Từ đầu những năm 2000 của thế kỷ XXI đến nay đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến đề tài xóa đói giảm nghèo của Lào, cụ thể là các công trình sau: L
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
- -
Oudomphone SIVONGSA
NGHIÊN CỨU NGHÈO ĐA CHIỀU
Ở TỈNH SALAVAN, NƯỚC CỘNG HÒA
DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
HÀ NỘI - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
- -
Oudomphone SIVONGSA
NGHIÊN CỨU NGHÈO ĐA CHIỀU
Ở TỈNH SALAVAN, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN
CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Nghiên cứu sinh
Oudomphone SIVONGSA
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐA CHIỀU 22
1.1 Cơ sở lý luận về nghèo, nghèo theo thu nhập và nghèo đa chiều 22
1.1.1 Quan niệm chung về nghèo 22
1.1.2 Quan niệm về nghèo theo thu nhập 23
1.1.3 Quan niệm về nghèo đa chiều 24
1.2 Thước đo nghèo 28
1.2.1 Thước đo nghèo theo góc độ thu nhập 28
1.2.2 Thước đo nghèo đa chiều 30
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều 37
1.3.1 Các chính sách và việc thực thi chính sách của Nhà nước 37
1.3.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế của địa phương 39
1.3.3 Rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh và các rủi ro khác 41
1.3.4 Đặc điểm hộ gia đình 42
1.3.5 Đặc điểm cơ sở hạ tầng - dịch vụ xã hội 43
1.4 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và một số địa phương của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giảm nghèo đa chiều 44
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 44
1.4.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 51
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Salavan 54
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NGHÈO ĐA CHIỀU Ở TỈNH SALAVAN, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 56
2.1 Khái quát về tỉnh Salavan 56
2.1.1 Về vị trí địa lý và địa hình 56
Trang 52.1.2 Về khí hậu thời tiết 57
2.1.3 Về tài nguyên đất đai 57
2.1.4 Về tài nguyên rừng 57
2.1.5 Về tài nguyên khoáng sản 58
2.1.6 Về tài nguyên nước 58
2.1.7 Về tiềm năng du lịch 58
2.1.8 Về đặc điểm kinh tế 58
2.1.9 Về đặc điểm văn hóa xã hội 59
2.2 Thực trạng nghèo và hiệu quả công tác giảm nghèo tại tỉnh Salavan 61
2.2.1 Thực trạng nghèo tại tỉnh Salavan giai đoạn 2011 - 2020 61
2.2.2 Hiệu quả công tác giảm nghèo tại tỉnh Salavan giai đoạn 2011- 2020 66
2.3 Đo lường mức độ nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan 71
2.3.1 Đo lường mức độ thiếu hụt của các hộ dân tại tỉnh Salavan 71
2.3.2 Đo lường mức độ nghèo theo năm chiều 72
2.4 Các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan 86
2.4.1 Các chính sách của nhà nước 86
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương của tỉnh Salavan 97
2.4.3 Đặc điểm hộ gia đình 98
2.4.4 Cơ sở hạ tầng 102
2.5 Đánh giá chung về nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan 104
2.5.1 Thành công 104
2.5.2 Tồn tại, hạn chế 105
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 106
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU Ở TỈNH SALAVAN, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 111
3.1 Bối cảnh chung của Lào và tỉnh Salavan về công tác giảm nghèo 111
3.2 Quan điểm giảm nghèo đa chiều của tỉnh Salavan 113
3.3 Định hướng giảm nghèo đa chiều của tỉnh Salavan 114
3.4 Một số giải pháp giảm nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan 116
3.4.1 Hoàn thiện cơ chế về chính sách giảm nghèo của Nhà nước 116
Trang 63.4.2 Giải pháp phát triển kinh tế xã hội, hỗ trợ giảm nghèo đa chiều tại các hộ gia đình 1453.4.3 Giải pháp ngăn chặn và phòng chống rủi ro thiên tai, dịch bệnh 1473.4.4 Nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng 1483.4.5 Giải pháp liên quan đến hộ gia đình, hỗ trợ sinh kế, nâng cao chất lượng cuộc sống cho các hộ gia đình nghèo 149
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 152 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ECOSOC United Nations Economic and
Social Council
Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc
ESCAP Economic and Social Commission
for Asia and the Pacific
Uỷ ban Kinh tế Xã hội Châu Á Thái Bình Dương
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước
GRDP Gross Regional Domestic Product Tổng sản phẩm trên địa bàn
HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người
HPI Human Poverty Index Chỉ số nghèo
MDGS Millennium Development Goals Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
MPI Multidimensional Poverty Index Chỉ số nghèo đa chiều
OPHI Oxford Poverty and Human
Development Initiative
Tổ chức sáng kiến về nghèo và phát triển con người của Oxford
UNDP United Nations Development Program Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Quy trình nghiên cứu của đề tài 8Hình 1.1: 3 chiều đo lường và 10 chỉ số tính toán MPI 31Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Salavan, Lào 56Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện mức độ thiếu hụt các chỉ số xã hội cơ bản của các hộ nghèo
đa chiều khu vực thành thị và nông thôn tỉnh Salavan 2020 71Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện cơ cấu nguồn vốn huy động cho mục tiêu giảm nghèo giai
đoạn 2011 - 2020 của tỉnh Salavan 98
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Hệ thống chỉ báo đo lường mức độ nghèo đa chiều 10
Bảng 1.1: Các tiêu chí sử dụng đo lường trong MPI 32
Bảng 1.2 Các chiều và chỉ báo của các chiều sử dụng đo lường nghèo đa chiều tại Lào 36
Bảng 2.1 Tỷ lệ nghèo tại Lào nói chung và tỉnh Salavan nói riêng năm 2020 61
Bảng 2.2 Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều phân theo khu vực thành thị và nông thôn tỉnh Salavan giai đoạn 2011 - 2020 63
Bảng 2.3: Tỷ lệ hộ cận nghèo đa chiều phân theo khu vực thành thị và nông thôn tỉnh Salavan giai đoạn 2011 - 2020 64
Bảng 2.4: Tỷ lệ nghèo và cận nghèo của dân tộc thiểu số trong tỉnh Salavan năm 2011- 2020 65
Bảng 2.5 Tổng hợp diễn biến kết quả giảm số hộ nghèo tỉnh Salavan 2016-2020 67
Bảng 2.6: Tổng hợp diễn biến kết quả giảm số hộ nghèo tỉnh Salavan năm 2020 67
Bảng 2.7: Tổng hợp diễn biến kết quả giảm số hộ cận nghèo tỉnh Salavan năm 2016-2020 69 Bảng 2.8 Một số kết quả về giáo dục ở tỉnh Salavan năm 2020 70
Bảng 2.9 Một số kết quả về y tế ở tỉnh Salavan năm 2020 70
Bảng 2.10: Tỷ lệ thiếu hụt về trình độ giáo dục người lớn của các hộ nghèo đa chiều theo địa phương tỉnh Salavan 2011- 2020 73
Bảng 2.11: Tỷ lệ thiếu hụt về tình trạng đi học của trẻ em các hộ nghèo đa chiều theo địa phương tỉnh Salavan từ 2011 - 2020 74
Bảng 2.12: Tỷ lệ thiếu hụt về tiếp cận dịch vụ y tế phân theo khu vực thành thị nông thôn tại tỉnh Salavan từ 2011 - 2020 76
Bảng 2.13: Tỷ lệ thiếu hụt về bảo hiểm y tế phân theo khu vực thành thị nông thôn tại tỉnh Salavan từ 2011 - 2020 77
Bảng 2.14: Tỷ lệ thiếu hụt về diện tích nhà ở của hộ nghèo và hộ cận nghèo phân theo khu vực thành thị, nông thôn của tỉnh Salavan từ 2011 - 2020 80
Bảng 2.15: Tỷ lệ thiếu hụt về chất lượng nhà ở hộ nghèo và hộ cận nghèo phân theo khu vực thành thị, nông thôn của tỉnh Salavan từ 2011 - 2020 81
Bảng 2.16: Tỷ lệ thiếu hụt về chỉ tiêu điều kiện sống của hộ nghèo và hộ cận nghèo phân theo khu vực thành thị, nông thôn của Salavan từ 2011- 2020 83
Trang 10Bảng 2.17: Tỷ lệ thiếu hụt về chỉ tiêu tiếp cận thông tin của hộ nghèo và hộ cận nghèo
phân theo khu vực thành thị, nông thôn của tỉnh Salavan năm 2011- 2020 85Bảng 2.18 Tỷ lệ dân số mù chữ, biết chữ, có bằng cấp (không tính số nhân khẩu dưới
tuổi đi học) ở các huyện 99Bảng 2.19 Qui mô hộ gia đình chia theo nhóm chi tiêu bình quân đầu người 99Bảng 2.20 Tỷ lệ số người sống phụ thuộc chia theo nhóm chi tiêu bình quân đầu người 100Bảng 2.21 Phần trăm các hộ không có đất 101Bảng 2.22 Diện tích đất trung bình của hộ phân theo địa phương và nhóm chi tiêu 101Bảng 2.23 Nguồn vốn vay phân theo nhóm chi tiêu năm 2020 (%) 102Bảng 2.24: Bảng tổng kết xây dựng - sửa chữa đường giao thông năm 2020 103Bảng so sánh bộ tiêu chí chuẩn nghèo đang áp dụng tại Lào và đề xuất của đề tài 154
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng và toàn bộ nền kinh tế - xã hội của một quốc gia vì vậy nghèo là hiện tượng
xã hội luôn được quan tâm hàng đầu ở tất cả các nước trên thế giới Tuy nhiên, cách nghiên cứu về nghèo, các chỉ tiêu, chuẩn nghèo ở mỗi một giai đoạn, mỗi một vùng lãnh thổ lại khác nhau Bản chất của nghèo là đa chiều, trong cùng một thời điểm người nghèo buộc phải đối mặt với nhiều vấn đề, có những vấn đề có thể quy ra bằng tiền nhưng có những vấn đề thì không đo được bằng tiền như mức độ tham gia xã hội,
an ninh, vị thế xã hội… hoặc không mua được bằng tiền như tiếp cận giao thông, thị trường, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế, giáo dục Trước đây, nghiên cứu nghèo trên thế giới lấy thu nhập làm thước đo duy nhất và các mặt khác của đời sống con người đều xuất phát từ thu nhập, thu nhập thấp thì dẫn đến chất lượng cuộc sống thấp và thu nhập cao sẽ có chất lượng cuộc sống cao Song trong thực tế có những trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại thiếu hụt về các chỉ số như giáo dục, điều kiện nhà ở và dễ trở thành hộ nghèo phát sinh trong tương lai Sáng kiến của UNDP chỉ ra rằng để đánh giá được chính xác mối quan hệ giữa sự phát triển con người và nghèo đã đến lúc cần thay đổi phương thức tiếp cận nghèo theo hướng đa chiều, để đầy đủ, chi tiết hơn để dựa vào đó ta sẽ không bỏ sót các đối tượng nghèo cũng như phân loại nghèo một cách chính xác nhất
