Do sự đa dạng của các loại tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại vàtrước yêu cầu của sự linh hoạt trong việc giải quyết tranh chấp này, tại kỳ họp thứmười một Quốc hội khoá IX, Luật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
Ngành: Luật Kinh doanh Niên khoá: 2018 – 2022 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN THANH TÂM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khoá luận “Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại – Thực tiễn tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà” là
công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, thông tin, trích dẫn được sử dụng trongKhoá luận này hoàn toàn chính xác, trung thực và tin cậy Kết quả nghiên cứu
là do quá trình học tập, nghiên cứu của bản thân và sự hướng dẫn tận tình của Giáo viên hướng dẫn - ThS Nguyễn Thanh Tâm
Sinh viên
Thượng Kim Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn đầu tiên em xin gửi đến thầy Nguyễn Thanh Tâm, người đã trực
tiếp và tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện Khoá luận: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại – Thực tiễn tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà” Những ý kiến đóng góp và hướng dẫn của thầy đã giúp
cho em có thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm để hoàn thành khoá luận này.Tiếp đến, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả Quý Thầy, Cô trongkhoa Luật – Trường Đại học Duy Tân Những kiến thức và kinh nghiệm mà em cóđược ngày hôm nay là kết quả từ sự tận tình giảng dạy của Quý Thầy, Cô trong suốtthời gian qua
Cuối cùng, em kính chúc Quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp cao quý, tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiếnthức cho thế hệ mai sau.
Sinh viên
Thượng Kim Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN 7
1.1 Khái quát về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng kinh doanh thương mại 7
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 9
1.1.3 Nguyên nhân hình thành tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 12
1.1.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 14
1.2 Khái quát về phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Toà án 18
1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Toà án 18
1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Toà án19 1.3 Pháp luật về hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Toà án 20
1.3.1 Nguyên tắc về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 20
1.3.2 Thẩm quyền Toà án trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 24
1.3.3 Trình tự thủ tục, giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 27
1.3.4 Chế tài áp dụng giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 29
1.4 Vai trò của pháp luật đối với hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Toà án 30
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ 33
2.1 Khái quát về Toà án nhân dân quận Sơn Trà 33
Trang 62.1.1 Khái quát chung 33
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 34
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ 36
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà 37
2.2.1 Tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 37
của Toà án nhân dân quận Sơn Trà từ năm 2017 - 2021 38
2.2.2 Giải quyết tranh chấp nội dung hợp đồng kinh doanh thương mại 40
2.3 Đánh giá chung thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Toà án nhân dân quận Sơn trà 42
2.3.1 Những kết quả đạt được 42
2.3.2 Những tồn tại và hạn chế 43
2.3.3 Nguyên nhân 45
Tiểu kết chương 2 48
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ 49
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 49
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 53
3.2.1 Đối với Toà án nhân dân quận Sơn Trà 53
3.2.2 Đối với các cơ quan và đối tượng có liên quan 55
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức TAND quận Sơn Trà 34
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với một đất nước đang phát triển như Việt Nam thì kinh doanh thương mại rấtđược chú trọng, ảnh hưởng lớn lao đến cuộc sống của con người liên quan đến cáchành vi mua bán hàng hoá, dịch vụ và xúc tiến thương mại, nhằm đáp ứng các nhucầu sản xuất, tiêu dùng và mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận Ngoài ra, còn lànhân tố quyết định sự phát triển của đất nước thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất và mang lại cho người tiêu dùng các hànghoá tốt Vì vậy quan hệ kinh doanh thương mại trở thành một quan hệ xã hội có tầmquan trọng đặc biệt không chỉ với mỗi cá nhân doanh nghiệp mà còn là sự phát triểnkinh tế xã hội của quốc gia toàn cầu
Hiện nay, quan hệ kinh doanh thương mại được thiết lập dưới nhiều hình thứcnhưng vì một số quan hệ có giá trị lớn nên chủ yếu các bên dựa trên cơ sở giao kếthợp đồng là chính Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển của nền kinh doanh thươngmại luôn tiềm ẩn các rủi ro không thể lường trước được, cũng như quá trình thựchiện hợp đồng kinh doanh thương mại có thể nảy sinh những tình huống dẫn đếntranh chấp Và khi hợp đồng kinh doanh thương mại phát sinh những mâu thuẫndẫn đến tranh chấp, các bên cần thông qua những phương thức giải quyết để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình
Do sự đa dạng của các loại tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại vàtrước yêu cầu của sự linh hoạt trong việc giải quyết tranh chấp này, tại kỳ họp thứmười một Quốc hội khoá IX, Luật Thương mại năm 1997 được thông qua ngày10/5/1997 đã quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại Đến kỳhọp thứ bảy Quốc hội khoá XI, Luật Thương mại năm 2005 được ban hành vàthông qua ngày 14/6/2005 vẫn giữ nguyên quy định về các hình thức giải quyếttranh chấp đó là: thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Toà án, mỗi một phươngthức đều có những ưu và nhược điểm riêng Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tạiphương pháp giải quyết tranh chấp bằng Toà án vẫn đang phổ biến và được các bênlựa chọn nhiều nhất Vì thế, để trả lời cho câu hỏi liệu rằng khi các tranh chấp trong
Trang 10hợp đồng kinh doanh thương mại phát sinh, Toà án đã áp dụng pháp luật như thếnào để giải quyết một cách hiệu quả Tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về giải quyếttranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại – Thực tiễn tại Toà án nhân dân quận
Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” nhằm góp phần trả lời cho câu hỏi trên.
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hợp đồng kinhdoanh thương mại nói chung và giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thươngmại nói riêng, cụ thể:
Luận văn Thạc sĩ luật kinh tế “Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” của Võ Ngọc Thông (2017), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Luận
án đã nghiên cứu một số vấn đề về lý luận như khái niệm, đặc điểm của hợp đồngkinh doanh thương mại Đánh giá chung về thực trạng pháp luật và áp dụng phápluật qua thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại tại Toà ánnhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm tìm ra những điểmbất cập, vướng mắc của các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồngkinh doanh, thương mại Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giảiquyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại
Luận án Tiến sĩ “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Toà
án ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Kim Vinh (2003), Viện nghiên cứu Nhà nước và
Pháp luật Luận văn đã nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm, đặcđiểm của tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại, phân tích đánh giá thựctrạng các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thươngmại, những nguyên nhân bất cập của pháp luật thương mại về giải quyết tranh chấphợp đồng kinh doanh thương mại bằng con đường Toà án Qua đó, đưa ra đượcphương hướng và những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranhchấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng con đường Toà án ở Việt Nam
Ngoài ra, các nghiên cứu còn được trình bày dưới dạng các bài báo khoa học,chuyên đề… có thể kể đến như:
Trang 11- Bài báo của TS Nguyễn Hồng Thái (2021), Thực trạng và giải pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại TAND thành phố Hà Nội,Viện kinh tế Công nghệ Việt Nam, Viện Kinh tế Công nghệ Việt Nam;
chap-Hop-dong-kinh-doanh-thuong-mai-tai-TAND-thanh-pho-Ha-Noi/
http://donghanhviet.vn/news/4542/378/Thuc-trang-va-giai-phap-giai-quyet-tranh-d,news_detail_tpl
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng phương thức Trọng tài từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của
Nguyễn Thị Kim Nguyên (2016), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam;
- Bài báo của ThS Vũ Trọng Khang (2021), Tranh chấp kinh doanh thương mại hiệu quả thông qua phương thức trọng tài thương mại, Trung tâm Trọng tài
thương mại thành phố Hồ Chí Minh doanh-thuong-mai-hieu-qua-thong-qua-phuong-thuc-trong-tai-thuong-mai-ky-2/
Tracent;https://tracent.com.vn/tranh-chap-kinh Thomas J.Stpanowich (2014), Commercial Arbitration and Settlement: Empirical Insights into the Roles Arbitrators play, Y.B Arb & Mediation 1; https://
elibrary.law.psu.edu/arbitrationlawreview/vol6/iss1/4/
- Steve Ngo (2020), ASEAN and China commercial disputes settlement: Relfections
on regional commerce, belt & road initiative and beyond, China and the World.
