Phần I: Lý luận chung về hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất Phần II: Thực trạng công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh tại công ty CP LHTP Hà Tây Phần III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh tại công ty CP LHTP Hà Tây
Trang 1Lời mở đầu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày nay,với cơ chếhạch toán kinh doanh, để tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh sôiđộng, các cơ sở , đơn vị sản xuất nói chung và các đơn vị sản xuấtkinh doanh cá nhân nói riêng phải đảm bảo tự chủ trong hoạt độngsản xuất kinh doanh và hoạt động có lãi Thực hiện yêu cầu đó bắtbuộc các doanh nghiệp phải quan tâm hơn tới tất cả các khâu củaquá trình sản xuất kinh doanh, từ khi bỏ vốn đến khi thu hồi vốn về
Song có thể khẳng định trong các khâu của quá trình sản xuấtkinh doanh thì khâu tiêu thụ có vai trò đặc biệt quan trọng, đặc biệt
là đối với các doanh nghiệp sản xuất Qua tiêu thụ, sản phẩmchuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và kết thúc mộtvòng luân chuyển vốn Có tiêu thụ sản phẩm mới có vốn để tiếnhành tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, nângcao hiệu quả sử dụng vốn Nhưng muốn đẩy mạnh khâu tiêu thụ đòihỏi các nhà quản lý phải sử dụng rất nhiều biện pháp và công cụkhác nhau, trong đó kế toán là một công cụ hết sức hữu hiệu mà cụthể ở đây là kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinhdoanh Nhờ có những thông tin do kế toán cung cấp, các nhà quản
lý sẽ biết được tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp mình như thếnào, kết quả kinh doanh trong kỳ ra sao từ đó có được nhữngquyết định quản trị phù hợp thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường nhằm mục tiêu
Trang 2cao nhất là tối đa hoá lợi nhuận.
Công ty cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây là công ty hoạtđộng trong lĩnh vực sản xuất nên công tác kế toán tiêu thụ thànhphẩm và xác định kết quả kinh doanh lại càng trở nên quan trọng
Nhận thức rõ điều này, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện hạch toán
tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh tại công ty
cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây” cho bài luận văn tốt nghiệp
này
Luận văn của em gồm có 3 phần:
Phần I: Lý luận chung về hạch toán tiêu thụ thành phẩm và
xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
Phần II: Thực trạng công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và
xác định kết quả kinh doanh tại công ty CP LHTP
Hà Tây
Phần III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác hạch
toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinhdoanh tại công ty CP LHTP Hà Tây
Do thời gian nghiên cứu không nhiều và trình độ còn hạn chếnên luận văn tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót
Em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo tận tình của các thầy,
cô giáo và các cô phòng kế toán để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Quốc Trung vàcác cô, các chị phòng kế toán tại công ty cổ phần liên hợp thực
Trang 3phẩm Hà Tây đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Trang 4Phần I: Lý luận chung về hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1 Khái quát chung về kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản trong hạch toán tiêu thụ thành phẩm
và xác định kết quả kinh doanh
- Thành phẩm: là sản phẩm đã được chế tạo xong ở giai đoạn chếbiến cuối cùng của quy trình công nghệ trong doanh nghiệp, đượckiểm nghiệm đủ tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, được nhập kho hayđem đi tiêu thụ hoặc giao trực tiếp cho khách hàng
Khái niệm thành phẩm không bao gồm:
+ Những sản phẩm đã qua tất cả các giai đoạn chế biến nhưngkhông đủ tiêu chuẩn quy định
+ Những sản phẩm DN mua về để bán (hàng hoá)
+ Sản phẩm thuê đơn vị khác gia công chế biến, khi chuyển về
DN không phải chế biến thêm
+ Những sản phẩm chưa làm thủ tục nhập kho (đối với côngnghiệp)
- Tiêu thụ: là việc chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoágắn với phần lớn lợi ích, rủi ro cho khách hàng đồng thời đượckhách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
- Doanh thu: là tổng các giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thuđược trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh
Trang 5doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ
sở hữu
Doanh thu bán hàng là tổng giá trị được thực hiện do việc bánhàng hoá, sản phẩm cho khách hàng và được khách hàng thanh toánhoặc chấp nhận thanh toán
- Doanh thu thuần: là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và cáckhoản giảm trừ doanh thu gồm: Chiết khấu thương mại, giảm giáhàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế TTĐB, thuế xuất nhập khẩu
- Kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá: là các khoản lãi lỗ về tiêuthụ, đó chính là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốnhàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò của công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác địnhkết quả kinh doanh
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế của cạnh tranh, để tồn tại
