Sách giáo khoa phân môn Tập đọc ở lớp 2, lớp 3 đã có phần tìm hiểu bài để giúp các em lĩnh hội tri thức, tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn bản, nhưng thực tế thời lượng dành cho việc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
ĐẶNG THỊ BÍCH PHƯỢNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 2, 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ MỸ - TAM NÔNG - PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
Phú Thọ, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
ĐẶNG THỊ BÍCH PHƯỢNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 2, 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ MỸ - TAM NÔNG - PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
Phú Thọ, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là cua riên tôi, các kết quả nghiên cứu dược trình bày trong khóa luận là trung thực Mọi sự giúp đỡ ch việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được ghi rõ nguồn gốc và được phép công bố
Phú Thọ, ngày 18 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện Phượng Đặng Thị Bích Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non trường Đại học Hùng Vương và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Xuân Huy tôi đã thực hiện đề tài “ Xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 2, 3 trường tiểu học Tứ Mỹ - Tam Nông – Phú Thọ”
Để hoàn thành khóa luận này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và rèn luyện ở trường Đại học Hùng Vương
Xin chân thành cảm ơnhướng dẫn thầy giáo TS Nguyễn Xuân Huy đã tận tình chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện đề tài do kiến thức thực tế còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để khóa luận hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày 18 tháng 5 năm 2018
Sinh viên Đặng Thị Bích Phượng
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập ở các em” Lời dạy của Người chứa đựng toàn
bộ giá trị chân lý của thời đại Để không tụt hậu, để xây dựng và phát triển thành công một đất nước độc lập tự do theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì rất cần phải nhận thức rõ hơn nữa vị trí và vai trò của giáo dục và đào tạo Trong những năm gần đây, vị trí và vai trò của giáo dục ngày càng được chú trọng và quan tâm đến Nghị quyết số 29/NQ-TW khóa XI một lần nữa nhấn mạnh luận điểm “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.Để đề cao vai trò của giáo dục
Cùng với vai trò vị trí và vai trò của Giáo dục thì Tiếng Việt cũng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền Giáo dục nói chung và bậc Tiểu học nói riêng Tiếng Việt là một môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc Tiểu học Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy lô gic cho các em, việc học Tiếng Việt sẽ giúp các em hình thành và phát triển tư duy ngôn ngữ Thông qua Tiếng Việt các em sẽ học được cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác ở bậc tiểu học Trong chương trình Tiếng việt của tiểu học, phân môn Tập đọc chiếm thời lượng chủ yếu của bậc học
Nó có vị trí đặc biệt để thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học, đảm bảo cho học sinh kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết Muốn nói hay viết giỏi thì trước hết phải đọc thành thạo Tập đọc là môn học công cụ, là hoạt động quan trọng nhất, là chìa khóa cho học sinh học tốt các môn khác Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu học tập của học sinh đó là hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh
Trang 6Dạy học tập đọc làm cho học sinh hiểu cái hay cái đẹp, cái đúng cái tinh tế, phức tạp và đa nghĩa của từ ngữ Học tập đọc chính là học cách nói, cách viết khoa học, chính xác nghệ thuật và trong sáng góp phần phát triển tư duy, khả năng diễn đạt cho học sinh Tập đọc là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiểu học, vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh đầu cấp học những kĩ năng cần thiết và hết sức quan trọng đó là
kĩ năng đọc
Những tri thức và năng lực mà học sinh muốn có được đều phải thông qua hệ thống các bài tập, các em phải tự mình làm lấy bài tập không ai có thể làm hộ, thay thế các em được Vì chỉ khi học sinh thông qua hoạt động học tập, thực hiện bài tập học sinh mới có thể lĩnh hội được kiến thức và hình thành kĩ năng kĩ xảo Trong dạy học, giáo viên là người tổ chức điều khiển, giúp mỗi học sinh tích cực, chủ động suy nghĩ và tìm ra kiến thức và rèn luyện kĩ năng, học sinh tích cực hóa hoạt động bao nhiêu sẽ chiếm lĩnh được bấy nhiêu tri thức Giáo viên không đưa ra kiến thức sẵn cho học sinh mà để học sinh tự mình giải bài tập để tìm ra kiến thức và hình thành kĩ năng kĩ xảo Tiếng Việt là môn học thực hành, hiện nay phần lớn các phân môn Tiếng Việt đều có hệ thống vở bài tập để các em làm việc, thực hành được thuận lợi Sách giáo khoa phân môn Tập đọc ở lớp 2, lớp 3 đã có phần tìm hiểu bài để giúp các em lĩnh hội tri thức, tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn bản, nhưng thực tế thời lượng dành cho việc đọc hiểu trong nhà trường hiện nay chưa được quan tâm đúng mức Giáo viên không có nhiều điều kiện để đầu tư sâu bài giảng, nên phần nào làm giảm sút sự yêu thích của các em đối với phân môn tập đọc, mà phân môn tập đọc là môn học nhằm hình thành và rèn cho học sinh những kĩ năng cơ bản của người học đó là: nghe, nói, đọc, viết Trước thực tế đó chúng tôi hướng tới các lý do sau đây:
- Yêu cầu đổi mới giáo dục trong đó đặc biệt là chương trình đổi mới sách giáo khoa từ 2018, đã đặt ra những yêu cầu mới, trong đó có cách tiếp cận dạy học theo hướng đọc hiểu
Trang 7- Từ chính việc đổi mới tổ chức và dạy học Tiếng Việt, lấy việc tổ chức bài tập đọc hiểu trong giờ học, nếu làm tốt, sẽ thúc đẩy quá trình dạy học nói chung và khả năng nhận thức của học sinh tiểu học nói riêng
- Với học sinh lớp 2, 3, việc tổ chức dạy học Tập đọc chủ yếu mới là rèn kĩ năng đọc nên việc hiểu văn bản, đặc biệt biết thể hiện ra những gì mình nghĩ còn hạn chế Cho nên, triển khai đề tài này không chỉ giúp cho người giáo viên tiểu học tiếp cận tốt hơn với các em mà còn tạo thành bộ công cụ học tập hữu ích giúp giờ Tập đọc thực sự có hiệu quả
- Nghiên cứu dạy học đọc hiểu và tiếp cận các bài tập đọc hiểu cũng góp phần cho cá nhân người nghiên cứu thêm những trải nghiệm mới, nâng cao kiến thức, rèn kĩ năng nghề nghiệp, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên
cứu: “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu cho học sinh
lớp 2-3 trường tiểu học Tứ Mỹ - Tam Nông – Phú Thọ’’
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Đối với việc tiếp nhận tri thức, kiến thức của bài thông qua làm các bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong môn Tiếng Việt giúp cho học sinh rèn kĩ năng đọc hiểu và vận dụng các kĩ năng đọc hiểu một cách linh hoạt và nhuần nhuyễn trong phân môn Tập đọc của Tiếng Việt
3 Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của dạy học đọc hiểu ở tiểu học, từ đó làm cơ
Trang 8sở để xây dựng hệ thống bài tập và thiết kế hoạt động dạy học cho học sinh trong nhà trường tiểu học
- Xây dựng được hệ thống bài tập đọc hiểu và phân loại bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong phân môn tập đọc của Tiếng Việt lớp 2 - 3
