1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG

51 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Định Chế Tài Chính Phi Ngân Hàng
Tác giả Lê Duy Đức, Nguyễn Xuân Đức, Phan Lê Anh Nguyên, Nguyễn Diễm Quỳnh
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Nhã Uyên
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Ở miền Nam trước năm 1975: Có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã triển khai các loại hình nghiệp vụ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểmchuyên chở, bảo hiểm xe tự động, bảo h

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

&&&&&

HỌC PHẦN: THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH CHỦ ĐỀ 5: CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG

Giảng viên : Ths Nguyễn Thị Nhã Uyên

Lớp : 46K18.1

Họ và tên thành viên: Lê Duy Đức

Nguyễn Xuân ĐứcPhan Lê Anh NguyênNguyễn Diễm Quỳnh

Trang 2

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2022

Trang 4

CHỦ ĐỀ 5: CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG

A1 Lịch sử hình thành và sự phát triển của công ty bảo hiểm tại Việt Nam.

Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của ngành bảohiểm thế giới do nhiều điều kiện chủ quan cũng như khách quan Tuy nhiên, hiệnnay, ngành bảo hiểm đang dần dần bắt kịp xu thế phát triển chung của bảo hiểmtrong khu vực và quốc tế và ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếu được củamình đối với nền kinh tế Chúng ta có thể nhận thấy điều này khi theo dõi quá trìnhphát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ những ngày đầu đến nay

1 Trước năm 1986:

Hoạt động bảo hiểm ở nước ta ít nhiều cũng đã có những bước phát triển ngay

từ thời thực dân Pháp Cho tới khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt,hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở miền Nam khá phát triển dưới chế độ Ngụyquyền

* Ở miền Nam trước năm 1975: Có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã

triển khai các loại hình nghiệp vụ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểmchuyên chở, bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động…Các công ty hoạt động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần nào nhu cầu về bảo hiểmtrên toàn thị trường miền Nam Các công ty bảo hiểm trong nước thường đượcthành lập dưới dạng Hội vô danh và Hội tương hỗ Các công ty nước ngoài thànhlập ở Việt Nam dưới hình thức công ty chi nhánh Hầu hết các công ty đều đặt trụ

sở chính ở Sài Gòn Mạng lưới trung gian bảo hiểm là môi giới và đại lý bảo hiểmđược sử dụng phổ biến để kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi toàn miền Nam Để

Trang 5

đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh lành mạnh, các công

ty bảo hiểm đã sớm thành lập hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm của mình Hiệp hội cóchức năng thông tin tư vấn, đào tạo, tạo ra một môi trường hợp tác Việc quản lýnhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được thực hiện thông qua Bộ Tài chính Cácvăn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo hiểm cũng sớm ra đời Ngoài ra, Hộiđồng tư vấn bảo hiểm quốc gia cũng đóng vai trò khá quan trọng

* Ở miền Bắc trước năm 1975: Hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi

có sự ra đời của Bảo Việt Để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoạithương, ngày 17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Công tyBảo hiểm Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt chính thức

đi vào hoạt động Đây cũng là công ty bảo hiểm Nhà nước duy nhất đại diện chongành bảo hiểm Việt Nam Từ ngày thành lập cho đến trước năm 1975, do nhữngđiều kiện khó khăn của chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt ở miền Bắc chưa pháttriển Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ có trụ sở ở Hà Nội và chi nhánh ở Hải Phòng thựchiện chủ yếu 3 nghiệp vụ: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tàu vàtái bảo hiểm Tỉ lệ tái bảo hiểm cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba Lan lúc đócũng tương đối cao

* Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng: Cũng như tất cả các ngành kinh

tế khác, các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam được tiến hành quốc hữu hoá Công

ty Bảo hiểm và Tái bảo hiểm Việt Nam được thành lập để thực hiện tiếp tráchnhiệm của các công ty cũ đối với những người được bảo hiểm muốn tiếp tục hợpđồng Đối với các công ty bảo hiểm nước ngoài, công ty có trách nhiệm thanh toán

và đòi nợ theo đúng hợp đồng Năm 1976, khi hoàn toàn thống nhất đất nước vềmặt Nhà nước, công ty được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm ViệtNam tại thành phố Hồ Chí Minh Thời kỳ này, Bảo Việt là công ty duy nhất hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch toán kế toán kinh tế thốngnhất toàn ngành Công ty trực thuộc Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ Tài chínhthống nhất quản lý công tác bảo hiểm Nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụbảo hiểm trong cả nước Trong giai đoạn này, ở Việt Nam, Bảo Việt độc quyền kinhdoanh bảo hiểm nên các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực hiện

Trang 6

các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo hiểm Có thể nói,thời gian này, hoạt động bảo hiểm ở nước ta vẫn chưa phát triển.

2 Từ năm 1986 đến nay:

Năm 1986 đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp phát triển kinh tế củanước ta Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI diễn ra vào nămnày đã đưa ra chính sách đổi mới, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham giakinh doanh theo các quy định của pháp luật Đồng thời, Việt Nam cũng đã tiến hành

mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư từ nhiều quốc gia, khu vực Hoạt động sản xuất –kinh doanh từng bước phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao đòi hỏi ngànhbảo hiểm cũng phải đổi mới để đáp ứng nhu cầu, thích hợp với hoàn cảnh mới Sựxuất hiện của các công ty bảo hiểm mới, công ty liên doanh, công ty cổ phần, công

ty 100% vốn nước ngoài… sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển bảohiểm ở nước ta

Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đãđược Chính phủ ban hành, mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm ViệtNam Nó phá vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổchức bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế Mặc dùvậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời:Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO… và các công ty liên doanh bảo hiểm như: UIC,VIA,… Ngoài ra, với khoảng 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nướcngoài và hơn 70.000 đại lý bảo hiểm thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triểnngày một sôi động

Việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng như sự xuất hiện của các công ty mới

đã tạo điều kiện cho bảo hiểm phát triển mạnh mẽ trong một môi trường cạnh tranhngày càng quyết liệt Các công ty liên tục hoàn thiện những sản phẩm cũ, đồng thờinghiên cứu và giới thiệu những loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới đa dạng và hấpdẫn Người tham gia bảo hiểm có thể tự do lựa chọn người bảo hiểm, loại hình dịch

vụ bảo hiểm với mức phí cạnh tranh nhất Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽngày càng đa dạng hơn và số lượng, chủng loại sản phẩm chắc chắn sẽ còn đượcrộng mở Không chỉ có vậy, để nâng cao tính cạnh tranh, công tác chăm sóc khách

Trang 7

hàng cũng ngày càng được chú trọng Bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một thịtrường vẫn đang rất giàu tiềm năng phát triển.

