------BÀI TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC Đề tài: “Vận dụng quan điểm chính danh của Khổng Tử để xây dựng chuẩn mực mối quan hệ thầy và trò trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.” G
Trang 1- -BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: TRIẾT HỌC
Đề tài: “Vận dụng quan điểm chính danh của Khổng Tử để xây dựng chuẩn mực mối quan hệ thầy và trò trong các trường đại
học ở Việt Nam hiện nay.”
GVHD : TS NGUYỄN VĂN DƯƠNG
HV : Nguyễn Thị Linh Anh Lớp : K24MBA
MSSV : 27302110001
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I KHỔNG TỬ VÀ THUYẾT CHÍNH DANH CỦA KHỔNG TỬ 2
1 Tiểu sử về Khổng Tử 2
2 Bối cảnh ra đời và nội dung về học thuyết chính danh 2
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CHÍNH DANH CỦA KHỔNG TỬ ĐỂ XÂY DỰNG CHUẨN MỰC MỐI QUAN HỆ THẦY VÀ TRÒ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6
1 Những tư tưởng cơ bản của Khổng Tử về mối quan hệ Thầy- trò trong xã hội 6
2 Mối quan hệ thầy và trò trong xã hội Việt Nam 8
3 Xây dựng chuẩn mực mối quan hệ thầy và trò trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay 12
KẾT LUẬN 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trung Quốc là đất nước rộng lớn, có nền văn hóa và lịch sử lâu đời.Trước đời Hạ (Khoảng thế kỷ XXI-XVI TCN) dân tộc Trung Hoa ở vào giai đoạn xã hội nguyên thủy Ở đó mọi người sống không có bóc lột, không có giai cấp cùng lao động cùng hưởng thụ
Bước sang đời Hạ, chế độ nô lệ được xây dựng tư tưởng quản lý bắt đầu hình thành Giai cấp chủ nô đã đề ra các chính sách để phục vụ giai cấp mình bắt mọi người
nô lệ phải tuân theo.Các đời vua sử dụng mọi hình phạt tàn khốc để thống trị nhân dânbóc lột sức lao động của các nô lệ Để củng cố địa vị thống trị, họ dùng tư tưởng
“Thiên Mệnh” (tất cả mọi người trên thế giới do thượng đế sắp xếp và định mệnh) Tư tưởng này phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị dùng để luận chứng tính hợp lý của chính quyền nhà nước của giai cấp chủ nô Sang đời nhà Chu, tư tưởng quản lý đã thay đổi bằng cách bổ sung “Đức” vào thuyết “Thiên Mệnh” Giai cấp thống trị dã thi hành chính sách thống trị tương đối ôn hòa.Tuy nhiên,tư tưởng Đức Trị chỉ thực sự được đề cập đến cuối đời Xuân Thu với sự xuất hiện của nhà tư tưởng lớn: Khổng Tử
Trang 4CHƯƠNG I KHỔNG TỬ VÀ THUYẾT CHÍNH DANH CỦA KHỔNG TỬ
1 Tiểu sử về Khổng Tử
Khổng Tử (551–479TCN) là người nước Lỗ, tên là Khâu, tự là Trọng Ni Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc sa sút Thời thanh niên ông đã từng làm chức quan nhỏ, quản lý kho và trông coi trâu, dê Vì hiểu lễ nhà Chu nên Lỗ Chiêu Công đã phái ông đến học lễ ở sử quan vương thất nhà Chu Sau đó vì nước Lỗ nổi loạn, Khổng
Tử sang nước Tề, nhưng chưa được trọng dụng Sau này ông lại trở về nước Lỗ dạy học và chỉnh lý văn hóa điển tịch Thời Lỗ Định Công, Khổng Tử làm trung đô tể sau
