhau Trợ cấp kinh phí cho các học sinh nghèo giúp họ có điều kiện đạt được chương trình học cơ bản Số tiền cấp thêm này phải đảm bảo cho trường học giúp các học sinh nghèo đạt được thành tích học tập ở mức cần thiết và có năng lực giải quyết vấn đề thành thạo Định mức hỗ trợ này ít nhất phải là 1.500 USD cho một học sinh

Ngày đăng: 26/06/2022, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Anh (2004), Một số kinh nghiệm phát triển và cải cách giáo dục đại học ở Trung Quốc, Tạp chí Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm phát triển và cải cách giáo dục đại học ở Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh
Năm: 2004
2. David Begg (1992), Kinh tế học, tập 1, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học, tập 1
Tác giả: David Begg
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1992
3. Pedro Belli (2002), Phân tích kinh tế các hoạt động đầu tư, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh tế các hoạt động đầu tư
Tác giả: Pedro Belli
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2002
7. Chính phủ (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Hà Nội 8. Chính phủ, Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2002về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Hà Nội "8. Chính phủ, "Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2002
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
9. Nguyễn Thị Kim Dung (2001), Thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đại học nhằm phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010, Luận án tiến sỹ khoa học kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đại học nhằm phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2001
10. Nguyễn Thị Kim Dung (2001), Một số suy nghĩ về nâng cao tính tự chủ tài chính trong trường Đại học, Tạp chí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về nâng cao tính tự chủ tài chính trong trường Đại học
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2001
13. Học viện tài chính (2002), Giáo trình Quản lý tài chính Nhà nước, Nhà xuất bản tài chính, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý tài chính Nhà nước
Tác giả: Học viện tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2002
16. Lê Xuân Trường (2002), Cải cách hành chính trong tiến trình cải cách giáo dục - kinh nghiệm của Hoa Kì, Tạp chí Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính trong tiến trình cải cách giáo dục - kinh nghiệm của Hoa Kì
Tác giả: Lê Xuân Trường
Năm: 2002
21. Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo (2003), Nâng cao năng lực quản lý tài chính - kế toán trường học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực quản lý tài chính - kế toán trường học
Tác giả: Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo
Năm: 2003
6. Các website của Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Công Giáp (2003), Thực trạng xã hội hoá giáo dục đại học Khác
14. Luật Giáo dục (1998), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
15. Luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi (2004), NXB Tài chính, Hà Nội Khác
17. Trường Đại học Thương Mại, Báo cáo quyết toán tài chính từ 2002 đến 2008 Khác
18. Trường Đại học Thương mại, Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thương Mại Khác
19. Trường Đại học Thương Mại, Những điều sinh viên trường Đại học Thương Mại cần biết (2007) Khác
20. Trường Đại học Thương mại (2007), Quy chế chi tiêu nội bộ từ 2002 đến 2008 Khác
22. Từ điển tiếng Việt (1988), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Kiểm tra bài củ: Em hãy nêu một số thao tác mà ta có thể thực hiện trên bảng dữ liệu? - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
2. Kiểm tra bài củ: Em hãy nêu một số thao tác mà ta có thể thực hiện trên bảng dữ liệu? (Trang 19)
Hình 1.1: Chi phí và lợi ích điển hình của giáo dục đại học - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Hình 1.1 Chi phí và lợi ích điển hình của giáo dục đại học (Trang 31)
Hình 2.1: Hệ thống cơ cấu tổ chức của Trƣờng Đại học Thƣơng Mại - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Hình 2.1 Hệ thống cơ cấu tổ chức của Trƣờng Đại học Thƣơng Mại (Trang 44)
Hình 2.2: Cơ cấu bộ máy kế toán - tài chính của Trƣờng ĐHTM - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Hình 2.2 Cơ cấu bộ máy kế toán - tài chính của Trƣờng ĐHTM (Trang 48)
Bảng 2.1: Chi Ngân sách Nhà nƣớc cho giáo dục ở Việt Nam từ 2000-2008 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Bảng 2.1 Chi Ngân sách Nhà nƣớc cho giáo dục ở Việt Nam từ 2000-2008 (Trang 50)
Bảng 2.2: Nguồn thu của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004 – 2008 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Bảng 2.2 Nguồn thu của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004 – 2008 (Trang 52)
Bảng 2.3: Cơ cấu cấp ngân sách đƣợc cấp của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Bảng 2.3 Cơ cấu cấp ngân sách đƣợc cấp của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 (Trang 53)
Bảng 2.6: Nguồn thu ngoài ngân sách Nhà nƣớc của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Bảng 2.6 Nguồn thu ngoài ngân sách Nhà nƣớc của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 (Trang 56)
Qua bảng trên ta thấy, nguồn thu ngoài NSNN tăng lên hàng năm. Tuy nhiên nếu xét về tỷ trọng nguồn ngoài ngân sách Nhà nước trong tổng nguồn  kinh phí của trường thì vẫn chỉ chiếm dưới 60% - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
ua bảng trên ta thấy, nguồn thu ngoài NSNN tăng lên hàng năm. Tuy nhiên nếu xét về tỷ trọng nguồn ngoài ngân sách Nhà nước trong tổng nguồn kinh phí của trường thì vẫn chỉ chiếm dưới 60% (Trang 56)
Bảng 2.7: Cơ cấu chi nguồn ngân sách Nhà nƣớc của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Bảng 2.7 Cơ cấu chi nguồn ngân sách Nhà nƣớc của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 (Trang 59)
Bảng 2.8: Cơ cấu chi nguồn ngoài ngân sách Nhà nƣớc của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Bảng 2.8 Cơ cấu chi nguồn ngoài ngân sách Nhà nƣớc của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 (Trang 61)
Bảng 2.9: Phân phối chênh lệch thu chi của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường Đại học Thương mại
Bảng 2.9 Phân phối chênh lệch thu chi của Trƣờng Đại học Thƣơng mại từ 2004-2008 (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w