- Đánh giá được tính khả thi của việc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu qua tổ chức thực nghiệm
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 2, lớp 3
- Nâng cao hứng thú học tập cho học sinh qua hệ thống tổ chức bài đọc đặc thù, trong đó đã bắt đầu chú ý đến phân loại đối tượng đọc
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong môn Tiếng Việt
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Học sinh lớp 2, lớp 3 Trường Tiểu học Tứ Mỹ - Xã Tứ Mỹ - Huyện Tam Nông – Tỉnh Phú Thọ, bộ môn Tiếng Việt lớp 2,3
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết là phương pháp tiếp cận hệ thống lí
luận về dạy học tác phẩm và phương pháp dạy học đọc hiểu văn Đây được
coi là công cụ lí thuyết vừa là phương pháp luận để triển khai nghiên cứu các vấn đề tổng quan Phương pháp này giúp tôi có thể phân tích được những vấn
đề lí luận về các loại hình của tác phẩm văn học, đồng thời xác định được cơ
sở lí thuyết để triển khai đề tài Trên cơ sở đó tôi tiến hành phân tích chương trình SGK, SGV, hướng dẫn học Tiếng Việt và một số tài liệu nghiên cứu để
có thêm hiểu biết về cách tổ chức dạy học này
Phân tích, tống hợp, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu liên quan trong quá trình nghiên cứu, các tài liệu để xác định về lí luận cho vấn đề
Trang 9nghiên cứu Đối với đề tải này tôi hướng tới việc nghiên cứu các văn bản và tài liệu khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành đơn giản hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy
Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm được cái chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến
Ở đề tài này tôi tiến hành phân tích các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Hệ thống hóa các tài liệu liên quan để hoàn thiện đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện, hiện tượng, quá trình trong những hoàn cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tượng đó
Việc sử dụng phương pháp quan sát giúp người nghiên cứu nhận xét, đánh giá tổng quan về thực tiễn vấn đề được nghiên cứu từ đó đưa ra những kết luận xác thực trong quá trình nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong suốt cả quá trình nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp khái quát kinh nghiệm (phân tích tổng kết kinh nghiệm)
Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp kết hợp lý luận với thực tế, đem lý luận phân tích thực tế, từ phân tích thực tế lại rút ra lý luận cao hơn Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp xem xét lại những thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá
Trang 10khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho khoa học thực tiễn Phương pháp này được thực hiện chủ yếu ở chương 2 của đề tài
6.2.3 Phương pháp điều tra
Phương pháp điều tra nhằm khảo sát số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập các số liệu, hiện tượng để từ đó phát hiện các vấn đề giải quyết, xác định tính phổ biến, nguyên nhân chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo
Thực hiện dự giờ, điều tra, phỏng vấn, trao đổi với các giáo viên giỏi,
có kinh nghiệm dạy học môn Tiếng việt ở trường Tiểu học, lấy ý kiến đóng góp qua phiếu điều tra Phương pháp điều tra được thực hiện ở chương 2 và chương 3
6.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi về số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của đối tượng giáo dục do người nghiên cứu tác động đến
Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu đã đề xuất vào môn Tiếng Việt lớp 2, lớp 3 nhằm kiểm nghiệm tính khả nghi để hoàn thiện đề tài
Hệ thống bài tập rèn kĩ năng đọc - hiểu trong môn Tiếng Việt
Trang 11
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU Ở TIỂU HỌC
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Nội dung này hướng tới việc tìm hiểu các vấn đề có tính chất lý luận làm cơ sở cho nghiên cứu đề tài Trước hết là việc tìm hiểu đặc điểm cua học sinh tiểu học; nội dung, cấu trúc chương trình môn phân môn Tập đọc; tổng quan các vấn đề về dạy học đọc hiểu ở tiểu học
1.1.1 Đặc điểm của học sinh Tiểu học
Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi Đây là lứa tuổi các em trở thành một học sinh ở trường phổ thông, nhiệm vụ trọng tâm của các em là học tập Đó là một chuyển biến rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ em, một đặc trưng quan trọng của lứa tuổi này
Độ tuổi này chứng kiến sự thay đổi toàn diện về cơ thể, tâm lý của trẻ: nhìn chung ở lứa tuổi này có những thay đổi cơ bản về những đặc điểm giải phẫu sinh lý
1.1.1.1 Đặc điểm về thể chất trẻ lớp 2-3
Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy
cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn
Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cần thiết cho trẻ
Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui
Trang 12trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ Dựa vào cơ sở sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104
cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh
Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì sang lớp 2-3 hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác nhau như:
Hoạt động lao động: học sinh lớp 2-3 bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa Ngoài
ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa
Hoạt động xã hội: Lứa tuổi lớp 2-3 các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong
Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ
Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt hơn
Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt
Trang 13là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình
1.1.1.2 Đặc điểm về tâm lý trẻ lớp 2-3
Ngoài sự thay đổi về sinh lý, trẻ ở độ tuổi lớp 2-3 cũng có những đổi thay quan trọng về mặt tâm lý Do đó mỗi giáo viên tiểu học cần phải nhận thức đầy đủ vấn đề này để có biện pháp giáo dục và dạy học phù hợp
Nhận thức cảm tính: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
Tri giác của học sinh lớp 2-3 mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ
dễ đến khó.)
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 2-3 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
Tưởng tượng của học sinh lớp 2-3 đã phát triển phong phú hơn nhờ có
bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dặn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau: Ở lứa tuổi lớp 2-
3 thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi
Dựa trên những đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 2-3 này, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em
Trang 14những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện
1.1.1.3 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 2-3
Hầu hết học sinh ở độ tuổi lớp 2-3 có ngôn ngữ nói thành thạo Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp và là công cụ của tư duy Ngôn ngữ được chia thành hai loại, ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữ hướng vào người khác, dùng để truyền đạt hoặc tiếp thu tư tưởng, ý nghĩa Ngôn ngữ bên ngoài tồn tại dưới dạng vật chất là
