Các cơ quan phối hợp thu dựa vào các thông tin chia sẻ về thu NSNN của nhau theo phân công chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan để sử dụng cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐINH NGỌC LINH
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHỐI HỢP THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐINH NGỌC LINH
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHỐI HỢP THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có trích dẫn rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đinh Ngọc Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà nội, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Phan Trung Chính, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn bộ phận sau đại học, phòng đào tạo Đại học Kinh tế, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viện khích lệ, chia
sẻ, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tác giả luận văn
Đinh Ngọc Linh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các từ viết tắt tiếng Anh i
Danh mục các từ viết tắt tiếng Việt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHỐI HỢP THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6
1.1.2 Khoảng trống đề tài cần nghiên cứu 8
1.2 Cơ sở lý luận chung về cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước 8
1.2.1 Các khái niệm 8
1.2.2 Sự cần thiết phải phối hợp thu ngân sách nhà nước 21
1.2.3 Nội dung phối hợp thu ngân sách nhà nước 22
1.2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện phối hợp thu ngân sách nhà nước 26
1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp thu ngân sách nhà nước 27
1.3 Kinh nghiệm phối hợp thu ngân sách nhà nước của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm 31
1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 31
1.3.2 Kinh nghiệm của Indonesia 32
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 34
Trang 6CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Quy trình nghiên cứu 36
2.2 Cách thức thực hiện 37
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 38
2.3.1 Phương pháp tổng quan tài liệu 38
2.3.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu 38
2.3.3 Phương pháp thống kê, so sánh 39
2.3.4 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm 40
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHỐI HỢP THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VỚI CƠ QUAN THUẾ, CƠ QUAN HẢI QUAN VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 41
3.1 Thực trạng cơ chế chính sách phối hợp thu ngân sách nhà nước 41
3.1.1 Kết quả thực hiện thu ngân sách nhà nước gắn với cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước 41
3.1.2 Phân cấp tổ chức phối hợp thu ngân sách nhà nước giữa Kho bạc Nhà nước với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và Ngân hàng thương mại 44
3.2 Thực trạng tổ chức thực hiện phối hợp thu ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước với cơ quan Thuế, Hải quan và Ngân hàng thương mại từ năm 2012 đến nay 50
3.2.1 Cơ chế phối hợp thu thuế điện tử 51
3.2.2 Cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước trực tiếp và gián tiếp tại ngân hàng chưa ủy nhiệm thu (ngân hàng chưa phối hợp thu) 54
3.2.3 Cơ chế phối hợp đối chiếu cuối ngày 61
3.3 Thực trạng kiểm tra giám sát cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước 62
3.4 Đánh giá chung về phối hợp thu ngân sách nhà nước 64
3.4.1 Kết quả đạt được 64
Trang 73.4.2 Hạn chế và những vấn đề đang vướng mắc 77
3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 81
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHỐI HỢP THU NGÂN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VỚI CƠ QUAN THUẾ, CƠ QUAN HẢI QUAN VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 87
4.1 Định hướng chiến lược phối hợp thu ngân sách nhà nước 87
4.1.1 Mục tiêu 87
4.1.2 Phương hướng 87
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước 89
4.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện về cơ chế, chính sách 89
4.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện về quy trình nghiệp vụ 92
4.2.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện về ứng dụng công nghệ thông tin và dịch vụ thanh toán 94
4.2.4 Nhóm giải pháp hoàn thiện về tổ chức điều hành phối hợp thu 96
4.2.4.4 Tăng cường trách nhiệm của các bên có liên quan đến công tác phối hợp thu ngân sách nhà nước 98
4.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp 99
4.3.1 Đẩy mạnh cải cách hành chính 99
4.3.2 Sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, các bộ, ngành liên quan và của các cấp chính quyền địa phương 100
4.4 Một số kiến nghị 101
4.4.1 Kiến nghị với Chính phủ 101
4.4.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 101
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
STT Ký hiệu Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
1 Agribank
Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development
Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn
2 BIDV
Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development
Ngân hàng thương mại
cổ phần Đầu tư và Phát triển
Joint Stock Bank
Ngân hàng thương mại
Hệ thống quản lý thông tin Ngân sách và Kho bạc
7 TSA Treasury Single Account Tài khoản tập trung
8 Vietcombank Joint Stock Commercial
Bank for Foreign Trade
Ngân hàng thương mại
cổ phần Ngoại thương
9 Vietinbank
Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade
Ngân hàng thương mại
cổ phần Công thương
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
9 TCS Hệ thống thu ngân sách nhà nước theo dự án Hiện
đại hóa thu, nộp ngân sách nhà nước
12 TMCP Thương mại cổ phần
13 TTĐTLNH Thanh toán điện tử Liên ngân hàng
14 TTSPĐT Thanh toán Song phương điện tử
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 Kết quả thu ngân sách nhà nước 42
2 Bảng 3.2 Bảng tỷ lệ số tiền thu NSNN tại KBNN và
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 3.1 Phân cấp tổ chức thu NSNN của cơ quan Thuế 45
2 Hình 3.2 Phân cấp tổ chức thu NSNN của cơ quan Hải
3 Hình 3.3 Phân cấp tổ chức thu NSNN của KBNN 48
4 Hình 3.4 Phân cấp tổ chức thu NSNN của NHTM 50
5 Hình 3.5 Mô hình tổng thể phối hợp thu ngân sách nhà
6 Hình 3.6 Cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước 51
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác cải cách hành chính về thu NSNN trong thời gian qua đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN, tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước và giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế, góp phần tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, tạo ra nguồn thu chủ yếu và ngày càng ổn định cho NSNN