https://www.worldscientific.com/doi/10.1142/S2591729320500078
Các công trình nghiên cứu nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước có thểthấy trên cơ bản đã tiếp cận và hoàn thiện về chế định giải quyết tranh chấp hợpđồng kinh doanh thương mại Mỗi công trình, mỗi bài viết đều có những điểm tiếpcận ở những khía cạnh khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm mục đích xây dựng, hoànthiện pháp luật Đây là tài liệu hữu ích để nghiên cứu và phát triển bài Khoá luậncủa tác giả Tuy nhiên, kể từ ngày Luật Thương mại năm 2005 được ban hành và cóhiệu lực đến nay vẫn còn nhiều bất cập trong việc áp dụng, hoạt động xét xử củaToà án vẫn còn gặp nhiều khó khăn, việc nghiên cứu thực tiễn về giải quyết tranhchấp hợp đồng KDTM tại Toà án đang được nhiều người quan tâm, tuy nhiên chưa
có nhiều tác giả nghiên cứu phạm vi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Vì vậy, Khoá
Trang 12luận của tác giả sẽ vừa kế thừa những kết quả nghiên cứu đã đạt được trước đây,vừa đưa ra những phân tích, nghiên cứu mới và những vấn đề lí luận về chế địnhgiải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại theo Luật Thương mại năm
2005 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cụ thể tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Khóa luận này được triển khai nhằm hướng đến những mục đích sau:
Một là, phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp
hợp đồng kinh doanh thương mại nhằm tìm ra những điểm hạn chế, vướng mắctrong quy định pháp luật hiện hành
Hai là, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Ba là, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động giải quyết, xét xử tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Bốn là, so sánh những điểm mới, tiến bộ của pháp luật thương mại hiện hành Năm là, những ưu nhược điểm, những khó khăn, vướng mắc thường gặp trong
quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Toà án nhândân quận Sơn Trà
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được những mục đích nêu trên, Khóa luận này sẽ thực hiện nhữngnhiệm vụ sau đây:
Một là, nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về giải quyết
tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại và pháp luật về giải quyết tranh chấphợp đồng kinh doanh thương mại tại Toà án
Hai là, phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động xét xử vụ án tranh chấp hợp
đồng kinh doanh thương mại tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵngtrên cơ cở có sự so sánh qua từng năm Từ yêu cầu thực tế trong giai đoạn cầnchuyển giao các quy định pháp luật mới, đưa ra những vấn đề đang vướng mắc,
Trang 13nguyên nhân của những vướng mắc và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiệnhoạt động xét xử.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, đối tượng nghiên cứu: Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
của Việt Nam quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mạibằng Toà án Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu đánh giá việc áp dụng pháp luậttrong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Toà án nhândân quận Sơn Trà thông qua các số liệu cụ thể
Thứ hai, phạm vi nghiên cứu: Khóa luận này triển khai trên hai phạm vi không
gian và thời gian:
Một là, phạm vi nghiên cứu về không gian: Là những tranh chấp trong quan hệ
hợp đồng kinh doanh thương mại được giải quyết tại Toà án nhân dân quận SơnTrà, thành phố Đà Nẵng
Hai là, phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2017 đến 2021.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai thành công các nội dung này Khoá luận đã kết hợp nhuầnnhuyễn các phương pháp sau đây:
Thứ nhất, phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng
tại mục 1.1 và mục 1.2 tại Chương 1 nhằm có cái nhìn khái quát về các quy địnhpháp luật hiện hành về hợp đồng, tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại, giảiquyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Toà án
Thứ hai, phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng tại mục 1.2
Chương 1 và một số mục khác tại Chương 1, nhằm so sánh các quy định pháp luậtgiữa luật cũ (Luật Thương mại năm 1997) và luật hiện hành (Luật Thương mại năm2005) cũng như pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới
Thứ ba, phương pháp diễn giải – quy nạp: Phương pháp này được sử dụng
chính để diễn giải, dẫn chứng, chứng minh từ đó rút ra kết luận
Trang 14Thứ tư, phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử:
Phương pháp này để tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử ra đời, thành lập của Toà án nhândân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
6 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu củaKhoá luận gồm ba phần như sau:
Chương 1 Một số vấn đề cơ bản và pháp luật về giải quyết tranh chấp hợpđồng kinh doanh thương mại bằng Toà án
Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp đồngkinh doanh thương mại tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà
Chương 3 Một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng caochất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Toà án nhândân quận Sơn Trà
Trang 15CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN
1.1 Khái quát về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng kinh doanh thương mại
Hiện nay, pháp luật chưa quy định rõ khái niệm hợp đồng KDTM nhưng lại
quy định về hợp đồng nói chung, theo Điều 385, BLDS 2015 thì “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” Và theo cuốn Từ điển Tiếng việt do nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành vào năm 2003 thì “Hợp đồng là sự thoả thuận, giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản Điển hình như hợp đồng thuê nhà, hợp đồng kinh tế” Nhìn chung ở hai khái
niệm này có thể thấy hợp đồng chỉ là sự thoả thuận giữa các chủ thể về quyền vànghĩa vụ mà chưa đề cập đến một đặc điểm riêng biệt nào về hợp đồng KDTM [16,tr.466]
Tuy nhiên, trong cuốn từ điển Thuật ngữ pháp lý có đề cập đến khái niệm hợp
đồng kinh tế là “sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên kí kết
về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình” Ở khái niệm này có thể dễ dàng
nhận thấy được bản chất của hợp đồng kinh tế cũng giống như hợp đồng KDTM, vìcác đối tượng, nội dung và mục đích hợp đồng kinh tế cũng gần như giống với hợp
đồng KDTM [13, tr.72]
Như vậy, từ những định nghĩa nêu trên có thể hiểu: “Hợp đồng kinh doanh thương mại là sự thương lượng, thoả thuận của các chủ thể về quyền và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh thương mại, sự thoả thuận đó được các bên thống nhất, đồng ý trên cơ sở tự do, tự nguyện, thiện chí”.