đó nhận 3 chức Đại tư khấu rồi Nhiếp tướng sự Tuy nhiên ở nước Lỗ cũng như các nước khác ông từng đi đến như Vệ,Tống, Sái, Sở Ông không tìm được một vị minh quân để thực hiện chủ trương chính sách của mình nên sau đó ông đành về quê viết sách và dạy học Xã hội cuối thời Xuân Thu có nhiều biến động, quyền hành thiên tử nhà Chu rơi vào tay người khác, thiên tử không thể thống lĩnh được chư hầu, các giai cấp trong xã hội mâu thuẫn sâu sắc, đặc biệt là giai cấp thống trị và nhân dân lao động Vua quan tìm mọi cách đàn áp bóc lột nhân dân, chính sách cai trị là dùng chính và hình Là một nhà tư tưởng, một người tham gia quản lý đất nước, Khổng Tử luôn mong muốn một xã hội có tôn ti trật tự, có trên có dưới, vua ra vua, tôi ra tôi, mọi người sống vui vẻ, hòa thuận, thiên hạ thái bình, xã hội công bằng, không có người quá giàu ,không có người quá nghèo Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên đó chính là Đạo Nhân-triết lý về quản lý của Khổng tử Trong đó nổi bật là thuyết chính danh- một học thuyết chính trị và quản lý của Khổng Tử
2 Bối cảnh ra đời và nội dung về học thuyết chính danh
Sinh thời Khổng tử thường nói với học trò rằng “(Ngô) thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ” nghĩa là: Ta chỉ thuật lại mà không trước tác, tin vào đạo lý đời xưa Các nhà nghiên cứu về Nho giáo và Khổng tử ngày nay đều cho rằng, trong các tác phẩm như Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, Luận Ngữ thì chỉ có quyển Luận Ngữ được xem là đáng tin cậy nhất vì những lời phát biểu của Khổng tử trong sinh thời mà phần lớn là đàm thoại với học trò của ngài và được học trò ghi chép lại Do đâu mà Khổng
tử đề ra học thuyết “Chính danh”? Trong thời đại của mình, Khổng Tử nhận thấy tình trạng rối ren, phức tạp của xã hội phong kiến thời Chu Xã hội mà tôn ti trật tự bị rối ren, đảo lộn Khổng Tử lấy làm tiếc cái thời đầu nhà Chu như Chu Võ Vương, Chu
Trang 5Công sao mà thời đại tươi đẹp, phong hóa tốt đến thế Ngài nhìn thấy tình cảnh “tôi thí vua, con giết cha không phải nguyên nhân của một sáng một chiều” Mọi sự việc, nguyên nhân đều có cái cớ của nó Mà cái cớ này không tự dưng mà có mà nó được tích tập dần dần qua thời gian mà đến một thời điểm nào đó, chúng ta tạm gọi đó là điểm nút thì sẽ xảy ra kịch tính như trên Kinh dịch có câu “Đi trên sương mà băng giá tới” (Lý sương kiên băng chí) là thuận với lẽ diễn biến tự nhiên của mọi sự vật Khổng
Tử thấy tình trạng xã hội thời đó hỗn loạn đến nỗi “tôi giết vua, con giết cha”là tệ hại lắm rồi, nhưng Khổng Tử là người không thích bạo lực, không thích làm cuộc thay đổi triệt để để triệt tiêu cái tệ trên bằng bạo lực cho nên Khổng Tử mới đề ra học thuyết chính danh nhằm để cải tạo xã hội, giáo hóa xã hội dần dần Bản tính Khổng Tử thích
ôn hòa, thích giáo huấn dần dần hơn là bạo lực, mà bạo lực chưa chắc gì đã giải quyết triệt để cái tệ“tôi giết vua, con giết cha” nói trên mà bất quá chỉ thay thế cuộc thí quân này bằng cuộc thí quân khác hoặc vụ giết cha này bằng vụ giết cha khác Bạo lực bất quá chỉ giải quyết việc trước mắt, tức thời, chỉ trị được ngọn chứ làm sao trị được gốc của tình hình trên, chỉ có cuộc cách mạng tư tưởng mới trị được gốc của cái tệ tôi giết vua, con giết cha nói trên
Khổng tử cho rằng mỗi vật và mỗi người trong xã hội đều có một công dụng nhất định Nằm trong mối quan hệ nhất định mỗi vật, mỗi người đều có một địa vị bổn phận nhất định và tương ứng với nó là một danh nhất định Mỗi“danh” điều có tiêu chuẩn riêng Vật nào, người nào mang “danh” nào phải được thực hiện và phải thực hiện bằng được những tiêu chuẩn của danh đó, nếu không phải thì gọi bằng “danh” khác