và phát triển, các doanh nghiệp phải luôn cố gắng trong tất cả cácgiai đoạn kinh doanh từ khi bỏ vốn đến khi thu hồi vốn về Trong đókhâu tiêu thụ được chú ý đặc biệt Các doanh nghiệp luôn muốn tìmmọi cách để đẩy nhanh quá trình tiêu thụ, tăng nhanh vòng quay củavốn, bù đắp lại các chi phí tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạotiền đề thuận lợi cho quá trình sản xuất tiếp theo, tránh tình trạngsản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ chậm sẽ gây
ứ đọng vốn, không thể tiến hành tái sản xuất có thể dẫn đến mấtvốn Đây là một tổn thất lớn không những đối với các nhà sản xuất
mà còn đối với cả xã hội
Trang 6Để làm tốt khâu tiêu thụ, doanh nghiệp có nhiều cách khácnhau như: chú trọng vào marketing đưa sản phẩm ra thị trường, tạodựng hình ảnh tốt trong tâm trí khách hàng… trong đó kế toán tiêuthụ thành phẩm là một công cụ hữu hiệu để quản lý thành phẩm trên
cả hai mặt giá trị và hiện vật Từ thông tin do kế toán tiêu thụ cungcấp, các nhà quản lý sẽ nắm được các chỉ tiêu lãi lỗ của doanhnghiệp cũng như của từng mặt hàng để đưa ra các quyết định phùhợp cho kỳ kinh doanh tiếp theo Bên cạnh đó, thông tin do kế toántiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh cung cấp cũng
là căn cứ để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước
1.2 Hạch toán giá vốn hàng bán trong các doanh nghiệp sản xuất
1.2.1 Nguyên tắc hạch toán giá vốn hàng bán
Nguyên tắc quan trọng nhất trong hạch toán giá vốn hàng bán
là nguyên tắc nhất quán Để tính giá thực tế của thành phẩm xuấtkho có rất nhiều phương pháp như: giá thực tế đích danh, giá nhậptrước - xuất trước (FIFO), nhập sau - xuất trước (LIFO) Mỗiphương pháp sẽ cho ta một kết quả khác nhau và ảnh hưởng khácnhau đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, vấn đề đặt
ra là doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình một phương pháp tínhgiá vốn hàng bán cho phù hợp Trường hợp có sự thay đổi phươngpháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sựthay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính (Chuẩn mực
kế toán Việt Nam số 01 - Chuẩn mực chung)
Trang 71.2.2 Các phương pháp xác định giá vốn của thành phẩm tiêu thụ
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – Hàng tồn kho có nêu ra
4 phương pháp để tính giá vốn hàng xuất bán trong kỳ, gồm:
⮚ Phương pháp giá thực tế đích danh:
Nội dung: thành phẩm được quản lý theo lô và khi xuất kho lônào thì tính theo giá thực tế nhập kho đích danh của lô đó
Ưu điểm là: độ chính xác cao, công tác tính giá thành phẩmđược thực hiện kịp thời
Nhược điểm: tốn nhiều công sức do phải quản lý riêng từng lôthành phẩm
Điều kiện áp dụng: phương pháp này được áp dụng đối vớinhững thành phẩm có giá trị cao, chủng loại mặt hàng ít, dễ phânbiệt giữa các mặt hàng
⮚ Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO):
Nội dung: Phương pháp này giả thiết rằng thành phẩm nàonhập kho trước sẽ được xuất ra khỏi kho trước, xuất hết số nhậptrước thì mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàngxuất
Nhược điểm của phương pháp này là chi phí phát sinh hiệnhành không phù hợp với doanh thu hiện hành
Điều kiện áp dụng: thích hợp trong điềukiện giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm, với những loại hàng cầntiêu thụ nhanh
⮚ Phương pháp nhập sau - xuất trước (LIFO):
Trang 8Phương pháp này lại ngược với phương pháp FIFO, thành phẩm
nào nhập sau cùng sẽ được xuất trước tiên
Như vậy, tính giá vốn thành phẩm xuất kho theo phương phápnày đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí
Song phương pháp này lại có nhược điểm là: thu nhập thuầncủa doanh nghiệp sẽ giảm trong điều kiện lạm phát và lượng tồnkho có thể bị đánh giá giảm trên bảng cân đối kế toán
Do vậy, phương pháp này thích hợp trong điều kiện giá cảtăng lên, làm giảm khoản thuế thu nhập phải nộp
⮚ Phương pháp giá bình quân gia quyền:
Theo phương pháp này, giá trị của từng loại sản phẩm xuấtkho được tính theo giá trị trung bình của từng loại sản phẩm đó tồnđầu kỳ và nhập kho trong kỳ Trong phương pháp bình quân giaquyền lại có 3 phương pháp cụ thể tính giá vốn hàng xuất bán trong
+ Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập:
Theo phương pháp này, sau mỗi lần nhập kho thành phẩm kế
Trang 9toán phải xác định lại giá bình quân cho mỗi loại để lấy đó làm căn
cứ tính giá xuất kho cho mỗi lô hàng xuất sau đó
Phương pháp này cho phép kế toán tính giá thành phẩm xuấtkho kịp thời nhưng sẽ làm cho công việc tăng nhiều lần và lại phảichi tiết cho từng loại thành phẩm Phương pháp này chỉ áp dụng chodoanh nghiệp có ít chủng loại thành phẩm và tần suất nhập kho,xuất kho trong kỳ không nhiều
+ Phương pháp bình quân cuối kỳ trước:
Theo phương pháp này, giá thành phẩm xuất kho được tínhdựa trên giá trị thực tế và khối lượng thành phẩm tồn kho ở cuối kỳ
kế toán trước:
Phương pháp này có ưu điểm là giảm nhẹ khối lượng côngviệc kế toán vì giá đơn vị thành phẩm i đã có từ kỳ trước nhưng đâycũng chính là nhược điểm của phương pháp này khi giá vốn thànhphẩm i xuất bán lại phụ thuộc vào giá đơn vị kỳ trước Điều này làkhông hay vì giá cả thị trường luôn biến động không ngừng
⮚ Ngoài các phương pháp đã quy định trong VAS 02, các doanh
nghiệp có thể sử dụng phương pháp giá hạch toán.
Theo phương pháp này, doanh nghiệp sẽ sử dụng một đơn giáhạch toán cho việc hạch toán các nghiệp vụ xuất hàng Giá hạchtoán có thể là giá thành kế hoạch hoặc giá thành sản phẩm bìnhquân tháng trước Cuối tháng khi tính được giá thực tế thành phẩmnhập kho, kế toán phải xác định hệ số giá thành để tính ra giá thành
Trang 10phẩm thực tế xuất kho.