Có thể nhận thấy hợp đồng KDTM là một loại hợp đồng, do đó, nó mang cácđặc điểm của một hợp đồng thông thường Bên cạnh những điểm tương đồng với
Trang 16các loại hợp đồng khác, hợp đồng KDTM cũng mang một số đặc trưng riêng biệt để
có thể phân biệt như: chủ thể, hình thức, đối tượng, nội dung và mục đích của hợpđồng kinh doanh thương mại như sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng kinh doanh thương mại chủ yếu là thương nhân Khi tham gia hợp đồng KDTM các bên phải có đủ năng lực chủ thể để thực
hiện nghĩa vụ của hợp đồng Hợp đồng thường được thiết lập giữa các chủ thể làchủ yếu là thương nhân, thương nhân có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương
nhân nước ngoài Theo quy định tại Điều 6, Luật Thương mại 2005 “Thương nhân bao gồm các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Ngoài ra, chủ thể
của hợp đồng KDTM có thể là các tổ chức cá nhân không phải là thương nhân vớinhau, không đăng ký kinh doanh trong một số trường hợp như: hợp đồng mua bánhàng hoá giữa các cá nhân, uỷ thác mua bán hàng hoá, môi giới, tổ chức cá nhângóp vốn đầu tư thành lập doanh nghiệp, chẳng hạn giữa hai cá nhân không đăng
ký kinh doanh ký hợp đồng mua bán quần áo nhưng thoả thuận lựa chọn LuậtThương mại năm 2005 là luật để áp dụng điều chỉnh các vấn đề thoả thuận tronghợp đồng
Thứ hai, hình thức của hợp đồng kinh doanh thương mại Hợp đồng KDTM
được xác lập dưới nhiều hình thức khác nhau như: lời nói, văn bản hoặc những hành
vi cụ thể thể hiện ý chí giao kết hợp đồng, tuy nhiên, vì tính phức tạp, giá trị vànhững yêu cầu chặt chẽ của hợp đồng nên thông thường khi giao kết hợp đồngKDTM các bên lựa chọn xác lập dưới dạng văn bản hoặc các hình thức khác có giátrị pháp lý tương đương (điện báo, fax, thông điệp dữ liệu) Ngoài ra, một số loạihợp đồng pháp luật bắt buộc phải được lập thành văn bản như: hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ
Thứ ba, đối tượng của hợp đồng kinh doanh thương mại đa dạng Tương tự
như hợp đồng dân sự, hợp đồng KDTM có đối tượng là hàng hoá, dịch vụ Ngoài ra,hoạt động kinh doanh thương mại có những hợp đồng đặc trưng riêng mà chưa đềcập đến trong hợp đồng dân sự truyền thống như: hợp đồng hợp tác kinh doanh
Trang 17(BCC), hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) các loại hợp đồngnày đối tượng của nó không phải là hàng hoá, dịch vụ mà là các hoạt động mangtính tổ chức để tạo lập doanh nghiệp hoặc để thực hiện các hoạt động thương mại.
Thứ tư, về nội dung và mục đích của hợp đồng kinh doanh thương mại Nội
dung và mục đích của hợp đồng không trái với các quy định của pháp luật Nộidung của hợp đồng bao gồm các điều khoản mà các bên đã thoả thuận thống nhấtnhư: đối tượng, số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, bồi thườngthiệt hại, phạt vi phạm Mục đích chính của các bên khi tham gia hợp đồng KDTM
là tìm kiếm lợi nhuận, đây là điểm khác biệt đặc trưng với hợp đồng dân sự Tuynhiên, cũng có một số trường hợp khi thương nhân thực hiện giao kết hợp đồng trênlãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không vì mục đích lợi nhuậnnhưng lựa chọn áp dụng Luật Thương mại để điều chỉnh, ví dụ cụ thể trong trườnghợp một doanh nghiệp A là thương nhân ký kết hợp đồng cung ứng hàng hoá với cánhân C không là thương nhân, mục đích ký hợp đồng này của A và C lấy hàng hoálàm từ thiện như vậy hợp đồng này phát sinh vì mục đích nhân đạo không giống vớicác hợp đồng KDTM khác nhằm sinh lợi, nhưng theo yêu cầu của C về điều khoản
áp dụng luật trong hợp đồng, C và A đã thoả thuận nếu có tranh chấp phát sinh thìlựa chọn Luật Thương mại năm 2005 để áp dụng
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
1.1.2.1 Khái niệm tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Cũng giống như các tranh chấp về dân sự nói chung là những xung đột vềquyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện quan
hệ dân sự Tranh chấp hợp đồng KDTM nói riêng phát sinh từ sự mâu thuẫn haykhông thống nhất về quyền, nghĩa vụ hoặc các lợi ích trong quá trình thực hiện hợpđồng KDTM của các bên tham gia Hiện nay pháp luật không quy định khái niệmtranh chấp hợp đồng KDTM, tuy nhiên trên thực tế có thể thấy tranh chấp hợp đồngKDTM là một dạng tranh chấp phổ biến, tất yếu thường xuyên xảy ra trong hoạtđộng thương mại
Theo cuốn từ điển Thuật ngữ pháp lý có nhắc đến khái niệm tranh chấp là
Trang 18“Những mâu thuẫn, bất hoà về quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa các chủ thể tham gia vào một quan hệ pháp luật, điển hình là loại tranh chấp dân sự, lao động, kinh tế” [13, tr.121] Khái niệm này làm nhiều người hiểu nhầm về tranh chấp hợp đồng
sẽ đồng nghĩa với vi phạm hợp đồng, tuy nhiên cần làm rõ vi phạm hợp đồng làhành vi pháp lí của các bên đã xử sự trái với điều khoản đã cam kết trong hợp đồng,còn tranh chấp hợp đồng được hiểu là không thống nhất ý kiến của các bên trongquá trình đánh giá hành vi vi phạm đó hoặc cách thức giải quyết được thể hiện rabên ngoài
Trái lại, từ điển Tiếng việt do nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành vào năm 2003
đưa ra khái niệm tranh chấp là “Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc
về bên nào, đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề về quyền lợi giữa hai bên” Có thể thấy, khái niệm này đã chỉ ra rõ ràng hơn tránh sự
hiểu nhầm như khái niệm trên Dù vậy, cách diễn đạt có khác nhau nhưng nhìnchung tất cả các khái niệm tranh chấp đều chỉ rõ một hợp đồng được coi là có tranhchấp khi các bên không thống nhất được ý kiến và xảy ra mâu thuẫn từ sự bất đồng
đó [16, tr.1024]
Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm tranh chấp thương mại được đề cập trong
Điều 238, Luật Thương mại 1997 “Là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại” Nếu hiểu theo
nội hàm của điều luật này thì đây chính là khái niệm tranh chấp hợp đồng KDTM.Tuy nhiên, khi áp dụng đã có những điểm bất cập, một số tranh chấp mang tínhthương mại nhưng lại không được đề cập dẫn đến việc xung đột pháp luật giữa quốcgia và quốc tế trong đó có cả những Công ước quốc tế quan trọng mà Việt Nam đã
là thành viên (Công ước New York năm 1958) gây không ít trở ngại, rắc rối trongthực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập Vì thế, khi ban hành Luật Thương mại
2005 các nhà làm luật đã bỏ những điều khoản chưa thật sự phù hợp với thực tiễn.[15, tr.429]
Qua các khái niệm đã được xây dựng về tranh chấp, tranh chấp kinh tế ở trên
Có thể hiểu: “Tranh chấp hợp đồng KDTM là những bất đồng, mâu thuẫn phát sinh
Trang 19từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong hợp đồng KDTM”.