Đó chính là học thuyết “Chính danh” của Khổng Tử - một học thuyết được xem là quan trọng trong toàn bộ tư tưởng của ông Khổng tử đã giải thích: “Chính danh là làm mọi việc cho ngay thẳng” “Chính danh” thì người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người ấy, trên dưới, vua tôi, cha con trật tự phân minh “Vua lấy lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua” “Vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con” Đó là một nước thịnh trị, lễ nghĩa, nhân, đức, danh phận vẹn toàn Khi Tử Lộ hỏi
về việc chính trị, Khổng Tử nói, muốn trị nước, trước tiên “ắt phải sửa cho chính danh”, vì “nếu không chính danh thì lời nói sẽ không đúng đắn sẽ dẫn tới việc thi hành sai Cho nên nhà cầm quyền xưng danh thì phải đúng với phận với nghĩa; đã xưng đúng danh phận, thì phải tùy theo đó mà làm” Theo học thuyết “Chính danh”, Khổng
Tử đã chia xã hội thành những mối quan hệ cơ bản, trong đó mỗi quan hệ là một
Trang 6“luân” Trong xã hội, theo Khổng Tử có 5 mối quan hệ chính là: vua tôi, cha con,
vợ chồng, anh em, bạn bè Đặc biệt trong luân lý, đạo đức, Khổng Tử luôn nhấn mạnh đến quan hệ vua tôi và cha con Đối với quan hệ vua tôi, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống và chủ trương “thượng hiền” không phân biệt đẳng cấp xuất than của người ấy Trong việc chính trị, vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự”,“vua phải tự mình làm thiện, làm phải trước thiên hạ để nêu gương và phải chịu khó lo liệu giúp đỡ dân Ông còn nói, nhà cầm quyền cần phải thực hiện ba điều: “Bảo đảm đủ lương thực cho dân được no ấm, phải xây dựng được lực lượng binh lực hùng mạnh để đủ bảo vệ dân, phải tạo lòngt in cậy của dân đối với mình Nếu bất đắc dĩ phải bỏ bớt những điều kiện trên thì trước hết hãy bỏ binh lực, sau đó đến bỏ lương thực, nhưng không thể bỏ long tin của dân đối với vua, nếu không, chính quyền xã tắc sẽ sụp đổ” Nếu “việc chính trị, vua cai trị nước nhà mà biết đem cái đức mình bỏ hóa ra, thì mọi người đều phục theo Tuy như ngôi sao Bắc Đẩu ở một chỗ mà có mọi vì sao chầu theo” Ngược lại dân và bề tôi đối với vua phải như đối với cha mẹ mình, phải tỏ lòng “trung” của mình đối với vua Ấy
là “Chính danh”, là “phục lễ vi nhân” Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ “hiếu” làm đầu và cha đối với con phải lấy lòng “từ ái” làm trọng Trong đạo hiếu của con với cha mẹ, dù ất nhiều mặt, nhưng cốt lõi phải ở “tâm thành kính”.“Đời nay hễ thấy ai nuôi được cha mẹ thì người ta khen là có hiếu Nhưng loài thú vật như chó ngựa người ta cũng nuôi được vậy Cho nên, nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật đâu” Trong việc trị nước như tu thân, học đạo sửa mình để đạt được đức“nhân”, “lễ” được Khổng Tử rất mực chú trọng
Lễ ở đây là những quy phạm, nguyên tắc đạo đức của nhà Chu Ông cho rằng, do vua không giữ đúng đạo vua, cha không giữ đúng đạo cha, con không giữ đúng đạo con… nên thiên hạ “vô đạo” Phải dùng lễ để khôi phục lại trật tự, phép tắc, luân lý xã hội, khiến cho mọi người trở về với “đạo”, với “nhân” và trở thành “Chính danh” Lễ
ở Khổng Tử là những phong tục, tập quán, những quy tắc quy định trật tự xã hội và
cả thể chế pháp luật nhà nước, như: sinh, tử, tang, hôn, tế, lễ, triều sinh, luật lệ, hình pháp… Theo Khổng Tử, lễ quan hệ với nhân rất mật thiết Nhân là chất, là nội dung,
lễ là hình thức biểu hiện của nhân “Nhân là cái nền tơ lụa trắng tốt mà trên đó người
ta vẽ nên những bức tranh đẹp” Ông khuyên người “ta chớ xem điều trái lễ chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ và chớ làm điều trái lễ”, thì khi đó sẽ đạt được “nhân”,