Giá thực tế TP xuất kho = Hệ số giá TP x Giá hạch toán TPtrong kỳ
Trong đó:
1.2.3 Tài khoản và chứng từ kế toán sử dụng
Tài khoản kế toán:
Để hạch toán giá vốn hàng bán trong kỳ, kế toán sử dụng cáctài khoản sau:
+ Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”: dùng phản ánh giá trịcủa thành phẩm, hàng hoá cung cấp trong kỳ
+ Các tài khoản phản ánh hàng tồn kho: TK 155, TK 156, TK157
+ Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”
+ Tài khoản 631 “Giá thành sản xuất” đối với doanh nghiệp ápdụng phương pháp KKĐK để hạch toán hàng tồn kho
Chứng từ kế toán sử dụng:
+ Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho
+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
+ Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý
1.2.4 Phương pháp hạch toán giá vốn hàng bán trong các doanhnghiệp sản xuất
1.2.4.1 Hạch toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi
Trang 11và phản ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập xuất - tồn kho vật tư, sản phẩm trên sổ kế toán Tài khoản hàng tồnkho được sử dụng để phán ánh số hiện có, tình hình biến động tănggiảm của vật tư, sản phẩm.
-Sơ đồ 1.1: Kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp KKTX
1.2.4.2 Hạch toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kiểm kê định kỳ Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp căn
cứ vào kết quả kiểm kê thực tế thành phẩm xuất bán trên sổ sách kế toán và từ đó tính ra giá vốn hàng bán trong kỳ theo công thức sau:
Sơ đồ 1.2: Kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp KKĐK
1.3 Hạch toán tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
1.3.1 Điều kiện ghi nhận doanh thu theo chuẩn mực kế toán ViệtNam số 14
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 quy định chi ghi nhậndoanh thu bán sản phẩm hàng hoá khi thoả mãn đồng thời 5 điềukiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắnliền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua;
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoánhư người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá;
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
Trang 12- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từgiao dịch bán hàng;
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng;Xác định thời điểm ghi nhận doanh thu là vấn đề quan trọngnhất trong kế toán doanh thu Điều này ảnh hưởng đến tính đúng kỳcủa doanh thu và là cơ sở xác định chính xác lợi nhuận trong kỳ.Đặc biệt đối với hàng hoá xuất khẩu việc ghi nhận doanh thu cònchịu sự chi phối của những thông lệ thương mại mà hợp đồng ngoạithương đã ký kết
+ Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi
+ Chứng từ thanh toán: Phiếu thu, Giấy báo Có của Ngânhàng…
Tài khoản hạch toán:
+ TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”: dùng đểphản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệptrong một kỳ kết toán Tài khoản này chỉ phản ánh doanh thu củakhối lượng sản phẩm, hàng hoá đã bán được xác định là tiêu thụ
Trang 13trong kỳ, không phân biệt doanh thu đã thu tiền hay sẽ thu tiền
+ TK 512 “Doanh thu nội bộ”: dùng để phản ánh doanh thucủa số sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ nội bộ doanh nghiệp.Tài khoản này chỉ sử dụng cho các đơn vị thành viên hạch toán phụthuộc trong cùng một công ty, một tập đoàn Không phản ánh vàotài khoản này các khoản doanh thu bán hàng cho các doanh nghiệpbên ngoài + TK 33311 “Thuế GTGT đầu ra phải nộp”: dùng đểphản ánh số thuế GTGT của hàng hoá đã bán ra trong kỳ của doanhnghiệp
+ Ngoài ra còn sử dụng một số tài khoản như: TK 111, TK
112, TK 131…
1.3.3 Phương pháp hạch toán tiêu thụ thành phẩm
Khi thành phẩm được xác định là tiêu thụ thì kế toán ghi nhậndoanh thu trên TK 511, 512 đồng thời phản ánh bút toán ghi nhậngiá vốn hàng bán của số hàng đã tiêu thụ Trong phần này, em chỉxin trình bày phương pháp hạch toán doanh thu tiêu thụ trong cácdoanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên và tínhthuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Đối với các doanh nghiệp
áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ, hạch toán các nghiệp vụ vềtiêu thụ (phản ánh giá bán, doanh thu, các khoản giảm trừ doanhthu) hoàn toàn tương tự như doanh nghiệp áp dụng phương pháp kêkhai thường xuyên Chỉ khác ở nghiệp vụ hạch toán giá vốn hàngbán đã được trình bày ở mục 1.2.4.2 ở trên
1.3.3.1 Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và không chịu thuế TTĐB
Trang 14(1) Phương thức tiêu thụ trực tiếp
Tiêu thụ trực tiếp là phương thức giao hàng cho người muatrực tiếp tại kho hay tại các phân xưởng của doanh nghiệp Số hàngsau khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ vàngười bán mất quyền sở hữu về số hàng này Người mua thanh toánhay chấp nhận thanh toán số hàng mà người bán đã giao Trình tựhạch toán được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.3: Hạch toán tiêu thụ theo phương thức trực tiếp
(2) Phương thức chuyển hàng chờ chấp nhận:
Là phương thức bên bán chuyển hàng cho bên mua theo địađiểm ghi trong hợp đồng Số hàng chuyển đi này vẫn thuộc sở hữubên bán Khi được bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
về số hàng chuyển giao (một phần hay toàn bộ) thì số hàng đượcbên mua chấp nhận này thì mới được coi là tiêu thụ và bên bán mấtquyền sở hữu về số hàng đó
Có thể tóm tắt trình tự hạch toán như sau:
Sơ đồ 1.4: Hạch toán tiêu thụ theo phương thức chuyển hàng chờ
chấp nhận
(3) Phương thức bán hàng đại lý, ký gửi
Là phương thức mà bên chủ hàng (bên giao đại lý) xuất hàng
Trang 15giao cho bên nhận đại lý (bên đại lý) để bán Bên đại lý được hưởngthù lao dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.