âm thanh và chữ viết Vì thế ngôn ngữ bên ngoài bao gồm ngôn ngữ nói và nôn ngữ viết Ngôn ngữ bên trong chính là phương tiện tư duy Hai loại ngôn ngữ trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau và chuyển hoá cho nhau Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Trên cơ sở nhận biết và phân tích các âm tố, vốn từ của trẻ tiểu học chuẩn hơn so với trẻ trước khi đi học
Ở lứa tuổi học sinh lớp 2-3, vốn từ trẻ tăng lên một cách đáng kể do trẻ
đã được học nhiều môn và phạm vi tiếp xúc được mở rộng Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển Từ chỗ trẻ chỉ hiểu một cách cụ thể, cảm tính đến hiểu khái quát và trừu tượng nghĩa của từ Tuy nhiên học sinh lớp 2-3 mới dừng lại ở chỗ nghĩa của từ gắn với văn cảnh cụ thể Việc hiểu nghĩa bóng của từ còn khó khăn đối với các em Nhiệm vụ của giáo viên tiểu học: Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú
Trang 15của trẻ vào các loại sách báo có lời và không có lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện, đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ viết nhật kí, tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng
1.1.1.4 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 2-3
Đối với trẻ lớp 2-3 chú ý có chủ định còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính
cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ
1.1.1.5 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 2-3
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Giai đoạn lớp 2,3 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn
Trang 16giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
1.1.1.6 Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 2-3
Đối với học sinh lớp 2-3 hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ
Môi trường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục
từ 30 - 35 phút Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có
sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết
về tri thức khoa học
1.1.1.7 Sự phát triển tình cảm của học sinh lớp 2-3
Tình cảm của học sinh lớp 2-3 mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư
Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy
so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh lớp 2-3 luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học khi đó cần phát hiện
Trang 17và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư
1.1.1.8 Sự phát triển nhân cách của học sinh lớp 2-3
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn.Tuy nhiên qua các năm học "tính cách học đường" mới dần ổn định
và bền vững ở trẻ
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh lớp 2-3 mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức,
tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
1.1.2 Tổng quan vể dạy học đọc hiểu trong phân môn tập đọc ở Tiểu học
1.1.2.1 Khái niệm và bản chất của dạy học đọc hiểu
Khái niệm: Dạy học đọc hiểu là việc giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng những kĩ năng để đọc hiểu văn bản thông qua các hoạt động, thao tác và theo một quy trình nhất định nào đó
Trang 18Bản chất: Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa
Đọc hiểu văn bản đề cao vai trò của chủ thể tích cực sáng tạo của học sinh trong hoạt động đọc
Đọc là một hoạt động người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe
Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu là phải trả lời được câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy
và biểu đạt Mục đích trong tác phẩm văn chương, đọc hiểu là phải thấy được: Nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng; ý đồ, mục đích Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản; thể loại của văn bản; hình tượng nghệ thuật
Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật
1.1.2.2 Đặc trưng của dạy học đọc hiểu
Đọc để hiểu ngôn từ, hiểu được các từ khó, từ lạ, các điển cố, các phép
tu từ, hình ảnh (đối với thơ) Đối với tác phẩm truyện phải nắm được cốt truyện và các chi tiết từ mở đầu đến kết thúc Khi đọc văn bản cần hiểu được các diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác, đặc biệt phát hiện ra mạch ngầm – mạch hàm ẩn, từ đó mới phát hiện ra chất văn Bởi thế, cần đọc kĩ mới phát hiện ra những đặc
Trang 19điểm khác thường, thú vị Đọc để hiểu hình tượng nghệ thuật,
hình tượng trong văn bản văn học hàm chứa nhiều ý nghĩa Đọc để hiểu hình tượng nghệ thuật của văn bản văn học đòi hỏi người đọc phải biết tưởng tượng, biết “cụ thể hóa” các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật còn đòi hỏi phát hiện
ra những mâu thuẫn tiềm ẩn trong đó và hiểu được sự lôgic bên trong của chúng
Đọc để hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học, người đọc phải phát hiện được tư tưởng, tình cảm của nhà văn ẩn chứa trong
văn bản Tuy nhiên tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản Văn học
thường không trực tiếp nói ra bằng lời Chúng thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời, vì thế người ta đọc – hiểu tư tưởng tác phẩm bằng cách kết hợp ngôn từ và phương thức biểu hiện hình tượng
phẩm, thưởng thức văn học là trạng thái tinh thần vừa bừng sáng với sự phát hiện chân lí đời sống trong tác phẩm, vừa rung động với sự biểu hiện tài nghệ của nhà văn, vừa hưởng thụ ấn tượng sâu đậm đối với các chi tiết đặc sắc của
tác phẩm Đó là đỉnh cao của đọc – hiểu văn bản Văn học Khi đó người đọc
mới đạt đến tầm cao của hưởng thụ nghệ thuật
Kĩ năng đọc hiểu văn bản được thể hiện ở việc người đọc xác định đặc điểm, thể loại, nội dung văn bản; Các thao tác, phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản; Các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản: Chữ viết, ngữ âm; Từ ngữ; Cú pháp; Các biện pháp tu từ; Bố cục; Nêu thông tin về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, thể loại; Lý giải được mối quan
hệ, ảnh hưởng của hoàn cảnh sáng tác với việc xây dựng cốt truyện và thể hiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm; Hiểu, lý giải ý nghĩa nhan đề; Vận dụng hiểu biết về tác giả, tác phẩm để viết đoạn văn giới thiệu về tác giả, tác phẩm; So sánh các phương diện nội dung nghệ thuật giữa các tác phẩm cùng
đề tài, hoặc thể loại, phong cách tác giả; Nhận diện được ngôi kể, trình tự kể;
Trang 20Phân tích giọng kể, ngôi kể đối với việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm; Khái quát được đặc điểm phong cách của tác giả từ tác phẩm; Trình bày những kiến giải riêng, phát hiện sáng tạo về văn bản; Nắm được cốt truyện, nhận ra đề tài, cảm hứng chủ đạo; Lý giải sự phát triển của cốt truyện,
sự kiện, mối quan hệ giữa các sự kiện; Khái quát các đặc điểm của thể loại từ tác phẩm; Biết tự đọc và khám phá các giá trị của một văn bản mới cùng thể loại; Giải thích, phân tích đặc điểm, ngoại hình, tính cách, số phận nhân vật; Đánh giá khái quát về nhân vật; Trình bày cảm nhận về tác phẩm
1.1.3 Đặc điểm các loại văn bản trong chương trình Tập đọc lớp 2, lớp 3
1.1.31 Yêu cầu và thời lượng các tiết tập đọc lớp 2-3
Phân môn Tập đọc hướng tới mục đích phát triển các kĩ năng đọc, nghe
và nói cho học sinh, cụ thể là, đọc thành tiếng, phát âm đúng, ngắt nghỉ hơi hợp lí Tốc độ đọc vừa phải, đạt yêu cầu theo từng giai đoạn như sau:
Đọc và hiểu nội dung biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc); nắm được nội dung của câu, đoạn hoặc bài đã học
Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài Nghe hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy, cô Nghe hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn Nói, biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc Biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc
Số lượng bài, thời lượng học tập đọc lớp 2: Trung bình mỗi tuần, HS được học 2 bài tập đọc, trong đó có 1 bài học trong 2 tiết, một bài còn lại học trong một tiết Như vậy tính cả năm, HS được học 62 bài tập đọc với 93 tiết
Số lượng bài, thời lượng học tập đọc lớp 3: Sách gồm 93 bài, trong đó
có 30 bài thơ, 63 bài văn xuôi Các bài bám sát theo chủ điểm, nội dung tập đọc phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau, từ gia đình, nhà trường, quê hương
Các loại bài tập đọc:
Văn bản văn học có văn xuôi và thơ Trung bình, trong mỗi chủ điểm (2tuần), HS được học một truyện vui (học kì I) hoặc một truyện ngụ ngôn
Trang 21(học kì II) Những câu chuyện này vừa để giải trí vừa có tác dụng rèn luyện tư duy và phong cách sống vui tươi, lạc quan cho các em
Văn bản khác có văn bản khoa học, báo chí, hành chính (tự thuật, thời khoá biểu, thời gian biểu, mục lục sách,).Thông qua những văn bản này, SGK cung cấp cho các em một số kiến thức và kĩ năng cần thiết trong đời sống, bước đầu xác lập mối liên hệ giữa học với hành, giữa nhà trường và xã hội
Xét theo thời lượng dạy học tập đọc lớp 2-3: Có 31 bài tập đọc được dạy trong 2 tiết và 31 bài tập đọc được dạy trong một tiết Những bài dạy trong 2 tiết đều là truyện kể, đóng vai trò chính trong mỗi chủ điểm Sau khi học các bài tập đọc này, HS còn có một tiết để kể lại nội dung truyện hoặc phân vai dựng lại câu chuyện theo kiểu hoạt cảnh và viết chính tả một đoạn trích hay đoạn tóm tăt nội dung truyện
1.1.3.2 Đặc điểm của các loại văn bản tập đọc ở lớp 2-3
Ở khối lớp 2 và khối lớp 3 mỗi năm đều có 93 văn bản Các văn bản rất
đa dạng và phong phú về phong cách như phong cách nghệ thuật, khoa học, nhật dụng, trong đó chiếm phần lớn là văn bản nghệ thuật Tập đọc nhằm đảm bảo mục tiêu dạy tiếng đồng thời dạy văn, phát triển khả năng giao tiếp thông thường kết hợp bồi dưỡng tâm hồn tình cảm và giáo dục đạo đức, cũng như cung cấp cho trẻ những hiểu biết cần thiết về thế giới các em đang sống
Các văn bản tập đọc được tuyển chọn đều phù hợp với chủ điểm của sách và chủ điểm của tuần mà chúng được bố trí Chẳng hạn, các bài tập đọc
trong tuần 19, 20 của lớp 3 thì chủ điểm của 2 tuần này là Bảo vệ tổ quốc Do
vậy nội dung của các bài tập đọc cũng xoay quanh những khía cạnh khác nhau của việc bảo vệ tổ quốc như bài: Báo cáo kết quả tháng thi đua noi
gương chú bồ đội, Ở lại chiến khu,… các phân môn khác như Luyện từ và câu
trong những tuần này cũng hướng về mở rộng vốn từ tổ quốc
Mặt khác các văn bản tập đọc phải đáp ứng yêu cầu tư tưởng, tính nghệ thuật và phù hợp với trình độ nhận thức của các em Các bài tập đọc của tác giả trong nước như Tô Hoài,Trần Đăng Khoa, Phạm Hổ, hay những truyện thần thoại của Hi Lạp, truyện ngụ ngôn của La Phông ten,…được trải dài
Trang 22trong suốt 5 năm tiểu học Đó đều là những áng văn giàu hình tượng, cảm xúc,
có cách diễn đạt trong sáng, chuẩn mực, phù hợp với các em và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc
Các văn bản tập đọc còn đảm yêu cầu tích hợp theo chiều ngang và chiều dọc Theo chiều ngang, mỗi văn bản tập đọc ngoài việc rèn kĩ năng đọc
và trang bị kiến thức về chủ điểm thì văn bản còn làm vật liệu mẫu để mở rộng vốn từ, rèn kĩ năng viết văn hay chính tả Theo chiều dọc, mỗi văn bản tập đọc là sự kế thừa kiến thức và kĩ năng ở lớp dưới để chuẩn bị cho kiến thức và kĩ năng mới xuất hiện Ví dụ về bài Vẻ đẹp về cuộc sống an toàn thuộc chủ điểm Vẻ đẹp muôn màu tuần 24, lớp 4 là sự kế thừa và phát triển chủ điểm Nghệ thuật ở lớp 3
Ngoài ra các văn bản tập đọc còn đảm bảo sự cân đối giữa văn học dân gian và văn học hiện đại, văn học Việt Nam và văn học nước ngoài
Các văn bản được tuyển chọn trong phân môn Tập đọc ở Tiểu Học đều phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em và được nâng dần theo từng khối lớp Ví
dụ ở lớp 1 là những bài đọc thú vị, bổ ích, gần gũi với thế giới hồn nhiên, tươi tươi tắn của trẻ Ở lớp 2 và lớp 3 xuất hiện nhiều hơn các văn bản văn học nước ngoài, báo chí, hành chính,… cung cấp cho các em một số kiến thức và
kĩ năng cần thiết trong đời sống, phản ánh các mối quan hệ như gia đình, nhà trường, quê hương Lên lớp 4, lớp 5 thì xuất hiện nhiều thể loại văn bản hơn nữa là văn bản nghệ thuật như kịch, truyện, thơ… Nội dung các văn bản phản ánh những vấn đề lớn đang đặt ra trước thực tế cuộc sống nhân dân ta cũng như toàn nhân loại Ngoài ra các văn bản còn xắp xếp theo chiều tăng dần số lượng các tiếng, nâng dần từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, giúp các
em chiếm ĩnh được nội dung văn bản, chủ động, tích cực trong học tập
1.1.3.3 Nhiệm vụ của giờ dạy tập đọc lớp 2, lớp 3
Tập đọc là phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh đọc lưu loát trôi chảy, đọc hiểu (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc) hay
Trang 23còn gọi là đọc có ý thức và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này được hình thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một kĩ năng này sẽ có tác động đến kĩ năng khác
Ví dụ: đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu văn bản Ngược lại nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhah và đọc diễn cảm được Nhiều khi khó nói được rạch ròi kĩ năng nào làm
cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay nhờ hiểu đúng mà đọc đúng Vì vậy, trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào Ngoài ra đọc còn
là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Tập đọc là làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh
Có thể nói đọc – hiểu là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của việc hình thành kĩ năng tự học cho học sinh, nhất là đối với học sinh lớp 2, lớp 3 Biết đọc không chỉ dừng ở mức độ nhận diện mặt chữ mà các em còn phải thông hiểu được những gì mà mình đã đọc Một người đọc nhưng không hiểu mình đang đọc gì thì không thể gọi là biết đọc Người đọc sẽ không thể thu nhận thông tin nếu không hiểu mình đang đọc gì, như vậy việc đọc của họ
sẽ trở nên thật vô ích
Trên cơ sở cả nhiệm vụ giờ tập đọc ở tiểu học nói chung, nhiệm vụ đọc hiểu trong giờ tập đọc nói lớp 2, lớp 3 nhằm giúp cho học sinh hình thành thói quen đọc có ý thức, hiểu nội dung các văn bản trong khi đọc thông qua hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài
Dạy đọc hiểu phải trên cơ sở đọc đúng: đọc đúng tiếng, đọc đúng từ, đọc đúng câu, gắn với luyện giải nghĩa của từ Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi Đọc đúng là đọc không thừa, không sót tiếng, từ Đọc đúng phải thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm Nói cách khác là không đọc theo cách phát
âm địa phương lệch chuẩn Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu)
Trang 24Để đọc hiểu phải có thao tác và kỹ năng Nó có ưu thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông hiểu nội dung văn bản, tập chung để hiểu nội dung điều mình đọc
