2.2.5 Nhu cầu và hiện trạng về vốn trong quá trình phát triển 45 2.2.6 Kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực Kinh tế tư 2.3.1 Những thành công đóng góp về quy mô hình thức p
Trang 1KHOA KINH TẾ
- NGUYỄN THẠCH ĐĂNG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2005
Trang 2KHOA KINH TẾ
- NGUYỄN THẠCH ĐĂNG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở BẮC NINH
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 50201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN BÍCH
Hà Nội - 2005
Trang 31.1.3 Vai trò của Kinh tế tư nhân trong nền Kinh tế thị trường 07
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển Kinh tế tư nhân 11
1.2.2 Thời kỳ đổi mới và chính sách phát triển Kinh tế 15
1.2.3 Những kết qủa đạt được và tồn tại yếu kém của khu vực Kinh tế tư
2.2.2 Cơ cấu và phân bố doanh nghiệp tư nhân Bắc Ninh 35
Trang 42.2.5 Nhu cầu và hiện trạng về vốn trong quá trình phát triển 45 2.2.6 Kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực Kinh tế tư
2.3.1 Những thành công đóng góp về quy mô hình thức phát triển, biện
pháp huy động vốn, đầu tư, áp dụng KHCN, sử dụng và đào tạo
LĐ, sử dụng đất đai và quy hoạch
56
Chương 3 Các quan điểm định hướng và giải pháp để phát triển
kinh tế tư nhân của tỉnh Bắc Ninh
Trang 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam, các thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh nói chung và thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân và
sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất nói riêng đã được khuyến khích phát triển Do vậy, chỉ trong vòng hơn 20 năm, khu vực kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong phát triển kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng tích luỹ, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội Nhìn nhận lại những đóng góp của khu vực Kinh tế tư nhân trong quá trình đổi mới của các địa phương là rất tích cực Trong một vài năm gần đây, các địa phương của Việt Nam trong đó có tỉnh Bắc Ninh đã có sự nỗ lực đáng kể nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý và kinh doanh cho khu vực kinh tế tư nhân, do
đó đã góp phần thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân
Tỉnh Bắc Ninh có vị trí rất thuận lợi, án ngữ cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh là vùng kinh tế quan trọng của của sông Hồng và có sức lan toả rộng lớn tới gần hết miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Do đó, xây dựng phát triển tỉnh Bắc Ninh là đường lối, chiến lược hàng đầu của Đảng và Nhà nước trong đường lối chiến lược phát triển của cả nước nói chung và khu vực đồng bằng Bắc Bộ nói riêng
Tuy nhiên, thực tế cho thấy khu vực kinh tế tư nhân của Bắc Ninh vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém: phần lớn có quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng kinh tế tư nhân để đánh giá lại quá trình phát triển của kinh tế khu vực tư nhân của tỉnh Bắc Ninh từ khi tái lập từ tỉnh Hà Bắc(cũ) đồng thời tìm ra những giải pháp phát triển khu vực này là một vấn đề
cấp thiết Vì thế, tôi đã chọn đề tài “Phát triển Kinh tế tư nhân ở Bắc Ninh”
cho luận văn cao học
2 Tình hình nghiên cứu
Phát triển kinh tế tư nhân là một vấn đề nổi cộm trong quá trình chuyển đổi kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh do điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh
Trang 6có những nét riêng Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, mô hình kinh
tế xoá bỏ kinh tế tư nhân, cá thể, tập thể hoá mọi hoạt động kinh tế đã đưa đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế từ cuối những năm 70
Do vậy, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, kinh tế
tư nhân được đặc biệt quan tâm Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
về kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nói chung dưới dạng đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, bài báo Ví dụ như:
1 MPDF, 1997: Khu vực kinh tế tư nhân mới nổi lên và sự nghiệp công
nghiệp hoá ở Việt Nam
2 GS Trần Ngọc Hiên: “Chính sách phát triển thành phần kinh tế tư
bản tư nhân theo định hướng XHCN (đến năm 2010)” Hà Nội,
tháng 1 năm 1999
3 TS Trần Tiến Cường: “Phân tích sự tác động qua lại giữa cải cách
doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế ngoài quốc doanh
ở Việt Nam” Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2000
4 Nguyễn Văn Hưởng: “Phân tích các chính sách và biện pháp hỗ trợ
đầu tư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh” Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tháng
2 năm 2001
5 CIEM-JIBIC: Kỷ yếu Hội thảo "Sự phát triển khu vực kinh tế tư
nhân: rào cản pháp lý và giải pháp”, tháng 2 năm 2001
6 Trần Ngọc Bút: “Phát triển kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ
nghĩa” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2002
7 GS.TS Nguyễn Đình Hương: „Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Việt Nam”- NXB Chính trị Quốc gia, 2002
8 GT.TS Nguyễn Đình Hưong: “Thực trạng và giải pháp phát triển
Kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”
9 TS Vũ Thị Bạch Tuyết, TS Nguyễn Tiến Thuận, ThS Vũ Duy Vĩnh:
“Giải pháp huy động vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ”
10 Dự thảo định hướng qui hoạch phát triển kinh tế tỉnh Bắc Ninh
thời kỳ 1997 – 2010
11 Văn kiện Đại hội đại biểu Tỉnh Đảng bộ Bắc Ninh các kỳ
Trang 7và còn nhiều công trình khác
Những bài viết này đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt nam và tỉnh Bắc Ninh Tuy nhiên, việc nghiên cứu sâu và cập nhật về thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Bắc Ninh một cách có hệ thống cùng với những so sánh và bài học kinh nghiệm từ các khu vực kinh tế khác vẫn luôn luôn cần thiết và mang tính thời sự đối với phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng: Xem xét thực trạng từ việc đánh giá tình hình phát triển của
Kinh tế tư nhân trong giai đoạn của khu vực kinh tế tư nhân ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ đổi mới, luận văn đưa ra các giải pháp thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở tỉnh Bắc Ninh
Phạm vi: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Bắc Ninh có thể được
nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Kinh tế tư nhân bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh Phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm 1996 (thời điểm tái lập tỉnh Bắc Ninh) đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh dựa trên các nguồn tài liệu thu thập được về kinh tế tư nhân
6 Nội dung đề tài
Trang 8Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn được bố cục trong 3 chương:
Chương 1: Kinh tế tư nhân và thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân ở Việt nam
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bắc Ninh Chương 3: Các quan điểm định hướng và giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân của tỉnh Bắc Ninh
Trang 9CHƯƠNG 1: KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
1.1 – Kinh tế tư nhân trong nền Kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm về Kinh tế tư nhân
Hiện nay, đối với thuật ngữ “khu vực tư nhân” tồn tại một số cách hiểu
khác nhau tuỳ theo quan điểm và cách nhìn nhận về sở hữu Do vậy, trong thực
tế các cách hiểu đó thường chỉ mang tính chất tương đối và không thống nhất
Ở Việt Nam, theo cách hiểu rộng nhất thì khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước (hay còn gọi là khu vực quốc doanh) là hai bộ phận cấu thành nền kinh tế Như vậy, tư nhân bao gồm cả các doanh nghiệp trong nước, lẫn doanh nghiệp có vốn nước ngoài dưới dạng liên doanh hay 100% vốn nước ngoài Đồng thời, cách hiểu này cũng đưa đến một hệ quả là khu vực tư nhân bao gồm cả các cơ sở sản xuất nông nghiệp (như hợp tác xã nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thuỷ hải sản chẳng hạn) và các doanh nghiệp phi nông nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam, nhiều người không dồng ý với định nghĩa rộng này vì trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trong các công ty cổ phần mới được cổ phần hoá có sự tham gia góp vốn của các doanh nghiệp nhà nước, và khi thống kê kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các công ty cổ phần có cổ đông là doanh nghiệp nhà nước, người ta không thể tách bạch được phần của doanh nghiệp nhà nước là bao nhiêu
Cách hiểu thứ hai về kinh tế tư nhân dựa trên việc chia nền kinh tế thành
3 khu vực là khu vực nhà nước (quốc doanh), khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Định nghĩa này đã đưa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi “khu vực ngoài quốc doanh”, coi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là một khu vực riêng Theo đó, khu vực ngoài quốc doanh chỉ bao gồm các chủ thể kinh doanh trong nước, nhưng vẫn gồm cả các chủ thể sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp
Như vậy, các cách hiểu về các thuật ngữ “khu vực quốc doanh”, “khu vực ngoài quốc doanh” và “khu vực tư nhân” đều mang tính ước lệ Một cách hiểu cụ thể và rõ ràng về KTTN như sau:
Kinh tế tư nhân là một khu vực kinh tế bao gồm kinh tế cá thể tiểu chủ
và kinh tế tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất tồn tại dưới các
Trang 10hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
và các hộ doanh nghiệp cá thể
Trong đề tài này, thuật ngữ “khu vực kinh tế tư nhân” được hiểu hẹp hơn
nữa, bao gồm các doanh nghiệp trong nước trừ bộ phận kinh tế phi nông nghiệp ngoài quốc doanh Khu vực này bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh và không bao gồm bộ phận kinh tế nông nghiệp ngoài quốc doanh,
kể cả lâm nghiệp, thuỷ sản, làm muối (bộ phận này gồm các cá nhân, hộ gia đình và hợp tác xã phi nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp tham gia sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng và khai thác thuỷ, hải sản) 1.1.2 Đặc điểm của khu vực Kinh tế tư nhân
Thành phần Kinh tế tư nhân dựa trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, các doanh nghiệp trong thành phần kinh tế tư nhân bao gồm kinh
tế cá thể, tiểu chủ và thành phần kinh tế tư bản tư nhân dựa vào các tiêu thức chủ yếu như: quy mô kinh doanh, quy mô sở hữu tài sản dùng trong kinh doanh, mức độ tham gia trực tiếp vào qúa trình lao động của người chủ sở hữu đều có những đặc điểm chung như sau:
- Các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, mục đích kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận mục đích kinh doanh của Kinh tế tư nhân thường rõ ràng và đơn giản là thu lợi nhuận tối đa, ít bị các mục tiêu kinh tế- xã hội khác chi phối như các doanh nghiệp nhà nước Chủ các doanh nghiệp tư nhân là người trực tiếp sở hữu vốn nên các doanh nghiệp này dễ dàng giải quyết các quan hệ liên quan tới tài sản như thế chấp, thuê mướn và các tranh chấp tài sản Điều này tạo động lực thức đẩy phát triển hoạt động kinh doanh không giới hạn
- Khu vực kinh tế tư nhân là một khu vực kinh tế năng động, nhạy bén và dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường Bộ máy quản lý gọn nhẹ dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá
- Dễ dàng tạo lập doanh nghiệp, hoạt động có hiệu quả, cho phí cố định thấp và chi phí sản xuất cũng thấp, tận dụng lao động một cách linh hoạt về thời gian và tay nghề với với giá lao động thấp cùng với việc sử dụng máy móc hợp lý nên
có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao Mặt khác, do khả năng hạn hẹp về tài
Trang 11chính nên khi có những biến động lớn về thị trường, các doanh nghiệp tư nhân
dễ bị rơi vào tình trạng phá sản
- Các đơn vị thuộc khu vực kinh tế tư nhân thường không muốn hoặc không đủ sức để đầu tư vào những ngành, lĩnh vực kinh doanh mới tiềm ẩn nhiều rủi ro hoặc đòi hỏi tập trung nhiều nguồn lực, nhưng đó là những lĩnh vực quan trọng với nền kinh tế quốc dân trong tưong lai lâu dài như hàng hoá và dịch vụ công cộng, đường sắt, hàng không, hoá dầu
1.1.3 Vai trò của Kinh tế tư nhân trong nền Kinh tế thị trường
Trong một nền kinh tế thị trường, sự tăng trưởng và phát triển của khu vực tư nhân và sự phát triển của cộng đồng gắn liền với nhau trong một mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Sự tăng trưởng và phát triển của khu vực tư nhân
sẽ đem lại thu nhập cao hơn, y tế và giáo dục tốt hơn cho người dân trong cộng đồng Mặt khác, đối với các doanh nghiệp, thu nhập cao hơn có nghĩa là thị trường rộng lớn hơn Sức khoẻ và giáo dục tốt hơn thì lực lượng lao động có năng suất cao hơn và năng suất cao hơn sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường được thể hiện trên nhiều khía cạnh của đời sống xã hội như phát triển kinh tế, phát triển xã hội và quản lý khu
vực công
a Đối với phát triển kinh tế
Mục tiêu kinh tế của phát triển là nhằm tạo cho người dân có mức thu nhập cao hơn thông qua sự tăng trưởng nhanh trong tổng sản phẩm quốc nội Trong nền kinh tế thị trường, điều này có thể đạt được cùng với nỗ lực của khu vực công và khu vực tư nhân
Thứ nhất, một trong những đóng góp quan trọng của khu vực tư nhân đối với
phát triển kinh tế là khả năng huy động vốn cho việc sản xuất các hàng hoá và dịch vụ Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất Trong một nền kinh tế đang phát triển, nguồn vốn rất khan hiếm, và đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì nguồn vốn càng khan hiếm hơn khi các tổ chức tài chính chưa phát triển và không có khả năng huy động tiền tiết kiệm từ dân cư nhiều, cũng như hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốn cho đầu tư Do đó, khả năng huy động vốn của khu vực kinh tế tư nhân trở nên rất quan trọng
Trang 12Nếu các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân được đặt trong một môi trường kinh doanh bình đẳng và được tạo cơ hội thuận lợi thì các chủ doanh nghiệp có thể tự tin mạo hiểm với khoản tiền tiết kiệm quý giá của bản thân họ, thậm chí của họ hàng và bạn bè họ để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận Môi trường kinh doanh bình đẳng sẽ khiến các chủ doanh nghiệp cảm thấy có thể kiểm soát
ở mức độ nào đó các hoạt động và số phận kinh doanh của họ Tuy nhiên, do hệ thống tài chính kém phát triển nên các khoản tiền tiết kiệm có thể trở thành vốn sẵn có của các doanh nghiệp nhưng lại tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nằm ngoài các thể chế tài chính chính thức
Thứ hai, phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo ra các cơ hội việc làm
Một kết quả của việc huy động và hình thành vốn của các doanh nghiệp tư nhân
là tạo ra các cơ hội việc làm cho các thành viên khác trong cộng đồng Việc làm
sẽ mang lại thu nhập cho những người lao động và nâng cao mức sống của gia đình họ
Nhìn chung, chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân khác với các nhà quản lý ở các doanh nghiệp nhà nước ở chỗ họ có quyền quyết định lớn hơn trong việc thuê mướn lao động (số lượng, kỹ năng cần thiết của người lao động) Vì vậy, không những các doanh nhân hoàn toàn có thể tăng số lượng lao động làm thuê theo ý họ mà còn có thể nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nguồn nhân lực trong cộng đồng
Thứ ba, phát triển kinh tế tư nhân góp phần ứng dụng và quảng bá công
nghệ Một yếu tố quan trọng để tạo được hiệu quả trong sản xuất là công nghệ phù hợp Thực tế cho thấy, bản chất không bao giờ tự hài lòng của các chủ doanh nghiệp thúc đẩy họ tìm kiếm các công nghệ phù hợp hơn cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp Sự phù hợp về công nghệ không phải lúc nào cũng hàm ý là công nghệ tiên tiến nhất mà ở đây là công nghệ phù hợp với những điều kiện của quá trình sản xuất xét về mặt cấu thành chi phí và các nguyên vật liệu đầu vào sẵn có Nếu đem so sánh với các doanh nghiệp nhà nước thì rõ ràng các chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân phải đối mặt trực tiếp với những chi phí thực tế về sản xuất, lao động, vốn, nguyên vật liệu Quá trình tìm kiếm công nghệ phù hợp của một doanh nghiệp góp phần vào việc phân bố một cách có hiệu quả nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế
Trang 13Thứ tư, phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo nguồn thu thuế cho chính
phủ Thông qua hệ thống thuế, các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả sẽ đóng góp vào tăng nguồn thu cho ngân sách Các khoản đóng góp này giúp duy trì bộ máy hoạt động của chính phủ cũng như là nguồn quan trọng để xây dựng phần lớn các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cần thiết Để đảm bảo vững chắc nguồn thu này, điều quan trọng là cơ cấu thuế, quy trình thu thuế, quá trình kiểm toán cần được phát triển phù hợp sao cho việc trốn thuế và các tác nhân xấu ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và hiệu quả được tối thiểu hoá
b Đối với phát triển xã hội
Xét về tổng thể, mục tiêu của phát triển xã hội là tạo nên sự công bằng về
cơ hội cho tất cả các thành viên trong xã hội bất kể vị thế kinh tế và xã hội của
họ thông qua các dự án xã hội Những dự án này bao gồm giáo dục và đào tạo, sức khoẻ, nhà ở, trợ giúp cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ,
Về trách nhiệm xã hội, nhiều công ty thuộc khu vực kinh tế tư nhân xem trách nhiệm xã hội như là trách nhiệm của họ, hành động với tư cách như những công dân tốt trong xã hội, nhằm bảo đảm rằng những mối quan tâm của xã hội như môi trường, an toàn của khách hàng, an toàn của người lao động sẽ được đề cập, quan tâm một cách thích đáng trong kế hoạch kinh doanh và trong quá trình hoạt động Tại một số quốc gia, các doanh nghiệp tư nhân thường tuân thủ tốt hơn theo những quy định về mặt môi trường so với các doanh nghiệp nhà nước
Về việc thực hiện các dự án xã hội, ở nhiều quốc gia cho thấy một thực tế
là các dự án xã hội thành công thường là các dự án do các tổ chức phi chính phủ thuộc khu vực tư nhân thực hiện, chứ không phải là các dự án do các cơ quan thuộc chính phủ trực tiếp thực hiện Chẳng hạn như ở Philippine, các dự án cho các doanh nghiệp nhỏ vay vốn do các cơ quan thuộc chính phủ thực hiện có tỷ