Bên giao hàng hoá khi xuất hàng hoá chuyển giao cho cơ sởnhận làm đại lý có thể lựa chọn một trong hai cách sử dụng chứng
từ như sau:
- Sử dụng hoá đơn GTGT để làm căn cứ thanh toán và kê khaithuế GTGT Theo đó, ở bên giao đại lý hạch toán giống như trườnghợp tiêu thụ trực tiếp
- Sử dụng phiếu xuất hàng gửi bán đại lý kèm lệnh điều độngnội bộ Khi đó trình tự kế toán ở bên giao đại lý như sau:
Sơ đồ 1.5: Hạch toán tiêu thụ theo phương thức đại lý, ký gửi (bên
giao đại lý)
(4) Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm
Đây là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần Một phầnngười mua sẽ thanh toán ngay tại thời điểm mua, phần còn lại ngườimua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãisuất nhất định Thông thường số tiền trả dần ở các kỳ tiếp theo bằngnhau gồm một phần nợ gốc và một phần lãi trả chậm
Khi xuất sản phẩm bán trả góp mặc dù quyền sở hữu sản phẩmchưa được chuyển giao nhưng xét về bản chất sản phẩm này đượccoi là tiêu thụ và doanh thu ghi nhận là giá bán thu tiền một lần,phần trả góp được kết chuyển dần vào doanh thu hoạt động tàichính
Trang 16Trình tự hạch toán được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.6: Hạch toán tiêu thụ theo phương thức trả chậm, trả
góp
(5) Phương thức tiêu thụ hàng đổi hàng
Đây là phương thức tiêu thụ mà trong đó người bán đem sảnphẩm, vật tư, hàng hoá của mình đổi lấy vật tư, sản phẩm, hàng hoácủa người mua Giá trao đổi là giá thoả thuận hoặc giá bán của vật
tư, hàng hóa đó trên thị trường
Song cần chú ý ở đây rằng, khi hàng hóa được trao đổi để lấyhàng hoá khác tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đókhông được coi là giao dịch tạo ra doanh thu Chỉ khi hàng hóađược trao đổi để lấy hàng hoá không tương tự thì việc trao đổi đómới được coi là giao dịch tạo ra doanh thu
Trình tự hạch toán được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.7: Hạch toán tiêu thụ theo phương thức hàng đổi hàng
(6) Phương thức tiêu thụ nội bộ
Tiêu thụ là nội bộ là phương thức tiêu thụ giữa đơn vị chínhvới đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc với nhau.Ngoài ra trường hợp doanh nghiệp xuất vật tư, sản phẩm, hàng hoá
để sử dụng nội bộ, khuyến mại, quảng cáo, trả lương, thưởng hayphục vụ sản xuất kinh doanh cũng được coi là tiêu thụ nội bộ Trình
Trang 17tự hạch toán được khái quát như sau:
Sơ đồ 1.8: Hạch toán tiêu thụ nội bộ trong doanh nghiệpRiêng đối với nghiệp vụ (1) ở trên sơ đồ, đồng thời với búttoán đó, kế toán phản ánh thuế GTGT được khấu trừ: Nợ
Nợ TK 511, 512 (Doanh thu chưa có thuế GTGT)
Có TK 3332
1.4 Hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
1.4.1 Nội dung và tài khoản hạch toán các khoản giảm trừ doanhthu
1.4.1.1 Chiết khấu thương mại
+ Nội dung: Chiết khấu thương mại là khoản mà người bán thưởng
cho người mua do trong một khoảng thời gian nhất định đã tiếnhành mua một khối lượng lớn hàng hoá (hồi khấu) và khoản giảmtrừ trên giá bán niêm yết vì mua khối lượng hàng hoá trong một đợn(bớt giá) Chiết khấu thương mại được ghi trong các hợp đồng mua
Trang 18bán hoặc cam kết về mua, bán hàng.