Vì vậy ngay từ cuối lớp 1 học sinh đã được học cách đọc hiểu và càng lên lớp trên thì kĩ năng ngày càng được củng cố Kĩ năng đọc hiểu phải được chuyển dần từ ngoài vào trong
Trên cơ sở đó hình thành và phát triển kĩ năng đọc hiểu không chỉ trong phân môn tập đọc mà còn với tất cả các môn học khác nữa Đọc hiểu giúp cho học sinh tiếp thu một cách dễ dàng và nhanh chóng, không những thế còn giúp học sinh biết sắp xếp kiến thức một cách hệ thống lô gíc, khoa học
1.2 Cơ sở thực tiễn của hoạt động đọc – hiểu
1.2.1 Vai trò của bài tập trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
1.2.1.1 Vai trò của bài tập đọc hiểu
Hệ thống bài tập trong môn Tiếng Việt là tập hợp những dạng bài tập phong phú, mới mẻ dành cho học sinh Các bài tập này không chỉ nhằm mục đích ôn luyện kiến thức đã học trong chương trình mà còn tạo cơ hội cho học sinh được rèn luyện sâu hơn bốn kĩ năng cơ bản là nghe, nói, đọc, viết
Trong phân môn tập đọc cũng vậy, hệ thống bài tập vô cùng quan trọng Giúp các em không chỉ rèn luyện cho các em học sinh kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm mà còn rèn cho học sinh kĩ năng đọc hiểu – kĩ năng quan trọng để giúp học sinh hiểu được nội dung của bài tập đọc
1.2.1.2 Hàm lượng bài tập đọc - hiểu trong giờ học
Phân môn Tập đọc trong chương lớp 2-3 hiện nay chủ yếu chỉ rèn luyện kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm mà xem nhẹ việc rèn kĩ năng đọc hiểu Hàm lượng các câu hỏi đọc hiểu sau mỗi bài tập đọc rất ít, mà hệ thống các câu hỏi sau các bài tập đọc trong chương trình đa phần là câu hỏi tự luận Một giờ học chỉ có vài học sinh được tham gia trả lời nên hầu hết các em có
kĩ năng đọc hiểu rất kém
1.2.2 Thực trạng dạy học đọc - hiểu trong môn Tập đọc ở Tểu học
Trước đây việc dạy học đọc – hiểu trong môn tập đọc chưa được chú trọng đến Hầu hết chỉ quan tâm đến kĩ năng đọc thành tiếng và kĩ năng đọc
Trang 25hiểu: trong bài chỉ có 2 đến 3 câu hỏi đọc hiểu, mà đa phần là các câu hỏi tự luận
Tuy nhiên trong những năm gần đây với sự đổi mới phương pháp dạy học đặc biệt là việc thay sách bậc Tiểu học năm 2000, ta cũng thấy được bộ môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập đọc lớp 2, 3 đã có nhiều thay đổi căn bản về nội dung, chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học Chính vì vậy mà chất lượng đã được nâng lên rõ rệt Kĩ năng đọc của học sinh được rèn luyện nhiều hơn, các em biết đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm một cách khá nhuần nhuyễn Nhất là hình thức tổ chức tiết dạy Tập đọc đổi mới đã giúp cho tất cả học sinh đều được rèn luyện các kĩ năng đọc Các em được đọc cho bạn, nhóm nghe, được cùng nhau rèn luyện đọc và cùng nhau thảo luận tìm hiểu bài Vậy là về căn bản phương pháp dạy học Tập đọc
Việc chuẩn bị bài trước ở nhà là rất hạn chế, các em chỉ đọc qua loa lấy
lệ, dẫn đến học sinh đọc ngắt nghỉ câu chưa đúng kể cả đọc tiết tấu và ngữ điệu của câu Khi trả lời câu hỏi các em phụ thuộc nhiều vào sách giáo khoa (đọc cả câu, đoạn) chứ không chọn lọc ra ý để trả lời, chưa biết diễn đạt thành câu văn Các em tiếp thu bài không đầy đủ, hiểu bài hời hợt; chưa cảm nhận được cái hay cái đẹp của tác phẩm, chưa vận dụng kiến thức vào cuộc sống
Về phía giáo viên, phương pháp dạy học của nhiều giáo viên chưa tốt,
còn lúng túng khi dạy Tập đọc đó là: Các bước lên lớp của giáo viên còn công thức, đọc mẫu chưa tốt, hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài còn đơn điệu, máy móc, chưa làm chủ được nội dung bài dạy Một số giáo viên coi nhiệm vụ giờ Tập đọc chỉ là luyện đọc đúng và lưu loát, chưa chú trọng đúng mức việc dạy đọc
hiểu cho học sinh
Trang 26Từ những vấn đề trình bày ở trên, qua một thời gian nghiên cứu, tìm tòi với rất nhiều đối tượng học sinh tiểu học giúp tôi có điều kiện tìm hiểu, thử nghiệm, tìm mọi cách để nâng cao chất lượng giờ dạy giúp học sinh nắm chắc nội dung bài học và bước đầu đã đạt được những kết quả đáng kể
1.3 Yêu cầu rèn kĩ năng đọc - hiểu cho học sinh
1.3.1 Vị trí, vai trò của bài tập trong dạy học các phân môn Tiếng Việt
Căn cứ vào mục tiêu môn Tiếng việt ở cấp tiểu học nhằm: hình thành
và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói)
để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
Thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt; về tự nhiên, xã hội và con người; về văn hóa văn học của Việt Nam và nước ngoài
Chính vì vậy vai trò, vị trí của bài tập nói chung và bài tập tiếng Việt nói riêng là hết sức quan trọng và cần thiết nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức và rèn luyện tư duy độc lập làm việc với bài tập, học sinh nắm chắc kiến thức củng cố được kĩ năng, kĩ xảo từ đó vận dụng vào thực tiễn
Các bài tập tiếng Việt có chức năng tổ chức quá trình dạy học tiếng Việt Chúng được xây dựng trước hết dựa vào mục tiêu dạy học tiếng Việt Trong chương trình mới, hướng cơ bản chuyển từ mục tiêu nhận diện, mô tả, phân loại các đơn vị ngôn ngữ thành mục tiêu, sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp, hình thành và phát triển các kĩ năng tiếng Việt trên cả hai bình diện sản sinh (nói, viết) và lĩnh hội (nghe, đọc) lời nói
1.3.2 Chuẩn kiến thức kĩ năng đọc - hiểu
Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó
là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được hình thành từ bốn
kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm
Đối với học sinh đầu cấp đọc thành tiếng tức là đọc đúng còn là điều kiện để rèn luyện tính tự giác trong quá trình đọc Trên thực tế đọc thành tiếng
Trang 27và đọc thầm hai hình thức này gắn bó chặt chẽ với nhau: trên lớp, giáo viên hay học sinh đọc thành tiếng thì các học sinh khác đọc thầm, khi tìm câu trả lời thì các em cũng phải đọc thầm văn bản
Đối với học sinh lớp 2, 3 mức độ cần đạt: Đọc đúng, rõ ràng, rành mạch, các văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí, tốc độ đọc 70 – 80 chữ / phút Ở lớp 3 học sinh đọc thầm nhanh hơn lớp 2 (khoảng 90 – 100 chữ / phút) Đọc hiểu, học sinh hiểu được ý chính của đoạn văn, biết nhận xét một
số hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết trong bài đọc Đọc diễn cảm, cần hướng dẫn các em cách đọc hay nhất, người đọc phải hòa cảm xúc của mình vào bài văn, rung cảm và truyền cảm đến người nghe Muốn vậy khi đọc phải chú ý ngắt giọng biểu cảm và chọn ngữ điệu đọc thích hợp Sự hoàn thiện một trong các kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác Đọc một cách có ý thức sẽ tác động tích cực tới ngôn ngữ, trình độ tư duy của người học Việc đọc giúp trẻ hiểu biết hơn, bồi dưỡng lòng yêu cái thiện, cái đẹp Vì vậy đọc thực hiện cả hai nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng và phát triển
Như vậy để dạy sinh đọc hiểu phải dựa vào mục tiêu nhiệm vụ của giờ tập đọc; đặc điểm của văn bản bài đọc cũng như trình độ năng lực và nhu cầu hứng thú của học sinh Đích cuối cùng của dạy học là dạy cho học sinh có kĩ năng làm việc với văn bản Chính vì vậy, dạy đọc hiểu có vai trò đặc biệt quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học Tiểu học nói riêng Dạy đọc hiểu là dạy học sinh đọc một cách có ý thức, hoạt động dạy này tác động tích cực tới năng lực tư duy và trình độ ngôn ngữ của học sinh