lệ hoàn trả rất thấp, trong khi đó tỷ lệ hoàn trả này lại tăng lên đáng kể khi chúng được giao cho các tổ chức phi chính phủ của khu vực tư nhân quản lý thực hiện thông qua các hợp đồng Lý do là khi các tổ chức thuộc chính phủ tổ chức thực hiện thì những người vay vốn thường có ấn tượng rằng họ không thực sự cần thiết phải hoàn trả lại những khoản vốn này vì đây là tiền chính phủ,
mà tiền của chính phủ là tiền của mọi người Tuy nhiên, vấn đề lại hoàn toàn
Trang 14nhân thực hiện, người vay cảm thấy mục đích thực sự của dự án và phải đảm bảo chắc chắn rằng những khoản vay của họ sẽ được hoàn trả Hơn nữa, người
đi vay có thể có cảm giác nghĩa vụ do các tổ chức phi chính phủ tạo ra cho họ, những cảm giác mà những nhân viên thuộc chính phủ có thể đã không chỉ rõ cho những người vay thấy
c Đối với quản lý khu vực công
Mặc dù khu vực tư nhân và khu vực công cộng đều có vai trò riêng trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên có rất nhiều công cụ nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động cung cấp dịch vụ công cộng có nguồn gốc ban đầu từ khu vực
tư nhân
Tại những quốc gia có sự phối hợp giữa khu vực tư nhân và khu vực công cộng trong việc xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển, các viên chức chính phủ thừa nhận rằng các đồng nghiệp ở khu vực tư nhân đã tạo ra những suy nghĩ khách quan, tiến bộ, mới mẻ hơn khi giải quyết các vấn đề Về mặt bản chất, các viên chức chính phủ thường có xu hướng tương đối thụ động và bảo thủ hơn so với các đồng nghiệp năng động, sáng tạo và cầu tiến hơn ở khu vực tư nhân vốn đã quen với môi trường cạnh tranh bên ngoài Xét trên một giác độ nào đó tương tự như kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, nhờ làm việc cùng nhau nên những chính sách và kế hoạch tạo ra sẽ mang tính thực tế và tập trung hơn Ở phần lớn các nền kinh tế thị trường, doanh nhân thường được mời vào một vị trí tạm thời ở khu vực công, từ đó họ có thể có cơ hội chuyển tải phương pháp làm việc, cách suy nghĩ cho các nhân viên chính phủ
Một trong những khó khăn mà các nhà kế hoạch và hoạch định chính sách trong nền kinh tế thị trường gặp phải là việc dự báo tác động và kết quả của các chính sách vì họ phải dựa trên các phản ứng của khu vực tư nhân đối với các chính sách này Bằng cách đưa khu vực tư nhân tham gia một cách chủ động vào quá trình hoạch định và xây dựng chính sách, vấn đề khó khăn này sẽ được tối thiểu hoá Nhờ có sự tham gia của các đại diện khu vực kinh tế tư nhân, chúng ta có thể hình dung được tác động có thể có của một chính sách nhất định xét dưới giác độ phản ứng của khu vực doanh nghiệp Khu vực tư nhân có thể cung cấp những chỉ dẫn trong việc lựa chọn chính sách, và cũng nhờ có khu vực này mà chính sách mang tính kịp thời và cập nhật hơn Tham
Trang 15gia của khu vực tư nhân vào việc xây dựng chính sách và giám sát thực hiện cũng đảm bảo việc đạt được các mục tiêu của chính sách đề ra
Việc tham gia hiệu quả của khu vực tư nhân trong việc xây dựng chính sách đòi hỏi khu vực tư nhân phải được tổ chức sao cho những vấn đề cần phải
có chính sách mới hay cần phải có sự thay đổi chính sách có thể được thảo luận một cách tự do, độc lập ở khu vực tư nhân và họ có quyền tự do bầu cử cho những người đại diện của họ vào các cơ quan xây dựng chính sách Sự thành công trong việc tham gia của khu vực tư nhân phụ thuộc vào việc các tổ chức tư nhân này được tổ chức hiệu quả và vững chắc như thế nào Kinh nghiệm ở các nước cho thấy trình độ giáo dục của chủ doanh nghiệp và quy mô doanh nghiệp không phải là những nhân tố quan trọng đảm bảo tham gia có hiệu quả với tư cách là một đối tác của chính phủ trong hoạt động kế hoạch, xây dựng chính sách và giám sát thực hiện
Một nhân tố quan trọng khác là sự sẵn sàng của các viên chức chính phủ trong việc chia sẻ trách nhiệm với khu vực tư nhân trong quá trình ra quyết định
và cung cấp những thông tin cần thiết cho quá trình này Chính phủ phải thể hiện sự sẵn sàng của mình cho khu vực tư nhân thấy và từ đó các tổ chức của khu vực tư nhân có thể chuẩn bị tinh thần và nhiệt tình tham gia với tư cách như những đối tác ngang bằng trong quá trình hoạch định chính sách
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển Kinh tế tư nhân
Sự phát triển Kinh tế tư nhân phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố chủ quan
và khách quan tác động đan xen lẫn nhau
- Nhân tố khách quan: Kinh tế tư nhân chiếm vị trí không nhỏ trong sự vận hành chung của một nền kinh tế, do vậy nó cũng chịu sự chi phối của qui luật kinh tế đang tác động đến quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân như: Qui luật cung cầu, qui luật giá trị, qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đây là nhân tố cực kỳ quan trọng, vì trong nền kinh tế hàng hoá do sự tác động của qui luật này mà lợi ích của mỗi doanh nghiệp đạt mức tối đa (đặc biệt là lợi nhuận) khi có sự quyết định đúng đắn trong các vấn đề :sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? đây cũng là qui luật đào thải khách quan: Ngành nghề nào làm ăn có hiệu quả thì tồn tại và ngược lại không có hiệu quả thì sẽ bị loại bỏ Nhà nước
Trang 16đóng vai trò môi trường cho các doanh nghiêp tư nhân hoạt động phù hợp với qui luật và hạn chế mặt tiêu cực của nó đến mức thấp nhất Có thể nói đó chính
là những nhân tố quan trọng nhất tác động đến sự tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế này
Thực tế đến nay cho thấy những nhân tố khách quan nói trên vẫn tồn tại trong phạm vi nhất định, do vậy sự phát triển của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân cũng ở mức độ khác nhau
- Đường lối chính sách của Đảng và nhà nước: Đây là yếu tố mang tính chủ quan của chủ thể quản lý, nhưng hết sức quan trọng, nó là nhân tố điều tiết
sự phát triển kinh tế tư nhân Từ khi có sự đổi mới về cơ chế kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân mới bắt đầu có cơ phục hồi và phát triển Xác định được tầm quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh
tế nên liên tục tại các Đại hội VII, VIII, IX Đảng ta đã đưa vai trò kinh tế tư nhân chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Đến nay kinh tế tư nhân đã là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, quản lý doanh nghiệp tư nhân bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xoá bỏ phân biệt đối xử, nhất quán quan điểm của nhà nước trong phát triển Kinh tế tư nhân
- Các nhân tố thuốc về môi trường kinh doanh của khu vực Kinh tế tư nhân: Trong nền kinh tế thị trường không có một môi trường giành riêng cho bất cứ một thành phần kinh tế nào khác, mà tất cả các thành phần kinh tế đều phải chấp nhận “luật chơi” của thị trường Vì vậy tạo ra và duy trì môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân hoạt động là phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển
Ta thấy doanh nghiệp tư nhân hoạt động có quan hệ trực tiếp với thị trường: Thị trường vật tư thiết bị, thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường vốn, thị trường hàng tiêu dùng, thị trường lao động, thị trường công nghệ thôngtin, thị trường thông tin đấu thầu, thị trường xây dựng bất động sản, các công trình
hạ tầng
Ví dụ: Gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm là thị trường cung cấp nguyên vật liệu, nhưng để có nguồn nguyên vật liệu thường xuyên để đáp ứng kịp cho
Trang 17việc tăng năng suất và cải tiến mẫu mã chất lượng, có thể cạnh tranh với thị trường là vấn đề phải được quan tâm thường xuyên, khi công nghệ sản xuất ngày càng phát triển nhu cầu thị trường tiêu thụ ngày càng khắt khe thì đòi hỏi việc sử dụng nguyên vật liệu phải được tuyển chọn, đa dạng thường xuyên mới đáp ứng kịp nhu cầu sản xuất
1.2 – Khái quát về khu vực Kinh tế tư nhân Việt Nam
1.2.1 Thời kỳ trước đổi mới
Kinh tế tư nhân trên thực tế có sức sống mãnh liệt và đã có nhiều đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhưng có thời kỳ do nhận thức sai lầm, nóng vội đã coi kinh tế tư nhân là đối tượng phải cải tạo, không được khuyến khích phát triển, không được pháp luật bảo vệ Những người hoạt động trong thành phần kinh tế này có địa vị chính trị thấp kém Sản xuất kinh doanh của họ
bị trói buộc, kìm hãm, chèn ép Ngay trong những điều kiện đó, kinh tế tư nhân
cá thể vẫn tồn tại và ngày càng khẳng định thế đứng của mình Nông nghiệp là nơi có phong trào hợp tác hoá mạnh nhất, triệt để nhất, nhưng luôn luôn tồn tại kinh tế cá thể Trong công nghiệp, lao động trong thành phần kinh tế tư nhân ở miền Bắc trước ngày giải phóng miền Nam vẫn thường xuyên chiếm một tỷ trọng lao động trên 15% so với khoảng 50-80 nghìn người Khi giải phóng miền Nam, số người hoạt động trong thành phần kinh tế này rất lớn
a Kinh tế tư nhân thời kỳ cải tạo xã hội (1958-1976)
Trên cơ sở thắng lợi của thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế 1957), miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Tháng 4/1958, Quốc hội thông qua kế hoạch 3 năm phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá (1958-1960)