+ Tài khoản sử dụng: Kế toán sử dụng tài khoản 521 “Chiết khấu
thương mại”
1.4.1.2 Hàng bán bị trả lại
+ Nội dung: Hàng bán bị trả lại là số hàng đã coi là tiêu thụ nhưng
bị người mua trả lại và từ chối thanh toán Tương ứng với hàng bán
bị trả lại là giá vốn của hàng trả lại (tính theo giá vốn khi bán),doanh thu của hàng bị trả lại và thuế GTGT đầu ra phải nộp củahàng đã bán bị trả lại đó
+ Tài khoản sử dụng: TK 531 “Hàng bán bị trả lại”
1.4.1.3 Giảm giá hàng bán
+ Nội dung: Giảm giá hàng bán là số tiền giảm trừ cho khách hàng
ngoài hoá đơn hay hợp đồng do các nguyên nhân đặc biệt như hàngkém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thờihạn, địa điểm trong hợp đồng, hàng cũ… tức là các lỗi do chủ quancủa người bán
+ TK sử dụng: TK 532 “Giảm giá hàng bán”
1.4.1.4 Hạch toán thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu
+ Nội dung: khi bán hàng hoá chịu thuế TTĐB hoặc thuế xuất khẩu
kế toán ghi nhận giá bán bao gồm cả 2 loại thuế này, sau đó cuốitháng, xác định tổng số thuế phải nộp và kết chuyển làm giảmdoanh thu
+ Tài khoản sử dụng: TK 3332 “Thuế TTĐB”
TK 3333 “Thuế xuất khẩu”
Trang 191.4.2 Phương pháp hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
Phương pháp hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu được kháiquát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.9: Hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
1.5 Hạch toán xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
1.5.1 Hạch toán doanh thu hoạt động tài chính
+ Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 515 “Doanh thu hoạt động tài chính” được sử dụng
để phản ánh toàn bộ các khoản doanh thu và các khoản ghi giảmdoanh thu thuộc hoạt động tài chính được coi là thực hiện trong kỳ,không phân biệt các khoản đó thực tế đã thu hay sẽ thu trong kỳ sau.Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm các khoản: tiền lãi cho vay,bán trả góp, đầu tư trái phiếu, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ…
+ Phương pháp hạch toán: được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.10: Hạch toán doanh thu hoạt động tài chính
1.5.2 Hạch toán chi phí hoạt động tài chính
+ Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 635 “Chi phí hoạt động tài chính” được sử dụng đểphản ánh các khoản chi phí hoạt động tài chính, gồm: chi phí đi vay,chi phí trả lãi do mua hàng trả chậm, lỗ do thu hồi chứng khoán, lỗ
do chuyển đổi ngoại tệ…
+ Phương pháp hạch toán:
Trang 20Sơ đồ 1.11: Hạch toán chi phí hoạt động tài chínhChú ý: Đối với bút toán kết chuyển cuối kỳ ở trên, trường hợp
Nợ TK 635> Có TK 635 thì ta kết chuyển tăng lợi tức kế toán:
Nợ TK 635
Có TK 9111.5.3 Hạch toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
1.5.3.1 Tài khoản sử dụng
+ TK 641 “Chi phí bán hàng”: dùng phản ánh các chi phí thực
tế phát sinh trong kỳ kế toán liên quan đến hoạt động tiêu thụ sảnphẩm, hàng hoá của doanh nghiệp như: chi phí chào hàng, chi phíquảng cáo, chi phí đóng gói, vận chuyển…
+ TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”: dùng phản ánhnhững khoản chi phí liên quan chung đến toàn bộ hoạt động củadoanh nghiệp như: chi phí nhân viên quản lý, chi phí khấu haoTSCĐ dùng trong quản lý, thuế đất…
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được xác định trên cơ
sở tổng hợp tất cả kết quả của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 21trong doanh nghiệp Theo đó kết quả kinh doanh của doanh nghiệpđược hình thành từ tổng hợp kết quả kinh doanh của hoạt động sảnxuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác
Tài khoản sử dụng:
+ Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”
+ Tài khoản 421 “Lợi nhuận chưa phân phối”
Phương pháp hạch toán:
Sơ đồ 1.13: Hạch toán xác định kết quả kinh doanh
1.6 Đặc điểm hạch toán kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh theo chuẩn mực kế toán quốc tế và ở một số nước trên thế giới
1.6.1 Chuẩn mực kế toán quốc tế về doanh thu (IAS 18)
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 18, hạch toán doanh thucần tuân thủ các nguyên tắc sau:
● Doanh thu cần được tính toán theo giá trị hợp lý của khoảntiền nhận được:
- Chiết khấu thương mại và giảm giá hàng bán được giảm đểxác định giá trị thực tế Tuy nhiên chiết khấu thanh toán khôngthể giảm được
- Khi hàng hoá và dịch vụ được trao đổi lấy hàng hoá và dịch vụkhác có tính chất và giá trị tương tự thì không có khoản ghinhận doanh thu nào cả
- Khi hàng hoá và dịch vụ được cung cấp để đổi lấy hàng hoá và
Trang 22dịch vụ không tương tự về tính chất và giá trị thì doanh thuđược tính theo giá trị thực tế của hàng hoá dịch vụ nhận được.
● Điều kiện ghi nhận doanh thu:
- Những rủi ro và lợi ích quan trọng gắn liền với quyền sở hữuhàng hoá được chuyển sang cho người mua
- Doanh nghiệp không tiếp tục tham gia quản lý quyền sở hữucũng không kiểm soát hàng bán ra
- Giá trị doanh thu có thể được tính toán một cách đáng tin cậy
- Doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu được lợi ích kinh tế từgiao dịch
- Chi phí liên quan đến giao dịch có thể được tính toán một cáchđáng tin cậy
● Nếu khả năng thu hồi tiền đã được tính trong doanh thu làkhông chắc chắn thì khoản tiền này sẽ được hạch toán nhưmột khoản chi phí chứ không phải là một khoản điều chỉnhdoanh thu
Ta có thể dễ dàng so sánh và nhận thấy chuẩn mực kế toánViệt Nam về doanh thu VAS số 14 đã có sự tiếp thu và hướng tớichuẩn mực chung của thế giới
1.6.2 So sánh hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quảkinh doanh theo chế độ kế toán Mỹ với chế độ kế toán Việt Nam
Theo chế độ kế toán Mỹ, hoạt động tiêu thụ được định nghĩa
là việc cung cấp các sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ cho kháchhàng Doanh thu tiêu thụ được xác định là giá trị tài sản hoặc việc
Trang 23chấp nhận nợ mà doanh nghệip có được từ việc cung cấp các sảnphẩm hay thực hiện các dịch vụ đó.