1.1.2.2 Đặc điểm tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Từ những phân tích về khái niệm có thể thấy tranh chấp hợp đồng KDTMcũng là một dạng tranh chấp hợp đồng nói chung, vì thế mang đầy đủ những đặcđiểm cơ bản của một tranh chấp hợp đồng Tuy nhiên, với bản chất đặc thù của hợpđồng KDTM, tranh chấp hợp đồng KDTM mang một số đặc trưng riêng có thể phânbiệt với các loại tranh chấp hợp đồng, có thể khái quát một cách tổng thể như sau:
Thứ nhất, nguyên nhân tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại phát sinh
từ sự xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia tranh chấp Trên thực tế, các tranhchấp hợp đồng kinh doanh thương mại phần lớn là tranh chấp phát sinh từ hợp đồngmua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ vì bản chất các hợp đồng này đều do các bênthoả thuận, theo đó bên giao hàng phải giao hàng hoá đúng thời hạn, chất lượng, sốlượng và bên có nghĩa vụ thanh toán phải thanh toán đúng số tiền theo thời hạn đãthoả thuận Do đó, chỉ cần một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng ngay lập tức sẽ có nguy cơ phát sinh tranh chấp Đây là đặc trưng riêng củamột tranh chấp nếu không có sự xung đột thì không gọi là tranh chấp chỉ có thể xem
là một hợp đồng đơn thuần Có thể thấy một số quan hệ như dân sự pháp luật quyđịnh về việc các cá nhân, cơ quan đoàn thể có quyền khởi kiện để đảm bảo quyềnlợi cho một cá nhân, tổ chức khác mà không phải là lợi ích của chính mình Tuynhiên, đối với tranh chấp hợp đồng KDTM, phạm vi phát sinh tranh chấp là cácquyền, nghĩa vụ thể hiện rõ qua các điều khoản mà các bên đã thoả thuận trước đó
Dù cho có rất nhiều nội dung tranh chấp khác nhau nhưng vô hình chung đều là cáctranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia trong hợpđồng đó Vì thế chỉ có các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyềnlên tiếng, tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích của mình
Thứ hai, đối tượng tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh thương mại Đa số
tranh chấp xảy ra đều liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh tronghợp đồng bao gồm: mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; tranh chấpgiữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với
Trang 20nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia,tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty, Và các quan hệ trong hợp đồngKDTM có bản chất tài sản nên phần lớn nội dung tranh chấp thường liên quan trựctiếp tới lợi ích kinh tế của các bên.
Thứ ba, chủ thể trong tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại cũng tương
tự như chủ thể trong hợp đồng KDTM, hầu hết luôn có một bên là thương nhân,cũng có nhiều trường hợp cả hai bên tranh chấp đều không là thương nhân nhưtranh chấp trong việc mua bán hàng hoá giữa hai cá nhân không có đăng ký kinhdoanh nhưng vẫn lựa chọn áp dụng Luật Thương mại để giải quyết tranh chấp
1.1.3 Nguyên nhân hình thành tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Từ những phân tích về khái niệm cũng như đặc điểm của tranh chấp hợp đồngkinh doanh thương mại, có thể thấy, trên thực tế rất nhiều nguyên nhân dẫn đếnnhững xung đột lợi ích, bất đồng, mâu thuẫn trong hợp đồng KDTM và gây ra tranhchấp cụ thể như sau:
Thứ nhất, hạn chế về kiến thức pháp luật như: thoả thuận của các bên trong
hợp đồng trái quy định pháp luật, người tiến hành ký hợp đồng không có tư cách đạidiện cho chủ thể hoặc không đủ thẩm quyền theo pháp luật quy định, ví dụ trườnghợp người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp ký kết hợp đồng KDTM nhưnglại không có giấy uỷ quyền Ngoài ra, có thể xuất phát từ hình thức của hợp đồngkhông đúng với quy định của pháp luật, chẳng hạn theo Khoản 2, Điều 27, Luật
Thương mại năm 2005 quy định “Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”, hoặc các hợp đồng về dịch vụ khuyến mại, hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lý,… đều bắt buộc phải được lập thành văn bản, tuy
nhiên, khi xác lập hợp đồng các bên lại xác lập bằng miệng Tại thời điểm giao kếthợp đồng các bên ký kết đã không chú ý đến vấn đề mà pháp luật quy định nhưngsau đó lại phát hiện và không tuân thủ đúng thoả thuận trong hợp đồng vì cho rằnghợp đồng này vô hiệu, không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền vànghĩa vụ của các bên Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật thương mại với nhiều văn
Trang 21bản hướng dẫn, một nội dung nhưng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản luật khácnhau, thậm chí có sự mâu thuẫn giữa các văn bản đó, đây cũng là nguyên nhânkhách quan làm cho các chủ thể khó khăn trong việc tiếp cận, áp dụng pháp luật đểgiao kết hợp đồng.
Thứ hai, hoạt động kinh doanh thương mại hiện nay rất đa dạng và chịu sự tác
động của nhiều quy luật trong đó có yếu tố thị trường chẳng hạn như quy luật vềcung cầu, giá cả các quy luật này luôn có sự vận hành và biến đổi, kéo theo đó là sựthay đổi về chiến lược, mục tiêu của các bên trong từng giai đoạn Chính vì lẽ đó,nhiều mục đích ban đầu khi ký kết hợp đồng đã bị thay đổi và các cá nhân, tổ chứcsẵn sàng phá vỡ các thoả thuận đã có trong hợp đồng để đạt được những mục tiêumới, ví dụ cụ thể như Công ty A ký kết hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng vớiCông ty B về việc cung cấp 10 tấn xi măng giá 16.000.000 đồng, sau đó giá vật liệuxây dựng giảm Công ty B đã không nhận hàng của Công ty A mà tiến hành ký hợpđồng với Công ty C mua 10 tấn xi măng giá 14.000.000 đồng, việc Công ty Bkhông nhận hàng đã vi phạm hợp đồng và xảy ra tranh chấp với Công ty A, như vậygiá cả thị trường đã có sự tác động đến quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá giữahai công ty
Thứ ba, một số trường hợp bất khả kháng như các biện pháp cấm vận, cấm
buôn bán do dịch bệnh, bão lũ,… dẫn đến việc không thể thực hiện hợp đồng nhưđúng thoả thuận Bên cạnh đó, dịch bệnh Covid 19 gây ra sự mất cân bằng về tàichính làm các thương nhân, cá nhân không đủ khả năng thanh toán hợp đồng, thanhtoán chậm, vi phạm điều khoản thanh toán trong hợp đồng, ngoài ra, còn ảnh hưởngđến quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ của thương nhân Tuy nhiên không phảibất cứ vi phạm nào cũng gây ra tranh chấp mà ở đây khi có hành vi vi phạm, cácbên đã không thống nhất được hướng giải quyết hành vi vi phạm đó dẫn đến tranhchấp trong hợp đồng KDTM
Ngoài ra còn tồn tại một số nguyên nhân xuất phát từ lòng tham của conngười, lợi dụng những thiếu sót của pháp luật để mang lại lợi nhuận cao nhất chomình, từ đó dẫn đến những bất đồng trong kinh doanh
Trang 221.1.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản chất,đặc điểm và ưu nhược điểm mà phương thức đó mang lại, theo quy định tại Điều
317, Luật Thương mại năm 2005 có 04 phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng KDTM được chia thành hai hướng, giải quyết tranh chấp thương mạikhông mang ý chí quyền lực nhà nước gồm thương lượng, hoà giải, Trọng tài vàhướng thứ hai sử dụng pháp luật như một công cụ để giải quyết tranh chấp là Toà ánmang ý chí quyền lực nhà nước được Toà án tiến hành theo thủ tục nghiêm ngặt,chặt chẽ cụ thể như sau:
Thứ nhất, phương thức thương lượng
Trên thực tiễn khi xảy ra tranh chấp hợp đồng KDTM đa phần các bên sẽ lựachọn thương lượng là hình thức đầu tiên để giải quyết tranh chấp vì đây là phươngpháp giải quyết nội bộ hai bên trước khi đưa ra một cơ quan tài phán Hiện nay phápluật nước ta chưa đưa ra khái niệm riêng về thương lượng hay thương lượng trongKDTM, tuy nhiên theo Giáo trình Luật Thương mại (Trường Đại học Luật Hà Nội
xuất bản năm 2015, nhà xuất bản Công an nhân dân Hà Nội) định nghĩa “Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau tự bàn bạc dàn dựng để tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại trừ tranh chấp mà không cần tới sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào” Như vậy có thể hiểu thương lượng là hình thức giải quyết giống như thoả
thuận, hai hay các bên cùng nhau bàn bạc, thảo luận và không có bất cứ một cơquan nhà nước hay cá nhân nào tham gia can thiệp vào [15, tr.436]
Từ khái niệm trên có thể thấy phương thức thương lượng mang những đặctrưng cơ bản như: tự định đoạt, sẽ không có sự hỗ trợ bởi bên thứ ba Nhờ vào haiđặc điểm này, quá trình giải quyết tranh chấp đã có những ưu điểm như không mấtnhiều thời gian, không theo khuôn mẫu nhất định của pháp luật, và duy trì được mốiquan hệ hợp tác làm ăn, tìm ra tiếng nói chung, cùng nhau giải quyết tranh chấp,hơn hết sẽ không bị tiết lộ thông tin, mang tính bảo mật cao, ít tốn kém chi phí Tuy
Trang 23nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì phương thức này cũng mang lại nhiều nhượcđiểm, trường hợp một trong các bên không có thiện chí, không hợp tác, cứng nhắctrong việc bảo lưu quan điểm cá nhân, gây tốn nhiều thời gian trong việc giải quyếttranh chấp và sẽ khó đạt kết quả khi thương lượng, do không có sự ràng buộc nếuthương lượng đạt kết quả nhưng một trong các bên có thể không thực hiện như đãthoả thuận, kết quả thương lượng chỉ mang tính tự nguyện thi hành.