Trang 7xã hội ổn định, vua tôi, cha con, anh em, chồng vợ… đều “Chính danh định phận” Như vậy, trong triết học của Khổng Tử các phạm trù, “nhân”, “lễ”, “trị”, “dũng”,
“chính danh định phận… có nội dung hết sức phong phú, thống nhất với nhau và luôn thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó luôn cố gắng giải đáp những vấn
đề đặt ra của lịch sử và đây có lẽ là thành quả kết tinh rực rỡ nhất trong triết lý nhân sinh của ông Tuy nhiên, do hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp, học thuyết triết học của Khổng Tử luôn chứa đựng những mâu thuẫn, giằng co, đan xen giữa những tư tưởng tiến bộ với những quan điểm bảo thủ, phản ánh tâm trạng giằng
xé của ông trước biến chuyển của thời cuộc Hầu hết các nhà Nho, các nhà nghiên cứu
về Nho giáo và Khổng tử đều thừa nhận rằng học thuyết “Chính danh” là một phát kiến mới của Khổng tử Do chính ông quan sát thấy được tình trạng lộn xộn, mất tôn ti trật tự, trên cho ra trên, dưới cho ra dưới, vua cho ra vua, tôi cho ra tôi,…nên ông mới
đề ra học thuyết“Chính danh” Thực chất, học thuyết “Chính danh” không những chỉ có giá trị ở thời ông Nói theo cách nói của học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết lời
mở đầu cho cuốn Khổng Tử đã phát biểu r ằng “Triết thuyết nào cũng chỉ để cứu cái
tệ của một thời thôi Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó có giải quyết được những vấn đề của thời đó không, có là một tiến bộ so với các thời trước, một nguồn cảm hứng cho các đời sau không? Và nếu sau mười thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làmcho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi
Thuyết chính danh của khổng tử có ý nghĩa vô cùng quan trọng và tích cực đối với xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ Khi đó luật pháp còn sơ sài, quyền lực thực sự được quyết định bởi ý chí và hành vi của vua và tầng lớp cai trị, người dân còn đói nghèo dốt nát, không có quyền tự bảo vệ mình Trong bối cảnh đó Khổng Tử muốn xây dựng
xã hội lý tưởng bằng bắt đầu “từ trên xuống dưới”,ông phải kêu gọi lòng khoan dung,
sự gương mẫu của các nhà quản lý Nhà quản lý “có đạo” ,một “chính nhân quân tử”, theo ông, như một người cha-người chủ gia đình vậy Họ phải chăm lo, điều hành và giáo hóa các thành viên của tổ chức như con em mình,v ới tình thương và lòng bao dung Nhìn rộng ra cả nước là một gia đình lớn, có một người chủ là vua, dưới là bề tôi (tầng lớp cai trị), cuối cùng là thứ dân Một tổ chức có trật tự, thứ bậc rõ ràng song lại
có cùng một mục tiêu là thực hiện điều Nhân trong kinh tế,chính trị-xã hội và văn hóa
Trang 8CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CHÍNH DANH CỦA KHỔNG TỬ ĐỂ XÂY DỰNG CHUẨN MỰC MỐI QUAN HỆ THẦY VÀ TRÒ TRONG CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Những tư tưởng cơ bản của Khổng Tử về mối quan hệ Thầy- trò trong xã hội
Quan hệ thầy - trò còn gọi là quan hệ sư - tử (sư là thầy, tử là trò), mối quan hệ này được các nhà Nho rất coi trọng và đề cao Thời phong kiến người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng và địa vị hết sức tôn quý trong xã hội Theo thứ bậc “quân, sư, phụ” đã được qui định và thừa nhận thì người thầy còn có vị trí cao hơn cả cha mẹ và chỉ đứng sau vua Khổng Tử cho rằng, địa vị của người thầy được nâng lên trên cả địa