Trong nền kinh tế tri thức ngày nay, các quốc gia đều đặt trọng tâm vào phát triển con người Phát triển con người vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế và mục đích cao nhất của phát triển con người là tạo môi trường cho phép người dân được hưởng thụ một cuộc sống toàn diện: điều kiện sống tốt, trường thọ, khoẻ mạnh
và có môi trường để phát huy khả năng sáng tạo cũng như có cơ hội tham gia cộng đồng, nắm bắt quyền lực và có tiếng nói trong xã hội Do đó, các nỗ lực giảm nghèo con người trong giai đoạn hiện nay đã vượt qua mục tiêu đảm bảo một mức thu nhập tối thiểu, hướng tới một khung toàn diện hơn nữa để mở rộng cơ hội và phát huy khả năng nắm bắt cơ hội, giúp người nghèo thoát nghèo bền vững, đồng thời giảm và bảo vệ dân
số không nghèo trước các cú sốc ngày càng gia tăng về y tế, giáo dục, môi trường… đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia liên tục tái cấu trúc nền kinh tế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách ở Lào đều nhất quán cho rằng cần nhìn nhận nghèo theo phương pháp đa chiều mới trong đó nghèo thu nhập chỉ là một trong số nhiều thiếu hụt mà người nghèo phải đối diện
Trang 12Tình trạng nghèo ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào khá đa dạng Tỷ lệ người nghèo giữa các vùng rất khác nhau Nhìn chung, Nam Lào là vùng nghèo nhất trong cả nước, tiếp theo đó là Bắc Lào và Trung Lào Đó chủ yếu là những nguyên nhân như: Thiếu vốn sản xuất (nông dân phải đi làm thuê hoặc đi vay tư nhân), thiếu việc làm (đây là nguyên nhân phổ biến ở các tỉnh), không có kinh nghiệm làm ăn (do thiếu kiến thức, kỹ thuật canh tác), đất canh tác ít (một số gia đình không có đủ khả năng thâm canh nên không dám nhận đủ ruộng được giao), trình độ học vấn thấp (do không có cơ hội học hỏi thêm kiến thức, cách tiếp cận thông tin), hạ tầng nông thôn còn hạn chế (những vùng sâu vùng xa giao thông không thuận tiện), v.v Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người
Vấn đề nghèo và xóa đói giảm nghèo ở nước CHDCND Lào là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành cũng như nhiều cơ quan, nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu Từ đầu những năm 2000 của thế kỷ XXI đến nay đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến đề tài xóa đói giảm nghèo của Lào,
cụ thể là các công trình sau: Luận án tiến sĩ“Thực trạng đói nghèo trong các hộ gia đình
ở vùng nông thôn tỉnh Chăm pa sắc, kiến nghị về chính sách và giải pháp”, Khăm Bay MALASINH (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Mun la pa mộc) CHDCND Lào, năm
2007, Luận án tiến sĩ “Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bo Ly Khăm Xay, nước CHDCND Lào” , Sổm Phết KHĂMMANI, năm 2002, Luận án tiến sĩ “Xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Xê Kong, nước CHDCND Lào, thực trạng và giải pháp”, Kẹo Đa
la Kon SOULIVÔNG, năm 2005 Luận án tiến sĩ“Quản lý Nhà nước về xóa đói giảm nghèo vùng cao dân tộc Bắc Lào trong giai đoạn hiện nay”, Bun lý THONG PHẾT, năm 2011 Tuy nhiên các tác giả chỉ đi sâu vấn đề quản lý Nhà nước, giải pháp trong quản lý Nhà nước để XĐGN, chưa nêu lên được những đặc trưng cơ bản về đói nghèo ở Lào, những nguyên nhân đói nghèo và các chính sách XĐGN ở Lào và các tác giả luận
án chưa nêu được giải pháp hoàn thiện chính sách XĐGN ở Lào
Trong những năm gần đây tỉnh Salavan đã áp dụng nhiều các giải pháp giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đạt được những thành tựu nhất định
Tỷ lệ người dân được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng được cải thiện rõ rệt, đời sống người nghèo được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể Kết quả giảm nghèo cụ thể trong 10 năm giai đoạn từ 2011 đến hết năm 2020 có hơn 18%, tỷ lệ
hộ nghèo giảm trung bình hàng năm là 6,3% tương ứng với khoảng trên 6.000 hộ thoát
Trang 13nghèo Kết quả giảm nghèo tuy đạt được những mục tiêu đề ra nhưng chưa thực sự bền vững Tỷ lệ hộ cận nghèo, hộ phát sinh còn lớn, tư tưởng trông chờ, ỷ lại không muốn thoát nghèo còn diễn ra phổ biến ở một bộ phận người dân, chênh lệch người nghèo giữa các vùng và giữa các đối tượng còn lớn, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát với mức chuẩn nghèo, nguy cơ tái nghèo cao Đặc biệt, với chuẩn nghèo mới tỷ lệ nghèo của tỉnh còn cao so với mức bình quân chung của Lào
Do vậy, tỉnh Salavan cần có một chương trình thoát nghèo một cách khoa học sớm đổi mới cách nhìn nghèo không chỉ với một khía cạnh là theo thu nhập và không xem nghèo là một hiện tượng đơn lẻ mà là hiện tượng đa khía cạnh, phức tạp, chồng chéo bao gồm nhiều yếu tố khác nhau Phải sớm chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều (theo thu nhập) sang đa chiều để tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng Việc tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá nghèo theo cách tiếp cận mới một cách đúng đắn, từ đó đưa ra các giải pháp để phát huy các thế mạnh
và hạn chế các điểm yếu, nhằm thực hiện tốt chương trình giảm nghèo của tỉnh Salavan theo hướng bền vững là việc làm cần thiết
Giải quyết vấn đề nghèo để tiến tới tìm kiếm giải pháp nhằm giảm nghèo bền vững không phải là việc làm một sớm một chiều, mà đó là vấn đề lớn mang tính chiến lược lâu dài Việc nghiên cứu về thực trạng nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan để tìm ra các giải pháp nhằm giảm nghèo bền vững có tính khả thi đối với vùng này là vấn đề vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc Hơn nữa, nghiên cứu này chọn cách tiếp cận vấn đề nghèo đa chiều và tiến hành nghiên cứu điển hình tại tỉnh Salavan, một tỉnh có nhiều yếu tố đặc trưng có thể đại diện cho Lào Đây là lý do mà
NCS lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” để làm luận án tiến sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Luận án nghiên cứu về nghèo đa chiều và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tình trạng nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan cũng như áp dụng trong cả nước Lào
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa được cơ sở và lý luận về nghèo đa chiều
- Phân tích thực trạng nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan
Trang 14- Xác định và phân tích được các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan
- Đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tình trạng nghèo đa chiều ở Salavan nói riêng và Lào nói chung
3 Câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận nào cho nghèo đa chiều?
- Các tiêu chí và chỉ tiêu nào có thể sử dụng để đánh giá nghèo đa chiều giai đoạn 2011-2020?
- Thực trạng nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan? Đâu là những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan?
- Định hướng và những giải pháp nào nhằm xóa nghèo bền vững cho tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: nghiên cứu nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan
- Phạm vi về thời gian: Mặc dù Lào đã bắt đầu áp dụng đánh giá nghèo đa chiều
từ năm 2010, nhưng do hạn chế về mặt thời gian, nguồn lực cũng như tính cập nhật và tính mới của thông tin nên luận án chỉ thu thập số liệu thứ cấp trong khoảng thời gian 2011-2020 Số liệu sơ cấp được điều tra trong năm 2020 và đề xuất các giải pháp cho giai đoạn tới (2025, tầm nhìn 2030)
- Phạm vi về nội dung: tập trung nghiên cứu nghèo đa chiều và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dùng phương pháp tiếp cận định tính
Nghiên cứu định tính được lựa chọn và cho là phù hợp với đề tài vì đây là một phương pháp nghiên cứu mà vấn đề nghiên cứu được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau mà cần được mô tả một cách đầy đủ để phản ánh vấn
đề đang được quan tâm Phương pháp này cũng cho phép cung cấp thông tin toàn diện
Trang 15về vấn đề nghiên cứu và nó phù hợp với việc mô tả, tiếp cận và phân tích đặc điểm văn hóa và hành vi của con người và của nhóm người - đây là những yếu tố quan trọng khi phân tích về vấn đề nghèo của người dân
- Cách tiếp cận này sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
• Nghiên cứu tại bàn: việc nghiên cứu tại bàn giúp làm rõ khung lý thuyết và các thông tin có liên quan về thực trạng nghèo và nghèo đa chiều cũng như công tác giảm nghèo tại tỉnh thời gian qua được thực hiện thông qua việc tìm hiểu từ các công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của các cơ quan chức năng Thông qua phương pháp nghiên cứu này, luận án sẽ làm rõ được khung lý thuyết liên quan đến nghèo đa chiều và giảm nghèo bền vững; nêu, phân tích và đánh giá thực trạng nghèo đa chiều cũng như công tác giảm nghèo tại tỉnh Salavan thời gian qua; từ đó đề ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm giảm nghèo bền vững trong thời gian tới
• Phỏng vấn sâu: Luận án phỏng vấn sâu các chuyên gia, lãnh đạo các địa phương, các sở về những vấn đề có liên quan đến đề tài
• Phương pháp so sánh: được sử dụng nhằm so sánh số liệu thu thập và tổng hợp được với các chỉ tiêu nghèo đa chiều đã xác định, từ đó đưa ra những đánh giá chung về công tác giảm nghèo tại tỉnh Salavan, những thành tựu đạt được và hạn chế cần khắc phục Bên cạnh đó, phương pháp này còn được sử dụng nhằm làm rõ hiện trạng của vấn đề một cách khách quan thông qua việc so sánh một số chỉ tiêu của tỉnh Salavan với trung bình cả nước
• Phương pháp bảng, biểu đồ: được sử dụng nhằm mô tả rõ hơn về tỷ lệ dân
cư, lao động cũng như các tiêu chí về nghèo đa chiều như thu nhập, giáo dục, y tế,… tại tỉnh Salavan
5.2 Dữ liệu nghiên cứu
5.2.1 Nguồn dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp
- Tác giả đã thu thập và sử dụng nhiều thông tin từ các nguồn khác nhau như giáo trình, sách, báo, tạp chí, các trang web, các báo cáo của tỉnh Salavan và của các
cơ quan chức năng khác
- Tài liệu, số liệu về hộ gia đình, tình hình dân cư, kinh tế xã hội, các dự án đầu tư… tại tỉnh Salavan
