Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu đề tài Xây dựng hệ thống bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực, chúng tôi hướng vào mục tiêu sau: phát triển n
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cái tháp cao nào cũng xây từ mặt đất, đây là một quan niệm hoàn toàn đúng đắn với nền giáo dục Người giáo viên phải hình thành cho học sinh kiến thức ngay từ đầu Chính lí do đó, trong bất cứ giai đoạn xây dựng và phát triển nào của đất nước, Đảng và Nhà nước ta cũng luôn dành sự quan tâm chu đáo, đặc biệt cho nghành giáo dục Giai đoạn Tiểu học là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, tư duy, trí tuệ
Trong trường phổ thông nói chung, Tiểu học nói riêng, tiếng Việt là một môn học có vị trí quan trọng, giúp hình thành vốn ngôn ngữ chuẩn và làm nền tảng cho các bậc học về sau Đây là môn học thuộc khoa học xã hội và nhân văn có vai trò trang bị cho học sinh công cụ ngôn ngữ Tiếng Việt giúp học sinh có những kiến thức khoa học về tiếng Việt, những kĩ năng sử dụng tiếng Việt để học sinh tự hoàn thiện nhân cách của mình ở phương diện ngôn ngữ và văn hóa Với nhiệm vụ của môn học công cụ, học sinh cần học tốt
môn này để có cơ sở học tốt những môn học khác
Phân môn Luyện từ và câu giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh những kiến thức về từ và câu Việc dạy luyện từ và câu nhằm
mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh những kĩ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh hiểu được cách nói của người khác
Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 tại Hội nghị lần thứ 8 khoá
XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, sau khi chỉ ra những hạn chế và yếu kém của giáo dục đã khẳng định quan điểm chỉ đạo: Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Cùng với việc khẳng định quan điểm đó, Nghị quyết cũng chỉ ra nhiệm vụ và giải
Trang 2pháp cụ thể đối với ngành giáo dục: Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn… Đổi mới mạnh mẽ về phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, nhằm tạo cho người học, tự cập nhật, tự đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Hơn nữa ở lớp 5, các em thuộc giai đoạn 2 của Tiểu học, đó là lứa tuổi có đặc điểm tâm sinh lí đang phát triển Các em tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng và có hiệu quả
Thực hiện tinh thần của Nghị quyết 29, đổi mới mục tiêu, nội dung và
phương pháp dạy học đang diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp Bài tập Luyện từ
và câu cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực sẽ giúp các em
hiểu bài hơn, đạt kết quả cao hơn trong học tập
Chính vì thế, nhóm đề tài nghiên cứu đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực Nhóm đề tài hi vọng sẽ giúp giáo viên, học sinh
có cái nhìn tổng quát về phân môn Luyện từ và câu nói chung, về bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 (chương trình 2000) nói riêng để giúp
cho việc dạy và học được tốt hơn
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc tìm hiểu nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập theo định
hướng phát triển năng lực trong phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học là rất
quan trọng và cần thiết Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh các trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và các khu vực lân cận
Trang 33 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Xây dựng hệ thống bài tập trong phân môn Luyện
từ và câu lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực, chúng tôi hướng vào
mục tiêu sau: phát triển năng cho học sinh lớp 5 khi thực hiện các bài tập
Luyện từ và câu nói riêng, và nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng việt
ở trường Tiểu học nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu về nội dung, chương trình phân môn Luyện từ và câu ở lớp 5
(chương trình 2000)
- Xây dựng hệ thống bài tập theo định hướng phát triển năng lực trong
phân môn Luyện từ và câu lớp 5 (chương trình 2000)
- Thực nghiệm và kiểm định tính khả thi của hệ thống bài tập nói trên
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống bài tập theo định hướng
phát triển năng lực trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 (chương trình 2000)
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tìm hiểu nội dung, chương trình và bài tập trong phân
môn Luyện từ và câu lớp 5 (chương trình 2000)
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thống kê - phân loại
Phương pháp thống kê nhằm xác định tần số xuất hiện của các bài học
về trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 (chương trình 2000)
Phương pháp phân loại tổng hợp nhằm có những đánh giá, nhận thức mới phục vụ cho đề tài
6.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phương pháp phân tích là thao tác phân tài liệu lý thuyết thành các đơn
vị kiến thức, cho phép có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, cấu trúc bên trong của lý thuyết Từ đó nắm vững bản chất của từng đơn vị kiến thức và
Trang 4toàn bộ vấn đề cần nghiên cứu Trên cơ sở phân tích tạo ra hệ thống kiến thức, thấy được mối quan hệ tác động biện chứng giữa chúng, từ đó hiểu đầy đủ, toàn diện, sâu sắc lý thuyết
Đối với đề tài chúng tôi nghiên cứu, việc sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp là hoàn toàn cần thiết Từ đó chúng tôi có thể khai thác sâu
hơn về đề tài Xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực
6.3 Phương pháp so sánh