Phối hợp thu NSNN của KBNN với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM gắn liền với hiện đại hóa công tác thu nộp NSNN là một trong các nội dung để thực hiện cải cách hành chính về thu NSNN Việc phối hợp thu không phải được thực hiện giữa các đơn vị chức năng của KBNN hay Tổng cục Thuế hay Tổng cục Hải quan, mà là được thực hiện thông qua chia sẻ, trao đổi thông tin thu NSNN, truyền nhận chứng từ thu NSNN bằng điện tử giữa các cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM Các cơ quan phối hợp thu dựa vào các thông tin chia sẻ về thu NSNN của nhau theo phân công chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan để sử dụng cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng có cùng có chung một nhiệm vu là thu NSNN, trong đó KBNN có trách nhiệm điều tiết, tập trung khoản thu vào ngân quỹ nhà nước; cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan có trách nhiệm quản lý các đối tượng nộp NSNN; NHTM có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ thanh toán, đã tạo nên những hiệu quả quản lý thu NSNN trong việc tập trung nhanh, kịp thời, đầy đủ các khoản thu vào NSNN, đồng thời đã tạo nên những hiệu ứng trong việc phát triển các dịch vụ thanh toán không sử dụng tiền mặt, tạo thuận lợi cho đối tượng nộp NSNN có nhiều lựa chọn kênh thanh toán,
Trang 13nhiều lựa chọn ngân hàng phục vụ, lựa chọn điểm nộp thu NSNN với chi phí thấp nhất
Tuy nhiên, cũng chính sự khác nhau về chức năng, nhiệm vụ của từng
cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan trong việc thu NSNN, mà trong thời gian qua, dữ liệu về thu NSNN tại KBNN và tại cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan vẫn còn có sự khác biệt mặc dù đã có sự trao đổi, chia sẻ thông tin thu NSNN với nhau, gây khó khăn cho công tác điều hành NSNN; việc phối hợp thu giữa các cơ quan còn chưa chặt chẽ, quy trình phối hợp thu NSNN giữa KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan còn chưa thống nhất phần nào đã làm giảm hiệu quả quản lý NSNN
Việc phối hợp thu NSNN hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc kết nối điện
tử giữa KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM, mà chưa mở rộng phạm vi với các đối tượng khác, trong khi thông tin về thu NSNN có liên quan đến nhiều cơ quan, đơn vị như thông tin về nhà đất, thông tin về thu phạt, …, do cơ quan Tài nguyên môi trường, công an quản lý, … Để thực hiện Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015, thì việc mở rộng kết nối điện tử, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan liên quan với nhau trên cơ sở phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin là cần thiết
Phạm vi thu NSNN trải rộng trên địa bàn cả nước từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu vùng xa, miền núi, hải đảo; bao gồm nhiều đối tượng là doanh nghiệp và cả đối tượng là các cá nhân, trong khi đó các dịch vụ thu NSNN bằng điện tử hiện nay chưa đa dạng, chưa được mở rộng để đáp ứng được việc lựa chọn của các đối tượng, các vùng miền khác nhau, nên nhu cầu về nộp thu NSNN bằng tiền mặt vẫn còn được sử dụng mạnh mẽ
Chính phủ Việt Nam đã và đang nỗ lực đẩy mạnh quá trình thanh toán không dùng tiền mặt trong các ngân hàng, cơ quan, tổ chức và người dân Ngày 30/12/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 2545/QĐ-
Trang 14TTg phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 Trong chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020, cũng
đã xác định thực hiện quản lý công tác thanh toán, thu NSNN của KBNN trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, đến năm 2020, về cơ bản không thực hiện giao dịch bằng tiền mặt Để thực hiện được mục tiêu đó, thì cần thiết phải có sự phối hợp của KBNN với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM trong việc phát triển, đa dạng hơn nữa các dịch vụ thu NSNN bằng điện tử
Xuất phát từ các lý do trên đây, đặt ra yêu cầu về sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức thu NSNN Qui trình phối hợp thu NSNN giữa KBNN, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và các ngân hàng thương mại với các mục đích:
(1) Tạo thuận lợi cho người nộp thuế, phí, lệ phí, nộp phạt hành chính
và các khoản phải nộp khác của NSNN (sau đây gọi chung là người nộp NSNN) có nhiều lựa chọn các dịch vụ điện tử về nộp NSNN; có nhiều lựa chọn địa bàn nộp NSNN, cũng như lựa chọn NHTM phục vụ nộp NSNN với
chi phí thấp nhất
(2) Thống nhất dữ liệu thu NSNN của KBNN với cơ quan Thuế, Hải quan và NHTM Đồng thời giảm thời gian và khối lượng nhập liệu tại các cơ
quan đơn vị có liên quan
(3) Phát triển các dịch vụ thu nộp NSNN hiện đại và từng bước thực hiện chủ trương của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực công
Trước những yêu cầu của thực tiễn phối hợp thu NSNN, cũng như mục tiêu chiến lược về thu NSNN của Ngành Tài chính, là người trực tiếp tham gia xây dựng và triển khai cơ chế phối hợp thu, đồng thời sau khi được tiếp thu kiến thức của chương trình đào tạo thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế
Trang 15của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả đã lựa chọn
đề tài: “Hoàn thiện cơ chế phối hợp thu Ngân sách Nhà nước của Kho bạc
Nhà nước Việt Nam” để nghiên cứu
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Những giải pháp nào để tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp thu NSNN trong giai đoạn tới, phù hợp với yêu cầu hội nhập tài chính sâu rộng và
phát triển không ngừng của công nghệ thông tin?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận chung về cơ chế phối hợp thu NSNN của KBNN với cơ quan Thuế, Hải quan và NHM Nghiên cứu thực trạng, phát hiện những điểm bất cập trong chính sách phối hợp thu NSNN Từ đó rút ra nguyên nhân của những bất cập và đề xuất các giải pháp chủ yếu và kiến nghị với các cơ quan liên quan nhằm hoàn thiện công tác phối hợp thu NSNN
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về thu NSNN và sự cần thiết phải tổ chức hoạt động thu có hiệu quả bằng cơ chế phối hợp của KBNN với các cơ quan Thuế, Hải quan và ngân hàng thương mại
- Phân tích thực trạng thực hiện cơ chế phối hợp thu NSNN của KBNN với
cơ quan Thuế, Hải quan và ngân hàng thương mại từ năm 2012 - 2017
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế phối hợp thu NSNN của KBNN với cơ quan Thuế, Hải quan, ngân hàng thương mại trong giai đoạn tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ chế phối hợp thu NSNN của KBNN với cơ quan, tổ chức liên quan đến việc tổ chức thu, nộp NSNN là cơ quan Thuế, Hải quan và ngân hàng thương mại
Trang 164.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung thu NSNN có nhiều nội dung, luận văn giới hạn vào nội dung thu chính là Thuế, phí, lệ phí và các khoản thu NSNN khác của Ngành Thuế và Ngành Hải quan
- Các cơ quan, tổ chức phối hợp chính với KBNN là cơ quan Thuế, Hải quan và ngân hàng thương mại
- Thời gian khảo sát thực trạng từ năm 2012 - 2017, đề xuất giải pháp đến năm 2020, và các năm tiếp theo
5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu nhằm đề xuất hoàn thiện cơ chế phối hợp thu NSNN của các cơ quan, tổ chức thu NSNN trong tổ chức thực hiện, đồng thời cũng phát hiện những điểm chưa hợp lý trong các qui định của cơ quan quản
lý nhà nước để kiến nghị điều chỉnh Do đó, đề tài sẽ rất hữu ích và ý nghĩa cả
về lý luận và thực tiễn
- Là tài liệu tham khảo cho những nhà quản lý, người nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực này
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và ngân hàng thương mại
- Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và ngân hàng thương mại
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ CƠ CHẾ PHỐI HỢP THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay ở Việt Nam mới chỉ có rất ít đề tài nghiên cứu liên quan trực tiếp đến cơ chế phối hợp thu NSNN Nhìn chung, các nghiên cứu đều xem xét việc phối hợp thu NSNN dưới các quan hệ tổ chức thu NSNN của KBNN, các cơ quan thu và NHTM với nhau Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Hoàn thiện mô hình phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu giữa ngành
Thuế - Kho bạc Nhà nước - Hải quan - Tài chính của Bộ Tài chính - Luận văn
Thạc sĩ kinh tế của Phạm Thượng Tình - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2012 Luận văn đã đề cập đến việc phối hợp thu thuế, nêu được mô hình
tổ chức phối hợp thu thuế, tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức mô hình, mà chưa đề cập đến nội dung chi tiết của quy trình phối hợp thu, vấn đề phối hợp thu với NHTM còn chưa giải quyết được
- Giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp trong quản lý thu NSNN giữa
KBNN với cơ quan Thuế trên địa bàn huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc - nghiên
cứu khoa học của KBNN Vĩnh Phúc năm 2014 Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng thu NSNN qua KBNN, vấn đề phối hợp với cơ quan Thuế để hiệu quả thu NSNN được tốt hơn Tuy nhiên, đề tài cũng mới chỉ khảo sát trên địa bàn huyện Bình Xuyên - Vĩnh phúc, chưa nghiên cứu về phối hợp thu NSNN với cơ quan Hải quan, NHTM, chưa có phân tích, đánh giá một cách tổng thể trên bình diện cả nước, chưa có sự so sánh cần thiết giữa các địa phương, khu vực để rút ra những đặc điểm chung làm cơ sở đề xuất các giải pháp toàn diện
Trang 18- Phối hợp thực hiện thu thuế nội địa giữa cơ quan Thuế - KBNN -
Ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Lê Thị
Loan - Trường Đại học Kinh tế (Đại học quốc gia Hà Nội), năm 2014 Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về phối hợp thu và nêu thực trạng mô hình phối hợp thu giữa cơ quan Thuế, KBNN, NHTM Tuy nhiên, phối hợp thu thuế nội địa mới chỉ là một nội dung của phối hợp thu NSNN, trong khi phối hợp thu NSNN bao gồm cả thu thuế xuất nhập khẩu, các khoản thu khác, do vậy, việc phối hợp thu NSNN với cơ quan Hải quan vẫn còn bỏ trống, ngoài ra, trong giải pháp của luận văn nêu cũng chưa gắn liền với chiến lược phát triển chung của Chính phủ điện tử, chiến lược phát triển của KBNN trong những năm tới
Một số bài báo nghiên cứu về cơ chế phối hợp thu NSNN, tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết trên báo thì chưa thể phân tích sâu về thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp thiết thực cho vấn đề nghiên cứu; một số đề tài khác chủ yếu nghiên cứu thu NSNN của từng cơ quan, tổ chức như: Ngành Thuế, Hải quan, KBNN, chưa có đánh giá, cũng như nêu giải pháp trong việc phối hợp thu NSNN giữa các ngành với nhau
Ngoài những công trình nghiên cứu, bài viết tiêu biểu nêu trên, tác giả
đã nghiên cứu thêm giáo trình quản lý tài chính công, các luận văn thạc sỹ, công trình nghiên cứu khoa học, dự án Hiện đại hóa thu NSNN của Bộ Tài chính nhằm tìm hiểu, nghiên cứu thêm lý luận quản lý thu NSNN, quy trình thu nộp NSNN qua KBNN, trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến việc tổ chức thu NSNN
Tóm lại, phần lớn các công trình nghiên cứu và bài viết trên đều tập trung làm rõ quản lý thu NSNN qua KBNN, quy trình thu NSNN giữa KBNN
và cơ quan Thuế, hoặc phối hợp thu thuế giữa cơ quan Hải quan và KBNN
Từ sau Thông tư số 328/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu NSNN qua KBNN đến nay chưa có
Trang 19công trình nào nghiên cứu tổng hợp, toàn diện nào về cơ chế phối hợp thu NSNN giữa KBNN - cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan - NHTM.Vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài trên với hy vọng có cái nhìn xác thực, hệ thống trên bình diện cả nước về phối hợp thu NSNN giữa KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM nhằm đưa ra giải pháp quản lý hiệu quả hơn trong công tác quản lý thu NSNN
1.1.2 Khoảng trống đề tài cần nghiên cứu
Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trước đây, cả các đề tài có liên quan trực tiếp và liên quan khác đều được thực hiện rất công phu, đã có đóng góp trong việc đề xuất các giải pháp để hoàn thiện cơ chế phối hợp thu NSNN Nhưng vẫn còn có khoảng trống nghiên cứu nhất định như:
- Chưa phân tích một cách toàn diện về cơ chế phối hợp thu giữa các cơ quan, tổ chức thu NSNN, đảm bảo sự thống nhất về quản lý phục vụ thiết thực cho cải cách thủ tục hành chính trong việc thu, nộp NSNN
- Vấn đề phối hợp thu NSNN trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ
1.2 Cơ sở lý luận chung về cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước
1.2.1 Các khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm thu ngân sách nhà nước
- Khái niệm thu ngân sách nhà nước:
Thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một
bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị huy động các nguồn tài chính trong xã hội để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình
Trang 20- Đặc điểm thu ngân sách nhà nước:
+ Thứ nhất, trong bất cứ xã hội nào, cơ cấu các khoản thu NSNN đều
gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị của Nhà nước Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước là điều kiện xuất hiện các khoản thu NSNN Ngược lại, các khoản thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
+ Thứ hai, mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các
chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước
+ Thứ ba, thu NSNN luôn luôn gắn chặt với các quá trình kinh tế và
các phạm trù giá trị Kết quả của quá trình hoạt động kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị là tiền đề quan trọng xuất hiện hệ thống thu NSNN Nhưng chính hệ thống thu NSNN lại là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng to lớn đến kết quả của quá trình kinh tế cũng như sự vận động của các phạm trù giá trị
+ Thứ tư, thu NSNN trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động
kinh tế trong xã hội, căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề đồng thời là yếu
tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN
+ Thứ năm, thu NSNN được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không
trực tiếp là chủ yếu; thu NSNN theo hai phương thức tự nguyện và bắt buộc
1.2.1.2 Vai trò của thu ngân sách nhà nước
Thu NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước và nền kinh tế - xã hội, cụ thể là:
- Thứ nhất, vai trò của thu NSNN là công cụ tập trung nguồn lực tài
chính để đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước: Để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy nhà nước cần phải có nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu Các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước,