- Các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
Trang 16Dữ liệu sơ cấp
Nguồn dữ liệu sơ cấp tác giả sử dụng là kết quả số liệu đánh giá của các hộ gia đình về nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan thông qua các phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình này
5.2.2 Phương pháp thu thập
5.2.2.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp
- Tác giả đã thu thập và sử dụng nhiều thông tin như giáo trình, sách báo, tạp chí, các nghiên cứu liên quan đến đề tài trong và ngoài nước, chủ yếu tham khảo từ thư viện và các trang thông tin điện tử, trang web có thông tin liên quan đến đề tài
- Tài liệu, số liệu về hộ gia đình, tình hình dân cư, kinh tế xã hội, các dự án đầu
tư, báo cáo của tỉnh Salavan được tác giả thu thập thông qua các cơ quan hành chính liên quan đến công tác quản lý dân cư tỉnh và các cơ quan chức năng hỗ trợ tại tỉnh Salavan, cụ thể là nguồn số liệu của Bộ lao động và phúc lợi xã hội Lào, nguồn số liệu của UBND tỉnh Salavan
- Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài
5.2.2.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp
Trong giai đoạn này, luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia, những người nghiên cứu, hiểu biết nhiều về những vấn đề liên quan nhằm:
- Thu thập ý kiến trực tiếp của các chuyên gia, các cán bộ quản lý, lãnh đạo tỉnh
về vấn đề dân số và giảm nghèo, nguyên nhân của tình trạng nghèo, về tầm quan trọng của nghiên cứu nghèo đa chiều, về hiện trạng công tác giảm nghèo đa chiều ở Lào nói chung và tỉnh Salavan nói riêng, định hướng cũng như phương án có thể thực hiện để giảm nghèo
Từ thực tế nghiên cứu và tìm hiểu về các đối tượng liên quan đến công tác giảm nghèo đa chiều, luận án đã chọn các đối tượng phỏng vấn là:
Nhóm 1: Cán bộ, chuyên viên tại Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào
Nhóm 2: Cán bộ chuyên viên tại UBND tỉnh Salavan và các phòng ban trực thuộc. Luận án tiến hành phỏng vấn cán bộ đại diện tại Văn phòng UBND và các phòng ban liên quan bao gồm: Tài chính kế hoạch, Nội vụ, Tài nguyên môi trường,
Tư pháp, Giáo dục đào tạo, Y tế, Lao động thương binh xã hội, Kinh tế hạ tầng, Văn hóa thông tin
Trang 17Nhóm 3: Cán bộ chuyên viên tại cơ quan quản lý tại các huyện, xã thuộc tỉnh Salavan. Hiện tại tỉnh Salavan có 8 huyện, luận án tiến hành phỏng vấn mỗi huyện 2 cán bộ chuyên viên để nắm rõ đánh giá khách quan và toàn diện về các tiêu chí cũng như tình hình thực tế tại mỗi huyện xã của tỉnh Salavan
Kỹ thuật thu thập thông tin được sử dụng trong giai đoạn này là phỏng vấn sâu với thời gian trung bình khoảng 60 phút cho mỗi đối tượng được phỏng vấn
Phỏng vấn sâu là dạng phỏng vấn chỉ áp dụng trong những trường hợp nhà nghiên cứu ít nhiều đã xác định được sơ bộ vấn đề nghiên cứu và những thông tin cần thu thập cho đề tài Mục tiêu của phỏng vấn sâu không phải để hiểu một cách đại diện, khái quát về tổng thể mà giúp hiểu sâu, hiểu kỹ về một vấn đề nhất định.Vì vậy, trong phỏng vấn sâu, người phỏng vấn hoàn toàn tự do trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn cũng như trong cách xếp đặt trình tự các câu hỏi, thậm chí cả cách thức đặt các câu hỏi nhằm thu thập được thông tin mong muốn
Công cụ điều tra là bảng hỏi bán cấu trúc Trong đó, phần đầu tiên sẽ là một số câu hỏi mở để khai thác các thông tin chung Phần tiếp theo đối tượng được phỏng vấn
sẽ được hỏi những câu hỏi để xác định các yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến nghèo đa chiều Đối tượng phỏng vấn sẽ được trực tiếp góp ý và bổ sung một số yếu tố thậm chí
là một số yếu tố khác vào thang đo lý thuyết đề xuất
Trước khi tiến hành phỏng vấn, việc xác định được đối tượng phỏng vấn là vô cùng quan trọng Họ phải là những trường hợp tiêu biểu, có tính đại diện và đảm bảo thông tin mà họ cung cấp hoàn toàn phục vụ được cho nghiên cứu của nhà nghiên cứu Chính xác hơn, họ phải là những người liên quan nhiều đến mục tiêu nghiên cứu và đảm bảo thông tin thu được từ những khách thể này hoàn toàn có thể thỏa mãn cho những câu hỏi nghiên cứu mà nhà nghiên cứu đặt ra
Từ thực tế nghiên cứu và tìm hiểu về các đối tượng liên quan đến nghèo đa chiều, luận án đã chọn đối tượng phỏng vấn là các chuyên gia, quản lý các cấp bộ, ngành có liên quan đến việc quản lý hộ dân và các hộ gia đình nghèo tại tỉnh Salavan hiện nay
Quá trình phỏng vấn sâu được thực hiện dựa trên kỹ thuật DELPHI, tức kết quả phỏng vấn giữa các chuyên gia sẽ được kiểm chứng lẫn nhau Nội dung phỏng vấn tập trung vào việc hiệu chỉnh thang đo nghiên cứu, từ đó hoàn thiện bảng hỏi nghiên cứu
Trang 18Sau khi đã phỏng vấn sâu các đối tượng trên, nghiên cứu tiến hành tổng hợp thông tin có được và lọc lại các thông tin cần thiết so với các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan mà nghiên cứu đã đề xuất ban đầu, từ đó hình thành thang đo và bảng hỏi sơ bộ
Nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn thử với các đối tượng điều tra là 30 hộ gia đình tại tỉnh Salavan để đảm bảo họ hiểu được và hiểu đúng các khía cạnh được đưa ra trong từng yếu tố trong mô hình nghiên cứu, từ đó xác định rõ thang đo và bảng hỏi chính thức
5.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê
Số liệu được tổng hợp từ các báo cáo thống kê của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào và UBND tỉnh Salavan và các phòng ban trực thuộc, phương pháp này nhằm làm rõ thực trạng công tác Công tác giảm nghèo đa chiều tại Lào và tỉnh Salavan
5.3 Cách tiếp cận và khung nghiên cứu
Khung nghiên cứu chung:
Trong nghiên cứu này, vấn đề nghiên cứu về nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào được tiếp cận và phân tích theo quy trình dưới đây:
Trước tiên, Nghiên cứu tiến hành hệ thống hóa và tổng hợp các cơ sở lý thuyết
và quan điểm lý luận về nghèo đa chiều bao gồm: Các quan niệm về nghèo đa chiều trên thế giới và tại Lào; Thước đo nghèo đa chiều trên thế giới và tại Lào Ngoài ra, tổng quan nghiên cứu về nghèo đa chiều ở trong và ngoài nước được tổng hợp nhằm làm cơ sở cho việc phác thảo nên các mô hình và thang đo nghiên cứu đề xuất
Hình 1 Quy trình nghiên cứu của đề tài
- Thực trạng nghèo tại Lào và tỉnh Salavan
- Công tác giảm nghèo
đa chiều tại Lào và tỉnh Salavan
Cơ sở lý luận
Cơ sở thực tiễn
Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm nghèo đa chiều tại tỉnh Salava Đề xuất chỉnh sửa thước
đo nghèo đa chiều tại Lào cho giai đoạn tới
Phân tích thực trạng mức độ nghèo đa chiều của các hộ dân
Phân tích các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan
Trang 19Đặc biệt, vấn đề nghiên cứu về nghèo đa chiều được tiếp cận thông qua phân tích hai khía cạnh dưới đây:
Thứ nhất, nghiên cứu tiến hành mô tả, phân tích thực trạng mức độ nghèo đa chiều của các hộ dân trên địa bàn tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào
Thứ hai, nghiên cứu tiến hành phân tích các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào
Bên cạnh đó, các cơ sở thực tiễn về kinh nghiệm hoạt động giảm nghèo đa chiều từ các quốc gia trên thế giới cũng được tổng hợp nhằm làm cơ sở cho việc tìm ra những gợi ý cho những giải pháp có thể áp dụng trong nghiên cứu này
Tiếp đến, luận án sẽ phân tích thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo tại tỉnh Salavan qua các báo cáo của Lào nói chung và tỉnh Salavan nói riêng về tỷ lệ hộ nghèo
và cận nghèo, tỷ lệ thiếu hụt theo các chiều cụ thể và các biện pháp giảm nghèo mà Salavan đang áp dụng, những mặt tích cực mà tỉnh đã đạt được và những hạn chế mà tỉnh cần khắc phục để có cái nhìn toàn diện hơn, làm cơ sở cho những đề xuất giải pháp trong thời gian tới để giảm nghèo đa chiều trên địa bàn
Từ những kết quả phân tích về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, kết hợp với thực trạng thực tế tại địa phương, luận án sẽ đề xuất các giải pháp phù hợp và mang tính khả thi nhằm giảm nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan hiện nay
Việc đo lường mức độ nghèo đa chiều được thực hiện dựa vào hướng dẫn xây dựng các chiều và các chỉ báo cũng như cách tính toán chỉ số nghèo đa chiều của Alkire và Foster cũng như nguồn số liệu hiện có để xác định các chiều và các chỉ báo
đo lường nghèo đa chiều Cụ thể, Bộ chỉ báo và các chiều nghèo đa chiều gồm 10 chỉ báo đo lường cho 5 chiều nghèo
Trọng số chỉ báo và trọng số chiều được đánh giá theo nguyên tắc ngang bằng nhau nhưng tính theo tổng điểm số là 100 (mỗi chiều thiếu hụt có số điểm là 20; mỗi chỉ báo thiếu hụt tương ứng với 10 điểm) Như vậy, nghèo đa chiều được đo lường với
5 chiều với 10 chỉ báo và tổng điểm số thiếu hụt cao nhất là 100 Một hộ được coi là nghèo đa chiều khi thiếu hụt ít nhất 1/3 số chỉ báo được gia trọng (tức điểm số thiếu hụt từ 33,3 điểm trở lên) Chỉ số nghèo đa chiều nằm trong khoảng [0, 100]
Trang 20Khung phân tích và thang đo lường mức độ nghèo đa chiều
Bảng 1 Hệ thống chỉ báo đo lường mức độ nghèo đa chiều
STT Chiều Chỉ báo từng chiều
1 Giáo dục Trình độ giáo dục của người lớn
Tình trạng đi học của trẻ em
2 Y tế Tiếp cận dịch vụ y tế
Tiếp cận BHYT
3 Nhà ở Chất lượng nhà ở
Diện tích nhà bình quân đầu người
4 Điều kiện sống Nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh
Hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh
5 Tiếp cận thông tin Sử dụng dịch vụ viễn thông
Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Khung phân tích các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều
Thông qua việc tham khảo các mô hình nghiên cứu về nghèo đa chiều được đề xuất bởi các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước, như mô hình đề xuất bởi Deutsch
và Silber (2005), Vijaya và Swaminathan (2014) và Tsui (2002)