Thứ hai, phương thức hoà giải
Theo Khoản 1, Điều 3, Nghị định Chính phủ số 22/2017 NĐ-CP về hoà giải
thương mại được ban hành ngày 24/02/2017 “Hoà giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thoả thuận và được hoà giải viên thương mại làm trung gian hoà giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này” Nhìn về khái niệm đã thấy được sự khác biệt giữa phương thức hoà
giải và thương lượng là có sự tham gia của một bên thứ ba làm trung gian, hơn hết,điều kiện để được áp dụng phương thức này là các bên cần phải có thoả thuận lựachọn hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp, thoả thuận này có thể được lậptrước, trong hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, thoả thuận này phải được lập thành vănbản Ngoài ra, các bên được quyền lựa chọn hoà giải viên thương mại theo quy địnhtại Khoản 1, Điều 12, Nghị định Chính phủ số 22/2017 NĐ-CP các bên thoả thuậnlựa chọn hoà giải viên trong danh sách hoà giải viên thương mại của tổ chức hoàgiải thương mại hoặc từ danh sách hoà giải viên thương mại vụ việc do sở Tư pháptỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố
Quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM bằng hoà giải trên thực tiễn
đã nhìn nhận được những ưu điểm như: không mất nhiều thời gian, chi phí thấp,duy trì quan hệ hợp tác làm ăn, bảo mật thông tin cao, và hiệu lực thi hành mangtính ràng buộc cao hơn so với phương thức thương lượng Bên cạnh đó, cũng ghinhận những nhược điểm mà phương thức này đem lại về hiệu lực thi hành mặc dùkết quả hoà giải thành được công nhận bởi Toà án nhưng trong trường hợp một bênkhông thực hiện đúng như kết quả hoà giải thì bên đó cũng chỉ chịu trách nhiệmnhư hình thức vi phạm thoả thuận trong hợp đồng mà bên bị vi phạm không có
Trang 24quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành kết quả hoà giải thành đó,ngoài ra, việc hoà giải sẽ không thể diễn ra nếu một trong các bên không đồng ý,trường hợp một trong hai bên không có thiện chí thì việc hoà giải sẽ bị trì hoãn mấtnhiều thời gian và không đạt kết quả.
Thứ ba, phương thức Trọng tài
Một là, theo Khoản 1, Điều 3, Luật TTTM năm 2010 “Trọng tài thương mại
là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành thoả thuận theo quy định của Luật TTTM” Có thể hiểu, giải quyết tranh chấp hợp đồng
KDTM bằng TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận lựachọn thông qua cơ chế giải quyết của Hội đồng trọng tài, Trọng tài viên mang tưcách pháp lý là cơ quan độc lập nhằm giải quyết những mâu thuẫn, xung đột phátsinh trong hợp đồng, từ đó đưa ra phán quyết cuối cùng bắt buộc các bên có nghĩa
vụ phải thi hành
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài có những đặc điểm, mang tính kín đáokhông công khai như Toà án, phán quyết Trọng tài mang tính chung thẩm, và chủthể đứng ra giải quyết tranh chấp là Trọng tài viên Một điểm giống với phươngthức hoà giải để tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài các bên cần phải có vănbản thoả thuận, theo Điều 19, Luật TTTM năm 2010 thoả thuận trọng tài hoàn toànđộc lập với hợp đồng, trong các trường hợp có sự thay đổi, gia hạn hay hợp đồng bị
vô hiệu cũng không làm mất đi hiệu lực của thoả thuận trọng tài
Từ những đặc điểm của phương thức Trọng tài, khi áp dụng giải quyết tranhchấp trên thực tiễn mang lại những ưu điểm cụ thể: phán quyết trọng tài mang tínhchung thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có giá trị bắt buộc thi hành, hạn chếtiết lộ thông tin, xét xử mang tính linh hoạt nên tiết kiệm được thời gian và chi phí.Bên cạnh đó, có một số nhược điểm xuất phát từ ưu đểm như: phán quyết của trọngtài có thể sẽ bị huỷ bỏ dù mang tính chung thẩm nhưng có một số trường hợp bên bịthi hành có thể nộp đơn yêu cầu Toà án huỷ bỏ phán quyết trọng tài, từ đó bên đượcthi hành gặp khó khăn trong việc yêu cầu bên bị thi hành thi hành phán quyết trọngtài; chi phí cao; cần phải có thoả thuận trọng tài nếu một bên không hợp tác, không
Trang 25thiện chí thì không thể tiến hành giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.