A2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM.

I Những khái niệm chung.

1 Khái niệm.

Công ty bảo hiểm là định chế cung cấp nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau đểbảo vệ cá nhân và doanh nghiệp, chống lại những rủi ro về tổn thất tài chính bằngcách tập hợp rủi ro của rất nhiều người đóng bảo hiểm

2 Ước tính mức phí bảo hiểm.

- Nhờ các số liệu thu thập được trong quá khứ, chuyên viên bảo hiểm có thểtính toán xác suất xuất hiện của một biến cố nhất định và tính mức thiệt hại do mỗibiến cố gây ra Dựa vào những thông tin này, chuyên viên bảo hiểm ước tính mứcphí bảo hiểm cần thiết và thu phí bảo hiểm để đáp ứng yêu cầu chi trả tiền bảo hiểm

và đảm bảo mức lợi nhuận hợp lí

- Các khó khăn khi định giá bảo hiểm bao gồm có:

+ Dựa trên thống kê về dân số nói chung

● Đây là dịch vụ tài chính đặc biệt, là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro.Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình, nó là sự đảm bảo về mặt tài chínhtrước rủi ro cho người được bảo hiểm kèm theo là dịch vụ có liên quan

● Chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ đảo ngược, tức là sản phẩm đượcbán ra trước, doanh thu được thực hiện sau đó mới phát sinh chi phí

Trang 8

- Thứ hai: doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức, thành lập và hoạt động theocác quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật.

- Thứ ba: doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính

● Để quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thếgiới đều giao cho một cơ quan quản lý nhà nước nhất định Đây là đặc điểm giúpphân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong nền kinh tế

3.2 Nội dung hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm:

- Thứ nhất: Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm

● Trong kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ độngbán bảo hiểm dưới các hình thức sau: trực tiếp; thông qua các đại lý bảo hiểm, môigiới bảo hiểm; thông qua đấu thầu; các hình thức khác phù hợp với quy định củapháp luật

● Trong kinh doanh tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền nhượngchuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệpbảo hiểm khác nhưng không được nhượng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhậntrong một hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác để hưởng hoa hồngtái bảo hiểm

- Thứ hai: Quản lý quỹ và đầu tư vốn

● Quản lý quỹ: Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luônduy trì mức vốn điều lệ đã đóng góp không thấp hơn mức vốn pháp định đã quyđịnh

● Trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ: Là khoản tiền mà doanh nghiệp bảohiểm phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đãđược xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết

● Đầu tư vốn: Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm : vốndiều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ dự trữ tự nguyện, các khoản lãi những năm trướcchưa sử dụng và các quỹ được sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại củadoanh nghiệp, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

3.3 Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm:

3.3.1 Đối tượng kinh doanh đa dạng:

Trang 9

- Bảo hiểm tài sản: BH ô tô, xe máy, BH máy bay, BH tàu thủy, BH vậnchuyển hàng hóa nội địa và xuất nhập khẩu, BH đầu máy và toa xe, BH tài sản cánhân và doanh nghiệp, BH tín dụng.

- Bảo hiểm con người: BH nhân thọ, BH tai nạn lao động, BH tai nạn hànhkhách, BH tai nạn học sinh, sinh viên…

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: BH trách nhiệm dân sự lái xe cơ giới, BHtrách nhiệm dân sự chủ tàu, BH trách nhiệm dân sự chủ hãng hàng không…

3.3 2 Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn lớn:

Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn Nguồnvốn này các Công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án cómức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận

3.3 3 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng bảo hiểm:

Doanh nghiệp phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm Khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán, doanh nghiệpphải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán, đồngthời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơmất khả năng thanh toán và phương án khôi phục Nếu không khôi phục được khảnăng thanh toán, doanh nghiệp sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt

3.3 4 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh:

Doanh nghiệp bảo hiểm làm quen với hội nhập hợp tác quốc tế và tạo ra sựcạnh tranh để doanh nghiệp bảo hiểm tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mìnhnhằm đem lại lợi ích tốt hơn cho người tham gia bảo hiểm

Trong quá trình phát triển thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải hợp tác đểđưa đến thống nhất và đòi hỏi canh tranh lành mạnh

3.3 5 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân theo các quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan:

Để các DN bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường cầnthiết phải điều chỉnh bằng pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan đến hoạtđộng bảo hiểm

Trang 10

4 Vai trò của công ty bảo hiểm:

a) Khía cạnh kinh tế - xã hội:

- Những rủi ro tổn thất phát sinh làm thiệt hại về người và của, làm gián đoạnquá trình sinh hoạt của dân cư, ngưng trệ hoạt động sản xuất kinh doanh của nềnkinh tế Quỹ dự trữ Bảo hiểm được tạo lập trước 1 cách có ý thức, nhằm khắc phụchậu quả nói trên, bằng cách bù đắp các tổn thất phát sinh, tái lập và đảm bảo tínhthường xuyên liên tục của xã hội Như vậy, bảo hiểm có vai trò bảo toàn vốn sảnxuất kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia mua bảo hiểm, thúc đẩy ýthức đề phòng – hạn chế tổn thất cho mọi thành viên trong xã hội Giải quyết việclàm cho phần lớn lực lượng lao động và tăng thu nhập ngân sách nhà nước

- Đối với công ty bảo hiểm: bảo hiểm chính là một kênh tập trung vốn của cáccông ty bảo hiểm Với số tiền mà khách hàng đóng vào, sẽ giúp công ty bảo hiểmđầu tư vào các ngành kinh doanh khác, mamg lại lợi nhuận nhiều hơn, qua đó giúptăng khả năng tài chính của công ty, đồng thời đảm bảo nguồn tiền mặt đối với cáchoạt động thường ngày của một công ty

- Đối với xã hội: bảo hiểm là một kênh luân chuyển tiền tệ của nền kinh tế Nótạo ra sự an tâm cho dân chúng và nhà đầu tư, thúc đẩy hoạt động tài chính, các hoạtđộng kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm

Sau ngân hàng thì công ty bảo hiểm là những trung gian tài chính có khả nănghuy động lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ dân chúng, từ đó cung cấp vốn cho nềnkinh tế, đồng thời công ty bảo hiểm cũng được coi như tổ chức đầu tư chuyênnghiệp, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, làm cho thị trường tài chính tiền

tệ hoạt động ổn định và có hiệu quả

5 Phân loại công ty bảo hiểm:

Trang 11

- Theo tính chất bảo hiểm, các công ty bảo hiểm có thể được phân thành hainhóm:

+ Các công ty bảo hiểm nhân thọ, bán các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, niênkim và các sản phẩm lương hưu Đây là loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro cótính chất thay đổi rõ rệt theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọcon người Các hợp đồng loại này thường là dài hạn (10 năm, 20 năm, trọn đời…)+ Các công ty bảo hiểm phi nhận thọ hoặc tài sản/thương vong, bán các loạibảo hiểm khác Đây là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất ổnđịnh tương đối theo thời gian và thường độc lập với tuổi thọ con người Hợp đồngbảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm)

a) Công ty bảo hiểm nhân thọ:

- Các công ty bảo hiểm nhân thọ chiếm một lực lượng lớn trong ngành côngnghiệp bảo hiểm Các công ty này bồi thường theo chính sách cho người thụ hưởngsau khi người được bảo hiểm mất hoặc người được bảo hiểm sống đến một thờiđiểm ghi rõ trong hợp đồng

- Phí bảo hiểm phụ thuộc vào xác suất công ty bảo hiểm phải thực hiện bồithường cho người thụ hưởng cũng như là quy mô và thời gian sẽ phải thanh toán

- Nguồn vốn của công ty bảo hiểm xuất phát chủ yếu từ

+ Phí bảo hiểm (khoảng 31%)

+ Nguồn vốn từ việc cung cấp các chương trình niên kim

+ Thu nhập từ đầu tư

+ Vốn: lợi nhuận giữ lại và phát hành cổ phiếu

- Nguồn vốn này sẽ được sử dụng trong việc mua các trái phiếu chính phủ, tráiphiếu công ty, cho vay thế chấp bất động sản, cho thuê bất động sản với mục đíchthương mại và cho vay theo chính sách (chỉ áp dụng đối với người mua bảo hiểmnhân thọ trọn đời)

Trang 12

b) Công ty bảo hiểm phi nhân thọ:

- Bảo hiểm tài sản và thiệt hại: Bảo vệ khỏi cháy nổ, trộm cắp, trách nhiệmpháp lý và những sự kiện dẫn đến các tổn thất về kinh tế và phi kinh tế khác đối vớitài sản của người mua bảo hiểm

- Bảo hiểm sức khỏe: Chi trả các chi phí y tế tại các Bệnh viện và phòng khámkhi gặp rủi ro ốm đau, bệnh tật hay thai sản thuộc phạm vi bảo hiểm Chi phí bảohiểm dành cho loại bảo hiểm nay là khá cao Bảo hiểm sức khỏe có 2 loại chươngtrình chăm sóc sức khỏe: chương trình quản lí về y tế và chương trình bồi thườngthiệt hại

- Bảo hiểm doanh nghiệp: Bảo vệ doanh nghiệp khỏi nhiều rủi ro

- Bảo hiểm trái phiếu: Bảo vệ những nhà đầu tư thu mua trái phiếu khi ngườibán trái phiếu bị vỡ nợ

- Bảo hiểm thế chấp: Bảo vệ người cho vay thế chấp khi người vay theo đơnbảo hiểm không thể thanh toán nợ và vỡ nợ Phí bảo hiểm dành cho loại bảo hiểmnày được trả định kì

II Thực trạng công ty bảo hiểm tại Việt Nam.

1 Các công ty bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.

Thông qua sự đánh giá khách quan và độc lập, căn cứ theo kết quả đánh giánăng lực tài chính doanh nghiệp; đánh giá uy tín doanh nghiệp trên truyền thôngtheo phương pháp Media coding; và khảo sát đối tượng nghiên cứu và các bên liênquan, Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) đã công bốTop 10 Công ty bảo hiểm nhân thọ uy tín năm 2022 như sau:

1.Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ

2.Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam

3.Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt Nam

4 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA (Việt Nam)

5 Công ty TNHH Manulife Việt Nam

6 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Chubb Việt Nam

7 Công Ty TNHH bảo hiểm nhân thọ MB Ageas

Trang 13

8 Công ty TNHH bảo hiểm HANWHA Life Việt Nam

9 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Sun Life Việt Nam

10 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Cathay Việt Nam

Hình Top 10 Công ty bảo hiểm nhân thọ uy tín năm 2021Theo số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tính tới cuốinăm 2021, tổng tài sản của thị trường bảo hiểm ước đạt 710.002 tỷ đồng, tăng23,86% so với cùng kỳ năm 2020 Các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nềnkinh tế ước đạt 577.069 tỷ đồng, tăng 22,24% so với cùng kỳ năm 2020 Tổng dựphòng nghiệp vụ bảo hiểm năm 2021 ước đạt 455.606 tỷ đồng, tăng 24,89% so vớicùng kỳ năm 2020

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, năm 2022, dù diễn biến Covid-19vẫn còn khá phức tạp, đồng thời sự phục hồi của nền kinh tế còn nhiều thách thức,khó khăn, tuy nhiên thị trường bảo hiểm vẫn dự kiến khá tích cực Theo đó, hầu hếtcác chỉ tiêu quan trọng đều dự báo sẽ vẫn duy trì tăng trưởng 2 con số Theo đó,tổng tài sản thị trường bảo hiểm năm 2022 ước đạt 808.908 tỷ đồng, tăng 13,93% sovới cùng kỳ năm 2021 Đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 677.036 tỷ đồng, tăng

Trang 14

17,32% so với năm 2021 Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm ước đạt 533.758 tỷđồng, tăng 17,15% so với năm 2021.