Theo đó, nhóm yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo được chia thành:(i) nhóm các yếu tố bên ngoài: Chính sách của nhà nước, yếu tố thời tiết khí hậu, rủi ro dịch bệnh, về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; (ii) nhóm các yếu tố nội tại của địa phương: Việc thực thi chính sách giảm nghèo của địa phương, đặc điểm dân số và nguồn lao động, đặc điểm cơ sở hạ tầng, đặc điểm hộ gia đình
Tiếp đến, để hiệu chỉnh, hoàn thiện mô hình nghiên cứu đề xuất, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn định tính các chuyên gia là những nhà nghiên cứu có kinh nghiệm trong lĩnh vực và các cán bộ quản lý nhà nước về hoạt động xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Salavan, CHDCND Lào Kết quả thu được năm nhóm yếu tố tác động đến nghèo
đa chiều, bao gồm:
Các chính sách của Nhà nước
Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
Rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh
Đặc điểm hộ gia đình
Cơ sở hạ tầng
Trang 216 Tổng quan nghiên cứu của đề tài luận án
6.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về nghèo
Nghèo là đề tài luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý, các nhà hoạt động thực tiễn Cho đến nay có khá nhiều nghiên cứu về nghèo, các nghiên cứu về chủ đề này được phân loại và xem xét theo các nội dung sau đây:
Các nghiên cứu về nghèo đơn chiều
Các nghiên cứu về nghèo thường tập trung nhiều vào chủ đề nghèo về kinh tế
Đã có khá nhiều nghiên cứu về nghèo đơn chiều (về kinh tế), trong đó đáng chú là các
nghiên cứu sau: Ngân hàng Thế giới (2012) với báo cáo “Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới ”, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2011) với nghiên cứu về “Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức, ADB (2004) trong báo cáo tại Hội nghị
Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam về “Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004: Nghèo” Các
nghiên cứu này đều có chung đánh giá: đi cùng với tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đạt nhiều thành tựu trong xóa đói giảm nghèo, nhưng tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại, khả năng tái nghèo cao do cú sốc về kinh tế và sức khỏe
Nhìn chung, các nghiên cứu vừa liệt kê trên đây đã sử dụng các chuẩn nghèo tuyệt đối (chuẩn nghèo theo thu nhập, chuẩn nghèo theo chi tiêu) để đánh giá thực trạng nghèo Việc sử dụng chỉ tiêu quốc gia để đánh giá nghèo chỉ có ý nghĩa trong việc so sánh tỷ lệ nghèo giữa các vùng kinh tế trong cả nước chứ chưa đánh giá được mức độ nghèo của địa phương nào đó mà người dân đang đối mặt do khả năng thu nhập và mức chi tiêu ở từng tỉnh/huyện là khác nhau Hơn nữa, mỗi cá nhân có giá trị khác nhau và cách tiếp cận khác nhau về nghèo, đối với nhiều người dân ở tỉnh Salavan thì việc thiếu việc làm, thiếu nước sinh hoạt do hạn hán có thể là cách quan niệm về nghèo Theo đó, việc đánh giá về nghèo theo các thước đo về tiền tệ có thể chưa phải là tiêu chí phù hợp với đặc thù đối với nhiều người trên địa bàn tỉnh Salavan
mà cần dựa vào bởi chính nhận thức của các cá nhân trong cuộc
Mặt khác, các nghiên cứu hiện có liên quan đến nghèo ở cấp quốc gia hay địa phương chủ yếu dựa trên phân tích các số liệu thống kê, thiếu các đánh giá về nghèo
có sự tham gia của người dân Việc dùng những con số để dễ đo lường và định lượng không thể mô tả hết hình thù nghèo cũng như đánh giá mức độ và khả năng thoát nghèo Thậm chí những con số thống kê còn có thể làm hạn chế hiểu biết về tình trạng đói nghèo thực sự Việc thiếu vắng các đánh giá nghèo có sự tham gia dẫn tới việc
Trang 22không ít các các giải pháp chính sách được đề ra nhưng chưa phù hợp với nhu cầu, năng lực của người nghèo
Chính vì vậy, nghiên cứu này sẽ áp dụng các phương pháp đánh giá nghèo và cách tiếp cận mới nhằm đánh giá rõ hơn và phù hợp với điều kiện và đặc thù của tỉnh Salavan
Các nghiên cứu về nghèo đa chiều
Nghèo về kinh tế (theo thu nhập hoặc chi tiêu) chưa phản ánh hết chất lượng cuộc sống của con người, đặc biệt của người nghèo và do vậy người ta đưa ra chỉ tiêu phi tiền tệ để đánh giá nghèo Chỉ số Phát triển con người (Human Development Index
- HDI), chỉ số nghèo tổng hợp (Human Poverty Index - HPI) và gần đây là nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI)… là những thước đo để đánh giá chất lượng cuộc sống của con người Cho đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu đánh giá về nghèo phi tiền tệ, trong đó đáng chú ý là các nghiên cứu sau: Chỉ số HDI trong báo cáo phát triển con người Việt Nam giai đoạn 1999 - 2004 (UNPD và VASS, 2006), chỉ
số MPI trong Báo cáo Phát triển con người năm 2011 (UNPD và VASS, 2011), các lĩnh vực và chỉ số phục vụ đo lường tình hình nghèo đa chiều trẻ em ở Việt Nam (MOLISA và UNICEF, 2008) Các nghiên cứu này đã đưa ra các chỉ số giúp đánh giá toàn diện hơn về nghèo ở Việt Nam nói chung và các tỉnh, thành nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu này khi tính toán vẫn áp dụng các chỉ số thành phần có trọng số tương đương nhau và do vậy chưa phản ánh mức độ quan trọng của từng lĩnh vực đối với người dân ở từng địa phương cụ thể Chẳng hạn, đối với nhiều người trước tình trạng thiếu nước sạch thì chỉ số thành phần cho chỉ tiêu này có thể có mức độ quan trọng hơn rất nhiều đối với các khía cạnh khác Hơn nữa, các nghiên cứu hiện có về nghèo
đa chiều cũng mới chỉ cung cấp những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nhu cầu của con người (thu nhập, chi tiêu, tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản) trong khi thiếu các chỉ tiêu để phản ánh đầy đủ chất lượng cuộc sống Nghèo về môi trường là một thước đo để phản ánh
về sinh kế bền vững và chất lượng cuộc sống của người dân (qua đó giảm thiểu chi phí
y tế hoặc tham gia lao động có hiệu quả hơn), điều này càng cấp thiết trong bối cảnh người dân đối diện với tác động của biến đổi khí hậu Những vấn đề vừa đề cập ở trên hàm ý rằng thiếu các thước đo để đánh giá về nghèo phi tiền tệ hay nghèo đa chiều phản ánh và phù hợp hơn với đặc thù của địa phương
6.2 Các cách tiếp cận về mô hình phát triển liên quan đến nghèo
Cách tiếp cận theo tăng trưởng vì người nghèo (pro-poor growth)
Thuật ngữ tăng trưởng vì người nghèo xuất hiện trong những năm 1970 thông qua hàng loạt tuyên bố về tấn công vào nghèo Tăng trưởng vì người nghèo đề cập tới
Trang 23tăng trưởng mà có lợi cho người người nghèo và cung cấp cho họ các cơ hội để cải thiện điều kiện kinh tế (WB, 2000; UN, 2000; OECD, 2001) Tăng trưởng vì người nghèo theo nghĩa tuyệt đối là tăng trưởng nhằm tăng thu nhập của người nghèo, theo nghĩa tương đối là thu nhập của người nghèo tăng nhanh hơn so với dân số nói chung (DFID, 2004)
Cách tiếp cận tăng trưởng vì người nghèo xác định tăng trưởng là động lực quan trọng để giảm nghèo Có nhiều mô hình, hình mẫu phát triển khác nhau theo cách tiếp cận tăng trưởng vì người nghèo Một số nước theo mô hình đầu tư (thông qua vay mượn vốn nước ngoài) để tăng trưởng (chẳng hạn như mô hình phát triển của các nước Nam Mỹ) Mô hình tự do hóa thương mại, mở cửa để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và qua đó giảm nghèo Có một số nước tiếp cận tăng trưởng vì người nghèo thông qua tái phân phối tài sản và thu nhập trong nền kinh tế
Cách tiếp cận tăng trưởng vì người nghèo đặt vấn đề tăng trưởng sẽ giảm nghèo (Dollar và Kraay, 2002; Kakwani và Pernia, 2000) Tăng trưởng là tốt cho người nghèo nhưng không phải tất cả người nghèo và thường là tốt cho người nghèo nhưng tốt hơn cho người giàu (Ravallion và Chen, 2003) Trên thực tế, nhiều người hay nhiều khu vực mới chỉ giảm “cực nghèo” (theo ngưỡng nghèo tuyệt đối), chứ không phải là giảm “nghèo”; tốc độ giảm nghèo chậm lại và việc giảm nghèo vẫn chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao (UNDP, 2004)
Cách tiếp cận theo tăng trưởng bao trùm (inclusive growth)
Tăng trưởng bao trùm được sử dụng trong mấy năm gần đây Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tăng trưởng bao trùm nhưng có điểm chung đó là về tăng trưởng kinh tế mà mọi thành phần trong nền kinh tế đều được hưởng lợi thành quả của tăng trưởng và được mở mang cơ hội phát triển, bao gồm cả về mặt kinh tế và các khía cạnh khác, một cách công bằng (WB, 2009; IPC, 2013; OECD, 2014) Tăng trưởng trao trùm phản ánh sự tăng trưởng vững chắc và rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, thúc đẩy việc làm của người lao động, bao gồm cơ hội tiếp cận tới thị trường và tài nguyên, bảo vệ tính dễ bị tổn thương
Tăng trưởng kinh tế là cần thiết và đóng vai trò quan trọng để xóa đói giảm nghèo nhưng tăng trưởng không chỉ hỗ trợ những người nghèo thoát nghèo mà còn cần bảo đảm rằng những người ở trên ngưỡng nghèo sẽ không rơi lại vào tình trạng đói nghèo và không bị bỏ lại phía sau quá trình tăng trưởng Luận giải lý do về sự cần thiết tăng trưởng bao trùm, nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng bất bình đẳng cao và kéo dài dai dẳng do tăng trưởng diễn ra không đồng đều, nói cách khác là thiếu bao
Trang 24trùm, có thể cản trở tăng trưởng dài hạn và ổn định kinh tế vĩ mô, gắn liền với hàng loạt các thành quả nghèo nàn về mặt xã hội và có những hậu quả tiêu cực đối với nỗ lực giảm nghèo trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn (Bell và Blanchflower, 2015; Morsy, 2012; WB, 2011) Hơn nữa, các tiến bộ công nghệ trên thế giới đang diễn ra nhanh chóng và ảnh hưởng tới việc làm, nhất là đối với lao động kỹ thiếu kỹ năng hoặc kỹ năng năng thấp (IMF, 2017; OECD, 2011) Hội nhập kinh tế quốc tế cũng có thể tác động tiêu cực tới một số nhóm lao động hoặc cộng đồng dân cư (Dabla-Norris