Về nguyên tắc hạch toán tiêu thụ thành phẩm ở Mỹ có khác sovới Việt Nam ở một số điểm:
● Kế toán Mỹ không áp dụng thuế GTGT, trong hạch toándoanh thu, doanh thu được ghi nhận là tổng giá thanh toángiống như trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam tính thuếGTGT theo phương pháp trực tiếp
● Đối với các khoản chiết khấu thương mại: chiết khấuthương mại là khoản tiền chênh lệch giữa giá trên hóa đơn
và giá niêm yết mà ngưòi mua được hưởng khi mua hàng.Khoản chiết khấu thương mại này không được ghi lại trên
sổ sách kế toán vì đã được phản ánh trên giá bán thực tế củadoanh nghiệp
● Đối với chiết khấu thanh toán: tại Mỹ, khoản chiết khấuthanh toán mà doanh nghiệp cho khách hàng hưởng đượchạch toán như là một khoản giảm trừ doanh thu, trong khi ởViệt Nam khoản chiết khấu đó dược đưa vào chi phí hoạtđộng tài chính TK 635
● Đối với kế toán giá vốn hàng bán: Trong kế toán giá vốnhàng bán ở Mỹ, cũng có 2 phương pháp hạch toán là kêkhai thường xuyên và kiểm kê định kỳ Nhưng hạch toángiá vốn theo phương pháp kiểm kê định kỳ, kế toán Mỹ chỉđịnh khoản một lần vào cuối kỳ:
Trang 24Nợ TK “Thành phẩm”: Giá trị thành phẩm tồn kho cuốikỳ
Nợ TK “Giá vốn hàng bán”: Giá trị thành phẩm tiêu thụ
Có TK “Tổng hợp thu nhập”: Giá trị SP xản xuấttrong kỳ
Có TK “Thành phẩm”: Giá trị thành phẩm tồn khođầu kỳ
1.6.3 So sánh hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quảkinh doanh theo chế độ kế toán Pháp với chế độ kế toán Việt Nam
Nguyên tắc hạch toán tiêu thụ thành phẩm ở Pháp khác so vớiViệt Nam ở một số điểm:
● Giá bán hàng hoá được xác định là giá bán thực tế, tức làgiá ghi trên hoá đơn trừ đi các khoản giảm giá, bớt giá, hồikhấu chấp nhận cho người mua
● Giá bán được xác định là thu nhập không bao gồm cáckhoản thuế GTGT thu hộ nhà nước Kế toán chỉ áp dụngphương pháp khấu trừ
● Kế toán Pháp ghi nhận doanh thu ngay cả khi chưa lập hoáđơn bán hàng
Trang 25Việc kết chuyển lãi, lỗ kế toán Pháp sử dụng hai tài khoản riêng biệttrong khi kế toán Việt Nam sử dụng chung một tài khoản nhưng ghi vào hai bên Nợ và Có.
Trang 26Phần II: Thực trạng công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh tại công ty CP LHTP Hà Tây
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty CP LHTP HàTây
-Tên công ty: Công ty cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây-Địa chỉ: 267 Quang Trung, thành phố Hà Đông, Hà Tây
-Ngành nghề kinh doanh: rượu,bia, nước giải khát…
-Tel:0343-824794, 0343- 824230 Fax: 0343-827836
Công ty cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây trước đây là mộtdoanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quyết định số 467/QĐ-UBHC ngày 02/01/1971 của Uỷ ban hành chính Hà Sơn Bình (naythuộc tỉnh Hà Tây) Công ty bắt đầu khởi công xây dựng từ nhữngnăm 1969 và đến năm 1971 thì hoàn thành và đi vào sản xuất mangtên là “ Nhà máy bánh mì Ba Lan” Trong những năm đầu này,nhiệm vụ chủ yếu của nhà máy là chế biến lương thực và sản xuấtbánh mì, bánh quy với nguyên vật liệu nhập ngoại là chính Và với
sự giúp đỡ của những chuyên gia Ba Lan, Liên Xô cũ, Rumani hoạtđộng của nhà máy được xem là dẫn đầu tỉnh
Năm 1974 được phép của Ủy ban hành chính tỉnh cùng sự chỉđạo của Sở công nghiệp, nhà máy nhận thêm phân xưởng sản xuấtbánh kẹo, phân xưởng sản xuất mì sợi, nhà máy đạt công suất 6000tấn /năm Nhà máy đổi tên thành “ Nhà máy liên hợp Hà Sơn Bình”
Trang 27Năm 1980, trước sự khan hiếm nguồn nguyên vật liệu nhậpngoại cho bánh mì và mì sợi, nhà máy dần thu hẹp và dừng hẳn sảnxuất hai mặt hàng này và chuyển sang sản xuất bánh phồng tôm vớinguyên liệu chính là tinh bột sắn Sản phẩm của nhà máy có thểxuất khẩu sang các nước Đông Âu như Liên Xô, Ba Lan với côngsuất 2000 tấn /năm Quá trình sản xuất tạo điều kiện cho nhà máy
mở rộng và phát triển sản xuất thêm một số sản phẩm khác như: lạcbọc đường và bánh phở khô xuất khẩu đi Ba Lan, Mông Cổ, Đứctrong những năm 1987-1988
Năm 1989 các nước Đông âu có nhiều biến động lớn về chínhtrị đã ảnh hưởng xấu đến thị trường xuất khẩu, do vậy các mặt hàngphở khô và phồng tôm của nhà máy không tiêu thụ được, bị thu hẹpdần và dừng hẳn vào giữa năm 1989 Không chịu thất bại, nhà máy
đã tìm ra một giải pháp mới để ổn định sản xuất và bảo đảm đờisống cho người lao động Nhà máy đã chuyển sang lắp đặt một dâychuyền sản xuất bia hơi, trong điều kiện tận dụng phân xưởng sảnxuất bánh phồng tôm, phở khô và một dây chuyền nước giải khát rađời