Tổng nguồn vốn chủ sở hữu các doanh nghiệp bảo hiểm năm 2022 ước đạt165.069 tỷ đồng, tăng 8,25% so với năm 2021 Tổng doanh thu phí bảo hiểm năm

2022 ước đạt 253.730 tỷ đồng, tăng 18,04% so với năm 2021 Chi trả quyền lợi bảohiểm trong 2022 ước đạt 58.291 tỷ đồng, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm 2021.Nhìn chung, có thể thấy bảo hiểm vẫn là ngành phát triển tiềm năng trong thờiđại mới, khi dịch bệnh, thiên tai hoành hành, giá trị của con người ngày càng đượccoi trọng và cần bảo vệ nhiều hơn

2 Đánh giá thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam trong năm 2021.

Theo các báo cáo cập nhật gần nhất của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm vàphân tích của tác giả, mặc dù chịu tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 nhưngthị trường bảo hiểm trong nước vẫn tăng trưởng ổn định Tổng doanh thu phí bảohiểm cả năm 2021 đạt khoảng 215.000 tỷ đồng, tăng 24,98% so với cùng kỳ năm

2020, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt khoảng 47.245 tỷ đồng,tăng 2,26% so với cùng kỳ năm 2020 và doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạtkhoảng 123.600 tỷ đồng, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2020, cụ thể đối với bảohiểm nhân thọ và phi nhân thọ như sau:

2.1 Đối với bảo hiểm phi nhân thọ.

Tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ năm 2021 là56.339 tỷ đồng, tăng 2,26% so với cùng kỳ năm 2020 Dẫn đầu thị trường về doanhthu phí gốc là Bảo Việt với doanh thu đạt khoảng 8.149 tỷ đồng (giảm 9% so vớicùng kỳ năm 2020, chiếm 15,56% thị phần) Tiếp đến là PVI với doanh thu đạtkhoảng 7.533 tỷ đồng (tăng 10,75%, chiếm 14,38% thị phần), PTI với doanh thu đạtkhoảng 5.250 tỷ đồng (giảm 2,55%, chiếm 10,03% thị phần), Bảo Minh với doanhthu đạt khoảng 3.965 tỷ đồng (tăng 1,15%, chiếm 7,57% thị phần), MIC với doanhthu đạt khoảng 3.418 tỷ đồng (tăng 21,41%, chiếm 6,53% thị phần), PJICO vớidoanh thu đạt khoảng 2.916 tỷ đồng (giảm 8,52%, chiếm 5,57% thị phần) Ngoàicác doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu thị trường nêu trên, một số doanh nghiệp bảo

Trang 15

hiểm có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc trên 50% so với cùng kỳ năm

2020 như OPES (813 tỷ đồng; tăng 78,13%); Chubb (283 tỷ đồng; tăng 50,58%)

Về thị phần bảo hiểm thì Bảo Việt vẫn là đơn vị dẫn đầu với tỷ lệ là 15,48%,tiếp đến là PVI 14,45%, PTI 10,02%, Bảo Minh 7,64%, MIC 6,44%, Pjico 5,53%

và cuối cùng là các đơn vị khác với tổng tỷ trọng là 40,44%

Hình Thị phần theo doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2021Xét theo nghiệp vụ, bảo hiểm sức khỏe đạt 15.036 tỷ đồng, chiếm 31,82% -lớn nhất trong tổng doanh thu; tiếp theo là bảo hiểm xe cơ giới đạt 12.588 tỷ đồng,chiếm 26,64%; bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại đạt 6.552 tỷ đồng, chiếm13,87%; bảo hiểm cháy nổ đạt 6.132 tỷ đồng, chiếm 12,98%

Trang 16

Hình Tỷ trọng doanh thu theo nghiệp vụ bảo hiểm năm 2021

*Về bồi thường: Số tiền thực bồi thường bảo hiểm gốc của thị trường phi

nhân thọ năm 2021 là khoảng 16.862 tỷ đồng, tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc là29,74%; thấp hơn tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc cùng kỳ năm 2020 (39,06%).19/32 doanh nghiệp bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có

tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc thấp hơn tỷ lệ bồi thường của toàn thị trường 13doanh nghiệp bảo hiểm còn lại có tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc cao hơn tỷ lệbồi thường của toàn thị trường, trong đó có 04 doanh nghiệp bảo hiểm có tỷ lệ bồithường trên 40% là Phú Hưng (90,9%), Bảo Việt (42,41%), BHV (41,44%) vàLiberty (40,27%)

2.2 Đối với bảo hiểm nhân thọ.

2.2.1 Kết quả khai thác mới.

Tổng doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới năm 2021 đạt 47.491 tỷ đồng,tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước Thị phần doanh thu phí bảo hiểm khai thácmới như sau: Manulife (24,1%), Bảo Việt nhân thọ (12,8%), Prudential (12,7%),Dai-ichi (12,2%), AIA (8,1%), MB Ageas (7,3%), Sun Life (4,6%), FWD (4,3%),Generali (3,3%), Chubb (2,5%), Cathay (2,2%), Hanwha (2%), Aviva (1,5%), 05doanh nghiệp còn lại chiếm thị phần 2,4%

Trang 17

Nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 83,6% doanhthu phí khai thác mới Tiếp theo là bảo hiểm hỗn hợp, chiếm 2,8%; bảo hiểm tử kỳchiếm 1,9%; các nghiệp vụ chính còn lại (bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm trả tiền định

kỳ, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm sức khỏe (sản phẩm chính)) chiếm 1,4% Doanh thuphí bảo hiểm bổ trợ chiếm 10,3% So với cùng kỳ năm trước, doanh thu khai thácmới của nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư tăng 35,4%, nghiệp vụ bảo hiểm hỗnhợp giảm 53,3%, nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ tăng 4,4%

Về số lượng hợp đồng khai thác mới, năm 2021 đạt khoảng 3.574.600 hợpđồng, dẫn đầu là nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư với 1.616.314 hợp đồng bảohiểm cá nhân và thành viên trong nhóm (chiếm 54,3%, tăng 6% so với cùng kỳ năm2020), tiếp theo là sản phẩm bảo hiểm tử kỳ với 1.005.509 hợp đồng (chiếm 33,8%,tăng 28,1% so với cùng kỳ năm 2020), nghiệp vụ bảo hiểm hỗn hợp là 83.877 hợpđồng (chiếm 2,8%, giảm 56% so với cùng kỳ năm 2020) Số lượng hợp đồng khaithác mới các nghiệp vụ chính còn lại chiếm 9,2%, tăng 230% so với cùng kỳ năm2020