và cộng sự, 2015; Ghosh và cộng sự, 2016) Tăng trưởng bao trùm là cần thiết cho tăng trưởng bền vững và gắn kết xã hội, các bất bình đẳng được đưa vào trong nền kinh tế thị trường và những động lực cần thiết cho đầu tư và tăng trưởng (Fabrizio và cộng sự, 2017; Ostry và cộng sự, 2014)
Trong khi cách tiếp cận tăng trưởng vì người nghèo tập trung vào cải thiện thu nhập của những người nghèo nhất, tăng trưởng bao trùm coi người nghèo và không nghèo là những người tham gia đầy đủ vào nền kinh tế, tạo lập và định hình tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng bao trùm là tăng trưởng làm giảm những bất lợi của các nhóm yếu thế nhất mà vẫn mang lại lợi ích cho mọi người, tăng trưởng vì người nghèo
có thể đạt được hoặc bằng cách giảm lợi ích của một hay nhiều nhóm hoặc bằng cách
hy sinh một hay nhiều nhóm Tăng trưởng vì người nghèo tập trung vào những người
ở dưới ngưỡng nghèo Tăng trưởng bao trùm hướng tới giảm nghèo và nâng đỡ tất cả người dân ở mọi nhóm thu nhâp, kể cả những người có thể là khá giả, song vẫn có thể
dễ bị tổn thương trước những cú sốc Cách tiếp cận tăng trưởng bao trùm nhấn mạnh tới cả tốc độ và cách thức tăng trưởng (tạo cơ hội tham gia của nhiều người đóng góp vào quá trình tăng trưởng) Tăng trưởng bao trùm nhấn mạnh đến tạo việc làm đầy đủ
và có chất lượng trên thị trường lao động - trụ cột chính của tăng trưởng bao trùm (coi
tăng trưởng năng suất) hơn là tập trung vào phân phối thu nhập, việc phân phối thu
nhập chỉ có thể giành cho một số đối tượng và chỉ có tác dụng trong ngắn hạn
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong đề xuất các cách thức để thực hiện tăng trưởng bao trùm: Tăng trưởng bao trùm có thể thực hiện qua việc đầu tư cho giáo dục,
y tế, cải thiện cơ sở hạ tầng cho sự tiếp cận của nhiều người, đầu tư tài chính bao trùm
và cải cách chính sách tài khóa, cấu trúc thị trường lao động (IMF, 2017); Tăng trưởng bao trùm cần bao hàm phần lớn lực lượng lao động mà ở đó tính chất bao trùm nói về
sự bình đẳng cơ hội trong khả năng tiếp cận thị trường và nguồn lực, tăng trưởng bằng cách tối ưu hóa nhiều hơn lực lượng lao động ở trong các hoạt động có năng suất thấp hoặc lao động đang nằm ngoài quá trình tăng trưởng (WB, 2009); Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 nhấn mạnh tăng trưởng bao trùm thông qua tạo việc làm
Trang 25đầy đủ và có chất lượng trên thị trường lao động, mở mang nhiều cơ hội thông qua khả năng tiếp cận nền giáo dục và y tế có chất lượng và phù hợp có vai trò then chốt, bảo trợ xã hội đảm bảo tiêu chuẩn sống cơ bản cho nhiều người (UNDP, 2015);…
cá nhân (vốn xã hội), các chính sách và những vấn đề về quản trị, tính dễ bị tổn thương, như những chiều cạnh của nghèo Cách tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP vận hành chủ yếu như là một khung chương trình để thiết kế các hoạt động hỗ trợ nhằm cải thiện khả năng sinh kế bền vững của những người nghèo và các nhóm, cộng đồng dễ bị tổn thương bằng việc nâng cao khả năng thích ứng trước các biến đổi/cú sốc
Cách tiếp cận của tổ chức phi chính phủ CARE (Chambers và Conway, 1992) hướng vào các chiến lược sinh kế của hộ với 3 bộ phận: vốn con người; các tài sản hữu hình và vô hình; sự tồn tại của các hoạt động kinh tế Các bộ phận này có sự tương tác lẫn nhau và xác định nên chiến lược sinh kế của hộ gia đình Cách tiếp cận của CARE nhấn mạnh nhiều vào việc nâng cao năng lực của người nghèo để họ có thể thực hiện được các sáng kiến nhằm làm chủ cách sinh kế của mình Do đó, việc trao quyền như
là một chiều cạnh cơ bản của cách tiếp cận này
Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) được xây dựng quanh 5 loại vốn (vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội), chúng được
mô tả theo hình ngũ giác để biểu đạt sự tương tác giữa các loại vốn và phản ánh sinh
kế phụ thuộc vào việc kết hợp các loại vốn theo những cách thức khác nhau chứ không phải từ một loại vốn duy nhất Do đó, điều quan trọng trong phân tích là tìm ra được người nghèo tiếp cận đối với những loại vốn khác nhau và khả năng của họ để đưa các loại vốn này vào hoạt động sinh kế Cách tiếp cận sinh kế bền vững của DFID nhằm mục đích tăng tính hiệu quả của việc xóa bỏ đói nghèo bẳng thông qua hai cách chính: thứ nhất, tìm kiếm các nguyên tắc cơ bản định hình hoạt động hướng vào đói nghèo và thứ hai, các hoạt động hỗ trợ được đặt trong một cách tổng thể để đảm bảo rằng các hoạt động này phù hợp với người nghèo
Trang 26Trên cơ sở khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, tổ chức IFAD (2003)
đã bổ sung, phát triển và xây dựng lên khung sinh kế bền vững với nhiều yếu tố và cách thể hiện mối quan hệ mới Khung sinh kế bền vững của IFAD có một số thay đổi
so với khung sinh kế bền vững của DFID, đó là: đặt người nghèo làm trung tâm và bổ sung thêm loại vốn văn hóa
Các cách tiếp cận trên là khác nhau nhưng đều là chiến lược để hướng tới xóa
bỏ nghèo Cách tiếp cận của UNDP và CARE được sử dụng để thiết kế các chương trình, dự án cụ thể trong khi đó cách tiếp cận của DFID/IFAD hữu ích hơn trong phân tích Mặc dù các cách tiếp cận khác nhau nhưng có thể nhận thấy rằng sinh kế bền vững hàm chứa những vấn đề sau: thứ nhất, tăng trưởng kinh tế là quan trọng cho việc xóa bỏ nghèo nhưng không phải là tất cả vì nó còn phụ thuộc vào năng lực của người nghèo trong việc tận dụng cơ hội của tăng trưởng kinh tế; thứ hai, đói nghèo không chỉ
về việc thu nhập thấp mà nó còn những chiều cạnh khác như sức khỏe, giáo dục, tiếp cận các dịch vụ xã hội,… và tính dễ bị tổn thương, thiếu sức mạnh, bị loại ra ngoài xã hội; và thứ ba, người nghèo sẽ biết rõ nhất về tình trạng và nhu cầu của họ
6.3 Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
6.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu quốc tế về nghèo đa chiều“Multidimensional poverty: An alternative measurement approach for the United States” của Udaya R Wagle (2008) Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng một khuôn đa chiều toàn diện bao gồm kinh tế phúc lợi, khả năng, và hòa nhập xã hội để xem xét nghèo ở Mỹ Dữ liệu từ các khảo sát xã hội chung 2004 hỗ trợ sự liên kết giữa các kích thước nghèo, chỉ ra rằng các khuôn đa chiều
sử dụng một tập hợp toàn diện các thông tin cung cấp một giá trị hấp dẫn thêm để đo lường nghèo Các đặc điểm nhân khẩu học đề xuất các loại khác nhau của người nghèo phần nào tương tự giữa cách tiếp cận này và các cách tiếp cận truyền thống khác Nhưng các kết quả đo lường toàn diện và chính xác hơn từ cách tiếp cận này giúp hoạch định chính sách nhắm mục tiêu các nguồn lực tại các nhóm cụ thể
Theo Ki, Faye và Faye (2009) phát hiện giáo dục, sức khỏe, nước sạch, dinh dưỡng, nhà ở, vệ sinh, năng lượng, thông tin, tài sản đồ dùng lâu bền, tài sản sinh hoạt và các tài sản khác là những chỉ báo phù hợp cho đo lường nghèo đa chiều ở Senegal trong giai đoạn 2000-2001 (Ki, Faye và Faye, 2009, trích trong Asselin, 2009) Crooks (1995) phát hiện nghèo có tác động đến sức khỏe trẻ em, khả năng tăng trưởng và học hành Theo Alkire and Santos (2010) đề xuất 3 khía cạnh và 10 chỉ số đo lường Các khía cạnh nghèo, các chỉ số và ngưỡng thiếu hụt như sau: giáo dục, gồm các chỉ số đo
Trang 27lường là số năm đi học của thành viên trong gia đình và tình trạng trẻ em đi học tới lớp 8; sức khỏe, gồm các chỉ số đo tỷ lệ tử vong và trẻ em suy dinh dưỡng; mức sống, gồm các chỉ số đo lường là điện, cải thiện vệ sinh môi trường, nguồn nước sạch, sàn nhà, nhiên liệu dùng đun nấu và sở hữu tài sản
Nghiên cứu tại Ấn Độ của Ramya M.Vijaya (2014) đề xuất có 4 tiêu chí đánh giá nghèo đa chiều với 11 chỉ số đo lường Thứ nhất, khía cạnh giáo dục, với 2 chỉ số
đo về tình trạng đi học và nhập học; thứ hai, khía cạnh mức sống, gồm 6 chỉ số đo là điện, sàn nhà, nhiên liệu đun nấu, nước, điều kiện vệ sinh và tình trạng sở hữu hàng lâu bền; thứ
ba, tiêu chí tài sản gồm chỉ số đo là đất và nhà; tiêu chí thứ tư là trao quyền, với 2 chỉ số đánh giá việc cho phép (phụ nữ) đi đến chợ, nhà hộ sinh, cơ sở y tế hay đi ra ngoài làng
và chỉ số quyền được phép tiếp cận dịch vụ y tế cho nhu cầu riêng
Theo tác giả thì các nghiên cứu trước đều có ưu điểm là đã nhìn nhận tình trạng nghèo với cách tiếp cận mới- tiếp cận đa chiều Các nghiên cứu khái quát các chiều và chỉ tiêu đại diện các chiều ảnh hưởng đến nghèo một cách rất cụ thể, thực tế Tuy nhiên, các nghiên cứu thường dừng lại ở việc tính toán, sử dụng phương pháp thống kê mô tả thông qua các chỉ số để phân tích, so sánh Chưa sử dụng phương pháp
mô hình định lượng để tìm hiểu mối quan hệ giữa các chiều, các chỉ số với tình trạng nghèo
Luận án tiến sĩ “Chương trình mục tiêu quốc gia xáo đói giảm nghèo với đời
sống kinh tế - xã hội của người mường tỉnh Phú Thọ”, Nguyễn Anh Dung, năm 2005 Trong luận án, tác giả đã tổng hợp tương đối đầy đủ thực trạng đói nghèo của hộ nghèo của một số dân tộc ở Tây nguyên, về địa hình cũng có một số huyện miền núi, một số huyện có địa hình là cao nguyên, có đặc trưng nghèo tương tự như một số tỉnh của Lào như tỉnh Salavan, tỉnh Sê Kong và tỉnh Át Ta Pư ở miền nam Lào, trong đó nổi bật nhất là điều kiện sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên, khí hậu, về cơ sở hạ tầng cũng rất khó khăn, giáo dục, y tế cũng chưa phát triển lắm Tác giả đã đề xuất một số giải pháp xóa đói giảm nghèo ở Tây nguyên
Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015” của Nguyễn Thị Hoa (2009) Tác giả đã dùng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê, phương pháp phân tích định tính, các phương pháp phân tích thực chứng và chuẩn tắc, các phương pháp suy luận logic, dẫn giải trong quá trình phân tích Trong đó, thống kê và suy luận logic, dẫn giải trong quá trình phân tích là hai phương pháp chủ đạo, kết quả nghiên cứu và đóng góp của luận án chính là hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về đói nghèo cũng như phương pháp đánh giá chính sách XĐGN