Thứ tư, phương thức Toà án
Khi tranh chấp trong hợp đồng KDTM phát sinh nếu các bên không thểthương lượng, hoà giải hoặc không thể thoả thuận phương thức giải quyết bằngTrọng tài thì một trong các bên có quyền khởi kiện ra Toà án để yêu cầu giải quyếttranh chấp đó Trên thế giới hiện nay, Toà án là cơ quan đóng vai trò quan trọngtrong việc giải quyết các tranh chấp trong đó có tranh chấp về kinh doanh thươngmại Chính vì vai trò quan trọng đó nên khi dịch bệnh phát sinh một số nước như:Trung Quốc, Nhật Bản, Đức,… đã nhanh chóng ban hành, sửa đổi các quy địnhpháp luật về thương mại nhằm phù hợp với thực tiễn, chẳng hạn quy định về dịchbệnh là sự kiện bất khả kháng, cho phép một bên chấm dứt toàn bộ hợp đồng vì lý
do bất khả kháng Ngoài ra, ở Trung Quốc còn áp dụng hình thức Toà án trực tuyếngiải quyết tranh chấp thương mại, thương mại điện tử Ở Việt Nam hiện nay,phương thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án được xem là lựa chọn cuối cùngđang được phổ biến và áp dụng nhiều nhất Khái niệm và đặc điểm của phương thứcnày sẽ được đề cập cụ thể ở phần sau, nhưng nhìn tổng thể có thể thấy ưu điểm nổibậc so với các phương thức khác là đảm bảo tính chính xác cao nhờ trải qua nhiềuthủ tục, các cấp xét xử, khả năng thu thập chứng cứ cao, và được đảm bảo hiệu lựcthi hành Bên cạnh đó, phương thức này cũng tồn tại một số nhược điểm như: trình
tự thủ tục thiếu sự linh hoạt, không có sự mềm dẻo tốn nhiều thời gian; bản án,quyết định có thể bị kháng cáo kháng nghị; dễ bị tiết lộ thông tin
Ngoài những phương thức giải quyết tranh chấp KDTM theo quy định củapháp luật Việt Nam như trên, còn có một số cơ chế giải quyết tranh chấp KDTMriêng của các tổ chức quốc tế được các thương nhân lựa chọn như: thiết chế giảiquyết tranh chấp KDTM của Tổ chức thương mại thế giới WTO, ASEAN, ICSID.[17, tr.20]
Từ phân tích trên có thể thấy cả bốn phương pháp đều có những ưu điểm vànhược điểm riêng, tuy nhiên trong số bốn phương thức này thì Toà án là phươngthức khi áp dụng mang tính khả thi và được phổ biến nhất ở Việt Nam Vì nó đáp
Trang 26ứng được những yêu cầu như: chí phí thấp, tính chính xác cao, có sức mạnh cưỡngchế thi hành, ngoài ra phương pháp này cũng như một thói quen của người dân, có
sự gần gũi và được mọi người biết đến nhiều nhất Do đó, khi tranh chấp phát sinh
mà các bên không thể thương lượng được và để tránh mất nhiều thời gian các bêntranh chấp sẽ tiến hành khởi kiện lên Toà án
1.2 Khái quát về phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Toà án
1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Toà án
Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng KDTM là hành vi pháp lý theo đó cácbên tranh chấp lựa chọn áp dụng các phương thức giải quyết theo quy định của phápluật, nhằm loại bỏ các mâu thuẫn, xung đột đã xảy ra, để đạt được những kết quả màcác bên có thể chấp nhận được và tự nguyện chấp hành Việc giải quyết tranh chấphợp đồng KDTM đều hướng tới các mục đích cơ bản như: bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng, củng cố và duy trì mối quan hệ hợptác làm ăn, phòng ngừa các tranh chấp mới phát sinh và góp phần hoàn thiện phápluật thương mại
Trong các phương thức đã được phân tích ở phần trên có một phương thức đặcbiệt khi giải quyết mang ý chí và quyền lực của nhà nước đó là Toà án Toà án nhândân là cơ quan duy nhất của Nhà nước có chức năng xét xử và chịu sự giám sát củaQuốc hội TAND chịu trách nhiệm xét xử tất cả các tranh chấp phát sinh ở mọi lĩnhvực trong đời sống xã hội, trong đó không thể không kể đến tranh chấp hợp đồngKDTM, bên cạnh đó, Toà án chỉ giải quyết tranh chấp khi có yêu cầu và vụ tranhchấp đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Pháp luật Việt Nam hiện naychưa quy định cụ thể về khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM, tuy
nhiên, theo Giáo trình Luật Thương mại của trường Đại học Luật Hà Nội “Giải quyết tranh chấp bằng Toà án là phương thức giải quyết thông qua cơ quan xét xử nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện các trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ theo quy định của Bộ luật TTDS năm 2015” [15,
Trang 27Như vậy, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh doanh thương mại
bằng Toà án có thể hiểu: “là phương thức giải quyết với sự tham gia của bên thứ ba
là Toà án, cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước, nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét xử theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, đưa
ra bản án, quyết định cuối cùng buộc các bên có nghĩa vụ phải thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước”
1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Toà án
Thứ nhất, Toà án chỉ giải quyết tranh chấp thương mại khi có yêu cầu của các bên tranh chấp, tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Các
tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo Điều 30, Bộ luậtTTDS năm 2015 bao gồm: tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thươngmại giữa các cá nhân tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau, các tranh chấp vềquyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, và đều có mục đích lợi nhuận Bêncạnh đó, khi xảy ra tranh chấp các bên phải nộp đơn khởi kiện đến Toà án yêu cầubảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà trước đó không có thoả thuậnphương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM Trên cơ sở tiếp nhận đơn khởi kiệnToà án sẽ xem xét có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không Trường hợpkhông thuộc thẩm quyền Toà án tiến hành trả lại đơn khởi kiện
Thứ hai, bản án, quyết định của Toà án có sự ràng buộc đối với các bên và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành Toà án là cơ quan
nhân danh nhà nước để thực hiện chức năng xét xử, trong đó có chức năng xử lý cáctranh chấp phát sinh từ hoạt động KDTM Vì thế, khi bản án, quyết định của Toà ánđược ban hành có tính cưỡng chế thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nướccho nên hầu hết các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật đều đượcđảm bảo thi hành một cách nghiêm túc
Thứ ba, bản án, quyết định của Toà án có thể bị kháng cáo kháng nghị Sự
khác biệt so với giải quyết bằng TTTM trong một số trường hợp khi bản án, quyết
Trang 28định của Toà án đã được ban hành nhưng một trong các bên nhận thấy quyền và lợiích hợp pháp của mình vẫn chưa được đảm bảo, thì trong thời hạn nhất định cóquyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bên cạnh đó, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM bằng Toà án còn cómột số đặc điểm khác so với các phương thức khác như: xét xử công khai, trình tựthủ tục theo quy định của pháp luật không có sự linh hoạt như thủ tục Trọng Tài
1.3 Pháp luật về hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Toà án
1.3.1 Nguyên tắc về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Để hoàn thiện chế định giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM, nhà nước ta đãban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, tạo nên một hành lang pháp lý vữngchắc cho các thương nhân nói riêng và tất cả người dân nói chung Hiện nay, hệ thốngcác văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh doanh thương mại liênquan đến hợp đồng và giải quyết tranh chấp trong hợp đồng được quy định trong cácvăn bản pháp luật cụ thể như sau:
Bộ luật Dân sự 2015 được Quốc hội thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015, cóhiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017;
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 11 năm
2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016;
Luật Thương mại 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, cóhiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006;