Hình Tỷ trọng hợp đồng khai thác mới theo nghiệp vụ năm 2021

2.2.2 Quy mô thị trường bảo hiểm nhân thọ.

Số lượng hợp đồng có hiệu lực (hợp đồng chính) đạt khoảng 13.179.600 hợpđồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2020 Tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ

Trang 18

đạt khoảng 123.600 tỷ đồng, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2020 Tính doanh thuphí theo từng nghiệp vụ thì nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư chiếm tỷ trọng lớnnhất, với 67,2%; tiếp theo là nghiệp vụ bảo hiểm hỗn hợp 20,7%, các nghiệp vụchính còn lại chiếm tỷ trọng 1,9% Doanh thu phí bảo hiểm bổ trợ đóng góp 10,2%tổng doanh thu phí toàn thị trường Thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm cụ thểnhư sau: Bảo Việt nhân thọ (19,8%), Manulife (19,1%), Prudential (16,8%), Dai-ichi (11,7%), AIA (10,6%), MB Ageas (3,7%), Chubb (2,7%), Generali (2,7%),FWD (2,5%), Hanwha (2,5%), Aviva (2,1%), Sun Life (2,1%), Cathay (1,5%),BIDV MetLife (1%), các doanh nghiệp còn lại chiếm thị phần nhỏ dưới 1%.

2.2.3 Về môi giới bảo hiểm.

Tổng số phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới bảo hiểm năm 2021 là 13.011 tỷđồng, (tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước), trong đó phí bảo hiểm thu xếp gốcđạt khoảng 6.790 tỷ đồng (tăng 13,1% so với cùng kỳ), phí tái bảo hiểm thu xếp đạt5.200 tỷ đồng (tăng 26,8% so với cùng kỳ)

Tổng doanh thu hoa hồng môi giới bảo hiểm năm 2021 đạt khoảng 1.000 tỷđồng (tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước), trong đó hoa hồng môi giới bảo hiểmgốc đạt khoảng 800 tỷ đồng (tăng 13,4% so với cùng kỳ), hoa hồng môi giới tái bảohiểm đạt khoảng 210 tỷ đồng (tăng 43,4% so với cùng kỳ)

A3 NHỮNG TỒN TẠI CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM:

I Thực trạng và nguyên nhân trục lợi, gian lận bảo hiểm ở Việt Nam.

1 Thực trạng trục lợi, gian lận bảo hiểm ở Việt Nam.

Sau 20 năm hình thành thị trường bảo hiểm, những năm gần đây, hiện tượngtrục lợi, gian lận bảo hiểm diễn ra ngày càng nhiều trên diện rộng, ở tất cả các lĩnhvực – nghiệp vụ bảo hiểm, tất cả các công ty có mặt trên thị trường:

- Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ: từ năm 2007 đến năm 2013, đã xảy rakhoảng 52.860 vụ khiếu nại trục lợi (tương đương số tiền là 520 tỷ đồng) Số vụkhiếu nại trục lợi chiếm từ 6 – 28% tổng số vụ khiếu nại tùy thuộc từng doanhnghiệp bảo hiểm mà nhiều nhất là các doanh nghiệp đứng đầu thị trường nhưPrudential, Bảo Việt nhân thọ, Dai-ichi, ACE và AIA Trong đó: Bảo hiểm bổ trợ

Trang 19

sức khỏe chiếm 93% số vụ trục lợi toàn thị trường; Bảo hiểm hỗn hợp: 4%, Bảohiểm trọn đời: 1%.

- Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ: Giai đoạn 2007 – 2012, đã xảy rakhoảng 5.079 vụ khiếu nại trục lợi (tương đương số tiền khiếu nại là 215 tỷ đồng),trung bình 35.9 tỷ/năm Các doanh nghiệp phát hiện trục lợi nhiều nhất gồm: BảoViệt 3193 vụ(tương đương 31 tỷ đồng); liberty: 1095 vụ(12 tỷ đồng); PJICO: 315

vụ (114 tỷ đồng) Các chuyên gia bảo hiểm nhận định rằng “trục lợi, gian lận bảohiểm ở VN ngày càng “sâu”, phức tạp, tinh vi và gắn với bất kỳ khâu nào trong quytrình nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm”

2 Nguyên nhân.

- Xuất phát chủ yếu từ sự bất cập của hệ thống luật pháp:

+ Đối với chế tài hành chính: Nghị định số 98/2013/NĐ – CP không đề cập

đến khái niệm hay đưa ra một định nghĩa nào rõ ràng về trục lợi bảo hiểm Nghịđịnh chỉ quy định chủ yếu xử phạt hành chính đối với các hành vi gian dối của phíadoanh nghiệp bảo hiểm chứ không xử lý đối với hành vi gian dối của khách hàngbảo hiểm

+ Đối với chế tài dân sự: Luật kinh doanh bảo hiểm cũng không đề cập đến

trục lợi bảo hiểm mà chỉ đề cập đến “nghĩa vụ cung cấp thông tin” và “quyền củadoanh nghiệp bảo hiểm” từ chối chi trả , bồi thường khi bên mua bảo hiểm cung cấpthông tin không trung thực Theo đó, việc chế tài chỉ dừng lại ở việc doanh nghiệpbảo hiểm được từ chối giao dịch hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ dân sự theo hợpđồng bằng cách tuyên bố “hợp đồng vô hiệu”

+ Đối với chế tài hình sự: Trước tình hình hành vi gian lận trong kinh doanh

bảo hiểm ngày càng tinh vi và có xu hướng gia tăng thì việc đưa ra một chế tài cósức răn đe hơn là rất cần thiết Dó đó, lần đầu tiên trong Bộ luật hình sự 2015 củaViệt Nam đã hình sự hóa tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm Tội gian lận trongkinh doanh bảo hiểm được quy định, hướng dẫn tại Điều 213 Bộ luật hình sự số100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Bên cạnh đó, có thể thấy các nguyên nhân khác như:

- Từ phía doanh nghiệp bảo hiểm:

Trang 20

+ Ý thức, hiểu biết pháp luật nói chung, pháp luật kinh doanh bảo hiểm củanhân viên các doanh nghiệp bảo hiểm chưa cao.