Trang 28Luận án tiến sĩ “Giải pháp xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế-xã hội ở Tây Bắc Việt Nam” của Nguyễn Thị Nhung (2012) Tác giả dùng quan điểm duy vật biên chứng và duy vật lịch sử, những thành tựu của kinh tế học phát triển và kinh tế học hiện đại làm phương pháp luận chung Lấy phương pháp trửu tượng hóa, phân tích
và tổng hợp loogic và lịch sử, so sánh, thống kê các giải pháp cụ thể là chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo
Luận án tiến sĩ “Đánh giá tình hình nghèo đa chiều của các hộ gia đình tại khu
vực Đông Nam Bộ” của Trần Minh Sang (2012) Tác giả đã dùng hai phương pháp tiếp cận , nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều để đánh giá toàn bộ bức tranh nghèo tại khu vực Đông Nam Bộ Đối với phương pháp tiếp cận đa chiều tác giả sử dụng chỉ
số MPI để đánh giá Theo tác giả, sử dụng phương pháp nghèo đa chiều để phân tích, đánh giá nghèo có nhiều ưu điểm hơn phương pháp đo lường dựa theo thu nhập/chi tiêu Nghèo đa chiều dựa trên nhiều thuộc tính khác nhau của hộ như thu nhập, sức khỏe, tình trạng việc làm, giáo dục, lao động, nhà ở, tiếp cận điện, tiếp cận nước, tình trạng vệ sinh…
Luận án tiến sĩ “Tác động của thể chế đến nghèo đa chiều ở Việt Nam” của
Ngô Quốc Dũng (2021) Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên
cứu, khảo sát của luận án luận án có một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm mới
được phát hiện, bao gồm: (i) Tác động của thể chế đến nghèo đa chiều là khác nhau giữa các địa phương; (ii) Thể chế có tác động “ngược” đến giảm nghèo đa chiều ở khu vực thành thị và những địa phương có mức thu nhập cao; (iii) Các khía cạnh thể chế, bao gồm minh bạch và trách nhiệm giải trình có tác động “ngược” đến giảm nghèo đa chiều
Theo Asselin and Vu (2009), có 5 chiều để phân tích nghèo ở Việt Nam như sức khỏe, tình trạng việc làm, giáo dục, thu nhập và nhà ở Sức khỏe được đại diện bởi hai chỉ số bệnh mãn tính và trẻ em suy dinh dưỡng Chiều việc làm đại diện bởi chỉ số
ít nhất có một thành viên thiếu việc làm, trong đó một người trong độ tuổi lao động được coi là thiếu việc làm nếu không làm việc từ 3 tháng trở lên Khía cạnh giáo dục bao gồm chỉ số thành viên từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, viết và làm phép tính đơn giản Một hộ gia đình sẽ thiếu hụt chỉ tiêu này nếu hộ có ít nhất một thành viên từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, viết và làm phép tính đơn giản Chỉ tiêu còn lại ở chiều giáo dục là trẻ em từ 6 - 15 tuổi không đi học Hộ được xem là thiếu hụt chỉ tiêu này nếu có ít nhất 1 trẻ trong độ tuổi đi học chưa đến trường Chiều thu nhập đưa ra hai chỉ số thiếu hụt về thu nhập theo chuẩn nghèo tiền tệ và thiếu hụt tài sản thiết yếu Chiều nhà ở bao gồm chỉ số nhà ở tạm, nước sạch
Trang 29Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng
nghèo ở nông thôn Việt Nam” của Trần Tiến Khai, Nguyễn Ngọc Danh (2012) Các tác giả đã sử dụng hai phương pháp phân tích thống kê đa biến Principal Components Analysis và Multiple Correspondence Analysis để nghiên cứu các chỉ báo phù hợp cho tình trạng nghèo ở các khía cạnh kinh tế, xã hội và văn hóa, mối quan hệ qua lại giữa các chỉ báo này, phân loại tình trạng nghèo của hộ theo các chỉ báo đa chiều, khám phá sự khác biệt giữa cách thức phân loại hộ theo tình trạng nghèo về tiền và nghèo đa chiều
6.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Vấn đề nghèo và xóa đói giảm nghèo ở nước CHDCND Lào là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành cũng như nhiều cơ quan, nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu Từ đầu những năm 2000 của thế kỷ XXI đến nay đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến đề tài xóa đói giảm nghèo của Lào,
cụ thể là các công trình sau:
Luận án tiến sĩ“Thực trạng đói nghèo trong các hộ gia đình ở vùng nông thôn tỉnh Chăm pa sắc, kiến nghị về chính sách và giải pháp”, Khăm Bay MALASINH (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Mun la pa mộc) CHDCND Lào, năm 2007 Trong luận án này tác giả đã thể hiện tương đối đầy đủ các khía cạnh của hộ nghèo và đưa ra một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện các chính sách giải quyết đói nghèo của hộ nghèo ở huyện Mun la pa mộc, tỉnh Chăm Pa Sắc, thuộc miền Nam CHDCND Lào Trong luận án này tác giả chỉ đi sâu thực trạng đói nghèo của hộ nghèo ở cấp huyện và bản, nêu một số đặc trưng đói nghèo của hộ nghèo ở đồng bằng miền nam Lào ngay cả các điều kiện sinh sống và sản xuất nông nghiệp, điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, giáo dụ, y tế và môi trường Cho nên nội dung của luận án này khác với nội dung đề tài luận án tiến sỹ mà NCS chọn nghiên cứu về nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Luận án tiến sĩ “Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bo Ly Khăm Xay, nước CHDCND Lào”, Sổm Phết KHĂMMANI, năm 2002 Trong luận
án, tác giả đã tổng hợp tương đối đầy đủ tình hình đói nghèo và đề suất một số giải pháp xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bo Ly Khăm Xay, nước CHDCND Lào Tỉnh Bo Ly Khăm Xay tuy có một phần địa thế là miền núi nhưng có địa thế đồng bằng nhiều hơn, dân sống chủ yếu ở đồng bằng dọc theo bờ sông Mê kông, những người nghèo một số sống ở miền núi, một số sống ở đồng bằng, sự đói nghèo ở tỉnh này mang đặc trưng của sự đói nghèo ở đồng bằng và ở cả miền núi Nhưng trong luận án này chỉ
Trang 30đề cập đến đói nghèo ở tỉnh Bo Ly Khăm Xay và kiến nghị một số giải pháp giải quyết đói nghèo cho người nghèo ở tỉnh này mà không thể đặc trưng cho đói nghèo ở tỉnh Bo Ly Khăm Xay
Luận án tiến sĩ “Xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Xê Kong, nước CHDCND Lào, thực trạng và giải pháp”, Kẹo Đa la Kon SOULIVÔNG, năm 2005 Trong luận án, tác giả
đã tổng hợp tương đối đầy đủ thực trạng đói nghèo của huyện, bản và hộ nghèo ở tỉnh
Xê Kong, đã nêu được một số khái niệm chung về đói nghèo của một số nước trong vùng và khái niệm đói nghèo của Lào, trong đó tác giả cũng nêu được một số đặc trưng đói nghèo ở vùng miền núi và đồng bằng của tỉnh và đề xuất một số giải pháp xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Xê Kong, nước CHDCND Lào Nhưng với luận án thì nội dung chỉ giới hạn ở mức độ tình hình chung ở một số vùng điển hình của tỉnh, tổng quát thực trạng và một số thành quả trong XĐGN trong những năm qua nhưng kết quả đạt được rất hạn chế ngay cả việc thực hiện một số chính sách XĐGN và chính sách phát triển nông thôn ở tỉnh cũng còn hạn chế rất nhiều, còn lại hầu như các chính sách tài chính tín dụng vì người nghèo, CS định canh định cư, CS phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế v.v thì chưa làm được
Luận án tiến sĩ“Quản lý Nhà nước về xóa đói giảm nghèo vùng cao dân tộc Bắc Lào trong giai đoạn hiện nay”, Bun lý THONG PHẾT, năm 2011 Trong luận án này tác giả đã hệ thống hóa lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của Lào và vùng cao dân tộc thiểu số trong việc giải quyết nghèo , xây dựng và hệ thống hóa cơ sở lý luận của công tác quản lý Nhà nước về XĐGN nói chung và ở khu vực miền núi Tác giả đã hình thành cách tiếp cận mới và cách giải quyết mới về vai trò của Nhà nước trong công cuộc XĐGN Phần thực trạng tác giả đã nêu khái quát tình hình nghèo và nguyên nhân nghèo của nhân dân vùng cao các dân tộc Lào, những đặc điểm và điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội, điều kiện tự nhiên, ngôn ngữ và tôn giáo v.v của nhân dân vùng cao miền núi Bắc Lào Tác giả đã tập trung phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về XĐGN ở vùng cao dân tộc từ đó đã nêu lên những phương hướng và giải pháp quản lý Nhà nước nhằm XĐGN ở vùng cao dân tộc thiểu số miền núi Bắc Lào Tuy nhiên tác giả chỉ đi sâu vấn đề quản lý Nhà nước, giải pháp trong quản lý Nhà nước để XĐGN ở vùng cao các dân tộc thiểu số, chưa nêu lên được những đặc trưng cơ bản về đói nghèo
ở vùng cao dân tộc Bắc Lào, những nguyên nhân đói nghèo và các chính sách XĐGN ở miền núi phía bắc Lào và điều quan trọng là tác giả luận án chưa nêu được giải pháp hoàn thiện chính sách XĐGN ở vùng cao dân tộc Bắc Lào
Trang 316.4 Khoảng trống nghiên cứu
Thông qua việc khái quát hóa các nghiên cứu khung lý thuyết, khung phân tích
về chủ đề nghèo đa chiều có liên quan ở trong và ngoài nước, nghiên cứu nhận thấy vẫn còn tồn tại một số khoảng trống nghiên cứu dưới đây:
Thứ nhất, các nghiên cứu hiện có chưa kết hợp giữa việc phân tích mức độ hiệu quả của các chính sách giảm nghèo hiện có hoặc đã từng áp dụng, và đặc thù địa bàn nghiên cứu, với các hệ quả về “nghèo đa chiều” Từ đó các giải pháp đề xuất đa phần mang tính chung chung, chưa cá biệt hóa tương thích với địa bàn nghiên cứu Điều này cũng rất quan trọng, tác động lớn đến hiệu quả thực tế của các giải pháp đề xuất khi áp dụng vào thực tiễn
Thứ hai, trường hợp nghiên cứu tại tỉnh Salavan, CHDCND Lào có tính đặc thù nhất định so với các nghiên cứu ở các địa bàn khác trên thế giới Các vấn đề liên quan đến rủi ro thiên tai, đặc điểm hộ gia đình, điều kiện xã hội,… vì vậy cũng rất khác biệt Việc triển khai nghiên cứu về nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan, CHDCND Lào vì vậy sẽ mang lại cơ hội để khám phá thêm những khía cạnh nghiên cứu mới về nghèo đa chiều