Tháng 7/1993, nhà máy đầu tư thêm một dây chuyền sản xuấtkẹo cứng của Ba Lan với công suất 600 kg/giờ Cũng trong năm đócông suất bia hơi tăng 5.000.000 lít/năm, nước giải khát tăng từ500.000 lít/năm lên 1.000.000 lít/năm
Ngày 01/10/1997 nhà máy đổi tên thành “Công ty liên hợpthực phẩm Hà Tây” Trong những năm 1997 đến 1999, công ty đã
Trang 28đầu tư thêm một số dây chuyền sản xuất như sản xuất bánh lươngkhô, sản xuất bánh kem xốp…
Năm 2005,công ty đã thực hiện cổ phần hoá và lấy tên gọi là
“Công ty cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây” với số vốn điều lệ là9,35 tỷ đồng
Trải qua quá trình phát triển hơn 35 năm, công ty cổ phầnLHTP Hà Tây đã nỗ lực không ngừng để cải tiến chất lượng cũngnhư mẫu mã sản phẩm đáp ứng yêu cầu cạnh tranh khốc liệt Trongnhững năm này, công ty tiến hành cải tạo, nâng cấp nhà xưởng, đổimới trang thiết bị,công nghệ hiện đại Đến nay công ty đã có chỗđứng vững chắc trên thị trường, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh, chiếmđược cảm tình của khách hàng
Tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty một số năm gầnđây được khái quát qua bảng số liệu sau:
Đơnvị:VNĐChỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006Doanh thu thuần 22.324.118.653 24.065.688.78
5
26.382.449.770
Giá vốn hàng
bán
19.433.241.522
20.071.615.595
20.449.012.707
Lợi nhuận sau
Trang 29ứng tốc độ tăng 3,34% Như vậy, công ty đã có cố gắng trong việctăng doanh thu và lợi nhuận.
2.1.2.Tổ chức bộ máy hoạt động của công ty cổ phần LHTP Hà Tây
Công ty cổ phần LHTP Hà Tây là một doanh nghiệp có số vốn50% là vốn nhà nước, 50% là do các cổ đông đóng góp Do đó, bộmáy quản lý được tổ chức theo hình thức trực tuyến, các phòng ban
có liên hệ chặt chẽ với nhau theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức quản lý của công ty cổ phần LHTP Hà
Tây
Hội đồng quản trị của công ty gồm 5 thành viên, là bộ phận
cao nhất trong công ty, có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liênquan đến mục đích quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộcthẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Nhiệm vụ và quyền hạn củaHội đồng quản trị được ghi rõ trong điều lệ của công ty Theo đó,Hội đồng quản trị có quyền quyết định chiến lược phát triển củacông ty, thông qua các phương án đầu tư, phát triển thị trường, quản
lý nội bộ công ty và trình hoá các quyết định, quyết toán tài chínhhàng năm lên Đại hội đồng cổ đông Đồng thời Hội đồng quản trịhọp mỗi tháng một lần vì hiện nay các thành viên trong Hội đồngquản trị là các nhà quản lý trước đây của công ty Nhiệm kỳ của hộiđồng quản trị có thể kéo dài từ 3 đến 5 năm tuỳ theo hiệu quả hoạtđộng của bộ máy này Hiện nay, chủ tịch Hội đồng quản trị kiêmluôn giám đốc công ty Điều này là do công ty thuộc loại vừa và
Trang 30nhỏ, hơn nữa là doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá nên việc
tổ chức bộ máy quản lý mới hầu như không thay đổi so với trướckia
Ban giám đốc công ty hiện nay gồm có một giám đốc và hai
phó giám đốc: phó giám đốc kinh doanh và phó giám đốc tài chính
Giám đốc kiêm luôn chủ tịch Hội đồng quản trị, là người đứng
đầu công ty điều hành chung mọi hoạt động sản xuất kinh doanh,chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi vấn đề xảy ra trong công ty,
có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách nhànước, phê duyệt chính sách của lãnh đạo về hệ thống chất lượng,phê duyệt kế hoạch sản xuất năm và mục tiêu chất lượng, phân công
và giao cho các phó giám đốc, trưởng các bộ phận những nhiệm vụ,quyền hạn cụ thể cần thiết để họ chủ động sáng tạo trong quản lýđiều hành, giám sát kiểm tra các công việc thuộc lĩnh vực quản lýtheo chức danh
Phó giám đốc kinh doanh: phụ trách kinh doanh từ việc hợp
tác sản xuất, liên doanh đến liên kết công tác mua vật tư, tiêu thụhàng hoá; tổ chức hoạt động marketing Có nhiệm vụ tổng hợp tìnhhình kinh doanh của công ty để trình lên giám đốc Ngoài ra phógiám đốc kinh doanh còn chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch sảnxuất và tiêu thụ hàng tháng, kịp thời nắm bắt nhu cầu thị trường đểđiều tiết việc bán sản phẩm cho hợp lý ; tổ chức nghiên cứu mởrộng thị trường Phó giám đốc kinh doanh trực tiếp chỉ huy cácphòng vật tư, tiêu thụ sản phẩm và kinh doanh dịch vụ; thực hiện
Trang 31các công việc khác khi giám đốc giao.