Trang 28TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nhu cầu nhận thức hình thành và phát triển ở trẻ em từ tuổi thơ Càng lớn thì nhu cầu nhận thức càng phát triển thể hiện rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết mọi thứ có liên quan đến con người Nhu cầu của các em học sinh tiểu học là nhu cầu tinh thần
Trong các môn học ở tiểu học thì phân môn Tập đọc là môn học được các em yêu thích Một mặt, nội dung các bài tập đọc thường rất gần gũi với những lời hát ru của bà của mẹ song lại mang lại cho các em nhiều điều mới
mẻ hấp dẫn phù hợp với tâm lí và sở thích của các em Mặt khác các bài tập đọc là cội nguồn là điểm tựa để các em thoải mái phát huy trí tưởng tượng của mình Tập đọc lại là phân môn thực hành, sau mỗi bài đọc cụ thể học sinh biết cách đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm, rồi lại được thực hiện ngay các hành vi ứng xử để củng cố ý nghĩa bài đọc (qua đóng vai, thảo luận chọn câu trả lời
để có phương án đúng và phù hợp nhất, xử lí tình huống…) nên các em rất thích
Việc xác định đúng về mục tiêu, nhiệm vụ của môn Tiếng việt là điều kiện hết sức quan trọng trong quá trình dạy học tập đọc Bởi lẽ, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học của phân môn Xác định đúng nhiệm vụ, yêu cầu của dạy học đọc hiểu cho học sinh giáo viên mới có khả năng đưa ra câu hỏi bài tập phù hợp với học sinh giúp các em hiểu bài sâu hơn Đây chính là những cơ sở để chúng tôi xây dựng hệ thống bài tập ở chương 2 của khóa luận
Trang 29
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC - HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 2, LỚP 3 2.1 Khái quát về trường tiểu học Tứ Mỹ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
2.1.1 giới thiệu chung về nhà trường
Trong những năm qua, nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của Đảng ủy–HĐND–UBND và sự lãnh đạo, chỉ đạo của phòng giáo dục đào tạo huyện Tam Nông Được sự ủng hộ của các ban ngành, đoàn thể, hội cha mẹ học sinh trong toàn xã Đặc biệt nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên nhiệt tình trách nhiệm, trình độ chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm trong việc hướng dẫn kiến tập, thực tập Nhà trường có bề dày về chất lượng dạy và học trong thời gian qua Bên cạnh đó nhà trường còn có cơ sở vật chất trang thiết
bị dạy và học đảm bảo tốt phục vụ cho cô và trò, cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn
Khuôn viên nhà trường rộng 2134m2; số phòng học là 15; phòng chức năng 1; phòng nghe nhìn 02; phòng hội đồng 01; phòng chuyên môn 02; phòng y tế 01; thư viên 01; bảo vệ 01 phòng; phòng tập thể dục trong nhà Trường được đầu tư mới để đảm bảo đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2
Số trẻ của toàn trường hiện là 429 học sinh, số lớp là 15
Có 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn, có hơn 91% giáo viên có trình độ đạt trên chuẩn Nhìn chung trường có một đội ngũ giáo viên giỏi, tay nghề chuyên môn cao, thực hiện tốt nội quy, quy chế dân chủ, công khai về
Trang 30quyền lợi và nghĩa vụ của giáo viên Mọi thành viên trong nhà trường đều được tham gia bàn bạc về kế hoạch hoạt động và cùng nhau xây dựng chỉ tiêu, phương hướng phát triển trường
Nhà trường luôn làm tốt công tác kiểm tra đánh giá, phát hiện kịp thời những thiếu sót để có biện pháp khắc phục Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn Hàng năm nhà trường tổ chức thăm lớp dự giờ để kiểm tra toàn diện chất lượng học sinh
Nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng cho giáo viên 100% giáo viên soạn bài bằng máy tính và nối mạng internet để khai thác kiến thức trên mạng phục vụ tốt cho giảng dạy
Ban giám hiệu nhà trường luôn ủng hộ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho giáo viên làm việc Nhà trường trang bị đầy đủ tài liệu, học liệu, thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Phụ huynh nhiệt tình ủng hộ các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho giảng dạy và các hoạt động của trẻ: âm li, míc gài, đầu đĩa…
Bản thân giáo viên luôn trau dồi học hỏi kinh nghiệm thông qua các bạn đồng nghiệp, sách báo, phương tiện thông tin đại chúng
2.1.2 Những thành tích đạt được của trường
Trong những năm gần đây, nhà trường đã đạt được nhiều thành tích quan trọng trong công tác dạy học đặc biệt là chất lượng học sinh giỏi Có được những thành tích như vậy là nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi của thầy và trò nhà trường
100% giáo viên vận dụng phương pháp dạy học sáng tạo, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực của học sinh …
100% các lớp đều có góc tuyên truyền và giáo dục học sinh theo chương trình mới
100% giáo viên thực hiện tích hợp dạy kỹ năng sống, giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong các buổi học
* Thành tích đạt được trong những năm học qua của nhà trường:
Danh hiệu học sinh:
Trang 31+ Học sinh hoàn thành xuất sắc chương trình lớp học: 108 em
+ Học sinh giỏi cấp huyện: 26 em
+ Học sinh giỏi cấp tỉnh: 9 em
Danh hiệu giáo viên:
+ Chiến sĩ thi đua cơ sở: 3 đồng chí
+ Giáo viên giỏi cấp huyện: 4 đồng chí
+ Giáo viên tổng phụ trách đội giỏi huyện: 01 đồng chí
2018 trường tiếp tục thực hiện: Đổi mới Quản lý – Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động giáo dục Phấn đấu xây dựng một trường học vững mạnh và phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
2.1.3 Tình hình dạy học môn Tiếng việt ở trường
Trường tiểu học Tứ Mỹ là một trường ở khu vực nông thôn.Việc dạy và học môn Tiếng việt đã được quan tâm đến nhưng chưa sâu sắc Giáo viên đã nghiên cứu phương pháp dạy học để dạy học tốt môn Tiếng việt và đặc biệt là môn Tập đọc Song chưa đi sâu lựa chọn phương pháp cho phù hợp để tiết dạy đạt kết quả cao nhất
- Giáo viên chưa chú ý và coi trọng tính luyện tập, thực hành của học sinh Vì thế mà khả năng tiếp thu môn học Tiếng việt của các em còn hạn chế
so với các môn toán hay tự nhiên xã hội Các em chưa có hứng thú học tập môn Tiếng việt Từ những tình hình trên chúng tôi đã nghiên cứu xây dựng hệ
Trang 32thống bài tập đọc hiểu để nâng cao hứng thú học tập của các em trong giờ học Tiếng việt
2.2 Giới thiệu dạng bài tập đọc hiểu
Việc dạy học đọc hiểu rất quan trọng trong chương trình tiếng việt ở tiểu học Vì thế mà việc xây dựng bài tập đọc hiểu phải dựa trên mức độ nhận biết của học sinh Bài tập đọc hiểu được chia làm nhiều dạng rất đa dạng và phong phú Dưới đây là một số dạng bài tập đọc hiểu đặc trưng của môn học tiếng việt:
Tập đọc là phân môn thực hành Nhiệm vụ chính là hình thành năng lực đọc cho học sinh, giúp các em có kĩ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh được văn bản, giáo dục các em lòng ham đọc sách, giúp các em làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học, bồi dưỡng cho các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy các em cách suy nghĩ logic Các mục đích và nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện thông qua hệ thống các bài tập, mà đặc trưng là các bài tập đọc hiểu Thông qua các bài tập đọc hiểu giúp học sinh hiểu bài
2.3 Tiêu chí phân loại bài tập