vị của người cha trong gia đình - sau ông vua là đến ông thầy rồi sau hết mới đến người cha Người cha cũng có bổn phận dạy dỗ con cái của mình, nhưng trong xã hội xưa, người dạy dỗ con mình nhiều nhất, sát nhất, cả mặt kiến thức và đạo đức chính là người thầy Mối quan hệ thầy trò chịu ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng "Chính danh" và
"Lễ" của Khổng Tử Theo Khổng Tử, “thầy phải ra thầy, trò phải ra trò” (trong thuyết chính danh) Thầy có vai trò của thầy, học trò có vai trò của học trò Nhưng cả hai phải
tu thân để có đạo đức Ngoài việc truyền đạt tri thức cho trò, thầy phải có phẩm chất, ngụ ý tri thức và đạo đức, làm gương cho trò mới dạy được trò Ngược lại, trò phải tôn kính thầy, trò trước tiên phải học và hành được lễ nghĩa, sau học và hành tri thức; như thế, mới có thể hữu dụng cho bản thân, gia đình, xã hội, dân tộc và đất nước
Quan hệ thầy - trò còn gọi là quan hệ sư - tử (sư là thầy, tử là trò), mối quan hệ này được các nhà Nho rất coi trọng và đề cao Thời phong kiến người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng và địa vị hết sức tôn quý trong xã hội Theo thứ bậc “quân, sư, phụ” đã được qui định và thừa nhận thì người thầy còn có vị trí cao hơn cả cha mẹ và chỉ đứng sau vua Khổng Tử cho rằng, địa vị của người thầy được nâng lên trên cả địa
vị của người cha trong gia đình - sau ông vua là đến ông thầy rồi sau hết mới đến người cha Người cha cũng có bổn phận dạy dỗ con cái của mình, nhưng trong xã hội xưa, người dạy dỗ con mình nhiều nhất, sát nhất, cả mặt kiến thức và đạo đức chính là người thầy Mối quan hệ thầy trò chịu ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng "Chính danh" và
"Lễ" của Khổng Tử
Trang 9Khổng Tử cho rằng, quan hệ thầy - trò trước tiên phải tuân theo Chính danh Quan hệ thầy trò phải được quy định bởi những chuẩn mực, giá trị đạo đức nhất định,
để đảm bảo người thầy, người trò có địa vị, bổn phận chính đáng, trên dưới, phải trái phân minh Xuất phát từ quan điểm cho rằng, mỗi người đều có những mối quan
hệ xã hội nhất định, trong mối quan hệ đó mỗi người đều có một địa vị, bổn phận nhất định và tương ứng với nó là một danh nhất định Mỗi danh đều có tiêu chuẩn riêng, người nào mang danh nào phải được thực hiện và phải thực hiện bằng được những tiêu chuẩn của danh đó, nếu không phải gọi bằng danh khác Đó chính là mỗi người đang thực hiện chính danh của mình Khổng Tử vận dụng học thuyết chính danh của mình
là để làm cho mọi việc ngay thẳng, vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha phải ra cha, con phải ra con Do đó, trong quan hệ thầy trò thì thầy phải ra thầy, trò phải ra trò Thầy phải thực hiện đúng danh phận của mình và trò cũng phải thực hiện đúng danh phận của trò Theo ông, nếu danh giữa thầy và trò mà bất chính thì lời nói sẽ không đúng đắn, lời nói không đúng đắn thì dẫn tới việc làm sai Khi đó người thầy và trò trong xã hội sẽ không còn kính trọng nhau, không còn giữ được hòa khí Thông qua học thuyết chính danh, Khổng Tử chỉ ra rằng, quan hệ thầy trò phải được xây dựng theo danh phận và thứ bậc rõ ràng, phải tôn trọng những tôn ti, trật tự, phép tắc nhất định trong quan hệ giữa thầy với trò Những quy định trong mối quan hệ này trở thành một đạo cư xử, đó là đạo thầy trò
Mặt khác, Khổng Tử cho rằng, quan hệ thầy trò cũng phải thực hành theo Lễ Ông yêu cầu đạo làm thầy và đạo làm trò là phải cư xử đúng lễ Đạo làm thầy phải lấy