+ Còn nhiều doanh nghiệp bảo hiểm chưa có quy định quản lý nghiệp vụ chặtchẽ, chưa có hoặc chưa đủ khả năng trang bị công cụ quản lý hiệu quả

+ Chưa có sự hợp tác, cung cấp chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp

- Từ phía bên mua bảo hiểm - xuất phát từ lòng tham, đặc biệt trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn:

+ Trong điều kiện quy định chế tài của pháp luật còn lỏng lẻo, người dânchưa ý thức được bản chất việc trục lợi là phạm tội, thậm chí, không sợ phạm tội mà

có tâm lý chỉ được hoặc ít hoặc nhiều chứ không bị mất gì;

+ Các quy định về quy trình quản lý nghiệp vụ của các DNBH còn lỏng lẻo,nhiều kẽ hở dễ dàng lợi dụng

- Từ các cơ quan hữu quan:

+ Các cơ quan công quyền thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu sự phối hợp, hỗtrợ, thậm chí gây khó khăn cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong điều tra, xác minhcác hồ sơ khiếu nại có nghi ngờ trục lợi Đâu đó có dấu hiệu tham nhũng, ăn hối lộ

và ngày càng phổ biến

+ Các tổ chức giám định, sửa chữa cung úng vật tư, cơ sở y tế không có ýthức về ngăn ngừa trục lợi, dễ dàng bị mua chuộc để sai lệch, làm giả hồ sơ yêu cầubồi thường để tiếp tay trục lợi, thiếu quan tâm đến việc hỗ trợ doanh nghiệp pháthiện trục lợi

II Những hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam:

1 Bối cảnh cạnh tranh trong ngành bảo hiểm.

Sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam là một xu thế tấtyếu, nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn diện, khi chúng ta đã là thành viên của Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) Kinh tế thị trường đã tạo ra một môi trường thuậnlợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Sự phong phú về hoạt động kinh doanh, tốc độtăng trưởng cao về kinh tế, mức thu nhập ngày càng cao của nhiều tầng lớp dân cư,

Trang 21

tính phức tạp, đa dạng của các loại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnhđến việc hình thành và tăng nhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội.

Trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam, thời gian đầu, Tổng Công

ty Bảo hiểm Việt Nam thực sự là doanh nghiệp đóng vai trò trụ cột trên thị trường.Trong bối cảnh lúc bấy giờ có thể hiểu là hầu hết không có sự cạnh tranh giữa cácdoanh nghiệp Ngày 18/12/1993, với việc ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanhbảo hiểm của Chính phủ đã đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển ngànhbảo hiểm nước ta Trải qua quá trình hoạt động và phát triển, cùng với việc mở cửa thịtrường trong bối cảnh hội nhập, đã có rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm ra đời Đếnnay, trên thị trường đã có 37 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm (nếutính cả 2 Công ty mới ra đời là Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn Việt Nam (Bảo Nông) và Công ty Bảo hiểm Quân đội (MIC) thì tổng

số lên tới 39 công ty), trong đó có 1 công ty nhà nước, 18 công ty cổ phần, 4 doanhnghiệp liên doanh Điều đáng chú ý là thị trường bảo hiểm Việt Nam còn có sự gópmặt của 37 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài

Nền kinh tế Việt Nam năm 2007 cho thấy những dấu hiệu phát triển khả quan đãtiếp tục tạo ra nhiều yếu tố tích cực cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm Ngànhbảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trên 20%, mức tăng cao nhất trong vòng 5năm trở lại đây Tuy nhiên, cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tụcgia tăng mạnh mẽ Sự cạnh tranh này được dự báo sẽ còn diễn ra khốc liệt hơn vàonhững năm tiếp theo khi các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được phépcung cấp dịch vụ bảo hiểm bắt buộc trên thị trường bảo hiểm Việt Nam theo cam kếtWTO

Môi trường kinh doanh ngành xuất hiện nhiều tín hiệu thuận lợi khiến cho thịtrường bảo hiểm Việt Nam đã sôi động, nay càng mang lại cơ hội và thách thức hơn

bao giờ hết đối với các doanh nghiệp bảo hiểm Có thể kể đến một số thay đổi như:

một số văn bản pháp luật liên quan tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm được ban hành,sửa đổi đã tác động tích cực tới khả năng tăng trưởng doanh thu bảo hiểm cho toàn thịtrường như Nghị định 45-46 (sửa đổi Nghị định số 42-43), các thông tư hướng dẫn về

Trang 22

hoạt động kinh doanh bảo hiểm được ban hành, sửa đổi cùng với các cam kết của ViệtNam về gia nhập WTO Ngoài ra, các Nghị định như Nghị định bắt buộc về bảo hiểmcháy nổ, bảo hiểm xe cơ giới, hay Nghị định mới qui định về bảo hiểm y tế thay đổicách thức chi trả (bệnh nhân tự đóng 20%), Nghị định qui định chi tiết Luật du lịchyêu cầu các công ty lữ hành mua bảo hiểm bắt buộc cho khách, cũng là một trongnhững yếu tố quan trọng khiến thị trường bảo hiểm ngày càng sôi động.

2 Thực trạng cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm hiện nay.

2.1 Thực trạng cạnh tranh.

Cạnh tranh xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình hình thành, phát triểncủa sản xuất hàng hoá và trở thành đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường Trong bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi kinh tế phát triển, cạnh tranh sẽ diễn ra trên quy môrộng hơn với mức độ gay gắt hơn trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong ngành dịch vụnhư bảo hiểm Trước hết, đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm về sảnphẩm, chất lượng dịch vụ, nguồn nhân lực, phát triển kênh phân phối sản phẩm vàtrình độ ứng dụng công nghệ thông tin Thứ hai đó là sự cạnh tranh giữa các doanhnghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam với các doanh nghiệp bảo hiểm tại nướcngoài về cung cấp sản phẩm bảo hiểm trong khuôn khổ đã cam kết tại WTO Thứ ba làcạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với các dịch vụ tài chính khác như thu húttiền gửi tiết kiệm, chứng khoán, kinh doanh bất động sản Bên cạnh những nội dungcạnh tranh chính như đã nói ở trên, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ vẫn có nhiều vấn

đề nổi cộm như cạnh tranh hạ phí, tăng chi phí khai thác, chưa kiểm soát được trục lợibảo hiểm, dùng áp lực của các mối quan hệ để chi phối khách hàng, độc quyền kinhdoanh bảo hiểm đối với một số ngành đặc thù

Trong lĩnh vực bảo hiểm, để phân tán rủi ro, các doanh nghiệp thường duy trìhoạt động tái bảo hiểm cho nhau, vì vậy các sản phẩm bảo hiểm có tính tương đồng vàtính quốc tế rất cao Khi một doanh nghiệp mới vào thị trường hoặc muốn giành kháchhàng từ các doanh nghiệp khác để tăng thị phần, thì biện pháp cạnh tranh phổ biếnnhất là hạ phí, tăng tỷ lệ hoa hồng trong khai thác hay áp dụng các biện pháp cạnhtranh không lành mạnh khác Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này về lâu dài vừa

Trang 23

gây ra rủi ro cho chính doanh nghiệp bảo hiểm vừa làm thị trường bảo hiểm Việt Namphát triển không lành mạnh.