Trình bày hệ thống bài tập đọc hiểu với một sự phân loại chặt chẽ và logic là một việc làm khó Chính vì vậy khi xem xét các tiêu chí phân loại bài tập cần tính đến mối quan hệ giữa nội dung và hình thức bài tập, xem xét các bình diện yếu tố của văn bản, kĩ năng đọc hiểu với các kĩ năng khác
Có nhiều cách phân loại bài tập như:
- Phân loại theo các bước lên lớp: bài tập kiểm tra bài cũ, bài luyện tập, bài tập kiểm tra đánh giá
- Phân loại theo hình thức thực hiện: bài tập trả lời miệng, bài tập trả lời viết (tự luận), bài tập thực hành đọc, bài tập trắc nghiệm
- Phân loại theo mức độ tính độc lập của học sinh: bài tập tái hiện, bài tập suy luận, bài tập sáng tạo
- Phân loại theo đối tượng thực hiện bài tập: bài tập dùng chung, bài tập dành cho nhóm, bài tập cho cá nhân
Trang 33Hệ thống bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 2, 3 được xây dựng trong khóa luận nhằm:
Giúp cho học sinh nắm được nội dung sự vật và liên hệ cá nhân trong văn bản từ đó rút ra được ý nghĩa bài học cho bản thân
Giúp học sinh củng cố kiến thức về đọc hiểu, về các biện pháp tu từ được sử dụng trong văn học để hiểu được ý nghĩa của văn bản nghệ thuật
2.4 Hệ thống bài tập đọc - hiểu
2.4.1 Mục đích của hệ thống bài tập đọc - hiểu
Hệ thống bài tập đọc hiểu trong sách giáo khoa đã xây dựng với mục đích chủ yếu là để hướng dẫn học sinh khai thác đầy đủ kiến thức Tiếng Việt trong bài tập đọc Đồng thời giúp học sinh nâng cao khả năng tư duy logic, khả năng liên hệ giáo dục tình cảm, thẩm mỹ học sinh tiểu học Đây là hệ thống bài tập xác lập hợp lý cả ba chức năng: Nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ
Hệ thống bài tập này có tác dụng giúp học sinh dẫn dắt học sinh hiểu bài để học sinh đọc tốt đó là tác dụng khi câu hỏi đưa ra trước khi học sinh đọc Nếu các câu hỏi này được đưa ra sau khi học sinh đọc bài thì nó có tác dụng kiểm tra, điều chỉnh cách hiểu cho học sinh cho đúng, nâng cao năng lực cảm thụ văn bản vừa đọc, học sinh trả lời tốt câu hỏi là đảm bảo được yêu cầu đọc hiểu
2.4.2 Cấu trúc của từng dạng bài tập
Cấu trúc của từng dạng bài tập được phân chia theo nhóm bài tập:
+ Nhóm bài tập tiếp cận nội dung văn bản như: Chủ đề, nghĩa từ, câu, đoạn, đại ý, phát biểu cảm nghĩ
+ Nhóm bài tập tiếp cận hình thức văn bản: Dùng biện pháp nghệ thuật
gì, câu, chữ có gì đặc biệt, loại văn bản nào
+ Nhóm bài tập củng cố, nâng cao
+ Nhóm bài tập kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì
2.4.2.1 Dạng bài tập nhận diện ngôn ngữ văn bản, tái hiện nội dung văn bản
Trang 34Đây là loại bài tập nhằm giúp học sinh tái hiện lại những từ ngữ, chi tiết, hình ảnh, câu, đoạn quan trọng trong bài Bài tập nhận diện có mục đích làm cầu nối để dẫn dắt học sinh tìm hiểu các vấn đề mang tính chất phát hiện Bài tập này được dùng khi học sinh tham gia quá trình đọc giải mã, nhận diện các đơn vị ngôn ngữ, tái hiện hình tượng, nhận diện nhân vật, nắm bắt tình tiết
và hình dung bức tranh miêu tả trong văn bản nghệ thuật Bài tập nhận diện được sử dụng trong quá trình giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu những từ ngữ,hình ảnh then chốt, những biện pháp nghệ thuật nhằm làm rõ ý và nghĩa của văn bản
2.4.2.2 Dạng bài tập cắt nghĩa ngôn ngữ văn bản để hiểu được giá trị nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của văn bản
Nhóm bài tập này yêu cầu sự nỗ lực của người đọc ở mức độ cao hơn, yêu cầu giải nghĩa từ, làm rõ nghĩa và cái hay của từ ngữ, câu, đoạn, bài, hình ảnh, chi tiết trong văn bản Để làm được các bài tập này đầu tiên các em phải nhận ra các từ hay, các hình ảnh, chi tiết đắt giá có trong bài Tuy nhiên đây không phải là một việc mà bất cứ em học sinh nào cũng có thể làm được Tiếp
đó các em phải có thao tác cắt nghĩa, biết khái quát hoá và suy ý để rút ra các
ý nghĩa của các đơn vị trong văn bản
2.4.2.3.Dạng bài tập tìm từ để giải nghĩa và bài tập giải nghĩa từ
Những bài tập làm rõ nghĩa của từ giúp học sinh tìm được giá trị và vẻ đẹp của từ, cảm thụ cái hay, cái đẹp của từ trong văn bản Để có thể hiểu rõ nghĩa của từ học sinh phải vận dụng các kiến thức về biện pháp tu từ, về ngữ
âm, nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn của từ, nghĩa của từ trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể… Làm rõ nghĩa của từ trong các văn bản nghệ thuật giúp cho học sinh bước đầu nắm được nội dung, tư tưởng, thái độ, tình cảm mà tác giả muốn truyền tải đến người đọc qua tác phẩm Từ ngữ trong các bài tập đọc là những từ ngữ trong một văn cảnh cụ thể, có một nét nghĩa cụ thể mang tính biểu cảm cao Học sinh không thể chỉ dựa vào các từ ngữ đã hiểu để luận ra nghĩa của từ chưa hiểu
Trang 35Bài tập tìm từ để giải nghĩa, dạng bài tập này ở khối lớp 2,3 được giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu và khai thác trong quá trình luyện đọc đúng, cũng như có thể đan xen bài tập tìm từ để giải nghĩa trong phần tìm hiểu bài Hình thức của bài tập này có thể là gạch dưới hoặc ghi lại những từ ngữ không hiểu, khó hiểu có trong bài, đây là dạng bài tập thường xuất hiện ở lớp 2,3 là dạng bài tập quan trọng bởi nó cũng chính là thao tác thường làm của người đọc văn bản Kĩ năng phát hiện từ mới mà mình không hiểu là một kĩ năng quan trọng để hiểu và để làm việc với văn bản Lời giải của bài tập trên rất khác nhau phụ thuộc vào học sinh ở địa phương nào, thuộc dân tộc nào, môi trường sống của các em, Vì vậy khi giải nghĩa GV phải có sự hiểu biết
về từ địa phương cũng như vốn từ của tiếng dân tộc vùng mình dạy học, để giải đáp cho học sinh
Bài tập giải nghĩa từ, đích hướng tới của việc giải nghĩa từ trong các giờ tập đọc thứ nhất đó là làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh, thứ hai là rèn các
kỹ năng tư duy như phân tích, phán đoán, suy luận để tìm ra nghĩa của từ chứa nó đúng với nội dung bài đọc Mỗi văn bản thơ ca hay văn xuôi được đưa vào chương trình Tiểu học đều được lựa chọn kĩ càng cả về nội dung và hình thức nghệ thuật Đến với mỗi văn bản thơ hay văn xuôi, học sinh được tham dự lễ hội của trí tuệ, bởi vì trong mỗi một văn bản vừa có ngôn ngữ mới, vừa có những tri thức mới, cho nên việc giải nghĩa các từ ngữ trong mỗi một văn bản là vô cùng quan trọng đối với mỗi HS
2.4.2.4 Dạng bài tập tái hiện nội dung bài đọc
Để làm được bài tập này có hiệu quả học sinh phải áp dụng kỹ thuật đọc nhỏ, đọc thầm và tốc độ đọc nhanh đọc lướt trong các bài đọc để các em
có thể đọc và làm được các bài tập tìm hiểu bài Hệ thống các bài tập tái hiện nội dung bài đọc giúp học sinh nhớ lại từng phần của văn bản, bước đầu chỉ ra được các điểm nhấn, các hình ảnh, chi tiết quan trọng để hiểu nội dung biểu hiện của bài Trong các bài tập đọc có rất nhiều bài tập thuộc dạng này
2.4.2.5 Dạng bài tập phân tích để tìm ý nghĩa một một chi tiết của văn bản
Bài tập phân tích để tìm ra ý nghĩa một lời nói Trong mỗi văn bản
Trang 36thường có những lời nói, những câu quan trọng giúp cho người đọc hiểu được nội dung của văn bản Khi ta phân tích, hiểu được ý nghĩa của một lời nói cũng có nghĩa là ta đã nắm được nội dung, tư tưởng, thái độ, tình cảm của tác giả muốn gửi gắm trong lời nói Bài tập tìm hình ảnh, ấu trúc của bài tập gồm