Trang 21các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước được đáp ứng chủ yếu bởi các nguồn thu NSNN Vai trò này được thể hiện ở việc khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính để đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển Các nguồn lực tài chính này có thể được tập trung ở cả trong và ngoài nước, từ mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, có bắt buộc và tự nguyện
- Thứ hai, thông qua thu NSNN, Nhà nước thực hiện việc quản lý và
điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nền kinh tế - xã hội hoạt động ngày càng hiệu quả hơn: Gắn liền với vai trò lãnh đạo của Nhà nước, thu NSNN chi phối hoạt động của nền kinh tế Thu ngân sách là một công cụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước Hoạt động thu cùng với chi như tấm gương phản ánh các định hướng phát triển đó Thông qua chính sách thu của mình thể hiện sự ưu đãi với các ngành nghề cần bảo hộ hay khuyến khích phát triển, hoặc tỏ thái độ đối với những ngành nghề gây thiệt hại lợi ích chung của toàn xã hội, …
- Thứ ba, thu NSNN đóng vai trò tạo nguồn đảm bảo giải quyết các vấn
đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội Trong đó, thực hiện công bằng xã hội thể hiện ở chức năng phân phối lại thu nhập, điều tiết chênh lệch thu nhập của các tầng lớp dân cư bằng cách đánh thuế thu nhập cao, giảm thuế tiêu thụ với hàng hóa thiết yếu, trợ cấp, hoặc đánh thuế cao đối với các hàng hóa xa xỉ, hàng hóa không khuyến khích tiêu dùng …
1.2.1.3 Nội dung thu ngân sách nhà nước
Thu NSNN bao gồm:
- Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí
- Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ,
Trang 22các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp NSNN theo quy định của pháp luật;
- Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức,
cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
1.2.1.4 Cơ quan tổ chức thu ngân sách nhà nước
- Chủ thể thu NSNN là KBNN với hệ thống từ Trung ương đến địa phương
- Cơ quan phối hợp gồm: cơ quan thuế, cơ quan hải quan và các cơ quan khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao hoặc ủy quyền tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu NSNN (sau đây gọi chung là cơ quan thu) có quyền hạn và nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan nhà nước liên quan tổ chức thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật, chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Bộ Tài chính, cơ quan quản lý cấp trên, Ủy ban nhân dân và sự giám sát của Hội đồng nhân dân về công tác thu ngân sách tại địa phương, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của pháp luật có liên quan; tổ chức quản lý và thực hiện thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp trực tiếp vào KBNN, trường hợp được phép thu qua ủy nhiệm thu thì phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào KBNN theo quy định của Bộ Tài chính; cơ quan thu có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thực hiện nghĩa vụ nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thu phải nộp vào NSNN; kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu của ngân sách; kiểm tra, thanh tra việc chấp hành kê khai, thu, nộp ngân sách và xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật Chỉ cơ quan thu NSNN được tổ chức thu ngân sách
- KBNN được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và NHTM để tập trung các khoản thu của NSNN; hạch toán đầy đủ, kịp thời các
Trang 23khoản thu ngân sách, điều tiết các khoản thu cho ngân sách các cấp theo đúng quy định Việc tổ chức phối hợp thu NSNN giữa KBNN, cơ quan Thuế, Hải quan và các NHTM được thực hiện thông qua tài khoản của KBNN tại các chi nhánh NHTM
1.2.1.5 Các hình thức thu ngân sách nhà nước
- Thu bằng chuyển khoản:
+ Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp NSNN tại KBNN: KBNN thực hiện trích tài khoản của người nộp NSNN mở tại KBNN
để ghi thu NSNN
+ Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp NSNN tại ngân hàng: ngân hàng thực hiện trích tài khoản của người nộp NSNN chuyển vào tài khoản của KBNN để ghi thu NSNN
+ Thu bằng phương thức điện tử: Qua dịch vụ nộp thuế điện tử trên cổng thông tin điện tử của Tổng cục thuế hoặc cổng thanh toán điện tử của Tổng cục Hải quan; Qua dịch vụ thanh toán của NHTM như ATM, Internetbanking, Mobile banking, POS hoặc các hình thức thanh toán điện
Trang 24thủ tục hải quan, nhưng tại địa điểm đó KBNN hoặc NHTM nơi KBNN mở tài khoản không tổ chức điểm thu; hoặc cơ quan Thuế ủy nhiệm thu tiền mặt đối với số thuế phải nộp của các hộ khoán Cơ quan thu hoặc tổ chức được cơ quan thu ủy nhiệm thu có trách nhiệm thu tiền từ người nộp NSNN, sau đó nộp toàn bộ số tiền đã thu được vào KBNN hoặc NHTM nơi KBNN mở tài khoản theo đúng thời hạn quy định
+ Thu qua các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thu phạt trực tiếp hoặc được ủy nhiệm thu phạt theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn Luật
+ Ủy ban nhân dân cấp xã được phép thu các khoản thuộc nhiệm vụ thu của ngân sách xã; sau đó làm thủ tục nộp tiền vào KBNN cấp huyện hoặc nộp vào quỹ của ngân sách xã để chi theo chế độ quy định (trường hợp các xã ở vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện giao dịch thường xuyên với KBNN)
1.2.1.6 Khái niệm cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội thì cơ chế là “cách thức, theo đó một quá trình được thực hiện” Như vậy, theo định nghĩa trên thì cơ chế là muốn đạt kết quả của một quá trình, một công việc nào đó, người ta lập ra một hình thức tổ chức phù hợp, định ra phương thức thực hiện quá trình, công việc đó
Theo nghĩa đơn giản, “phối hợp” có nghĩa là tổ chức hoạt động cho hai hoặc nhiều cơ quan, tổ chức Xét từ khía cạnh quản lý nhà nước, phối hợp là một phương thức, một hình thức, một quy trình kết hợp hoạt động của các cơ quan, tổ chức lại với nhau để bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức này thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, nhằm đạt được các lợi ích chung Phối hợp tồn tại trong suốt quá trình quản lý, từ hoạch định chính sách, xây dựng thể chế, đến việc tổ chức thực thi cơ chế, chính sách, pháp luật, ở đâu có quản lý thì ở đó có nhu cầu phối hợp Mục tiêu
Trang 25cuối cùng của phối hợp là tạo ra sự thống nhất, đồng thuận, bảo đảm chất lượng
và hiệu quả trong quản lý Nói khác đi, phối hợp là phương thức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong quản lý nhà nước
Đối với phối hợp thu NSNN, các cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và các NHTM đều hướng tới mục tiêu chung là góp phần cho công tác thu NSNN được hiệu quả, và để thực hiện được mục tiêu đó thì cần phải có một cơ chế phối hợp đồng bộ, cụ thể giữa các cơ quan KBNN, cơ quan thuế, cơ quan hải quan và NHTM trong hoạt động tổ chức thu NSNN
Cơ chế phối hợp thu NSNN được hiểu là hệ thống các quy trình kết hợp hoạt động giữa các cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và các NHTM với nhau trong việc tổ chức thực hiện thu NSNN, tại những địa bàn đã triển khai dự án Hiện đại hóa thu NSNN và được thực hiện theo nguyên tắc: kết nối và trao đổi thông tin, dữ liệu điện tử giữa các cơ quan, đơn vị về số phải thu, số đã thu NSNN của người nộp NSNN nhằm thực hiện có hiệu quả công tác thu NSNN