Thứ ba, hoạt động nghiên cứu về vấn đề nghèo đa chiều tại Lào hiện còn rất hạn chế Đa phần các nghiên cứu chỉ mới đề cập vấn đề chung về xóa đói giảm nghèo Trong đó, chủ yếu sử dụng các dữ liệu thứ cấp để mô tả thực trạng Chưa có nghiên cứu nào sử dụng các công cụ định lượng để điều tra thu thập dữ liệu sơ cấp và phân tích về vấn đề nghiên cứu nghèo đa chiều
Trong nghiên cứu này, trên cơ sở kế thừa những kết quả của các nghiên cứu trước đã đạt được, luận án tiến hành chọn lọc và từ đó áp dụng vào nghiên cứu tình huống cụ thể về nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan Các phương pháp và nội dung nghiên cứu áp dụng sẽ hướng tới việc tìm ra các kết quả phù hợp với khoảng trống nghiên cứu được liệt kê ở trên
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án được thiết kế gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đa chiều
Chương 2: Nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Chương 3: Định hướng và giải pháp giảm nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Trang 32CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐA CHIỀU
1.1 Cơ sở lý luận về nghèo, nghèo theo thu nhập và nghèo đa chiều
1.1.1 Quan niệm chung về nghèo
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo Tùy theo cách tiếp cận khác nhau
mà khái niệm về nghèo cũng được hiểu theo các nghĩa khác nhau
Quan niệm về nghèo, giải quyết mối quan hệ có liên quan đến việc giảm nghèo phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể của mỗi quốc gia Nghèo là những khái niệm mang tính lịch sử, tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà cách thể hiện khái niệm nghèo cũng có sự khác nhau
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội được tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995, một định nghĩa cụ thể về nghèo đã được đưa ra như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” Còn theo Hội nghị chống đói nghèo tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan vào tháng 9/1993 thì nghèo được hiểu là “tình trạng một bộ phận dân
cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của cá nhân và những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương.”
Ngô Thắng Lợi (2013) “Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, đó
là thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng
ở mức độ tối thiểu, đặc biệt là những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, có cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng”
Theo UNDP (2011), “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyển, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo
có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”
Trang 33Theo Ngân hàng thế giới (WB), thì nghèo “được tuyên bố là sự tước đoạt hạnh phúc, và nó bao gồm nhiều khía cạnh Đó là thu nhập thấp và việc không thể đáp ứng những hàng hóa và dịch vụ cơ bản, cần thiết để tồn tại Nghèo cũng bao gồm mức độ
y tế với giáo dục thấp, khả năng tiếp cận nước sạch và các điều kiện vệ sinh thấp, tình trạng an ninh không đảm bảo, thiếu tiếng nói, không đủ khả năng và cơ hội có cuộc sống tốt hơn.”
Ở nước CHDCND Lào: “Nghèo đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh tre, nứa lá tạm bợ, dột nát; không đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi khám chữa bệnh…”
1.1.2 Quan niệm về nghèo theo thu nhập
1.1.2.1 Quan niệm về nghèo theo thu nhập trên thế giới
Nghèo là một vấn nạn đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, là một trong
số những thước đo quan trọng để phản ánh chất lượng cuộc sống, là một vấn đề toàn cầu mà hiện nay luôn được các quốc gia quan tâm và tìm mọi cách để giảm nghèo bền vững Xác định bản chất của nghèo và cách thức đo lường nghèo là vấn đề kinh tế hết sức phức tạp và khó khăn
Trước đây, nghèo thường được đo bằng thu nhập hoặc chi tiêu, điều này có nghĩa là các chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức thu nhập đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền và người nghèo hay hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo
Theo đó, World Bank (2018) đã đưa ra chuẩn nghèo theo thu nhập như sau: thu nhập dưới 3,2 USD/ngày là ngưỡng nghèo cùng cực của các nước thu nhập trung bình thấp, trong khi đó ngưỡng này ở các nước thu nhập trung bình cao là 5,5 USD/ngày Trong đó, châu Phi cận Sahara là khu vực có tỷ lệ nghèo cùng cực lớn nhất Trong đó tỷ lệ tăng lớn nhất là tỷ lệ dân số có thu nhập từ trên 1,9 USD đến dưới 3,2 USD/ngày Những người nghèo ở đây phải sống trong nhiều điều kiện thiếu thốn như thiếu lương thực, điều kiện giáo dục và các dịch vụ cơ sở hạ tầng cơ bản
Đông Á - Thái Bình Dương là khu vực đạt thành tích tốt nhất về thúc đẩy thịnh vượng chung Nhóm 40% thu nhập thấp nhất của khu vực này tăng thu nhập trung bình 4,7%/năm Đông Á là khu vực giảm nhiều nhất về số người nghèo cùng cực và tỷ lệ dân số có thu nhập bình quân dưới 3,2 và 5,5 USD/ngày Mặc dù tỷ lệ nghèo cùng cực còn rất thấp nhưng tỷ lệ dân số thiếu điều kiện vệ sinh của khu vực này lại khá cao…
- Tuy nhiên, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn đói nghèo riêng của nước mình
và thường thấp hơn chuẩn đói nghèo mà WB khuyến nghị Chẳng hạn:
Trang 34- Nước Mỹ ngưỡng nghèo của người dân Mỹ là 26.246 USD/năm đối với một gia đình 4 người Điều này nghĩa là hộ gia đình có 2 người lớn, 2 trẻ em và thu nhập trước thuế dưới 26.246 USD/năm được coi là hộ nghèo
- Trung Quốc là một trong những quốc gia có tỷ lệ nghèo đói cao Theo phân loại của quốc gia này, người có thu nhập dưới 2.300 nhân dân tệ/năm được xếp vào nhóm nghèo cùng cực Chuẩn nghèo này của Trung Quốc thấp hơn một nửa so với tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) đặt ra là dưới 700 USD/năm
1.1.2.2 Quan niệm về nghèo theo thu nhập của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Chuẩn nghèo bình quân cả nước là: 261.000kip/người/tháng Cho giai đoạn 2011-2020
Cách thức đo lường này đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu xuất hiện những hạn chế:
Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, v.v ) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công v.v )
Thứ hai, có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu (do cả những lý do khách quan như không có sẵn dịch vụ hay lý do chủ quan như do tập tục văn hóa địa phương hay do chính nhận thức của người dân)
Vì những hạn chế trên nếu chỉ sử dụng chuẩn nghèo thu nhập để đo lường và xác định đối tượng nghèo sẽ dẫn đến bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu Để khắc phục những hạn chế do cách thức đo lường này đem lại phương pháp đo lường nghèo đa chiều đã ra đời, phù hợp với bản chất đa chiều của nghèo và đem lại những hiệu quả cao hơn trong việc xác định cá thể/ hộ nghèo để tiến tới giảm nghèo bền vững
1.1.3 Quan niệm về nghèo đa chiều
1.1.3.1 Quan niệm về nghèo đa chiều trên thế giới
Quan niệm về nghèo đa chiều của các tổ chức quốc tế
Giống như phát triển, nghèo có tính đa chiều nhưng trong quá khứ điều này thường bị bỏ qua bởi các thước đo về nghèo thu nhập Tuy nhiên, cho đến thời điểm
Trang 35hiện này nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các phương pháp đo lường đa chiều
để rà soát và đánh giá nghèo tại quốc gia mình
Theo Amartya Sen, người đoạt giải thưởng Nobel về kinh tế, cho rằng để sinh tồn thì con người cần có những nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần, nếu thiếu những nhu cầu tối thiểu này thì con người bị coi là sống trong nghèo
Để đánh giá tình trạng nghèo của hộ gia đình một cách toàn diện, khi nghiên cứu vấn đề nghèo của hộ gia đình cần được xem xét và phân tích theo các chỉ tiêu khác nhau,
do đó, ngoài các phương pháp nghiên cứu truyền thống, việc đánh giá mức độ nghèo của
hộ gia đình không chỉ dựa trên thu nhập hay chi tiêu, mà cần đánh giá mức độ "nghèo đa chiều" qua khía cạnh xã hội của đời sống dân cư với những thiếu hụt mà họ có thể phải gánh chịu như an sinh xã hội, giáo dục, y tế, nhà ở, hoạt động xã hội và an ninh
Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP - năm 1997) đã đưa ra khái niệm
về nghèo đa chiều HPI (Human Poverty Index) là chỉ số nghèo tổng hợp được dùng để
tính toán mức độ nghèo đa chiều với ba khía cạnh của cuộc sống đó là tuổi thọ (được
đo bằng xác xuất sống chưa đến 40 tuổi); trình độ văn hoá (được đo bằng tỉ lệ mù chữ
ở người lớn) và điều kiện sống (được đo bằng hai tiêu chí là tỷ lệ dân số không được tiếp cận bền vững tới nguồn nước hợp vệ sinh và tỉ lệ trẻ em thiếu cân so với tuổi) Mặc dù có cải tiến hơn so với chỉ số nghèo khi tính đơn thuần theo thu nhập nhưng HPI cũng bộc lộ một số hạn chế khi mà chỉ số này đã không tâm đến khía cạnh thu nhập - một trong số những khía cạnh quan trọng nhất để đánh giá nghèo Tuy chưa thật
sự đầy đủ xong HPI là một mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển mình của các phương pháp đo lường nghèo trên thế giới từ chỉ sử dụng thu nhập là thước đo duy nhất sang sử dụng nhiều chỉ số khác nhau để đánh giá Khoảng gần 1 thập niên sau nhằm khắc phục
những hạn chế của chỉ số HPI chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) do Đại học Oxford và UNDP áp dụng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007) ra đời và được áp dụng rộng khắp trên thế giới
Đến năm 2008 theo Tuyên bố của Liên Hợp Quốc khái niệm nghèo được định nghĩa như sau: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”
Trang 36Theo các quan điểm trên, ta thấy rõ nghèo là một vấn đề đa chiều và khi nghiên cứu nghèo người nghiên cứu cần phải xét nghèo trên phương diện về phúc lợi kinh tế
và quyền lợi xã hội để tránh bỏ xót và đưa ra các chính sách giảm nghèo không triệt
để Nghèo không phải chỉ là sự không thoả mãn mức tối thiểu về nhu cầu vật chất mà