(1955-Nội dung chủ yếu của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đặt ra trong thời kỳ này là biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm hai hình thức sở hữu chủ yếu là quốc doanh và tập thể Kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh là đối tượng trực tiếp của công cuộc cải tạo này Nội dung đưa nông dân vào hợp tác xã được coi là khâu chính Cải tạo đối với các hộ cá thể trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng và các ngành khác cũng rất khẩn trương
Trang 18Với mục tiêu nhanh chóng xoá bỏ thành phần kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh, Nhà nước thực hiện chính sách chuộc lại (trả dần) và áp dụng hình thức công tư hợp doanh
Kết quả đến năm 1960 đã có 40,4 nghìn hợp tác xã nông nghiệp, chiếm 85,8% tổng số hộ nông dân và 68,1% tổng diện tích canh tác; 2.760 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, 267 tổ sản xuất và 285 hợp tác xã nghề muối
Về công nghiệp, đã có 65% trong số 185 nghìn tiểu thương tham gia hợp tác xã Hợp tác xã mua bán đã được thành lập ở hầu hết các xã, phường miền Bắc
Đến cuối năm 1960 đã cải tạo xong toàn bộ 729 hộ tư bản công nghiệp, trong đó 661 hộ theo hình thức công tư hợp doanh và 68 hộ theo hình thức xí nghiệp hợp tác xã Toàn bộ lực lượng vận tải cơ giới tư nhân gồm 1.602 ô tô và
132 phương tiện vận tải thuỷ đã chuyển thành 31 xí nghiệp công tư hợp doanh, với tổng số 2.160 công nhân
Đối với thương nghiệp tư bản tư doanh, Nhà nước khuyến khích và giúp
đỡ 50 nghìn hộ tiểu thương chuyển sang hoạt động trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp Những hộ còn tiếp tục buôn bán thì thực hiện chính sách sử dụng hạn chế và cải tạo thông qua hình thức kinh tiêu, đại lý, công tư hợp doanh Đến cuối năm 1960 đã đưa 1.489 hộ tư sản thương nghiệp vào công
tư hợp doanh, chiếm 99,4% tổng số hộ thương nghiệp trong diện cải tạo
Như vậy, miền Bắc đến cuối năm 1960 đã hoàn thành cải tạo kinh tế ngoài quốc doanh dưới hình thức hợp tác xã và công tư hợp doanh, hoặc các đại
lý, kinh tiêu của kinh tế nhà nước Tuy nhiên, kinh tế tư nhân vẫn tồn tại dưới hình thức kinh tế cá thể Tỷ trọng lao động trọng khu vực kinh tế tư nhân tuy đã giảm nhiều nhưng vẫn còn chiếm giữ một tỷ lệ đáng kể, năm 1960 là 28,7%; năm 1970: 16,4%; năm 1975: 14,8% Trong khu vực này thường xuyên có khoảng 50-80 nghìn người lao động (Năm 1971 là 71,5 nghìn người; năm 1972: 65,2 nghìn người; năm 1973: 66 nghìn người; năm 1974: 66,4 nghìn người; năm 1975: 64,3 nghìn người Cũng trong thời gian này, số người buôn bán nhỏ
và kinh doanh dịch vụ cũng thường xuyên ở mức trên dưới 20 vạn người (Năm 1960: 20 vạn người; năm 1965: 16,2 vạn người; năm 1973: 19,4 vạn người; năm 1974: 20 vạn người; năm 1975: 19 vạn người)
Trang 19Ở miền Nam, năm 1976 riêng ngành công nghiệp có tới 94.857 hộ tư nhân, cá thể Trong đó ngành chế biến lương thực và thực phẩm là 29.530 hộ; dệt: 17035 hộ
b Kinh tế tư nhân thời kỳ 1976-1985
Đất nước thống nhất, công cuộc phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất được thực hiệntrên phạm vi cả nước Kế hoạch 5 năm 1976-1980 khẳng định tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với những người sản xuất nhỏ ở miền Bắc, đồng thời triển khai mạnh mẽ ở miền Nam Nhưng kinh tế tư nhân vẫn tồn tại, trong công nghiệp vẫn có trên dưới 60 vạn người sản xuất cá thể (năm 1980: 50,3 vạn; năm 1981: 55,1 vạn; năm 1982: 60,8 vạn; năm 1983: 66,6 vạn; năm 1984: 64 vạn; năm 1985: 59,3 vạn)
Số lao động hoạt động trong kinh tế tư nhân hàng năm vẫn chiếm trên 20% tổng số lao động ngành công nghiệp (năm 1980: 22,3%; năm 1984: 26%; năm 1985: 23%; năm 1986: 23,2%) Giá trị sản lượng công nghiệp do khu vực
tư nhân tạo ra hàng năm chiếm trên dưới 15% giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp Số người kinh doanh thương nghiệp những năm 80 cũng ở mức 60 vạn (năm 1980: 63,7 vạn; năm 1985: 63,7 vạn; năm 1986: 56,8 vạn)
Những số liệu trên cho thấy sức sống của kinh tế cá thể rất bền bỉ, sự hiện diện của thành phần kinh tế này trong suốt thời gian dài như một tất yếu khách quan, cần phải biết sử dụng mặt tích cực của nó làm cho dân giàu nước mạnh
1.2.2 Thời kỳ đổi mới và chính sách phát triển Kinh tế
Tháng 12 năm 1986, Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam với đường lối đổi mới toàn diện đã mở ra một bước ngoặt mới đối với nền kinh tế nước ta, khẳng định sự cần thiết phải chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN Chủ trương đổi mới và mở cửa của Đại hội VI đã thổi một luồng sinh khí mới, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển nhanh Từ sau đại hội VI, hàng loạt các chính sách mới đã tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển Nghị Quyết 26 - HĐBT ngày 9/03/1998, Nghị quyết số 16 của Bộ chính trị ngày 1/7/1998, cho phép các cơ sở kinh tế tư nhân quy mô nhỏ hoạt
Trang 20cho phép đổi mới chính sách, cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Điều đó đã mở đường cho nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ phát triển
Ngày 12/06/1999, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp Luật này thay thế luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân(1990) và có hiệu lực từ ngày 1/1/2000 Sau đó thêm một số quy định, Nghi định mới nhằm tạo điều kiện thông thoáng hơn cho các thành phần kinh tế được ban hành Đó là quyết định số 1253/QĐ -TTg ngày 19/12/1999 của Thủ Tướng Chính phủ về bãi bỏ các giấy phép trái với quy định của Luật doanh nghiệp, Nghị định số 2/2000/NĐ - CP ngày 3/2/2000 của chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp Các bộ Luật như: Luật thuế, Luật thương mại, Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng cũng đưa ra các quy định mà có sự '' thông thoáng, cởi mở" hơn cho kinh tế tư nhân phát triển
Tất cả những Luật, Nghị định, Nghị quyết nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng và tạo nguồn động lực mới mạnh mẽ cho các thành phần kinh tế, trong
đó các thành phần của khu vực kinh tế tư nhân phát triển
Qua đó có thể thấy rằng đây là bước ngoặt trong tư duy kinh tế của Đảng ta,
từ chỗ chỉ thừa nhận nền kinh tế có hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sang thực hiện nhất quán và lâu dài phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Điều đó đã tạo nên một luồng sinh khí mới, thế và lực mới cho nền kinh tế nước ta
a Sự phát triển về số lượng của các hình thức kinh tế thuộc khu vực kinh tế
tế cá thể, tiểu chủ phi nông nghiệp thì đến năm 1992, sau một năm thực hiện Nghị định số 221/HĐBT đã có 1.498.611 hộ cá thể tiểu chủ đăng ký kinh doanh Năm 1995 đã lên tới 2.050.255 cơ sở, năm 1996 là 2.110.000 cơ sở, đến năm 2000 là 2.137.700 cơ sở, đầu năm 2003 khoảng 2.200.000 kinh tế cá thể, tiểu chủ Bình quân giai đoạn 1990-1996 mỗi năm tăng 218.333 cơ sở
Trang 21(tương ứng 7,68% năm).Từ năm 1999 đến năm 2000 số lượng hộ kinh doanh hoạt động cá thể tăng chậm, bình quân mỗi năm tăng 11.460 cơ sở kinh doanh cá thể(tương ứng 1,47%/năm)
Cùng với kinh tế cá thể, tiểu chủ, các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần cũng có bước phát triển vượt bậc về số lượng Nếu năm 1991, tổng số các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là 414 doanh nghiệp thì đến năm 1992 là 5.198 doanh nghiệp( tăng 1.155%) tương tự các năm 1993, 1997 là 6.808 doanh nghiệp(tăng 31%), 15.278 doanh nghiệp (tăng 41%),25.002 doanh nghiệp (tăng 32%).tính đến cuối năm 2001, cả nước đã có 65.947 doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân Riêng từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ 1/1/2000 đến 3/2002 đã có trên 42.000 doanh nghịêp và hơn 300.000 hộ kinh doanh mới đăng ký, nhiều hơn cả số doanh nghiệp đăng ký trong 10 năm trước đó Theo ban kinh tế trung ương Đảng tính đến đầu năm 2003 cả nước có gần 10 triệu hộ kinh doanh cá thể trong đó gần 22% là hộ kinh doanh phi nông nghiệp, hơn 92.000 doanh nghiệp các loại khu vực kinh tế tư nhân Cụ thể là:- Loại hình DNTN: năm 1991 cả nước có 270 cơ sở thì đến năm 1998 có 18.750 cơ sở, tăng gần 70 lần, trong đó năm 1992 có tốc độ tăng trưởng đột biến tới 1.261% các năm 1994 và năm 1995 tăng bình quân 45% từ năm 1996 tốc độ phát triển chậm lại
- Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn: Năm 1991 cả nước có 122 công
ty, năm 1998 có 7.100 công ty tăng trên 58 lần, trong đó năm 1992 tăng đột biến về số lượng lên tới 1,083% nhưng năm 1997 tốc độ tăng trưởng chậm lại, và năm 1998 giảm3%
- Công ty cổ phần:Năm 1991 có 22 công ty, đến năm 1998 tăng lên 171 công ty, tăng 7,7 lần, năm 1994 có tốc độ tăng trưởng cao nhất (526%) nhưng các năm sau đó tốc độ tăng trưởng chậm lại
Nhìn chung, các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN tăng nhanh về số lượng trong giai đoạn 1992-1994, do nguyên nhân sâu xa là khuyến khích của các chính sách vĩ mô, đặc bịêt là Luật Doanh nghiệp tư nhân, luật công ty Giai đoạn 1997-1998 tốc độ tăng trưởng về số lượng của doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân có chững lại do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực.Tính chung từ năm 1991 đến