1.2.1.7 Hoàn thiện cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước
Hoàn thiện cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước của KBNN với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM là quá trình xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, dựa trên các lợi thế sẵn có và thực hiện chuyên môn hóa, minh bạch hóa của các cơ quan có quan hệ phối hợp, nhằm đạt được mục tiêu chung là tập trung nhanh, kịp thời, đầy đủ các khoản thu NSNN, phục vụ công tác quản lý, điều hành NSNN được chính xác; đồng thời cải cách thủ tục hành chính trong việc thu nộp NSNN, tạo hiệu ứng tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội
Để hoàn thiện cơ chế phối hợp thu NSNN của KBNN với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM, thì cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, tìm ra nguyên nhân, để khắc phục những hạn chế của công tác phối hợp thu NSNN hiện nay
Trang 261.2.1.8 Mục đích, phạm vi cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước
- Mục đích cơ chế phối hợp thu NSNN:
+ Tạo thuận lợi cho người nộp thuế, phí, lệ phí vào NSNN (sau đây gọi chung là người nộp NSNN) và hỗ trợ trong việc tăng cường thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
+ Thống nhất dữ liệu thu NSNN giữa cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan, KBNN và các NHTM; đồng thời, giảm thời gian và khối lượng nhập liệu tại các cơ quan, đơn vị có liên quan
+ Phát triển các dịch vụ thu, nộp NSNN hiện đại và từng bước thực hiện chủ trương của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực công
- Phạm vi cơ chế phối hợp thu NSNN: là các khoản thu NSNN từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN do Ngành Thuế và Ngành Hải quan thực hiện
1.2.1.9 Trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong phối hợp thu ngân sách nhà nước
Việc tổ chức phối hợp thu NSNN được thực hiện giữa các cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, Hải quan và NHTM
- Chủ thể thu NSNN: là KBNN chịu trách nhiệm chính và cuối cùng trong việc thu
- Cơ quan phối hợp gồm: Thuế, Hải quan: Là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thu NSNN và trực tiếp thu thuế nội địa, thuế xuất nhập khẩu và có vai trò, trách nhiệm trong một số nội dung thu NSNN như sau:
+ Một là, xây dựng chính sách, chế độ về quản lý thuế; xây dựng chiến
lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động, đề
án, dự án quan trọng về quản lý thuế; dự toán thu thuế hàng năm theo quy định của Luật NSNN
Trang 27+ Hai là, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế:
đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xóa nợ thuế, tiền phạt, lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo quy định của pháp luật thuế
+ Ba là, phối hợp với KBNN và NHTM truyền và nhận dữ liệu danh
mục dùng chung (nơi tập trung các danh mục dùng chung được quy định tại
“Quy định hệ thống danh mục điện tử dùng chung ngành tài chính” ban hành theo Quyết định số 35/QĐ-BTC ngày 06/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
và Thông tư 324/2016/TT-BTC của ngày 21/12/2016 Bộ Tài chính quy định
về Hệ thống Mục lục NSNN); xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung và thường xuyên cập nhật, cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin về danh mục dùng chung, mã số thuế, tên người nộp NSNN, mục lục NSNN của các khoản nộp NSNN, kỳ thuế, số thuế phải nộp của từng người nộp NSNN, danh sách
tờ khai hải quan và các thông tin dữ liệu trên tờ khai hải quan tại Cổng thông tin điện tử của mình để kết nối, trao đổi thông tin với KBNN và NHTM phục
vụ thu NSNN
+ Bốn là, tổ chức nhận chứng từ thu NSNN từ KBNN và đối chiếu số
đã thu NSNN với KBNN
+ Năm là, quản trị cơ sở dữ liệu và ứng dụng trao đổi dữ liệu của đơn
vị Kiểm soát việc truyền, nhận dữ liệu; phát hiện và phối hợp xử lý kịp thời các vướng mắc trong truyền, nhận thông tin
+ Sáu là, phối hợp với KBNN và NHTM trong việc thống nhất phương
thức trao đổi, đối chiếu thông tin, dữ liệu về thu NSNN, các tiêu chí về bảo mật và kỹ thuật tin học liên quan; thực hiện đối chiếu với KBNN, NHTM đảm bảo khớp đúng về dữ liệu thu NSNN; đồng thời, xử lý các vấn đề sai sót liên quan đến khoản thu, nộp NSNN
+ Bẩy là, phối hợp với KBNN và NHTM xây dựng giải pháp và thực
hiện kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu, thông tin tập trung để tổ chức phối hợp thu
Trang 28NSNN, đảm bảo việc kết nối, trao đổi thông tin dữ liệu giữa các cơ quan, đơn
vị được an toàn và đúng quy định của pháp luật
+ Tám là, phối với với các đơn vị liên quan trong việc quản lý, sử dụng
và bảo mật thông tin, dữ liệu về người nộp NSNN phục vụ cho việc phối hợp thu NSNN
+ Chín là, có nghĩa vụ định kỳ tiếp nhận thông tin từ KBNN và NHTM
cung cấp về các tổ chức, cá nhân còn nợ thuế để thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế
+ Mười là, phối hợp với KBNN và NHTM tổ chức tuyên truyền, phổ
biến, hướng dẫn người nộp NSNN thực hiện nộp NSNN theo các hình thức thu của phối hợp thu NSNN
- Cơ quan Kho bạc Nhà nước: là một cơ quan trong hệ thống bộ máy quản lý tổ chức thu NSNN, cụ thể KBNN có vai trò, trách nhiệmtrong việc tổ chức phối hợp thu NSNN như sau:
+ Một là, KBNN thực hiện tập trung đầy đủ, kịp thời các khoản thu
NSNN và phân chia chính xác các khoản thu này cho NSNN các cấp theo đúng tỷ lệ được cấp có thẩm quyền quyết định đối với từng khoản thu KBNN
tổ chức thu trực tiếp bằng tiền mặt từ người nộp NSNN, thu qua cơ quan thu, qua NHTM ủy nhiệm thu và thu bằng chuyển khoản qua hệ thống NHTM chưa
ủy nhiệm thu đảm bảo thu nhanh, đúng, đủ và theo nguyên tắc tất cả các khoản thu đều được tập trung đầy đủ, kịp thời, chính xác vào quỹ NSNN tại KBNN
+ Hai là, thực hiện phân tích, đánh giá, tổng hợp số liệu, lập báo cáo
thu NSNN theo từng địa bàn, từng cấp ngân sách, từng loại nguồn thu chủ yếu gửi các cơ quan liên quan theo chế độ quy định giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý và điều hành NSNN
+ Ba là, chủ trì phối hợp với Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và
NHTM xây dựng thỏa thuận và quy trình chi tiết về việc tổ chức phối hợp thu NSNN giữa KBNN, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và các NHTM
Trang 29+ Bốn là, chủ trì thống nhất với NHTM phương thức kết nối mạng
truyền thông; phương thức trao đổi, đối chiếu thông tin dữ liệu về thu NSNN
+ Năm là, nhận thông tin, dữ liệu điện tử về số đã thu tại các chi nhánh
NHTM để hạch toán đầy đủ, kịp thời vào NSNN; phối hợp với NHTM đối chiếu khớp đúng dữ liệu về thu NSNN, mọi sai sót phải được phối hợp xử lý kịp thời
+ Sáu là, tổ chức quản lý và lưu trữ thông tin, dữ liệu điện tử về số đã
thu NSNN nhận từ NHTM theo quy định tại Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/2/2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính
và hướng dẫn của Bộ Tài chính
+ Bẩy là, truyền/ gửi đầy đủ, kịp thời chứng từ thu NSNN, thông tin