Mọi hoạt động trong tố tụng dân sự nói chung hay trong quá trình giải quyếttranh chấp hợp đồng KDTM nói riêng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản được quy định tạiChương II, Bộ luật TTDS năm 2015 và pháp luật chuyên ngành thương mại cụ thể:
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng quyết định và tự định đoạt của các đương sự
căn cứ tại Điều 5, Bộ luật TTDS năm 2015, bên cạnh đó nguyên tắc này còn đượcquy định trong tại Điều 11, Luật Thương mại năm 2005
Trang 29Nghĩa là khi tranh chấp phát sinh các chủ thể có quyền quyết định lựa chọnphương thức giải quyết và khi đó bên được yêu cầu giải quyết chỉ giải quyết trongphạm vi yêu cầu mà không có quyền can thiệp sâu hơn, thậm chí khi đã khởi kiện
mà các bên tự thương lượng được vẫn có quyền rút đơn khởi kiện, huỷ bỏ yêu cầucủa mình Tuy nhiên sự thỏa thuận, định đoạt của các đương sự phải đảm bảo nằmtrong khuôn khổ của pháp luật, không trái với các nguyên tắc quy định, đạo đức xãhội mặc khác còn phải đảm bảo quyền và lợi ích của các bên
Thứ hai, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự theo
Điều 8, Bộ luật TTDS năm 2015, nguyên tắc này cũng được quy định trong Điều
10, Luật Thương mại năm 2005
Đây là một nguyên tắc chung thể hiện quyền con người được quy định trongHiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Dù lựa chọn giải quyết tranhchấp bằng bất cứ phương pháp nào thì tất cả đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau,không ai được phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, địa vị xã hội Các bên cóquyền có tiếng nói, cung cấp chứng cứ để bảo vệ lợi ích của mình, có quyền đưa ranhững yêu cầu và phản đối yêu cầu của bên kia Nếu không đảm bảo được nguyêntắc bình đẳng thì quyền và lợi ích của các bên sẽ không được đảm bảo
Thứ ba, nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng
minh theo Điều 6, Bộ luật TTDS năm 2015
Khi yêu cầu Toà án giải quyết một vụ án nào đó thì người nộp đơn khởi kiệnphải chủ động, giao nộp chứng cứ, chứng minh được các yêu cầu của mình là đúngđắn, có căn cứ và hợp pháp Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ này tồn tại hai chiềukhông chỉ với nguyên đơn mà còn đối với bị đơn, trường hợp bị đơn không chấphành toàn bộ hay một phần yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn phải cung cấp cácchứng cứ chứng minh sự phản đối của mình là có cơ sở Nguyên tắc này nhằm nângcao trách nhiệm chứng minh của đương sự, tạo cơ sở để quá trình giải quyết đượcnhanh chóng, khách quan và chính xác
Thứ tư, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự căn cứ tại Điều 9, Bộ
luật TTDS năm 2015
Trang 30Bảo đảm có nghĩa là Toà án cần tạo điều kiện cần thiết để đương sự bảo vệ cácquyền lợi hợp pháp của mình và bảo vệ là khi các đương sự tham gia vào quá trình
tố tụng dân sự có quyền tự mình bảo vệ hoặc nhờ Luật sư, người có đủ các điềukiện theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Trong bất cứ trường hợp nào thì Toà án cũng không được can thiệp, cản trở gây khókhăn cho đương sự trong quá trình mời Luật sư hay người bảo vệ quyền và lợi íchchính đáng của đương sự Nguyên tắc này thể hiện sự dân chủ trong tố tụng dân sựgiúp cho hoạt động xét xử được tiến hành khách quan và công bằng
Thứ năm, nguyên tắc hoà giải theo Điều 10, Bộ luật TTDS năm 2015
Hoà giải trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng do Toà án tiến hành thôngqua vai trò trung gian, mục đích để giúp đỡ các đương sự có thể ngồi lại thoả thuận,đàm phán thêm một lần nữa về giải quyết vụ án, xoá bỏ mâu thuẫn Hoà giải theothủ tục tố tụng mang tính bắt buộc trừ một số vụ án không được hoà giải hoặckhông tiến hành hoà giải căn cứ Điều 206, 207, Bộ luật TTDS năm 2015 hoặc một
số vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn Khi Toà án tiến hành giải quyết tranh chấphợp đồng KDTM nói riêng hay bất cứ một tranh chấp nào nói chung, trước tiên Toà
án có trách nhiệm tiến hành hoà giải tạo điều kiện và hướng dẫn các đương sự trongquá trình hoà giải và sau khi hoà giải Toà án phải công nhận kết quả hoà giải đó
Thứ sáu, xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia căn cứ tại
Điều 11, Bộ luật TTDS năm 2015
Khi bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 ra đời, nhà nước ta đã ghi nhận nguyêntắc đại diện nhân dân tham gia xét xử Hội thẩm nhân dân là người được bầu hoặc
cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩmquyền của Toà án, tiêu chuẩn của Hội thẩm khác với Thẩm phán không yêu cầuchuyên môn am hiểu sâu về pháp luật thay vào đó là đề cao uy tín trong lòng dân và
có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp luật và hiểu biết xã hội Trong quátrình xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngang nhau về quyền trongviệc biểu quyết để đưa ra bản án theo hình thức đa số, mang tính độc lập và chỉ tuântheo pháp luật mà không chịu bất kỳ sự chi phối nào khác, tuy nhiên, họ phải chịu
Trang 31trách nhiệm về những ý kiến mà mình đã đưa ra trong quá trình giải quyết vấn đềcủa vụ án Sự có mặt của Hội thẩm nhân dân nhằm xét xử vụ án được công bằng,nhân dân được thể hiện ý kiến của mình trong quá trình xét xử.
Thứ bảy, hai cấp xét xử căn cứ Điều 17, Bộ luật TTDS năm 2015
Một trong những nguyên tắc quan trọng trong tổ chức hoạt động tư pháp ởnước ta là nguyên tắc hai cấp xét xử Dù là tranh chấp nhỏ hay lớn đều phải tuân thủđúng theo nguyên tắc này, mục đích để đảm bảo tính chính xác, khách quan trongphán quyết của Toà án
Thứ tám, nguyên tắc xét xử tập thể căn cứ Điều 14, Bộ luật TTDS năm 2015
Công việc xét xử tại Toà án không chỉ xuất phát từ cá nhân Thẩm phán màgồm có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Nguyên tắc này đảm bảo công việc xét
xử của Toà án được thực hiện một cách chính xác nhất, bởi vì trí tuệ tập thể sẽ giúpviệc xem xét vấn đề một cách kỹ càng, có cái nhìn đa chiều, đảm bảo tính côngbằng, vô tư, khách quan, từ đó hạn chế được việc vụ lợi cá nhân, đưa ra bản án,quyết định một cách công tâm
Thứ chín, nguyên tắc xét xử công khai theo Điều 15, Bộ luật TTDS năm 2015.
Nguyên tắc này áp dụng cho cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm không áp dụnggiám đốc thẩm, tái phẩm Xét xử công khai hay xét xử kín tuỳ thuộc vào nội dungtranh chấp và yêu cầu của các bên được Thẩm phán xem xét và quyết định Trênthực tế đa số các vụ án tranh chấp KDTM thường được xét xử công khai nhằmmang tính rút kinh nghiệm, răn đe, giáo dục tinh thần tuân thủ pháp luật cho nhândân, bên cạnh đó còn nhằm mục đích giám sát hoạt động xét xử của Toà án đảm báotính công khai, minh bạch Cụ thể, trước khi diễn ra phiên toà Toà án công khai địađiểm, thời gian xét xử, tuy nhiên, trong một số giai đoạn trong xét xử sẽ không tiếnhành công khai như khi nghị án, khi các bên hoà giải,… Và sau khi tuyên án bản án
sẽ được công khai trên cổng thông tin bản án
Ngoài những nguyên tắc trên còn một số nguyên tắc như: bảo đảm sự vô tưkhách quan trong tố tụng dân sự; bảo đảm quyền tranh tụng trong xét xử; đảm bảothi hành bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật,…
Trang 321.3.2 Thẩm quyền Toà án trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Bên cạnh việc xác định nguyên tắc trong quá trình giải quyết tranh chấp hợpđồng KDTM thì việc xác định đúng thẩm quyền cũng đóng vai trò hết sức quantrọng Thẩm quyền là quyền chính thức được xem xét giải quyết và ra bản án hoặcquyết định đối với vụ việc đó Việc xác định đúng thẩm quyền sẽ tạo thuận lợi choviệc khởi kiện của đương sự cũng như việc thụ lý, giải quyết của Toà án, thậm chícòn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án sau này, nếu xác định sai thẩmquyền sẽ gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng, làm mất nhiều thời gian cũng như ảnhhưởng đến các đương sự và các cơ quan có thẩm quyền