lễ để giáo hoá học trò Trong Luận ngữ Khổng Tử thường nhắc rất nhiều đến chữ "Lễ",
ở mỗi chương ông đều có nhiều đoạn bàn về lễ, có khi chủ động giảng giải, có khi thụ động trả lời câu hỏi của các đồ đệ liên quan tới lễ Lễ trong Luận ngữ mang hai bản chất: lễ chi bản và lễ chi dụng Lễ chi bản nói lên lễ như là bản chất biểu tả một cách trung thực bản tính con người, trong khi lễ chi dụng nói lên tính chất công cụ của lễ trong công việc giữ gìn trật tự, cũng như giữ được sự cân bằng trong cuộc sống, trong những giao tiếp của con người Khổng Tử giải thích rằng, xã hội phải có lễ và mọi người phải tuân theo lễ vì không có lễ lấy gì phân biệt địa vị vua, tôi, trên, dưới, lớn, nhỏ Không có lễ không phân biệt tình thân mật của trai gái, cha con, anh em, sự giao thiệp thân hay sơ của hôn nhân Và vì vậy, ông đề ra chuẩn mực vua phải sống xứng
Trang 10đáng là vua, bề tôi đáng phận bề tôi, cha đáng cha, chồng đáng chồng, con đáng con (quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử) Tất cả mọi người đều làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình trong các mối quan hệ thì xã hội mới bình ổn và phát triển Do đó trong quan hệ thầy trò, lễ không chỉ đóng vai trò là lễ nghi thông thường mà nó còn là
lễ giáo, là phép tắc ứng xử giữa thầy và trò theo chuẩn mực đạo đức nhất định, tức là thầy phải xứng đáng làm thầy, trò phải đáng phận làm trò Quan hệ thầy trò phải có trên có dưới, có trước có sau, thầy phải thương yêu quý mến trò và trò phải tôn kính hiếu kính với thầy
Khổng Tử là một trong những người đầu tiên đề xướng việc học lễ và dạy lễ cho học trò cũng như cho mọi người Ông cho rằng, học lễ là điều kiện đầu tiên không thể thiếu đối với mỗi một con người khi gia nhập xã hội Con người ta phải tự mình rèn luyện, học theo lễ, vì Kinh Lễ dạy người ta ở đời cho có quy củ, không học Kinh
Lễ thì không biết cách đứng ở cuộc đời Học Kinh Lễ là để theo lễ mà suy tư, theo lễ
mà thực hành Vấn đề quyết định chính là ý thức tự giác, tự trọng khi học lễ Ông khẳng định, học lễ chính là học đạo làm người, tuân theo lễ chính là thực hành đạo làm người, học lễ và tuân theo lễ là để trở thành người có đạo đức, có nhân cách tốt đẹp
Từ quan điểm cho rằng quan hệ thầy trò phải được thực hiện theo Chính danh và Lễ, Khổng Tử đã chỉ ra rằng quan hệ thầy trò là mối quan hệ tương tác hai chiều trong đó người thầy phải có vai trò, trách nhiệm đối với trò và ngược lại trò cũng phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với thầy
2 Mối quan hệ thầy và trò trong xã hội Việt Nam
Từ xưa tới nay, nhân dân ta luôn coi trọng truyền thống tốt đẹp "tôn sư trọng đạo", luôn ý thức giữ gìn những nét đẹp văn hóa trong mối quan hệ, tình cảm giữa thầy
và trò Trong thời gian gần đây, đang diễn ra nhiều thảo luận cho thấy nhận thức về mối quan hệ thầy trò đang dần thay đổi Khoảng ba năm nay, trên một số trang báo và diễn đàn đặt vấn đề, có nên thay thế câu khẩu hiệu phổ biến "Tiên học lễ, hậu học văn" trong nhà trường bằng các khẩu hiệu khác? Tranh luận đã diễn ra sôi nổi Những người nhận thấy "cần phải giữ" giải thích, việc giáo dục đạo đức, trong đó có "đạo thầy trò"
là một nét đẹp được kiến thành từ xa xưa, càng cần thiết trong bối cảnh xã hội đang có nhiều thay đổi về giá trị Còn những người cho rằng nên thay bằng khẩu hiệu khác cho biết, họ không phản đối ý nghĩa các giá trị tốt đẹp của truyền thống, nhưng cứ tiếp tục