về số đã thu NSNN cho cơ quan Thuế, Hải quan theo đúng quy định; thực hiện đối chiếu dữ liệu về thu NSNN với cơ quan Thuế, Hải quan đảm bảo khớp đúng; xử lý các vấn đề sai sót phát sinh liên quan đến khoản thu, nộp vào NSNN
+ Tám là, tổ chức quản trị cơ sở dữ liệu và ứng dụng trao đổi thông tin
của đơn vị Kiểm soát việc truyền, nhận dữ liệu; phát hiện và phối hợp xử lý kịp thời các lỗi truyền, nhận dữ liệu Quản trị hệ thống TCS
+ Chín là, Phối hợp với cơ quan Thuế, Hải quan và NHTM xây dựng
giải pháp và thực hiện kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu, thông tin tập trung phục
vụ cho công tác tổ chức phối hợp thu NSNN
+ Mười là, chủ trì phối hợp với Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và
các NHTM tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn người nộp NSNN thực hiện nộp NSNN theo các hình thức thu NSNN mới
- Ngân hàng thương mại: là cơ quan cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn
Trang 30tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội NHTM có vai trò và trách nhiệm trong việc tổ chức phối hợp thu NSNN như sau:
+ Thứ nhất, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá
nhân, thực hiện các thanh toán với nhiều phương tiện thanh toán như thẻ rút tiền (ATM), thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, qua internetbanking, qua POS, … theo yêu cầu của khách hàng để trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng thanh toán tiền nộp thuế hoặc nhập vào tài khoản hoàn thuế và các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng và thông qua việc thanh toán này, NHTM sẽ tiến hành thu phí dịch vụ thanh toán để tạo thêm nguồn vốn của mình
+ Thứ hai: phối hợp và thống nhất với Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải
quan, KBNN phương thức kết nối mạng truyền thông; phương thức trao đổi thông tin dữ liệu; các tiêu chí về bảo mật và kỹ thuật tin học liên quan
+ Thứ ba, hướng dẫn và cung cấp dịch vụ thanh toán nhanh chóng,
thuận tiện và có chất lượng cho người nộp NSNN trong việc nộp NSNN theo đúng quy định của Bộ Tài chính
+ Thứ tư, thực hiện nhập đúng và đầy đủ các thông tin trên chứng từ thu
NSNN để truyền chứng từ thu cho cơ quan KBNN; phối hợp với KBNN, cơ quan thu để truyền/ nhận đầy đủ, kịp thời thông tin thu, chứng từ nộp NSNN của người nộp NSNN qua NHTM cho KBNN và cơ quan thu Đối chiếu dữ liệu thu với KBNN và các cơ quan thu đảm bảo khớp đúng, trường hợp có sai sót phải xử lý kịp thời
+ Thứ năm, chuyển tiền thanh toán và hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp
thời các khoản thu NSNN vào tài khoản của KBNN mở tại chi nhánh NHTM theo đúng quy định
+ Thứ sáu, phối hợp với KBNN, Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan
để nhận dữ liệu danh mục dùng chung theo quy định của Bộ Tài chính; phối hợp xây dựng giải pháp và thực hiện kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu thông tin tập trung phục vụ cho công tác tổ chức phối hợp thu NSNN
Trang 31+ Thứ bẩy, chấp hành nghiêm và đầy đủ quy chế quản lý, sử dụng và
bảo mật thông tin của người nộp NSNN để phục vụ phối hợp thu NSNN do
Bộ Tài chính quy định; quản trị cơ sở dữ liệu và ứng dụng trao đổi thông tin của đơn vị, kiểm soát việc truyền, nhận dữ liệu, phát hiện và phối hợp xử lý kịp thời các lỗi trong quá trình truyền nhận dữ liệu
+ Thứ tám, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về số, ký hiệu tài khoản,
số dư tài khoản của tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế thuế theo đề nghị của cơ quan Thuế, Hải quan; đồng thời, phối hợp với cơ quan Thuế, Hải quan để thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế đối với người nợ thuế
1.2.1.10 Nguyên tắc phối hợp thu ngân sách nhà nước
Nguyên tắc phối hợp thu NSNN giữa KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM thể hiện ở một số nội dung sau:
- Thứ nhất, việc phối hợp thu NSNN dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan Thuế, Hải quan, KBNN và NHTM; đảm bảo công tác quản lý nhà nước về tổ chức thu NSNN của các cơ quan, đơn vị được thống nhất
- Thứ hai, cơ quan Thuế, Hải quan, KBNN và NHTM trong quá trình
hoạt động, phối hợp với nhau nhằm mục đích tổ chức thu NSNN đạt hiệu quả: tập trung khoản thu NSNN được nhanh chóng, kịp thời, chính xác, an toàn; giảm thiểu thủ hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng nộp NSNN; thống nhất dữ liệu thu NSNN giữa các cơ quan, đơn vị và hỗ trợ nhau thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp luật quy định
- Thứ ba, cơ quan Thuế, Hải quan, KBNN và NHTM khi phối hợp thu
NSNN với nhau phải thực hiện ký kết các thỏa thuận phối hợp thu, bao gồm: Thỏa thuận khung và Thỏa thuận chi tiết về quy trình phối hợp thu NSNN, đồng thời phải chấp hành đúng theo các quy định của pháp luật về thu NSNN
và các thỏa thuận này
Trang 32- Thứ tư, KBNN, cơ quan Thuế, Hải quan và các NHTM tổ chức phối
hợp thu NSNN tại những địa bàn đã triển khai dự án Hiện đại hóa thu NSNN
và được thực hiện theo nguyên tắc: kết nối và trao đổi thông tin, dữ liệu điện
tử giữa các cơ quan này; dữ liệu về thông tin thu NSNN phải theo chuẩn thông tin của chứng từ thu NSNN; và các cơ quan Thuế, Hải quan, KBNN và NHTM chịu trách nhiệm bảo mật thông tin theo quy định
- Thứ năm, việc tổ chức phối hợp thu NSNN và đối chiếu số liệu về thu
NSNN giữa KBNN, cơ quan Thuế, Hải quan và các NHTM được thực hiện thông qua tài khoản của KBNN tại các chi nhánh NHTM
- Thứ sáu, trong quá trình phối hợp thu NSNN nếu phát hiện các sai
sót, chênh lệch đối chiếu, mất an toàn về tiền và tài sản, gặp sự cố kỹ thuật thì các cơ quan thu, KBNN và NHTM phải phối hợp xử lý theo trách nhiệm liên quan
1.2.2 Sự cần thiết phải phối hợp thu ngân sách nhà nước
Với mỗi vai trò, trách nhiệm của bốn cơ quan nêu trên, cơ quan Thuế, Hải quan có chức năng cơ bản là quản lý các đối tượng thu NSNN, tổ chức và điều hành các hoạt động khai thác các nguồn thu thuế nội địa, thuế xuất nhập khẩu cho NSNN; KBNN có nhiệm vụ cơ bản là tập trung và phản ánh các khoản thu vào NSNN, thực hiện điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân sách, chịu trách nhiệm chính và cuối cùng về phối hợp thu NSNN; còn NHTM có nhiệm vụ cơ bản là thanh toán tiền nộp thuế của người nộp thuế theo yêu cầu Mỗi cơ quan, đơn vị đều quản lý những thông tin riêng biệt của người nộp thuế theo chức năng của mình Trong công tác quản lý NSNN, các cơ quan có thẩm quyền cần biết nhanh, chính xác, thống nhất số thu NSNN nhưng mỗi cơ quan lập báo cáo tổng hợp các số
đã thu từ người nộp thu NSNN theo các tiêu chí riêng của mình; số liệu tổng hợp thu của KBNN và cơ quan thu trong một số trường hợp khác nhau
Trang 33do độ trễ nhất định về truyền/ nhận thông tin thu NSNN dẫn đến số thu NSNN được tổng hợp từ KBNN và cơ quan thu khác nhau, không thống nhất, có sự chênh lệch dẫn đến rất khó khăn trong công tác quản lý vĩ mô, điều hành NSNN
Việc chia sẻ thông tin thu NSNN, khai thác chung dữ liệu trên một cơ
sở danh mục dùng chung giúp người nộp thu NSNN khi đến nộp NSNN tại NHTM, KBNN hay nộp thuế điện tử qua internet có thể khai thác chung thông tin để lập chứng từ thu NSNN, giúp giảm thiểu thời gian làm thủ tục nộp, thuận tiện cho việc nộp NSNN