Phó giám đốc tài chính: phụ trách các vấn đề liên quan đến
tình hình tài chính và việc lập kế hoạch, mục tiêu cho công ty nhằmđưa ra các mục tiêu phương hướng thích hợp với từng giai đoạn,thời kỳ trong công ty Phó giám đốc tài chính trực tiếp chỉ huyphòng kế toán tài vụ; thực hiện các công việc khác do giám đốc uỷquyền
Các phòng ban khác :
Phòng tổ chức lao động tiền lương: tham mưu cho lãnh đạo,
định ra đường lối sắp xếp, phân phối lao động một cách hợp lý, xâydựng kế hoạch cán bộ quản lý và các bộ phận khoa học kỹ thuậttrong công ty, xây dựng chế độ tiền lương, thưởng, bảo hiểm xã hội
Phòng hành chính: phụ trách việc tiếp khách và các thủ tục
hành chính trong công ty
Phòng vật tư, tiêu thụ sản phẩm: bộ phận tiêu thụ bán hàng có
trách nhiệm nghiên cứu, thâm nhập khảo sát thị trường để từ đó đưa
ra các phương án tiêu thụ tốt nhất, hiệu quả nhất nhằm thu hút sốlượng lớn khách hàng tìm đến sản phẩm của công ty, đem lại doanhthu và lợi nhuận đáng kể
Phòng kinh doanh phục vụ đời sống: quan tâm chăm lo đời
sống cán bộ, công nhân viên, đồng thời phụ trách việc tổ chức, giớithiệu và bán sản phẩm
Phòng kế toán tài vụ: quản lý và chịu trách nhiệm chính trong
vấn đề quản lý tài chính của công ty Thực hiện đúng các chế độ,
Trang 32chính sách kế toán hiện hành của nhà nước Căn cứ vào tình hìnhsản xuất kinh doanh của công ty đề ra những phương án, chiến lượctối ưu nhất phù hợp với quy mô sản xuất của công ty.
Các phân xưởng bao gồm phân xưởng cơ điện và phân xưởng
sản xuất bia rượu
Phân xưởng cơ điện có nhiệm vụ quản lý các loại máy mócthiết bị, dây chuyền sản xuất Kiểm tra máy móc thiết bị trước vàsau khi vận hành để phát hiện và xử lý kịp thời đối với mọi biến cốxảy ra nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra xuyên suốt,đảm bảo an toàn cho người lao động
Phân xưởng sản xuất bia, rượu: phụ trách sản xuất các sảnphẩm của công ty
Phòng kĩ thuật kiểm nghiệm KCS: có nhiệm vụ nghiên cứu chế
tạo sản phẩm mới và nghiệm thu sản phẩm hàng hoá; nghiên cứu,cải tạo, đổi mới quy trình công nghệ
Qua sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần liênhợp thực phẩm Hà Tây, ta thấy giữa các bộ phận, phòng ban và bangiám đốc,Hội đồng quản trị có quan hệ chặt chẽ với nhau Trên cơ
sở chức năng quyền hạn của mình, giám đốc tiến hành phân quyềncho các phó giám đốc Trên cơ sở được phân quyền, các phó giámđốc chịu trách nhiệm chỉ đạo các phòng ban thực hiện các nhiệm vụđược giao Giữa các phòng ban trong công ty cũng có sự phối hợphoạt động với nhau, cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sxkd của công ty cổ phần LHTP Hà Tây
Trang 33Từ khi thành lập, công ty cổ phần LHTP Hà Tây có chức năngchủ yếu là sản xuất và kinh doanh các mặt hàng như: bia, rượu,nước khoáng, bánh kẹo Cho đến nay, hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty rất đa dạng và phong phú, luôn thay đổi mẫu mã,chất lượng cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Một số mặthàng được thay thế nhưng chủ yếu vẫn là sản phẩm bia các loại vànước giải khát Có thể nói, mùa hè chính là thời điểm tốt nhất đểkinh doanh hai mặt hàng này Chính vì vậy trong chiến lược kinhdoanh của công ty luôn có những tính toán cụ thể cho kế hoạch sảnxuất sản phẩm theo mùa vụ.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty không chỉ bó hẹptrong phạm vi tỉnh mà công ty còn mở rộng thị trường và đặt cácmối quan hệ làm ăn với các tỉnh khác Trong tỉnh, sản phẩm củacông ty có mặt ở khắp tất cả các huyện, thị xã nhưng tập trung chủyếu ở thành phố Hà Đông (chủ yếu là bia), thị xã Sơn Tây, huyệnỨng Hoà, huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Ba Vì, Vân Đình, PhúcThọ… Còn ngoại tỉnh, sản phẩm của công ty được đưa đi chủ yếucác tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Yên Bái, Hoà Bình, Bắc Giang… vàmột số tỉnh miền Trung như: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh…
2.1.4 Tổ chức công tác kế toán của công ty cổ phần LHTP Hà Tây
Trang 342.1.4.1.Chính sách kế toán áp dụng tại công ty cổ phần LHTP Hà Tây
Trang 35Chế độ kế toán áp dụng tại công ty cổ phần LHTP Hà Tâytheo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20 tháng 03năm 2006 thay thế cho Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT ra ngày1/11/1995 bắt đầu từ 1/7/2006 Theo đó, kế toán tại công ty tuân thủcác quy định chung như sau:
Trang 36Niên độ kế toán là từ ngày 1/1/N đến ngày 31/12/N.
Trang 37Để thuận tiện cho việc theo dõi và báo cáo cho cơ quan quản
lý Nhà Nước cũng như quản trị trong doanh nghiệp, kế toán trongdoanh nghiệp lập báo cáo theo quí và theo năm
Trang 38Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán là Đồng Việt Nam.
Trang 39Hình thức kế toán ghi sổ: Chứng tứ ghi sổ trên máy vi tính.Công ty hiện đang sử dụng phần mềm kế toán Esoft.
Trang 40Phương pháp tính thuế được doanh nghiệp áp dụng kê khai vànộp thuế là phương pháp khấu trừ.