nó còn là sự thiếu hụt về tinh thần, về khả năng tiếp nhận những dịch vụ cơ bản trong cuộc sống con người hay nói như Amartya Sen (nhà triết học - kinh tế học từng nhận giải Nobel thì nghèo không chỉ là thiếu thốn tiền bạc, mà còn là thiếu khả năng hiện thực hoá năng lực tiềm tàng của mỗi cá thể với tư cách là một con người Từ đó ta mới xác định được gốc rễ của giảm nghèo không đơn thuần là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người người dân mà còn kích thích ý thức phát triển của họ, bên cạnh đó còn phải giúp họ tăng vai trò, tăng tiếng nói trong xã hội, cung cấp các dịch vụ công để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo…
Khi đặt nghèo lên bàn cân người ta dựa vào chuẩn nghèo để xác định một cá nhân, một hộ có được công nhận là nghèo hay không Vậy chuẩn nghèo là thước đo (hay tiêu chí) nhằm xác định ai là người nghèo (hoặc không nghèo) để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước; nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo Căn cứ vào mức sống thực tế các quốc gia, trình độ phát triển kinh tế - xã hội mà mỗi một vùng lãnh thổ lại có chuẩn nghèo khác nhau nên không thể đánh đồng mọi người nghèo trên thế giới và cũng không thể dùng một giải pháp giảm nghèo chung cho toàn thế giới
Quan niệm về nghèo đa chiều của Việt Nam
Nhằm đánh giá thực trạng nghèo của đất nước Việt Nam trong bối cảnh mới, ngày 07/01/2021, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025
Nghị định đưa ra các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình và trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo giai đoạn 2021 - 2025 Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2021 và giai đoạn
2022 - 2025 được quy định cụ thể như sau:
Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2021
Từ ngày 01/01/2021, tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn
2011 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ Đây là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế -
xã hội khác năm 2021
Trang 37Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025
* Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025:
- Tiêu chí thu nhập: Khu vực nông thôn: 1.500.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị: 2.000.000 đồng/người/tháng
- Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, gồm:
(1) Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin
(2) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin
(3) Dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và ngưỡng thiếu hụt quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này
* Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025
- Chuẩn hộ nghèo: Hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ
xã hội cơ bản trở lên ở khu vực nông thôn Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên ở khu vực thành thị
- Chuẩn hộ cận nghèo: Hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch
vụ xã hội cơ bản ở khu vực nông thôn Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản ở khu vực thành thị
- Chuẩn hộ có mức sống trung bình: Hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng ở khu vực nông thôn Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng ở khu vực thành thị
Chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo, chuẩn hộ có mức sống trung bình là căn
cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo,
Trang 38an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác của Việt Nam giai đoạn 2022 - 2025
1.1.3.2 Quan niệm nghèo đa chiều của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Khái niệm nghèo đa chiều ở CHDCND Lào nghèo không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác mà nghèo còn do sự tồn tại các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ về: sức khỏe, giáo dục và mức sống
Chính phủ CHDCND Lào đã đưa ra khái niệm về nghèo (theo góc độ đa chiều)
theo tình hình thực tế của Lào như sau:“Nghèo là sự thiếu thốn các nhu cầu cơ bản
trong cuộc sống hàng ngày như: Thiếu lương thực thực phẩm không thể đáp ứng được 2.100 Ca- lo/người/ngày), thiếu quần áo mặc, không có nhà ở cố định, không có khả năng chi tiền thuốc men khi ốm đau, không có khả năng chi tiền phí giáo dục cơ bản,
không có điều kiện tiếp cận cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội.”
Tại Lào, chuẩn nghèo được điều chỉnh sao cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Từ năm 1995 đến năm 2015, Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội
đã 6 lần công bố tiêu chuẩn cụ thể cho hộ nghèo Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia Các chuẩn nghèo của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội ban đầu được quy đổi dựa trên thu nhập bình quân đầu người, nhưng từ năm 2005 được tính theo phương pháp tiếp cận dựa vào chi phí cho những nhu cầu cơ bản Từ tháng cuối 2015, Thủ tướng Chính phủ Lào đã ban hành chuẩn nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2020 đưa vấn đề nghèo của Lào theo hướng mới tiếp thu những thành tựu của các nước tiến bộ trên thế giới
1.2 Thước đo nghèo
1.2.1 Thước đo nghèo theo góc độ thu nhập
1.2.1.1 Thước đo nghèo trên thế giới theo góc độ thu nhập
Ngân hàng thế giới đã xác định phương pháp đo lường đói nghèo mới theo hai cách: đo lường mức phúc lợi (xét về thu nhập hoặc chi tiêu) và sử dụng chuẩn nghèo
theo cách tiếp cận “chi phí cho các nhu cầu cơ bản”
Cách tiếp cận của Tổng cục Thống kê - Ngân hàng Thế giới sử dụng chi tiêu bình quân đầu người từ Khảo sát mức sống Chuẩn nghèo được xây dựng theo cách tiếp cận chi phí cho các nhu cầu cơ bản, dựa trên hành vi tiêu dùng quan sát được của người nghèo Chuẩn này bao gồm các khoản chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và
Trang 39phi lương thực, thực phẩm Chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê - Ngân hàng thế giới ban đầu được xây dựng dựa trên một tiêu chuẩn là 2.100 Kcal/người/ngày Tổng cục Thống kê - Ngân hàng thế giới đã xác định chuẩn nghèo lương thực thực phẩm của năm 2018 là 5.50 USD/ngày (tức là 165 USD/Tháng) Như vậy, nếu một hộ gia đình chi tiêu trung bình cho một đầu người dưới mức này thì được coi là hộ nghèo về lương thực thực phẩm
1.2.1.2 Thước đo nghèo ở Lào theo góc độ thu nhập
Theo nghị định số 285/TTg trên, Chính phủ đưa ra chuẩn nghèo của Lào theo
cá nhân, hộ, bản và huyện nghèo như sau [75]:
Người nghèo: Chuẩn nghèo của người nghèo là dựa vào mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng không phân biệt giới tính, tuổi thọ và đánh giá theo tiền kip:
Chuẩn nghèo bình quân cả nước là: 261.000kip/người/tháng
Chuẩn nghèo ở nông thôn miền núi là: 253.000kip/người/tháng
Chuẩn nghèo ở thành thị là: 284.000kip/người/tháng
Hộ nghèo: Hộ được coi là nghèo là hộ có tất cả các khoản thu nhập cộng lại (hoặc vật chất có giá trị tương ứng) bình quân thấp hơn Chuẩn nghèo đã quy định ở phần 1 trên thì được khoảng 24 đô la Mỹ (1$=8.000 kip theo giá hiện hành), nếu quy
ra một ngày thì được khoảng 0,8 đô la Mỹ trên một người một ngày, so với chuẩn nghèo của thế giới là 1 đô la Mỹ trên đầu người trong một ngày và phù hợp với chuẩn nghèo quốc gia Với số tiền kip/người/tháng (khoảng 6.400 kip/người/ngày) này chỉ đủ mua gạo được khoảng 0,6 kg (15.000 kip/kg gạo loại rẻ nhất) cho một người trong một tháng và không thể cân đối để mua các thứ khác chẳng hạn: quần áo, nhà ở, học phí và mua thuốc chữa bệnh v.v Ngoài ra còn hiểu về quan điểm hộ nghèo và hộ thoát nghèo theo sự chỉ đạo trong Sắc lệnh hướng dẫn về việc xây bản và cụm bản phát triển của Thủ tướng Chính phủ là: Ở nông thôn vùng dân tộc thiểu số hộ nghèo là hộ có thu nhập thấp hơn 250.000 kip/tháng Còn ở thành thị và vùng lân cận hộ nghèo là hộ có thu nhập thấp hơn 450.000 kip/tháng Ngoài thu nhập thấp ra hộ nghèo còn thiếu thốn các điều kiện cơ bản để sinh hoạt phục vụ đời sống bình thường như: Thiếu lương thực thực phẩm và đồ dùng cần thiết; Nhà ở không cố định hoặc là túp lều đổ nát; Không có đất đai trồng trọt hoặc làm ăn năng suất thấp không có kỹ thuật sản xuất, thiếu dụng cụ làm ăn, không có nghề nghiệp và không có thu nhập v.v ; Thiếu thốn đồ dùng trong gia đình như quần áo, đồ bếp, lối sống thiếu vệ sinh, không được học hành hoặc học vấn thấp
Trang 40Hộ thoát nghèo là hộ đủ ăn, không thiếu thốn những đồ dùng cần thiết, là hộ có thu nhập cao hơn chuẩn nghèo, có đủ quần áo mặc, có công ăn việc làm có thu nhập,
có dụng cụ sản xuất và các điều kiện thuận lợi khác để phục vụ cuộc sống bình thường Bản nghèo: Bản được coi là nghèo có các chuẩn nghèo như sau:
- Bản nào có hộ nghèo từ 50% trở lên của tổng cộng hộ trong bản được coi
1.2.2 Thước đo nghèo đa chiều
1.2.2.1 Thước đo nghèo đa chiều trên thế giới
Chỉ số nghèo đa chiều phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và ở mỗi một đất nước với những đặc điểm khác nhau sẽ xuất hiện các yếu tố khác nhau Nhìn chung các yếu
tố như hạn chế về nguồn lực, trình độ học vấn thấp, dân số đông, bất bình đẳng giới, bệnh tật, sức khoẻ kém, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các rủi ro khác, tác động tiêu cực của những chính sách vĩ mô đều làm trầm trọng thêm tỷ lệ nghèo đa chiều Tuy nhiên, mức độ tiêu cực của các yếu tố kể trên không giống nhau ở mỗi lãnh thổ vì thế mà bản thân mỗi lãnh thổ tuỳ thuộc đặc điểm của địa phương mà lựa chọn các tiêu chí cũng như trọng số cho từng tiêu chí để xem xét, đánh giá tình trạng nghèo của địa phương mỗi nước
Từ năm 2007, Alkire and Foster đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức đo lường mới về nghèo , đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính đa chiều của nghèo Cách thức
đo lường này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số Nghèo đa chiều (MPI) lần