Một số nước trên thế giới có sự khác nhau trong việc xác định thẩm quyền giảiquyết tranh chấp thương mại tại Toà án Ở nước Mĩ, Nhật, Hà Lan có sự trao đổithẩm quyền xét xử tranh chấp thương mại cho Toà Dân sự, còn một số nước nhưĐức, Pháp, Bỉ, Áo thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại được trao cho Toàchuyên trách - Toà án Thương mại và toà chuyên trách này chỉ xét xử sơ thẩm,trường hợp có kháng cáo, kháng nghị sẽ được đưa lên xét xử tại toà thượng thẩmdân sự Ngoài ra, ở các nước điển hình như Cộng hoà liên bang Nga còn thành lập
hệ thống toà án độc lập gọi là toà án trọng tài giải quyết tranh chấp [15, tr.465]
Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ luật TTDS năm 2015, hiện nay quy định 03cách xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM nói chung và hợp đồngKDTM nói riêng là thẩm quyền theo cấp toà án, thẩm quyền theo lãnh thổ và theo
sự lựa chọn của nguyên đơn, cụ thể:
Thứ nhất, thẩm quyền theo các cấp Việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh
chấp hợp đồng KDTM của TAND các cấp dựa vào tổ chức hệ thống TAND; tínhchất phức tạp của từng loại tranh chấp; số lượng, trình độ chuyên môn của Thẩmphán, Thư ký và các cán bộ Toà án; ngoài ra còn xem xét về điều kiện cơ sở vậtchất, tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng Hiện nay, có haicấp xét xử là cấp huyện và cấp tỉnh cụ thể như sau:
Trang 33Một là, thẩm quyền Toà án nhân dân cấp huyện Căn cứ Điều 35, Bộ luật
TTDS năm 2015, TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
về các tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng
ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận và các yêu cầu về huỷ bỏnghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên, các yêucầu khác về KDTM trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổchức khác theo quy định pháp luật Ngoài ra, Toà chuyên trách TAND cấp huyệncũng có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ việc KDTM theo thẩmquyền của TAND cấp huyện
Hai là, thẩm quyền Toà án nhân dân cấp tỉnh Căn cứ theo Điều 37, Bộ luật
TTDS năm 2015, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ việckhông thuộc thẩm quyền của cấp huyện và những tranh chấp, yêu cầu có đương sựhoặc tài sản ở nước ngoài hoăc cần uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện Việt Nam
ở nước ngoài Ngoài ra, TAND cấp tỉnh có quyền tự mình lấy lên để giải quyết các
vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện khi xét thấy cần thiếthoặc theo đề nghị của TAND cấp huyện Tuy nhiên, pháp luật hiện nay vẫn chưahướng dẫn cụ thể những trường hợp nào thì TAND cấp tỉnh có thể tự mình lấy lên,điều thiếu sót trong quy định này đã gây không ít khó khăn cho các Thẩm phántrong quá trình xem xét xác định thẩm quyền
Bên cạnh đó, Toà chuyên trách TAND cấp tỉnh cụ thể theo quy định tại Khoản
3, Điều 38, Bộ luật TTDS năm 2015, Toà kinh tế có thẩm quyền giải quyết sơ thẩmnhững tranh chấp, yêu cầu về KDTM thuộc thẩm quyền TAND cấp tỉnh và giảiquyết theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định KDTM chưa có hiệu lựcpháp luật mà TAND cấp huyện đã tuyên bị kháng cáo, kháng nghị
Thứ hai, thẩm quyền theo lãnh thổ Được hiểu là giới hạn do pháp luật quy định chức năng giải quyết theo đơn vị hành chính lãnh thổ, căn cứ Điều 39, Bộ luật
TTDS năm 2015, Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tranh chấp KDTM là toà ánnơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bịđơn là cơ quan, tổ chức) Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết
Trang 34những tranh chấp về bất động sản đó Ngoài ra, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọngquyền tự định đoạt của các đương sự và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trongquá trình giải quyết tranh chấp, Bộ luật TTDS năm 2015 đã kế thừa Bộ luật TTDSnăm 2004 cho phép các đương sự có quyền lập văn bản thoả thuận với nhau về yêucầu Toà án nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn để giải quyếttranh chấp, trước khi Bộ luật TTDS năm 2004 ra đời thì pháp luật nước ta chưa chophép quyền thoả thuận lựa chọn Toà án giải quyết [15, tr.468]
Thứ ba, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn Pháp luật nước ta đã có
sự ưu ái hơn cho nguyên đơn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nguyên đơn trongviệc xác định thẩm quyền của Toà án, đã cho phép nguyên đơn được quyền chọnToà án để giải quyết tranh chấp, căn cứ Điều 40, Bộ luật TTDS năm 2015 nguyênđơn có quyền lựa chọn Toà án để giải quyết tranh chấp KDTM trong những trườnghợp sau:
Một là, nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi cótài sản của bị đơn Trường hợp nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ởViệt Nam thì có thể yêu cầu Toà án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết
Hai là, nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì có thể
yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết.Trường hợp bị đơn có nhiều nơi cư trú, làm việc, trụ sở khác nhau thì nguyên đơn
có thể chọn một trong những nơi đó
Ba là, nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết Tuy nhiên, trường hợp này trênthực tế rất ít diễn ra vì khi các bên ký kết hợp đồng thường chỉ ghi tên thành phốchẳng hạn như Đà Nẵng hoặc Quảng Ngãi mà không ghi huyện, quận cụ thể
Bốn là, tranh chấp bất động sản mà bất động sản ở nhiều địa phương khác
nhau thì yêu cầu Toà án nơi có một trong những bất động sản đó
Trang 351.3.3 Trình tự thủ tục, giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại
Thủ tục sơ thẩm giải quyết tranh chấp về hôn nhân gia đình, lao động haytranh chấp về kinh doanh thương mại tại Toà án được gọi chung là thủ tục giảiquyết vụ án gồm có: khởi kiện và thụ lý vụ án, hoà giải và chuẩn bị xét xử, cuốicùng là phiên toà sơ thẩm, cụ thể như sau: [15, tr.470]
Thứ nhất, giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án
Khởi kiện vụ án tranh chấp hợp đồng KDTM là việc chủ thể có quyền khởikiện nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện, nhằm yêu cầuToà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đây là hành vi đầu tiên xác địnhchủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự và Toà án chỉ thụ lý giảiquyết khi có đơn khởi kiện và trong phạm vi nội dung khởi kiện Khi nhận đượcđơn khởi kiện của đương sự căn cứ Khoản 1, Điều 191, Bộ luật TTDS năm 2015,Toà án tiến hành ghi vào sổ nhận đơn, Chánh án phân công cho một Thẩm phánxem xét đơn, trong thời hạn 05 ngày làm việc, sau khi xem xét nghiên cứu hồ sơThẩm phán ra một trong các quyết định như sau:
Một là, chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền, báo cho người khởi
kiện được biết nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác
Hai là, trả lại đơn khởi kiện, nếu vụ án đó không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Toà án chẳng hạn vụ việc đã được các bên thoả thuận lựa chọn Trọng tài để giảiquyết mà một bên lại nộp đơn khởi kiện tại Toà án và phải thông báo cho ngườikhởi kiện bằng văn bản nêu rõ lý do, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp
Ba là, khi hồ sơ vụ án đã đủ tài liệu, chứng cứ hoặc đúng thẩm quyền, Thẩm
phán ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn 07 ngày làm việc Sau khinhận được biên lai đã nộp tạm ứng án phí, Toà án bắt đầu thụ lý vụ án, ra thông báothụ lý gửi cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Việnkiểm sát cùng cấp được biết
Sau khi thụ lý Chánh án tiến hành phân công Thẩm phán và Thư ký giải quyết
vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc Khi đã được phân công Thẩm phán, Thư kýtiến hành lập hồ sơ; xác định tư cách của đương sự; xác định vấn đề tranh chấp