Trang 22năm 2001, số lượng ba loại hình doanh nghiệp nêu trên đã tăng gần 180 lần, tốc độ phát triển bình quân trong 11 năm(1991-2001) là 96,24%
Có thể thấy rằng hình thức DNTN được ưa chuộng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất, nó phù hợp với quy mô vốn nhỏ của các cơ sở tư nhân
Các cơ sở sản xuất kinh doanh của các khu vực KTTN đa số đựợc thành lập mới( chiếm khoảng 90%), số còn lại( khoảng 10%)là do chuyển đổi hình thức sở hữu từ các DNNN và tập thể sang hình thức sở hữu tư nhân trong quá trình sắp xếp lại khu kinh tế nhà nứơc và kinh tế tập thể trước yêu cầu đổi mới
b Sự phát triển của khu vực KTNN theo vùng lãnh thổ
Khu vực KTTN phát triển rất không đồng đều giữa các khu vực trong cả nước Theo kết quả khảo sát của MPSF( chương trình phát triển dự án Mêkông) năm 1198 thì khu vực miền Nam chiếm khoảng nửa tổng số DN thuộc KTTN của cả nước, trong đó riêng Thành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng1/4ng số doanh nghiệp và gần 1/3 tổng số lao động trong các DNTN Trong khi đó miền Bắc chỉ chiếm 18% tổng số DNTN và miền Trung chiếm 9%, Hà Nội chiếm khoảng 8%
c Sự phát triển của khu vực KTTN theo ngành nghề sản xuất kinh doanh
Theo số liệu tổng cục thống kê năm 1995 chỉ xét riêng các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể tiểu chủ có tới 49%, số hộ kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ,38% trong lĩnh vực công nghiệp, 13% trong các lĩnh vực khác Số liệu của năm 2002 cũng cho thấy trong số cơ sở kinh doanh cá thể, tiểu chủ có tới hơn 50% số cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực thương mại- dịch
vụ, hơn 30% trong lĩnh vực công nghiệp, gần 18% số cơ sở kinh doanh trong các lĩnh vực khác
Trong lĩnh vực thương mại KTTN đã và đang làm chủ nhiều nghành hàng- nhất là lương thực, thực phẩm, thủ công, mỹ nghệ, bán lẻ hàng hoá KTTN đã trở thành đối thủ cạnh tranh và thay thế nhiều lĩnh vực vốn trước đây do thương mại nhà nước và thương mại tập thể nắm giữ
Sự tập trung của KTTN vào các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sửa chữa xe máy đã góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân; mặt khác điều đó cũng cho thấy; các chính sách, giải pháp vĩ
mô của Nhà nước chưa thực sự tạo niềm tin để cho KTTN mạnh dạn đầu tư
Trang 23vào các lĩnh vực sản xuất Chính những hạn chế này đã làm khu vực KTTN trong những năm qua phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của khu vực này
d Thực trạng về vốn, lao động và sản xuất kinh doanh của khu vực KTTN + Kinh tế cá thể tiểu chủ
Năm 2000 cả nước có 2.137.700 cơ sở cá thể kinh tế phi nông nghiệp, số lao động bình quân/ 1 doanh nghiệp vẫn chỉ là 1,8 lao động; vốn sản xuất kinh doanh đã tăng lên 29,8 triệu đồng/1 doanh nghiệp
+ Kinh tế tư bản tư nhân
Theo Nghị định 90/2001/NĐ - CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ ( doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng Việt Nam và có số lao động dưới 300 người được xếp loại doanh nghiệp vừa và nhỏ) thì có khoảng gần 97,8% số doanh nghiệp ở nước ta thuộc loại vừa và nhỏ Riêng khu vực KTTN có 99% doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ
+Về vốn sản xuất kinh doanh
Vốn bình quân của DNTN tăng 2,47 lần(92 triệu đồng năm 1991 lên 228 triệu đồng năm 1996, năm 2000 đạt mức 651 triệu đồng( gấp 2, 8 lần năm 1996)
+ Về lực lượng lao động
Số lượng lao động bình quân một doanh nghiệp tư nhân là 8 lao động năm
1991 tăng lên 9 lao động năm 1996, 17 lao động năm 1997, năm 1998 tăng lên 47 lao động Công ty cổ phần có quy mô lao động bình quân tăng từ 89 lao động năm 1991 lên155 lao động năm 1996 Nhưng vì loại hình công ty
cổ phần có số lượng ít nên tổng số lao động mà nó thu hút không lớn
+ Về giá trị tài sản cố định:
DNTN có giá trị tài sản cố định tương đối thấp; giá trị tài sản cố định bình quân 1 DN là 67 triệu đồng năm 1991 đến năm 1994 đạt mức 188 triệu đồng nhưng đến năm 1996 lại giảm xuống 160 triệu đồng cho mỗi doanh nghiệp Giá trị tài sản cố định bình quân của công ty TNHH tăng từ 566 triệu đồng năm 1991 lên 723 triệu đồng năm 1992 nhưng lại giảm xuống còn 455 triệu đồng năm 1996
+ Về doanh thu
Trang 24Năm 1991, bình quân doanh thu của DNTN chỉ đạt mức 348 triệu đồng , năm 1994 tăng lên 952 triệu đồng và năm 1996 là 1.550 triệu đồng
Năm 1991, bình quân doanh thu của một công ty TNHH là 5.459 triệu đồng, năm 1994 giảm xuống còn 5.459 triệu đồng, năm 1994 giảm xuống còn 5.140 triệu đồng, năm 1996 cũng chỉ đạt 5.386 triệu đồng
Trong thời gian trên thì bình quân doanh thu của một công ty cổ phần tăng tương đối đối đều: từ 16.455 triệu đồng lên 25.630triệu đồng rồi lại tăng lên tiếp 38.700 triệu đồng Như vậy DNTT và công ty cổ phần đều có mức tăng cao, điều đó phần nào cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của hai loại hình DN này tốt hơn công ty TNHH
+ Về chỉ tiêu nộp ngân sách
Bình quân chung cả hai loại hình doanh nghiệp của KTTN nộp ngân sách
123 triệu đồng/cơ sở năm 1991, sau 5 năm mức bình quân này giảm xuống còn68 triệu đồng /cơ sở năm 1996 Trong đó DNTN có mức nộp ngân sách thấp nhất 7 triệu đồng/ cơ sở (năm 1991) tăng lên 26 triệu đồng năm 1996 Công ty trách nhiệm hữu hạn bình quân ở mức 189 triệu đồng/cơ sở năm1991 đã giảm xuống còn161 triệu đồng năm 1996 Công ty cổ phần có mức nộp ngân sách bình quân tương đối cao 1.182 triệu đồng/ cơ sở vào năm
1991, nhưng thời gian 5 năm mức nộp ngân sách của công ty cổ phần không tăng được bao nhiêu, đến năm 1996 chỉ tiêu có giảm một chút chỉ còn 1.154 triệu đồng/ cơ sở
Như vậy, ta thấy quy mô bình quân một doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN
ở nước ta như sau:
- Số lao động bình quân 19 người/ cơ sở
- Vốn sản xuất kinh doannh 1 tỷ đồng/ cơ sở
- Giá trị tài sản cố định 400 triệu đồng/ cơ sở
- Doanh thu 2,7 tỷ đồng/ cơ sở
- Nộp ngân sách 70 triệu đồng/cơ sở
Nhận xét chung:
Khu vực KTTN được đánh giá là có tốc độ phát triển nhanh hơn khu vực KTNN nhưng vẫn kém hơn khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 25Điều đó cho thấy quá trình đổi mới nền kinh tế thì các khu vực kinh tế đã có
sự cơ cấu, sắp xếp lại cho phù hợp với nhu cầu chuyển sang nền kinh tế thị trường mở Kinh tế tập thể kém hiệu quả nên đã giảm tỷ trọng trong tổng số
Cơ cấu lại các DNNN dưới nhiều hình thức nhằm tăng cường hiệu quả khu vực KTNN, đồng thời tăng cường các hình thức sở hữu của khu vực kinh tế
tư nhân, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
1.2.3 Những kết qủa đạt được và tồn tại yếu kém của khu vực Kinh tế tư nhân
Năm 2000 khu vực ngoài quốc doanh (chủ yếu là các loại hình doanh nghiệp
tư nhân) đầu tư 34.593,7 tỷ đồng chiếm 23,8% vốn đầu tư ngoài xã hội Năm
2002 khu vực ngoài quốc doanh đầu tư khoảng 52.000 tỷ đồng chiếm 28,8% tổng vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế Đó là những con số rất có ý nghĩa
* Đóng góp quan trọng với tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Khu vực KTTN có đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm xã hội Năm
1995, khu vực KTTN đóng góp 43,46% trong đó hộ kinh doanh cá thể đóng gps 36,02% GDP, khối các doanh nhgiệp TBTN đóng góp 7,44% Mặc dù các năm 1997, 1998, 1999, đóng góp của khu vực tư nhân có sự giảm sút nhưng 2000 đã có sự phục hồi trở lại
Từ chỗ kinh tế tư nhân không được phép hoạt động, đóng góp của kinh tế tư nhân cho nền kinh tế gần như không có gì đến chỗ kinh tế tư nhân được phép hoạt động và có sự tăng trưởng nhanh, đóng góp 42,26% cho GDP của nền kinh tế, kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao trên 8% năm liên tục trong giai đoạn 1992-1997, đến nay vẫn giữ được tốc độ xấp xỉ 7% năm
Trang 26* Đóng góp vai trò quan trọng tạo thêm việc làm ngày càng nhiều và góp phần xoá đói giảm nghèo
Các cơ sở kinh tế thuộc khu vực tư nhân là lực lượng tham gia tích cực đối với các vấn đề giải quyết việc làm Theo thống kê năm 1996 khu vực KTTN phi nông nghiệp đã giải quyết việc làm cho 4.700.742 lao động, chiếm gần 70% lực lượng lao động xã hội trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp Xét
ở góc độ giải quyết việc làm thì đây là khu vực có tỷ lệ thu hút lao động trên vốn đầu tư cao nhất trong nền kinh tế, cụ thể là (theo số liệu năm 1997) Để tạo một chỗ làm việc mới, hộ kinh doanh cá thể cần 6,06 triệu đồng, các doanh nghiệp và công ty tư nhân cần khoảng 80 triệu đồng, trong khi đó để tạo một chỗ làm việc mới DNNN cần 230 triệu đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần 590 triệu đồng
Rõ ràng là để tạo một chỗ làm mới, các cơ sở kinh tế thuộc kinh tế tư nhân chỉ cần một lượng vốn không lớn
Trong 5 năm (1996-2000) lao động trong khu vực KTTN tăng thêm 778.681 người (tăng 20,14%) Trong số đó, số lao động ở doanh nghiệp tăng thêm là 478,459 người (tăng 137,57%), số lao động ở hộ kinh doanh cá thể tăng thêm 292.222 người (tăng 8,29%) Năm 1998 KTTN thu hút thêm 31.000 lao động, năm 1999 và 2000 tương ứng là 75.000 và 90.000