2.1.1 Hạ phí bảo hiểm.

Việc hạ phí bảo hiểm nhằm có được thị phần hay giành được dịch vụ không phải

là hình thức cạnh tranh mới song lại đang trở thành công cụ cạnh tranh của nhiềudoanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay Trên thực tế, thịtrường bảo hiểm Việt Nam đã xuất hiện tình trạng có những sản phẩm bảo hiểm mứcphí đã giảm từ 40-50%, thậm chí còn thấp hơn quy định của Bộ Tài chính rất nhiềulần Để giành được dịch vụ, nhiều công ty bảo hiểm sẵn sàng hạ phí bằng mọi giá màkhông tính đến hiệu quả kinh doanh Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh nói trênbắt đầu lan trên diện rộng từ khi các công ty sử dụng những cán bộ nhân viên không cónghiệp vụ bảo hiểm hay thực hiện chế độ khoán doanh thu phí bảo hiểm cho các chinhánh, phòng bảo hiểm khu vực hay đại lý Để đạt chỉ tiêu được giao khoán, các bộphận này buộc phải chạy theo doanh số, không đánh giá, khảo sát rủi ro, bán sản phẩmbảo hiểm bằng mọi giá Điểm qua tình hình cạnh tranh về phí của một số sản phẩmbảo hiểm cơ bản trong thời gian qua ta có thể nhận thấy rất rõ vấn đề này

Đối với bảo hiểm hàng hóa, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã hạ mức phí từ 60%, kể cả đối với các mặt hàng nhạy cảm có tỷ lệ bồi thường cao Với mặt hàng sắtthép, phí bảo hiểm đã giảm tới 70% Trước đây, phí bảo hiểm mặt hàng này trung bìnhvào khoảng 0,14% tổng giá trị lô hàng Hiện nay, có doanh nghiệp đã đưa ra mức phí

40-hạ xuống còn 0,08%, rồi đẩy phí xuống còn 0,06% và gần đây nhất chỉ còn 0,05%.Với mặt hàng phân bón, phí bảo hiểm đã giảm từ 0,6% còn 0.3-0,35%

Hiện nay tất cả các công ty bảo hiểm đều thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm cho hànghóa xuất nhập khẩu Ngoài các công ty bảo hiểm trong nước, đối tượng tiềm năng củasản phẩm này còn có các công ty bảo hiểm liên doanh, công ty bảo hiểm 100% vốnnước ngoài, là những công ty có tiềm lực tài chính mạnh và có công ty mẹ sẵn sàngchịu lỗ để được bảo hiểm những lô hàng giá trị lớn Trong khi đó, vì nôn nóng muốngiành thị phần, các công ty cổ phần bảo hiểm mới ra đời đã sẵn sàng hạ phí bảo hiểmđến “chóng mặt” đối với những khách hàng lớn, có nhiều tiềm năng để khai thác Một

Trang 24

sản phẩm rẻ hơn thông thường không thể có một chất lượng phục vụ tốt Vì với mứcphí bảo hiểm thấp, sản phẩm bảo hiểm đó không thể tái bảo hiểm được Khi có tổn thấtxảy ra, đặc biệt là với lô hàng có giá trị lớn, vượt quá khả năng thanh toán, hơn nữa lạikhông được tái bảo hiểm, khách hàng sẽ là người chịu nhiều thiệt thòi khi các quyềnlợi bảo hiểm không được bảo đảm.

Dịch vụ bảo hiểm xây dựng, lắp đặt luôn là loại hình bảo hiểm có mức thu lời lớn

do những rủi ro, tổn thất xảy ra với các công trình xây dựng là không nhiều Mỗi năm,

cả nước có thêm hàng ngàn công trình xây dựng mới, dịch vụ bảo hiểm các công trìnhxây dựng, lắp đặt cũng vì thế mà phát triển mạnh theo Tuy nhiên, sản phẩm bảo hiểmnày đang tiềm ẩn những rủi ro lớn do tình trạng nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đangcạnh tranh bằng cách giảm phí, kể cả chấp nhận phi kỹ thuật, có thể dẫn đến việc cáchãng tái bảo hiểm từ chối chi trả nếu xảy ra sự cố Theo quy định, để thực hiện mộthợp đồng dịch vụ bảo hiểm xây dựng cho các công trình có vốn đầu tư trên 50 triệuUSD, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước (nhà bảo hiểm gốc) buộc phải thu xếpviệc tái bảo hiểm với các doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài có mức độ tín nhiệmnhất định nhằm đảm bảo an toàn tài chính cho dự án Thực tế có nhiều doanh nghiệpbảo hiểm trong nước đã chào phí thấp hơn cả mức phí của công ty tái bảo hiểm Tìnhtrạng này dẫn đến nguy cơ nếu có các sự cố dẫn đến phải bồi thường, các nhà tái bảohiểm có thể sẽ từ chối thanh toán do hợp đồng của nhà bảo hiểm gốc với khách hàngkhông đúng tiêu chuẩn Các công ty bảo hiểm gốc này không nhận thức được rằng chỉcần một vụ tổn thất lớn xảy ra thì phí bảo hiểm tích lũy và lời lãi nhiều năm kinhdoanh cũng không đủ chi trả bồi thường Trong khi đó, các công ty bảo hiểm mớithành lập lại thường chưa có tích lũy nhiều từ các khoản dự phòng nghiệp vụ (bao gồm

dự phòng dao động lớn) Hành vi này khiến cả khách hàng và công ty bảo hiểm gốc cóthể sẽ phá sản

Đối với nghiệp vụ bảo hiểm đóng tàu, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng đangcạnh tranh gay gắt và có những biểu hiện đáng báo động Mặc dù nghiệp vụ này mớitriển khai trong những năm gần đây, nhưng thị trường bảo hiểm đóng tàu là một thịtrường đầy tiềm năng và hứa hẹn với các doanh nghiệp bảo hiểm Bởi vậy, các doanh

Trang 25

nghiệp đã cạnh tranh nhau giảm phí bảo hiểm chỉ còn 50% so với mức phí ban đầu Códoanh nghiệp bảo hiểm đóng tàu 6.500 tấn với phí 0,25% trong khi đó biểu phí là0,45% lại còn hoàn phí 10% khi tổn thất không xảy ra Có thể thời gian đầu chưa cótổn thấy nhưng trong trường hợp rủi ro xảy ra tổn thất, mức độ bồi thường khi đó là rấtlớn, nhất là trong bối cảnh các cơ sở đóng tàu ở Việt Nam mới được hình thành, thiếuchuyên nghiệp và khó có thể đảm bảo an toàn được.