có hai phần đó là: nội dung đã biết trước và nhiệm vụ của học sinh là chỉ đi tìm hình ảnh Khắc hoạ nội dung thông qua hình ảnh để học sinh làm quen dần với thuật ngữ “hình ảnh”
2.4.2.6 Dạng bài tập xác định ý nghĩa của bài đọc
Dạng bài tập xác định ý nghĩa bài đọc có thể chia thành bốn dạng: Dạng thứ nhất đó là ý nghĩa của bài đọc đã cho sẵn trong văn bản Học sinh đọc thầm lại toàn bài, dựa vào câu hỏi bài tập giáo viên đưa ra và xác định được câu văn hoặc câu thơ chứa đựng ý nghĩa của bài đọc một cách dễ dàng Dạng thứ hai để xác định được ý nghĩa bài đọc, học sinh phải đi tìm vì nó không có sẵn câu trả lời trong bài đọc Học sinh phải vận dụng vốn hiểu biết
và ngôn ngữ của mình để nêu được ý nghĩa, xác định ý nghĩa của bài Dạng thứ ba, xác định ý nghĩa bài đọc thông qua câu hỏi bài tập “Theo em” Dạng bốn ý nghĩa bài đọc được xác định thông qua trắc nghiệm lựa chọn
2.4.2.7 Dạng bài tập khái quát suy luận
Dạng bài tập này đối với học sinh khối lớp 2, 3 là tương đối khó đối với nhiều học sinh, vì đây không phải là dạng bài tập tái hiện có thể tìm thấy trong những câu chữ trực tiếp trong bài để trả lời mà yêu cầu học sinh phải biết khái quát, suy luận để đưa ra câu trả lời
2.4.2.8 Dạng bài tập đọc phân vai văn bản truyện
Với dạng bài tập này, mỗi học sinh là một vai và đọc lại câu chuyện theo lời của vai đó Phân vai trong văn bản truyện là phân cho mỗi học sinh một vai và đọc lại câu chuyện theo lời của vai đó, nhân vật đó
2.2.2.9 Dạng bài tập kiểm tra đánh giá kết quả đọc hiểu của học sinh
Để làm được bài tập này giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tổng hợp nội dung bài thông qua các câu trả lời Học sinh phải vận dụng sự hiểu biết của bản thân, liên hệ đến cuộc sống để đưa ra các nhận xét chính xác, sát
Trang 37thực Việc các em đưa ra các nhận xét này sẽ là kết quả đánh giá về việc đọc, hiểu của các em với văn bản đọc Học sinh nói ra tình cảm thái độ của mình với nhân vật, với tác giả của văn bản
2.4.3 Cách thức tổ chức của các dạng bài tập đọc - hiểu
Cách thức tổ chức các dạng bài tập đọc – hiểu dựa trên hai căn cứ vào yêu cầu đọc và hiểu văn bản và nhận thức của học sinh Tuy nhiên việc tổ chức các dạng bài tập phải đảm bảo yêu cầu là:
Các bài tập đọc hiểu phải đảm báo tính vừa sức được thể hiện là những ngữ liệu được đưa ra trong bài tập gần gũi với các em, đây là một yêu cầu cần thiết nếu không chú ý đến yêu cầu này thì bài tập sẽ không mang tính khả thi Học sinh tiểu học vốn không có tính kiên trì nên các em sẽ mau chán nản, không muốn làm khi gặp những bài tập quá khó Tuy nhiên những bài tập dễ quá cũng không làm cho các em thích thú Tính vừa sức còn thể hiện ở chỗ bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh Trong một lớp có rất nhiều đối tượng học sinh khác nhau, mỗi đối tượng có khả năng đọc hiểu và cảm thụ văn học riêng, vì vậy bài tập cần có tính vừa sức với các em để các em phát huy năng lực học tập của mình
Bài tập đọc hiểu phải đảm bảo tính giáo dục, phân môn tập đọc với mục tiêu quan trọng đó là “Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” cho học sinh Mỗi bài tập ngoài mục đích hình thành kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo còn hướng đến một mục đích giáo dục nào đó như: giáo dục tình yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên, tình yêu đồng bào, giáo dục tình cảm thẩm mĩ, hướng đến cái thiện, lên án cái ác… Bên cạnh đó chúng tôi cũng thấy rõ được vai trò chỉ đạo, định hướng của giáo viên trong quá trình hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập đọc hiểu văn bản góp phần làm cho giờ học đạt hiệu quả cao, kích thích được hứng thú học tập của học sinh Đề xuất để nâng cao hệ thống bài tập
Để nâng cao hiệu quả của hệ thống các dạng bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh, điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố
Trang 38con người - giáo viên là một trong những yếu tố quan trọng Những câu hỏi bài tập của giáo viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với học sinh Học sinh
có sự hứng thú, tò mò hay không? Học sinh có tìm được câu trả lời hay không? những điều này phụ thuộc vào chính những câu hỏi bài tập của giáo viên Có những bài tập tạo ra sự tích cực, và cũng có những câu hỏi bài tập không gây nên phản ứng gì cho học sinh
Hiệu quả của bài tập phụ thuộc vào những kĩ năng đặt câu hỏi sau đây: + Câu hỏi bài tập đặt ra học sinh có làm được không?
+ Bạn có khen ngợi hay ghi nhận bài làm đúng của học sinh không? + Bạn có tránh làm cho học sinh ngại ngùng với câu trả lời của mình không?
+ Nếu không có ai trả lời, bạn có thể đặt một câu hỏi khác đơn giản hơn
để gợi mở cách trả lời câu hỏi ban đầu không?
+ Câu hỏi của bạn có ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu không?
+ Bạn có thể phân phối bài tập đều cả lớp không?
Hơn nữa sự linh hoạt của giáo viên trong việc sử dụng các phương pháp dạy học, ứng xử sư phạm để thích ứng với sự thay đổi của đối tượng và hoàn cảnh là yếu tố quan trọng cho sự thành công của mỗi bài dạy
Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ âu yếm nắm tay tôi đẫn đi trên con đường làng dài và hẹp Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ Cảnh vật xung quanh tôi đang có sự thay đổi lớn:hôm nay tôi đi học
Trang 39Cũng như tôi, mấy học trò bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám đi tưng bước nhẹ Họ như con chim nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng, e sợ Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những người học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ
Theo THANH TỊNH
Chọn câu trả lời đúng:
1, Điều gì làm tác giả nhớ lại những kỉ niệm của buổi tựu trường?
A Trời thu trong biếc, những đóa hoa tươi nở rộ
B Vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều
C Từng đàn chim én bay lượn trên bầu trời quang đãng
2 Trong ngày tựu trường vì sao tác giả thấy cảnh vật trở nên khác lạ?
A Vì cảnh vật trên con đường hôm ấy rất đẹp
B Vì mùa thu đến làm cho cảnh vật thay đổi
C Vì lần đầu tiên đi học, tác giả rất xúc động nên cảm thấy cảnh vật quen thuộc hàng ngày bỗng thay đổi
3 Đám học trò mới như bạn nhỏ có tâm trạng như thế nào trong buổi tựu trường?
A Bỡ ngỡ, rụt rè, vui sướng
B Mạnh dạn, tự tin
C Các ý trên đều sai
4 Dòng nào gồm các từ chỉ hoạt động hoặc trạng thái?
A Nảy nở, con đường, rụt rè
B Âu yếm, học trò, mơn man
C Nao nức, mơn man
Bài 2: Cậu bé thông minh
Ngày xưa, có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp nước, vua hạ lệnh cho mỗi làng trong vùng nọ nộp một con gà trống biết đẻ trứng, nếu không thì cả làng phải chịu tội
Trang 40Được lệnh vua, cả vùng lo sợ Chỉ có một cậu bé bình tĩnh thưa với cha:
- Cha đưa con lên kinh đô gặp Đức Vua con sẽ lo được việc này
Người cha thấy làm lạ, nói với làng Làng không biết làm thế nào, đành cấp tiền cho hai cha con lên đường
Đến trước cung vua, cậu bé kêu khóc om sòm Vua liền cho gọi vào, hỏi:
- Cậu bé kia, sao dám vào đây làm ầm ĩ?
- Muôn tâu Đức Vua – cậu bé đáp – bố con mới đẻ em bé, bắt con đi xin sữa cho em Con không xin được, liền bị đuổi đi
1 Khi vua hạ lệnh, nhân dân trong làng có thái độ như thế nào?
A Lo sợ vì không thể tìm được gà trống biết đẻ trứng
B Bình tĩnh, tự tin
C Phấn khởi, vui mừng
2 Nghe lệnh vua ban, cậu bé có thái độ ra sao?
A Qúa sợ sệt