Năm 2000, khu vực kinh tế nhà nước mới giải quyết được việc làm cho 3,4 triệu lao động chiếm 9,4% lực lượng lao động; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ giải quyết 0,61% lực lượng lao động, còn lại 90% lực lượng lao động xã hội làm việc trong khu vực KTTN
Chỉ tính riêng từ năm 1999 đến năm 2003, tức là sau 4 năm thực hiên Luật Doanh nghiệp, cùng với việc tăng nhanh số lượng các DN thuộc khu vực KTTN, các DN này cũng đã tạo thêm được nhiều việc làm cho hơn 1 triệu lao động
Việc tạo ra được nhiều chỗ làm việc mới đã góp phần thu hút nhiều lao động trong xã hội, nhất là số người trẻ tuổi hàng năm đến tuổi lao động chưa có việc làm, giải quyết dôi dư từ các cơ quan, DNNN do tinh giảm biên chế Mặt khác còn tạo cho người lao động có thu nhập khá ổn định
* Đóng góp vào ngân sách nhà nước của khu vực KTTN ngày càng tăng:
Trang 27Năm 1995, KTTN đóng góp 5,6% trong tổng thu ngân sách, năm 1996 đóng góp 5,7% , đến năm 2000 con số này là 7,3% Năm 2000 KTTN đóng góp được 5.900 tỷ đồng, tăng 12,5% so với năm 1999; năm 2001 nộp được khoảng 6.400 tỷ đồng tăng 7.96% so với năm 2000
Nhận xét chung:
Sự phát triển của khu vực KTTN góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế – xã hội; góp phần làm lớn mạnh đội ngũ doanh nhân Việt Nam; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng sản lượng hàng hoá xuất khẩu
Hiện nay, trừ một số lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước độc quyền, KTTN không được kinh doanh, còn lại hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, khu vực KTTN đều tham gia Trong đó, nhiều lĩnh vực ngành nghề KTTN chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuất lương thực, thực phẩm nuôi trồng thuỷ hải sản, hàng hoá bản lẻ, chế biến sành sứ, giầy dép, dệt may Các lĩnh vực như xuất khẩu gạo, thủy sản, dệt may, giầy dép v.v
đã mang về hàng tỷ USD cho nền kinh tế, trong đó có đóng góp to lớn của khu vực KTTN Riêng năm 2002, KTTN đã đóng góp tới 48,5% kim ngạch xuất khẩu (không tính dầu thô) Chính sự phát triển phong phú, đa dạng các
cơ sở sản xuất, ngành nghề, các hình thức kinh doanh v.v của khu vực KTTN đã tác động mạnh đến các DNNN buộc khu vực nhà nước phải cải tổ, sắp xếp lại để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường Qua đó, khu vực KTTN đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các khu vực kinh tế làm cho nền kinh
tế trở nên năng động, đồng thời cũng tạo sức ép lớn buộc cơ chế quản lý hành chính của Nhà nước phải đổi mới
Mặc dù được hình thành một cách tự phát nhưng nhờ được đào luyện trong
cơ chế thị trường, đội ngũ các nhà doanh nghiệp tư nhân đã tỏ rõ bản lĩnh, tài năng, thích ứng khá kịp thời với sự chuyển đổi của nền kinh tế Họ đã vươn lên, tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm, trong đó cả những ngành kỹ thuật cao (điện tử, phần mềm )
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng số lượng các chủ DNTN, các chủ trang trại, cùng với các giám đốc DNNN là một thành quả quan trọng mà công cuộc đổi mới tạo nên, nhưng nếu so với yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế (trên
Trang 2878 triệu dân, trên 12 triệu hộ kinh doanh cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, trên 92.000 doanh nghiệp các loại) và đặc biệt trước yêu cầu mở cửa, hội nhập nền kinh tế nước ta với khu vực và thế giới, đòi hỏi phải có một đội ngũ các nhà doanh nghiệp đủ mạnh ngang sức, ngang tài với đối tác là các chủ doanh nghiệp nước ngoài
Bởi vậy cần có hệ thống pháp luật nghiêm minh, chặt chẽ rõ ràng đối với khu vực KTTN nhưng đồng thời cũng cần có chính sách, biện pháp khuyến khích đối với họ để họ thực sự đứng trong đội ngũ các nhà doanh nghiệp Việt Nam thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
b Những tồn tại, yếu kém chủ yếu của khu vực Kinh tế tư nhân
* Thứ nhất, phần lớn các cơ sở KTTN đều có quy mô nhỏ, năng lực và sức cạnh tranh yếu, chủ yếu phát triển theo chiều rộng
Có tới 29,4% các DN của tư nhân có vốn dưới 100 triệu đồng; 87,2%
có vốn dưới 1 tỷ đồng; còn lại là có vốn dưới 10 tỷ đồng Thiếu vốn để mở rộng SXKD là hiện tượng phổ biến đối với toàn bộ các DN thuộc khu vực KTTN và được coi là một trong những cản trở lớn nhất đến sự phát triển của các cơ sở KTTN Hầu hết các DN khởi sự hoàn toàn bằng vốn tự có ít ỏi của mình Khả năng tạo vốn của các cơ sở KTTN bằng nội lực nội sinh còn rất hạn hẹp Việc vay vốn ngân hàng của các cơ sở KTTN còn gặp nhiều khó khăn
Ngoài ra, bản thân các DN cũng có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận các nguồn vốn, tiếp cận thông tin, thành lập DN chủ yếu dựa trên kinh nghiệm chứ chưa tính toán đầy đủ nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ nên hầu hết các chủ DN trong khu vực KTTN (nhất là các hộ cá thể tiểu chủ tiểu chủ) hoạt động thiếu phương án cũng như kế hoạch kinh doanh, vì vậy dễ bị bất lợi trước biến động của thị trường
* Thứ hai, trình độ kỹ thuật công nghệ và nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế
Một mặt, do thời gian hình thành và phát triển chưa lâu, tiềm lực vốn còn yếu nên khu vực này ít có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ Mặt khác,
do hoạt động đầu tư của KTTN thời gian qua chủ yếu theo bề rộng; cơ chế chính sách cũng ràng buộc KTTN khó có điều kiện tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, vốn nước ngoài, khó tiếp cận thị trường thế giới để đổi mới nâng cấp
Trang 29kỹ thuật, công nghệ Phần lớn máy móc, thiết bị của các DN thuộc KTTN rất
cũ, lạc hậu, nhiều loại có tuổi thọ trên 20 năm nhiều cơ sở mua máy móc thiết bị cũ do DNNN thanh lý, thải ra Theo số liệu của viện nghiên cứu Quản lý Trung ương thì chỉ có 25% DNTN và 20,5% số công ty tư nhân sử dụng công nghệ hiện đại; 38,5% DNTN và 18,7% công ty sử dụng công nghệ
cổ truyền,38,5% DNTN và 60,5% công ty kết hợp cả công nghệ hiện đại và
cổ truyền, các hộ cá thể sử dụng công nghệ thủ công và truyền thống là phổ biến Do đó đã hạn chế năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của các mặt hàng không cao
Lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ của KTTN chủ yếu là lao động phổ thông, thiếu đào tạo.Khu vực này thiếu trầm trọng công nhân được đào tạo, nhất là công nhân có tay nghề cao Đặc biệt đội ngũ cán bộ quản lý Doanh nghiệp đang là khâu yếu nhất khoảng 60-70% mới có trình độ phổ thông trung học; 80% chưa qua đào tạo chuyên môn ; chỉ có khoảng 5,13% có trình
độ đại học trở lên Với cơ cấu cán bộ quản lý như vậy, tuyệt đại bộ phận các cơ
sở KTTN không có tầm nhìn dài hạn trong kinh doanh Cùng với sự lạc hậu về công nghệ sự yếu kém của đội ngũ lao động là nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả SXKD của khu vực kinh tế này
* Thứ ba, thiếu mặt bằng sản xuất và mặt bằng sản xuất không ổn định đang là trở ngại lớn đối với các cơ sở kinh tế tư nhân
Luật đất đai cũ chỉ quy định quyền sử dụng đất, không cho phép tư nhân có quyền sở hữu và hạn chế nghiêm ngặt việc mua bán đất Điều đó dẫn đến quyền
sử dụng đất không được chuyển nhượng công khai, giá đất không ổn định, đất đai bị đầu cơ, sử dụng kém hiệu quả Trong điều kiện như vậy bất lợi hơn cả là các cơ sở kinh tế tư nhân mới thành lập rất khó có được mặt bằng đất ổn định Thêm vào đó sự phân biệt, đối xử trong việc giao đất của Nhà nước đối với DNNN và cho thuê đất đối với cơ sở KTTN cũng gây bất lợi và thiệt thòi cho khu vực KTTN Hiện nay phần lớn các cơ sở KTTN phải sử dụng nhà ở, đất ở của gia đình trong khu dân cư làm nơi SXKD nên chật hẹp, gây ô nhiễm môi trường, dẫn đến những khiếu kiện và khó mở rộng SXKD
* Thứ tư, các chủ DN thuộc KTTN chưa yên tâm đầu tư để phát triển kinh tế lâu dài Một số chủ tư nhân của DN chưa xoá bỏ hết tâm lý mặc cảm của
Trang 30những lần cải tạo XHCN đối với họ, muốn xoá bỏ, kìm chế phát triển và phân biệt đối với KTTN và kinh tế tư nhân làm cho các DNTN phải chịu mức thuế cao hơn, phải qua nhiều “ cửa ải” hành chính phức tạp khó tiếp cận các nguồn tín dụng đã làm cho các chủ DN còn nhiều nghi ngại Sự không ổn định của môi trường vĩ mô không chỉ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh mà còn củng cố tâm lý thiếu tin tưởng vào tính ổn định, lâu dài nhất quán của chủ trương phát triển KTTN của Đảng, Nhà nước
Hiện nay tuy môi trường tâm lý xã hội có nhiều đổi mới thuận lợi hơn trước rất nhiều, song trong hoạt động thực tiễn khu vực KTTN còn gặp nhiều khó khăn hơn khu vực kinh tế khác, khiến nhiều người e ngại chưa đầu tư, chỉ phát triển có mức độ để tồn tại, vừa làm, vừa nghe ngóng tình hình
* Thứ năm, khả năng cạnh tranh để tồn tại, đứng vững trên cơ chế thị trường của các cơ sở KTTN còn hạn chế Một số tiêu cực nảy sinh, khủng hoảng tài chính khu vực,và chính sách vĩ mô của Nhà nước chưa hợp lý làm cho tốc độ phát triển của khu vực KTTN chững lại trong những năm 1998,1999; từ đầu năm 2000 đã có dấu hiệu hồi phục nhưng chậm chạp Khu vực KTTN gặp nhiều khó khăn ở cả thị trường đầu vào và đầu ra Hầu hết các doanh nghiệp của tư nhân mua nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm ở thị trường địa phương Chỉ có khoảng 20% số DN nhỏ và vừa tiêu thụ sản phẩm ở các thành phố lớn và khoảng 33% sản phẩm của các