Ngoài ra, thông tin quản lý thu của mỗi cơ quan đều được cả bốn cơ quan sử dụng lẫn nhau để phục vụ cho việc tổ chức thu NSNN theo chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan, như thông tin về mã số đối tượng nộp thuế, tên người nộp thuế, địa chỉ người nộp thuế, số tiền thu NSNN cần phải nộp của đối tượng nộp NSNN, thông tin mục lục NSNN của từng khoản thu, …, do vậy, các thông tin về thu NSNN do KBNN, cơ quan thu, NHTM cần phải được quản lý tập trung, thống nhất và chia sẻ với nhau
Chính vì các lý do trên, cần phải có sự phối hợp thu NSNN của KBNN với các cơ quan Thuế, Hải quanvà NHTM để xây dựng một quy trình thu NSNN có sự tham gia thực hiện của các cơ quan, đơn vị này, với ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, giúp giảm thiểu thời gian thu NSNN, cải cách thủ tục hành chính về thu NSNN, tập trung khoản thu NSNN được đầy đủ, an toàn và chính xác với độ bảo mật cao
1.2.3 Nội dung phối hợp thu ngân sách nhà nước
1.2.3.1 Xây dựng cơ chế chính sách phối hợp thu ngân sách nhà nước
Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về phối hợp thu ngân sách nhà nước; xây dựng và ban hành quy trình nghiệp vụ, xây dựng Thỏa thuận khung
về phối hợp thu ngân sách nhà nước
Trang 34Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về phối hợp thu ngân sách nhà nước ở mức thông tư để giải thích phối hợp thu NSNN là gì, trong đó quy định phạm vi, đối tượng, các điều kiện để thực hiện phối hợp NSNN, nội dung của việc phối hợp thu NSNN, trách nhiệm của từng cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM trong việc phối hợp thu NSNN
Xây dựng quy trình nghiệp vụ phối hợp thu NSNN trong đó quy định
cụ thể các bước công việc theo trình tự trước sau phải thực hiện gắn liền với trách nhiệm của từng cán bộ làm công tác thu NSNN ở các cơ quan KBNN,
cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM, cũng như gắn liền với trách nhiệm của từng cơ quan phối hợp thu KBNN, Thuế, Hải quan và NHTM
Xây dựng thỏa thuận khung: Các bên KBNN, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và Hội sở chính các NHTM cùng nhau ký kết thỏa thuận trong đó quy định chi tiết việc triển khai Phối hợp thu NSNN theo các giai đoạn, các đối tượng, phạm vi triển khai theo giai đoạn, các công việc cụ thể mà cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM phải làm để thực hiện được việc phối hợp thu, cũng như cam kết về việc thực hiện các quy định về phối hợp thu
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện phối hợp thu ngân sách nhà nước
- Tại KBNN trung ương, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và Hội sở chính NHTM:
Hoạt động phối hợp thu NSNN được thực hiện thông qua cơ cấu tổ chức của hệ thống KBNN, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và NHTM Việc tổ chức thực hiện phối hợp thu NSNN dựa trên các nguồn lực của các cơ quan này, cụ thể là: (1) Con người - chính là bộ máy lãnh đạo, quản lý, đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp làm thu NSNN; (2) cơ sở vật chất mà quan trọng nhất là các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin về trao đổi thông tin thu ngân sách
Trang 35Trước khi triển khai, các cơ quan phối hợp thu (bao gồm các cán bộ nghiệp vụ, cán bộ kỹ thuật) phải tiến hành khảo sát, phân tích; trao đổi, thống nhất để xây dựng đề án, đề xuất bài toán nghiệp vụ và giải pháp kỹ thuật tương ứng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM Trên cơ sở đề án được cơ quan quản
lý phê duyệt, cơ quan quản lý giao cho đơn vị nghiệp vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định về phối hợp thu NSNN ban hành dưới dạng thông tư, quy trình nghiệp vụ phối hợp thu NSNN được KBNN ban hành dưới dạng quyết định và Thỏa thuận khung được các cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM ký kết Cơ quan quản lý giao cho đơn vị
kỹ thuật xây dựng ứng dụng phối hợp thu NSNN, kết nối, chia sẻ thông tin thu NSNN, xây dựng các ứng dụng phần mềm cung cấp các dịch vụ thu NSNN mới, hiện đại
Để thực hiện triển khai dự án phối hợp thu NSNN, thì Bộ Tài chính thành lập Ban chỉ đạo triển khai, đứng đầu Ban chỉ đạo triển khai là 01 thứ trưởng Bộ Tài chính, các thành viên là Tổng giám đốc KBNN, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Tổng Giám đốc các NHTM ; thành lập Ban triển khai, đứng đầu Ban triển khai là 01 Phó Tổng giám đốc KBNN; đại diện Lãnh đạo các đơn vị nghiệp vụ, kỹ thuật, tổ chức các cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan, Phó Tổng giám đốc NHTM; thành lập các nhóm nghiệp vụ,
kỹ thuật, triển khai là cán bộ thuộc các đơn vị nghiệp vụ, kỹ thuật, cán bộ tổ chức của các đơn vị kỹ thuật, nghiệp vụ, tổ chức cán bộ thuộc KBNN, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và NHTM
Hoạt động kiểm thử và triển khai thí điểm được tiến hành ngay khi quy trình nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ về phối hợp thu được hoàn thành; để triển khai rộng, các đơn vị nghiệp vụ, kỹ thuật thực hiện đánh giá kết quả triển khai thí điểm, rút kinh nghiệm, tiếp tục hoàn thiện quy trình và ứng dụng đạt được yêu cầu hoạt động ổn định, thông suốt, an toàn
Trang 36Tổ chức triển khai thực hiện bằng việc đào tạo, chuyển giao và xây dựng chương trình công tác cho cấp dưới
- Tại KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan ở địa phương và chi nhánh NHTM:
Áp dụng thông tư và quy trình phối hợp thu NSNN; trên cơ sở thỏa thuận khung về phối hợp thu NSNN, tiến hành ký kết thỏa thuận chi tiết giữa các đơn vị KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan ở địa phương và chi nhánh NHTM
Thực hiện hướng dẫn người nộp thu NSNN các thủ tục thu, nộp NSNN
và sử dụng các ứng dụng phần mềm thu, nộp NSNN, xử lý, giải đáp các vướng mắc
Phối hợp trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn người nộp thu NSNN: Tổ chức hội nghị khách hàng giới thiệu quy trình thu nộp NSNN, quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin về các sản phẩm dịch vụ thu NSNN mới, …
1.2.3.3 Kiểm tra giám sát cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước
Việc kiểm tra giám sát hoạt động phối hợp thu NSNN của KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM phải được thực hiện ngay trong quá trình thực hiện quản lý đối tượng thu NSNN, quá trình thực hiện tiếp nhận tiền thu NSNN từ các ngân hàng, thông tin thu NSNN từ NHTM và KBNN sao cho đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định tránh gây thất thoát tiền, tài sản của nhà nước
Để kiểm soát việc thực hiện phối hợp thu NSNN phù hợp với các yêu cầu quản lý thu NSNN Ban triển khai cần nhận dạng các rủi ro và đánh giá khả năng ảnh hưởng của các rủi ro đến hoạt động thu NSNN Từ đó, xây dựng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro đối với việc quản lý thu NSNN
Trang 371.2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện phối hợp thu ngân sách nhà nước
1.2.4.1 Tiêu chí định lượng
- Tăng trưởng về quy mô: Tăng trưởng về quy mô phối hợp thu NSNN của KBNN với cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM thể hiện ở mức tăng trưởng doanh số thu NSNN, gồm cả tăng trưởng về số giao dịch thu và