Ngoài ra, tình trạng cạnh tranh bằng cách hạ phí bảo hiểm đang diễn ra ở rấtnhiều nghiệp vụ khác dưới những hình thức khác nhau Nghiệp vụ bảo hiểm con người

có sự cạnh tranh gay gắt với việc bán bảo hiểm gộp nhóm từ 3-5 người nhằm giảm phí.Đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, xuất hiện tình trạng doanh nghiệp bảo hiểmđưa ra bản chào giá cả gói bao gồm cả bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe

cơ giới, bảo hiểm vật chất xe, bảo hiểm người ngồi trên xe, trong đó giảm phí hai loạibảo hiểm sau để hấp dẫn khách hàng Đối với bảo hiểm các dự án lớn hơn như các dự

án thủy điện nhỏ, một số doanh nghiệp bảo hiểm đua nhau hạ phí xuống rất thấp trongkhi các nhà tái bảo hiểm lại không quản lý được rủi ro này

Có thể nói, chưa bao giờ, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ lại cạnh tranh căngthẳng như hiện nay Tình trạng hạ phí bảo hiểm thấp hơn phí tái bảo hiểm liên tục xảy

ra dẫn đến sự phát triển không lành mạnh của thị trường bảo hiểm

2.1.2 Tăng chi phí hoa hồng khai thác không đúng với quy định của nhà nước.

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ hiện đang trong tình trạng càng làm càng lỗhoặc gần như không có hiệu quả, do việc chi hoa hồng quá mức giữa các doanhnghiệp Theo quy định, khi ký được hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp kinh doanh bảohiểm được phép chi từ 0,5% đến 20% hoa hồng (tùy loại hợp đồng) cho đại lý bảohiểm hoặc tối đa không quá 15% cho công ty môi giới bảo hiểm Tuy nhiên, trên thực

tế, các đơn vị phải chi nhiều hơn để có được dịch vụ Với tình trạng cạnh tranh nhưhiện nay, hoa hồng chi cao, phí bảo hiểm thấp và như vậy sẽ không đủ chi trả bồithường cho khách hàng Nếu xảy ra tổn thất phải bồi thường thì coi như hết lãi Cạnhtranh trong bối cảnh kinh tế phát triển nhưng lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm ngày

Ngày đăng: 26/06/2022, 13:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình Top 10 Công ty bảo hiểm nhân thọ uy tín năm 2021 - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
nh Top 10 Công ty bảo hiểm nhân thọ uy tín năm 2021 (Trang 13)
Hình Thị phần theo doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2021 - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
nh Thị phần theo doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2021 (Trang 15)
Hình Tỷ trọng doanh thu theo nghiệp vụ bảo hiểm năm 2021 - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
nh Tỷ trọng doanh thu theo nghiệp vụ bảo hiểm năm 2021 (Trang 16)
Hình Tỷ trọng hợp đồng khai thác mới theo nghiệp vụ năm 2021 - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
nh Tỷ trọng hợp đồng khai thác mới theo nghiệp vụ năm 2021 (Trang 17)
Do đặc thù về nguồn hình thành tài sản của quỹ và đặc điểm đầu tư của công ty bảo hiểm nhân thọ nên việc tiếp cận hoạt động của các sản phẩm bảo hiểm hưu - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
o đặc thù về nguồn hình thành tài sản của quỹ và đặc điểm đầu tư của công ty bảo hiểm nhân thọ nên việc tiếp cận hoạt động của các sản phẩm bảo hiểm hưu (Trang 38)
Số liệu tích lũy hàng năm từ năm 2013 cho đến cuối năm 2017 tại bảng 2 cho thấy chỉ trong thời gian ngắn, từ 74 hợp đồng bảo hiểm hưu trí tự nguyện với tổng giá trị chỉ ở mức 7 tỷ đồng vào năm 2013 thì tổng số hợp đồng được khai thác mới đã tăng trưởng lê - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
li ệu tích lũy hàng năm từ năm 2013 cho đến cuối năm 2017 tại bảng 2 cho thấy chỉ trong thời gian ngắn, từ 74 hợp đồng bảo hiểm hưu trí tự nguyện với tổng giá trị chỉ ở mức 7 tỷ đồng vào năm 2013 thì tổng số hợp đồng được khai thác mới đã tăng trưởng lê (Trang 40)
*Các loại hình bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm bao gồm: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư (bao gồm bảo hiểm liên kết đơn vị và bảo hiểm liên kết chung), bảo hiểm sứ - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
c loại hình bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm bao gồm: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư (bao gồm bảo hiểm liên kết đơn vị và bảo hiểm liên kết chung), bảo hiểm sứ (Trang 40)
Bảng 3. Quy định đầu tư tài sản quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
Bảng 3. Quy định đầu tư tài sản quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam (Trang 41)
1.3.5. Về doanh thu và chi phí hoạt động của quỹ hưu trí tự nguyện: - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
1.3.5. Về doanh thu và chi phí hoạt động của quỹ hưu trí tự nguyện: (Trang 42)
Bảng 6. Doanh thu và chi phí các quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2018 - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
Bảng 6. Doanh thu và chi phí các quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2018 (Trang 43)
Bảng 7. Tỷ suất sinh lời của các quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2018 - HỌC PHẦN THỊ TRƯỜNG và các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH CHỦ đề 5 các ĐỊNH CHẾ tài CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
Bảng 7. Tỷ suất sinh lời của các quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2018 (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w