DN thuộc KTTN được bán ra khu vực nhà nứơc Hiện nay một số mặt hàng của KTTN đã có trên thị trường thế giới nhưng còn do chất lượng quá thấp, giá cả quá cao nên sức cạnh tranh thấp so với hàng hoá cùng loại của nước ngoài Ngoài ra, tình trạng nhập lậu tràn lan không kiểm soát được đã làm cho việc tiêu thụ hàng hoá của khu vực KTTN rơi vào tình thế cực kỳ bất lợi, làm cho nhiều cơ sở bị đình đốn, phá sản
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở TỈNH BẮC NINH
2.1- Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển Kinh tế tư nhân Bắc Ninh 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí tự nhiên: Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ nằm giữa 210 –
210 15 vĩ độ bắc, 1050 450 – 1060 kinh độ đông, Bắc giáp Bắc Giang, Đông và Đông nam giáp Hải Dương, Tây và Tây nam giáp Hà Nội và một phần Hưng
Trang 31Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 23,10C, lượng mưa bình quân 1638 mm/năm, với độ ẩm trung bình hàng năm 82% Là tỉnh có vị trí thuận lợi nằm sát thủ đô Hà Nội và nằm gọn trong tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Với hệ thống giao thông thuận lợi như Quốc lộ 1A, quốc lộ 18 nối với khu công nghiệp Quảng Ninh Đường sắt nối Hà Nội với cửa khẩu phía Bắc qua Lạng Sơn, và một hệ thống giao thông đường thuỷ trên các sông: Sống Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình nối Bắc Ninh với hầu hết các tỉnh phía Bắc, Đông và Tây nam, có cảng sông quan trọng (Cảng Thị Cầu thuộc sông Cầu) với năng lực thông qua 200.000tấn/năm Mặt khác Bắc Ninh còn có điều kiện rất gần với Cảng Hàng không sân bay Nội Bài (22km) gần các nguồn năng lượng lớn như nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí và thuỷ điện Sông Đà tạo nên cho Bắc Ninh một vị trí có ý nghĩa chiến lược cả về quốc phòng và kinh tế – chính trị
- Điều kiện đất đai: Với tổng diện tích là 796,25 km (tương đương với
Diện tích đất chưa được sử dụng là 9.321 ha (trong đó đất đồi trọc là 577 ha, đất có mặt nước nhỏ 3.113 ha, đất bằng 655 ha) làm cho diện tích đất đai canh tác bình quân đầu người thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn
2.1.2 Đặc điểm văn hoá xã hội
- Nguồn nhân lực: Tổng dân số toàn tỉnh 925.997 người, trong khu vực
nông thôn chiếm 94,9% với số dân: 878.744 người, khu vực thành thị chiếm 5,1% với: 470.253 người Nếu phấn đấu giảm tỷ lệ sinh mỗi năm đi 0,05%
Trang 32thì tới năm 2000 dân số Bắc Ninh cũng phải xấp xỉ 1 triệu người; đến năm
2001 sẽ là trên 1.100 ngàn người
Tổng lao động trong toàn tỉnh là 488.780 lao động, trong đó:
- Lao động nông nghiệp: 407.600 người chiếm tỷ lệ 86,7%
- Lao động phi nông nghiệp chiếm 18,2%
Trong đó lao động tại các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 32,5% tổng lao động phi nông nghiệp
- Văn hoá: Bắc Ninh là vùng đất văn hoá truyền thống Từng được ví như
mảnh đất của các nhà khoa bảng với những địa danh như Đông Ngàn, Từ Sơn vùng đất Bắc Ninh xưa chiếm đến 1/3 tổng số trạng nguyên của cả nước Bắc Ninh cũng là địa danh nổi tiếng với di sản văn hoá như Quan họ, Hội Lim, các đền nhà Lý, các ngôi làng đi vào địa danh văn hoá của cả nước Bắc Ninh còn nổi tiếng với các làng nghề truyền thống hàng trăm năm như Đồng Kỵ, Châu Khê, Làng Hồ, Đa Hội, Phù lãng, Đại Bái
Từ những đặc điểm cơ bản trên đây đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Số lao động và nhân khẩu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cao, hiện tại hệ số quay vòng đất mới chỉ đạt 2,09 lần
2.1.3 Đặc điểm về kinh tế
Từ những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên đã đặt ra cho các chuyên gia kinh tế, các nhà lãnh đạo và mỗi người dân lao động phải có sự tự vận động tích cực cho phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Sau 10 năm đổi mới, tình hình kinh tế xã hội đã có những bước phát triển mạnh mẽ, do điều kiện
tự nhiên thuận lợi nên khi chuyển sang cơ chế thị trường các thành phần kinh
tế thích ứng nhanh chóng, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực (tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh), công nghiệp nông thôn được phát triển mạnh nhằm khai thác triệt để những tiềm năng đã bị ẩn chứa
Tính riêng năm 1999: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) so với năm 1999 tăng 15,5% (kế hoạch tăng 10%) Mức bình quân tương ứng của cả nước là 6% Tổng mức lương thực qui thóc đạt 414.475 tấn, tăng 11,3% so năm
1998 Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trung ương đạt 1.233 tỷ đồng, trong đó công nghiệp tiểu thủ công nghiệp địa phương đạt
Trang 33bằng 43,9% Công nghiệp quốc doanh tăng 0,4%; Công nghiệp địa phương tăng 114,3%; công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 38,1% Trong 5 năm 2001-
2005 nhịp độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 13,9%/năm (mục tiêu Đại hội Đảng
bộ tỉnh là 13%/năm), gấp 1,8 lần bình quân cả nước và phát triển tương đối toàn diện cả về kinh tế lẫn việc giải quyết các vấn đề xã hội đứng sau Vĩnh Phúc (14,4%/năm) so với các tỉnh trong vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong giai đoạn vừa qua, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có những sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng của công nghiệp, xây dựng trong tổng GDP đã tăng mạnh từ 35,4% năm 2000 lên 46,2% năm 2004 và ước đạt năm 2005 là 47%, tỷ trọng của các ngành nông lâm ngư nghiệp giảm từ 37,7%/năm xuống còn 25%/năm vào năm 2005 Bắt đầu từ năm 2001 tỷ trọng của công nghiệp và xây dựng của tỉnh Bắc Ninh đã vượt qua tỷ trọng nông nghiệp
Công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển mạnh ở các loại hình doanh nghiệp
tư nhân và hộ sản xuất, đặc biệt là ở các làng nghề truyền thống sản xuất có qui mô, máy móc kỹ thuật hiện đại, việc thay đổi kịp thời kỹ thuật công nghệ
và chủng loại mẫu mã, sản phẩm đã làm cho công nghiệp ở các làng nghề truyền thống phát triển vượt bậc như giấy Phong Khê, sắt Đa Hội, dệt Tương Giang, đồng Đại Bái, mộc Đồng Kỵ sản phẩm đa dạng với chất lượng cao
là điều kiện để trao đổi hàng hoá trong và ngoài nước thông qua việc xuất nhập khẩu
Tuy nhiên, trong thời gian qua do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực nên sản phẩm xuất khẩu của hầu hết các ngành cũng bị chững lại giảm phần nào nhịp độ tăng trưởng của công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
+ Tổng thu nhập ngân sách Nhà nước đạt 173,57 tỷ đồng tăng 7,1% so với kế hoạch Trong đó cơ bản là thu từ các xí nghiệp quốc doanh TW (đạt 81,16 tỷ đồng chiếm 46,7% tổng thu) thu từ hoạt động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp địa phương đạt 3,4 tỷ đồng tăng 25% so với kế hoạch Tổng chi ngân sách địa phương 274,22 tỷ đồng tăng 13,6% so với kế hoạch và 15,2% so với cùng kỳ
+ Tổng thu tiền mặt đạt 1776 tỷ đồng tăng 22,0%, hoạt động tín dụng được
mở rộng bằng nhiều hình thức tín dụng linh hoạt, việc huy động vốn nhàn rỗi
Trang 34trong dân cư đạt 572,4 tỷ đồng tăng 22,4% so với năm 1997, tổng dư nợ đạt 611,5 tỷ đồng tăng 30% so với năm 1997 Trong đó dư nợ dài hạn và trung hạn tăng với nhịp độ nhanh đạt 270,7 tỷ đồng chiếm 44,3% tổng mức dư nợ, tăng 84% so với cùng kỳ năm 1998 Cho vay ngắn hạn được đầu tư chủ yếu vào cung cấp nguyên vật liệu cho các cơ sở sản xuất và khu vực kinh tế nông nghiệp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nhanh và phù hợp với điều kiện thực tế
Tỉnh Bắc Ninh cũng tạp trung phát triển công nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn và đô thị, mở rộng nâng cao chất lượng sản phẩm các làng nghề với các sản phẩm chủ yếu:
+ Công nghiệp chế biến nông lâm sản và thực phẩm bao gồm: công nghiệp sản xuất thực phẩm nước giải khát, chế biến lâm sản, sản xuất đồ gỗ xuát khẩu và tủ bàn ghế các loại, sản xuất thuốc lá và chế biến nguyên liệu thuốc
lá, gia cầm và thuỷ sản, chế biến sản phẩm tơ tằm Các cơ sở chế biến chủ yếu tập trung ở thị xã Bắc Ninh, Từ Sơn, Yên Phong và Lương Tài
+ Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Công nghiệp VLXD gốm, sứ, thuỷ tinh là một ngành đã và đang phát triển
+ Công nghiệp dệt, da, may mặc: chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh khoảng 15% năm 2004 Đây là một ngành đang được các doanh nghiệp khu vực tư nhân chú trọng phát triển trong điều kiện phát triển thị trường trong nướcvà nước ngoài rất rộng lớn, phát huy thế mạnh về nhân lực trong nông thôn của tỉnh
+ Công nghiệp cơ khí, điện, điện tử
+Công nghiêp hoá chất, phân bón