số tiền thu NSNN Mức tăng trưởng về doanh số thu NSNN phụ thuộc vào mức tăng trưởng của quy mô thu NSNN
- Tăng trưởng về phạm vi: Tăng trưởng về phạm vi phối hợp thu NSNN thể hiện ở việc triển khai phối hợp thu, ký thỏa thuận phối hợp thu với giữa KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM nơi KBNN mở tài khoản Mức tăng trưởng về phạm vi phụ thuộc vào việc KBNN mở tối đa các tài khoản tại các NHTM nhà nước theo quy định, đồng thời phụ thuộc vào chính sách cho phép phạm vi mở tài khoản của KBNN tại các ngân hàng, không chỉ
là các NHTM nhà nước, mà còn được phép mở tài khoản tại các NHTM khác, trên cơ sở đó KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan tiến hành phối hợp thu với các NHTM này nơi KBNN mở tài khoản
- Sự phát triển các dịch vụ thu nộp: sự phát triển dịch vụ thu nộp NSNN thể hiện ở việc đa dạng hóa dịch vụ thu nộp NSNN theo hướng hiện đại, gắn liền với ứng dụng công nghệ thông tin, theo đó đối tượng nộp thu NSNN có nhiều lựa chọn dịch vụ nộp NSNN với chi phí tối thiểu nhất, phù hợp với các đối tượng khác nhau, phù hợp tại những địa bàn khác nhau mà thuận tiện, dễ
sử dụng, qua đó hạn chế việc nộp NSNN bằng tiền mặt
1.2.4.2 Tiêu chí định tính
- Dữ liệu về thu NSNN tại KBNN và cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan phải thống nhất: Sự thống nhất về dữ liệu thu NSNN thể hiện ở việc số thu NSNN trên báo cáo thu NSNN của KBNN và của cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan phải bằng nhau cả về tổng số và chi tiết các chỉ tiêu, đồng thời luôn bằng
Trang 38nhau tại bất kỳ thời điểm nào khi tổng hợp, để phục việc quản lý điều hành thu NSNN được hiệu quả
- Nâng cao năng lực kiểm soát rủi ro: Tiêu chí này được đánh giá qua mức giảm tỷ lệ sai sót hoặc gian lận/ tổng số giao dịch và mức giảm tỷ lệ giao dịch bị trễ/ tổng số giao dịch
- Chất lượng phục vụ thu NSNN đối với đối tượng nộp NSNN được gia tăng: Luôn coi đối tượng nộp NSNN là trung tâm để nâng cao chất lượng phục vụ, để đạt được được mục tiêu đó các cơ quan KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM trong quá trình giao dịch, hướng dẫn khách hàng phải luôn tạo được sự tin cậy và sự tin tưởng của các cấp quản lý ngân sách, tạo được uy tín, có hiệu ứng tích đối với xã hội, theo đó các cơ quan phối hợp thu NSNN phải không ngừng nâng cao trình độ, văn hóa, văn minh công sở của đội ngũ cán bộ làm công tác thu NSNN
1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp thu ngân sách nhà nước
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
- Thứ nhất, cơ chế chính sách trong phối hợp thu ngân sách nhà nước:
+ Phương thức thu NSNN: Phương thức thu có tác động trực tiếp đến đối tượng nộp NSNN Phương thức thực hiện đa dạng sẽ tăng tính chủ động cho người nộp NSNN, tạo điều kiện cho người nộp NSNN có nhiều lựa chọn hình thức nộp NSNN cho phù hợp với điều kiện của mình
+ Quy trình thu NSNN: Quy trình thu tác động đến hiệu quả của hoạt động thu NSNN Với một quy trình đơn giản, hợp lý, khoa học sẽ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí thực hiện mỗi khoản thu Rút ngắn thời gian tập trung vào NSNN, giảm bớt sai sót, thuận tiện cho công tác kiểm tra, đối chiếu và xử
lý vướng mắc, hạn chế rủi ro
+ Hệ thống chứng từ thu NSNN: Chứng từ thu NSNN có nội dung ghi chép đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu và đủ thông tin cần thiết Một mặt sẽ giúp cho
Trang 39người nộp NSNN kê khai dễ dàng, đầy đủ, chính xác, không mất nhiều thời gian lập chứng từ Bên cạnh đó cũng đảm bảo cho các cơ quan thu, tham gia phối hợp thu NSNN có đủ thông tin để thực hiện hạch toán thu NSNN và quản lý thu NSNN
+ Mạng lưới điểm thu NSNN: Trên địa bàn có nhiều điểm thu NSNN, phân bố hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp NSNN
- Thứ hai, phân định trách nhiệm giữa các cơ quan trong phối hợp
thu NSNN:
+ Việc phân định trách nhiệm các cơ quan trong công tác phối hợp thu
là rất cần thiết vì công tác này có đặc điểm là liên quan đến nhiều cơ quan, ban ngành như KBNN, cơ quan Thuế, Hải quan, NHTM, các tổ chức, cá nhân
có nghĩa vụ nộp NSNN, …
+ Việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan phải đảm bảo tính pháp
lý, rõ ràng, minh bạch, có thể kiểm tra, giám sát lẫn nhau, thể chế hóa thành các quy định cụ thể, trên cơ sở đó từng cơ quan, đơn vị liên quan biết được phạm vi quyền hạn cũng như trách nhiệm pháp lý của mình trong việc thực thi công việc, biết được tiêu chí đánh giá sự phối hợp thu NSNN, qua đó chủ động trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ của mình, công việc vì thế được tiến hành trôi chảy, góp phần nâng cao chất lượng phối hợp thu, đồng thời sẽ hạn chế được sai sót, sớm phát hiện được sai sót trong tổ chức phối hợp thu NSNN
- Thứ ba, các công cụ thanh toán của nền kinh tế:
+ Khi nền kinh tế có hệ thống các công cụ thanh toán hiện đại, nhanh chóng, thuận tiện, an toàn, chi phí thấp sẽ góp phần giảm thanh toán bằng tiền mặt Phát triển nộp thuế điện tử, qua đó tập trung nhanh chóng, kịp thời các khoản thu vào NSNN
+ Các công cụ thanh toán hoàn hảo sẽ giúp các chủ thể tham gia thanh toán nâng cao tính chủ động của mình Đặc điểm thu NSNN là bị ràng buộc
Trang 40bởi tính thời hạn Việc chậm nộp thu NSNN sẽ bị xử lý theo pháp luật, do đó, người nộp NSNN luôn quan tâm đặc biệt tới hình thức thanh toán nhanh chóng, chính xác, tiện lợi và an toàn Công nghệ thanh toán hiện đại sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN
- Thứ tư, nhận thức của người nộp ngân sách nhà nước:
Khi người nộp NSNN có hiểu biết đầy đủ kiến thức về pháp luật thu NSNN, được hướng dẫn cụ thể về phương pháp kê thai thuế, phí, lệ phí, thời hạn nộp thuế, địa điểm nộp NSNN, cách thức lập chứng từ thu NSNN … họ
có thể chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN Qua đó sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan tổ chức thu NSNN, quản lý thu NSNN thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
- Thứ năm, sự phân cấp của cơ quan quản lý thu ngân sách nhà nước:
Sự phân cấp của cơ quan quản lý thu NSNN đối với đối tượng thu NSNN có ảnh hưởng đến công tác hạch toán thu của KBNN, ảnh hưởng đến cung cấp dữ liệu thu NSNN, số liệu báo cáo thu cho các cơ quan liên quan Khi sự phân cấp hợp lý, sẽ giảm bớt sự rườm rà đồng thời giảm bớt sai sót và nhầm lẫn trong hạch toán, báo cáo thu NSNN
1.2.3.2 Nhân tổ chủ quan
- Thứ nhất, trình độ năng lực, ý thức trách nhiệm của công chức, nhân
viên thực hiện phối hợp thu ngân sách nhà nước:
Thu NSNN nói chung và phối hợp thu NSNN nói riêng là hoạt động phức tạp, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, liên quan đến lợi ích của nhiều đơn vị và cá nhân, do vậy trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của những người tham gia hoạt động thu NSNN sẽ có tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động này Yêu cầu chung đối với cá nhân mỗi người là phải
có hiểu biết về các quy định trong lĩnh vực thu NSNN, quản lý thu NSNN, kế toán thu NSNN Bên cạnh đó, công chức, nhân viên thực hiệp phối hợp thu