Qua những số liệu trên cho thấy Bắc Ninh có những tiềm năng lớn nếu được khai thác và sử dụng hiệu quả sẽ đưa kinh tế của tỉnh tăng với nhịp độ cao, với thực lực nguồn ngân sách có hạn (thu không đủ chi) thì việc đầu tư vốn vào phát triển các thành phần kinh tế của tỉnh phải chủ yếu dựa vào nguồn hỗ trợ của các tổ chức tín dụng trong toàn tỉnh Trong đó NHNo & PTNT với 9 chi nhánh cấp huyện, thị và gần chục chi nhánh liên xã nằm rải rác và hầu hết nằm ở các khu vực kinh tế phát triển (bán kính bình quân là 7 km có một ngân hàng) sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của tỉnh
Trang 352.2- Tình hình phát triển khu vực Kinh tế tư nhân ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua
2.2.1 Số lượng và các loại hình doanh nghiệp khu vực Kinh tế tư nhân Bắc Ninh
Khu vực kinh tế tư nhân trên địa bànBắc Ninh trong những năm qua có bước gia tăng mạnh mẽ về số lượng ở tất cả các hình thức: CTTNHH, DNTN, CTCP và CTTNHH một thành viên Đến 1/10/2005 trên địa bàn Bắc Ninh có 17.592 DNKVTN kể cả các hộ kinh doanh cá thể Nếu không tính các hộ cá thể đến tháng 9/2005 có tổng cộng 1363 doanh nghiệp, trong đó có công ty TNHH chiếm 59,7% với 815 doanh nghiệp tư nhân là loại hình DN chủ yếu của Bắc Ninh, công ty cổ phần có 130 công ty chiếm 9,7%, DNTN có 418
chiếm 30,6%
Bảng 1: Số lượng các DNKVTN đăng ký kinh doanh ở Bắc Ninh (2000- 2004)
Đơn vị : doanh nghiệp
hộ cá thể lớn hơn trước, ngành nghề kinh doanh đa dạng hơn rất nhiều góp
Trang 36phần giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2: Số hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh trên địa bàn
Bắc Ninh phân theo ngành nghề Ninh
Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư Bắc Ninh
Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
Sau khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực, nhiều hộ kinh doanh cá thể đã
mở rộng sản xuất kinh doanh chuyển sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp, thông qua việc thành lập các doanh nghiệp tư nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Số doanh nghiệp được thành lập trong ba năm 2002- nay tăng 102,222% so với tổng số doanh nghiệp được thành lập trong 11 năm gần đây (từ 1992- 2002 có 674 doanh nghiệp, năm 2002- nay
có 689 doanh nghiệp), với tổng số vốn đăng ký tăng 180% so với tổng số vốn được đăng ký trong một thập kỷ qua, các thay đổi bổ sung đều tăng hơn so với trước rất nhiều Việc cải cách thủ tục hành chính đã từng bước tạo lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư kinh doanh và hoạt động, các doanh nghiệp được thành lập ngày càng nhiều, vốn đầu tư ngày càng lớn, cơ cấu ngành nghề càng đa dạng, đã làm mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường cao hơn trước Với việc quy định ngày càng mở rộng
về ngành nghề kinh doanh, với tinh thần doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm, đã tạo ra một không khí sôi động trong trong việc đăng
ký ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Tuy còn nhiều biểu hiện tiêu cực của một số doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, song nhiều doanh nghiệp đã chủ động phát huy nội lực, mở rộng sản xuất, đi sâu khai thác nhiều ngành nghề kinh doanh, dịch vụ mới mang lại những hiệu quả kinh tế
xã hội đáng khích lệ Các doanh nghiệp được thành lập ngày càng nhiều đã
Trang 37góp phần không nhỏ vào giải quyết việc làm, tạo thêm thu nhập, đóng góp vào ngân sách cho một lƣợng lớn lao động xã hội của Bắc Ninh và các vùng lân cận
Bảng3: Số lượng Doanh nghiệp đăng ký (đến 31/12/2004)
(*) đơn vị tính: triệu đồng
Stt Loại doanh nghiệp Số lượng Vốn đăng ký(*)
ký thành lập thêm Các công ty TNHH ở Bắc Ninh không những tăng về số lƣợng mà còn tăng mạnh về chất lƣợng về số vốn đầu tƣ, chất lƣợng sản phẩm, sức thu hút lao động
Bảng 4: Số lƣợng các công ty TNHH đăng ký kinh doanh ở Bắc Ninh
Đơn vị: Doanh nghiệp
Quận huyện đến 2000 2001 2002 2003 2004 Tổng
Gia Bình 13 2 3 5 4 27
Trang 38Thành 07 3 5 4 6 25 Tiên Du 19 11 9 11 15 65
Yên Phong 23 24 21 27 26 121
Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư Bắc Ninh
Bảng 4 cho thấy các công ty TNHH đăng ký kinh doanh tập trung chủ yếu
ở Thị xã và các huyện ven quốc lộ 1 trục Hà Nội- Lạng Sơn, điều này cũng dễ hiểu vì là khu vực có mật độ dân số cao, thu nhập của người dân cao, cầu về hàng hoá của các doanh nghiệp là rất lớn Vấn đề đặt ra cho thời gian sắp tới là: Bắc Ninh cần có nhiều chính sách khuyến khích phát triển với một tỷ lệ tương ứng và phù hợp với tỷ lệ cân đối trong tất cả các lĩnh vực, phù hợp với lợi thế
ưu điểm của CTTNHH
Công ty cổ phần
Năm 2000, Bắc Ninh có 08 CTCP, đến năm 2002 có 30 công ty và năm
2003 có 47 công ty được cấp phép đi vào hoạt động, sang năm 2004 có thêm
31 công ty được phép đi vào hoạt động Hiện nay toàn tỉnh có 130 doanh nghiệp cổ phần không còn vốn của nhà nước Phần lớn các công ty được đăng ký trong các năm này là kết quả quá trình sắp xếp lại DNNN, cổ phần hoá DNNN, chuyển đổi sang hình thức CTCP Nhìn chung công ty cổ phần ở Bắc Ninh không được các dân doanh “ưa chuộng”, số công ty cổ phần mà các dân doanh tự bỏ vốn đầu tư là rất ít không đáng kể Về điều này có thể giải thích do nền kinh tế Việt Nam còn yếu, chưa có được các tập đoàn kinh doanh hùng mạnh, hệ thống chính sách còn nhiều vướng mắc và cồng kềnh
Trang 39(Nhà nước chưa tạo đủ điều kiện cho dân doanh xây dựng được những tập đoàn kinh tế cơ sở và phát triển), sự hiểu biết về thị trường chứng khoán của người dân còn kém nên mức độ mua cổ phần là rất ít, mức độ thu hút vốn phía nhân dân không đáng kể Do đó hình thức kinh doanh này còn kém phát triển trên toàn đất nước chứ không phải riêng Bắc Ninh
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Số DNTN đăng ký kinh doanh ở Bắc Ninh chỉ bằng gần 4% so với cả nước Trong toàn tỉnh DNTN là loại hình có sự gia tăng mạnh mẽ nhất, nếu năm 1999
cả nước mới có 196 cơ sở thì sau 2 năm, năm 2001 tăng lên 244 cơ sở, tăng gần 24,4% Sở dĩ DNTN của Bắc Ninh không mạnh một phần là do tập quán của thương nhân, song cơ bản là do sự ràng buộc trách nhiệm tài sản (DNTN chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản) cũng như các chế độ ưu đãi của các loại hình này chưa thật hấp dẫn
Tới năm 2005 Bắc Ninh có thêm 174 DNTN mới thành lập, tổng đến năm 2004 Bắc Ninh có 418 DNTN, dẫn đầu là huyện Từ Sơn (67 doanh nghiệp), tiếp theo là thị xã Bắc Ninh (62 doanh nghiệp), thấp nhất là Quế Võ
và Gia Bình (37 DN) Điều này cho ta thấy DNTN không chịu ảnh hưởng nhiều về yếu tố trung tâm như CTTNHH Nguyên nhân do DNTN thường là vốn ít quy mô nhỏ hơn so với CTTNHH do đó nó dễ thành lập và hoạt động
ở tất cả các địa bàn miễn là có lượng dân cư tập trung với mật độ dân số cho phép
Công ty TNHH một thành viên
Kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (1/1/2000) đến nay chưa có công
ty TNHH một thành viên nào được thành lập ở Bắc Ninh Do CTTNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp và do một tổ chức thành lập, do đó vấn
đề sở hữu, thành lập và đi vào hoạt động là một vấn đề đối với các dân doanh Bắc Ninh
Điều đặt ra đối với hệ thống cơ chế, chính sách của Bắc Ninh trong thời gian tới đối với KVKTTN là phải không ngừng đơn giản hoá các thủ tục pháp
Trang 40lý đối với các DNKVTN, nhằm phát triển đồng đều mọi hình thức doanh nghiệp của khu vực kinh tế này, định hướng cho các nhà đầu tư lựa chọn các hình thức DNKVTN và lĩnh vực sản xuất kinh doanh phù hợp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
2.2.2 Cơ cấu và phân bố doanh nghiệp tư nhân Bắc Ninh
Ở Bắc Ninh nhiều DN sau khi đăng ký kinh doanh thực tế không đi vào hoạt động Năm 1993, số DNTN thực tế đi vào hoạt động so với cấp giấy phép đạt 74%, năm 1994 đạt 88%, năm 1996 đạt 55,4%, năm 1997 đạt 50% Đến hết năm 1999 có 324 DNTN còn hoạt động, chỉ bằng 1/3 trên tổng số các DN đã đăng ký (34,838%) Đối với công ty cổ phần, năm 1993 so với con số đăng ký
có 92% cơ sở đi vào hoạt động, năm 1994 giảm xuống còn 54%, năm 1996 là 33% và năm 1997 chỉ đạt 30% Tỷ lệ CTTNHH thực tế đi vào hoạt động cũng ở mức độ khiêm tốn: Năm 1993 là 61,2%, năm 1994 là 45,5%, năm 1996 đạt cao hơn 73,6% nhưng năm 1997 lại đạt thấp, chỉ có 55,7%
Lý do của việc các DNTN ở Bắc Ninh hoạt động so với đăng ký giảm dần qua các năm trên một phần là do tác động của hệ thống cơ chế, chính sách không thống nhất và chưa triệt để như ưu đãi thuế quan chưa hấp dẫn, giá cả các yếu tố đầu vào, nạn buôn lậu, hàng giả Các chủ doanh nghiệp tính toán kinh doanh không mang lại lợi nhuận hoặc lợi nhuận thấp, hơn nữa khoảng thời gian trước 1996 còn do ảnh hưởng tiền tệ của khu vực để lại nên không đưa doanh nghiệp vào hoạt động
Trong số các DNKVTN tính đến hết năm 2004, nếu không kể các hộ kinh doanh cá thể, chiếm ưu thế lớn nhất về số lượng vẫn là CTTNHH với 815 công
ty, chiếm hơn 1/2 trong tổng số các DNTN hay 59,7% DNTN hiện có 418 cơ
sở, chiếm 30,6 % Có 130 công ty cổ phần, chiếm chưa đầy 9,7 % (số lượng công ty cổ phần không nhiều, nhưng quy mô vốn, số lao động thu hút lớn và có kết quả kinh doanh tốt hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác)
Bản 5: Số lượng DNKVTN hoạt động ở Bắc Ninh (đến 31/12/2004)
Đơn vị : Doanh nghiệp
LƯỢNG
Cơ cấu(%)