Phương pháp này giúp chúng tôi có sự liên hệ, đối chiếu, so sánh những điểm giống và khác nhau giữa các dạng bài tập theo định hướng phát triển năng lực
Qua đó chúng ta sẽ có cách nhìn nhận và sử dụng đúng đắn về bài
tập theo định hướng phát triển năng lực
6.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Đây là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa học, bằng cách sử dụng trí tuệ của một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định Phương pháp này sẽ cho giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn đa chiều, có được những đánh giá cụ thể về
công trình nghiên cứu của mình
Thực hiện phương pháp lấy ý kiến chuyên gia bằng cách xin ý kiến của giảng viên hướng dẫn, các giảng viên dạy bộ môn Văn, cùng những thầy cô
giáo quan tâm tới đề tài Xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Giới thuyết chung về năng lực trong dạy học Tiểu học
1.1.1.1 Năng lực và bản chất của năng lực
Phần lớn định nghĩa về năng lực của các tài liệu nước ngoài quy năng
lực vào phạm trù khả năng:
- Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm
năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”[7, 4];
- Denyse Tremblay cho rằng năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống”[7, 5];
- Còn theo F.E.Weinert, năng lực là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp”[7, 5]
Như vậy, việc giải thích năng lực bằng khái niệm khả năng không thật
chuẩn xác Theo Từ điển Tiếng Việt, “khả năng” là: “1 Cái có thể xuất hiện,
có thể xảy ra trong điều kiện nhất định; 2 Cái vốn có về vật chất hoặc tinh thần để có thể làm được việc gì”[20, 488] Dù hiểu theo nghĩa nào thì cũng
không nên quy năng lực vào phạm trù khả năng vì người có năng lực trong một lĩnh vực nào đó chắc chắn sẽ thực hiện thành công loại hoạt động tương ứng; trong khi khả năng là cái tồn tại ở dạng tiềm năng có thể biến thành hiện thực nhưng cũng có thể không biến thành hiện thực Tuy nhiên, các thuật ngữ
khả năng của các tác giả nước ngoài luôn đi kèm các cụm từ “đáp ứng một cách hiệu quả”, “hành động hiệu quả”, “hành động, thành công và tiến bộ”,
“đi đến giải pháp”
Trang 6Nhiều tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam quy năng lực vào những phạm trù khác nhau:
- Tài liệu hội thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp năng
lực vào phạm trù hoạt động khi giải thích: “năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin,
ý chí để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”[4, 5] Thực
ra, năng lực của con người thể hiện, bộc lộ qua việc thực hiện thành công hoạt động, nhưng bản thân nó không phải là hoạt động Nó là kết quả “huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác
Một số tài liệu khác gọi năng lực là đặc điểm, phẩm chất hoặc thuộc tính cá nhân, ví dụ:
- Cách hiểu của Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó”[8, 41];
- Cách hiểu của Từ điển tiếng Việt: “năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[ 20, 660];
- Cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [17, 18]
- Cách hiểu của Đặng Thành Hưng: “năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [11, 7]
- Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng, 1998) có
giải thích: Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có
để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
[16, 639]
Trang 7- Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát
hành năm 2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi [2, 11]
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau năm
2015 đã xác định một số năng lực, những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như:
– Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:
+ Năng lực tự học;
+ Năng lực giải quyết vấn đề;
+ Năng lực sáng tạo;
+ Năng lực quản lí bản thân
– Năng lực xã hội, bao gồm:
+ Năng lực giao tiếp;
+ Năng lực hợp tác
– Năng lực công cụ, bao gồm:
+ Năng lực tính toán;
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ;
+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin
Như vậy, theo chúng tôi, có thể hiểu một cách ngắn gọn: năng lực là sự vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết hiệu quả các vấn đề trong học tập, công tác
và cuộc sống thông qua các hoạt động cụ thể
Trang 81.1.1.2 Đặc trưng, cấu trúc của năng lực
* Đặc trưng của năng lực
Để phân biệt năng lực với những khái niệm khác cùng phạm trù, các tài liệu trong nước và nước ngoài đều thống nhất quan niệm năng lực cá nhân được bộc lộ ở hoạt động (hành động, công việc) nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể trong bối cảnh (điều kiện) cụ thể Đây là đặc trưng phân biệt năng lực với tiềm năng - khả năng ẩn giấu bên trong, chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực Một số tài liệu của Việt Nam còn cho rằng năng lực gắn
với các “dạng hoạt động” (Từ điển Bách khoa Việt Nam, Đặng Thành Hưng), “loại hoạt động” (Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học),
“loại công việc” (Tài liệu hội thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng
thể trong Chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ GD&ĐT) Theo chúng tôi, việc quy chiếu năng lực với loại hoạt động giúp chúng ta phân biệt năng lực với kĩ năng – một thành tố của năng lực Mỗi năng lực gắn với một loại hoạt động, chẳng hạn: năng lực giao tiếp, năng lực tư duy, năng lực hợp tác Các năng lực này được thể hiện ở những kĩ năng gắn với những hoạt động cụ thể, như: kĩ năng nói, kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng làm việc nhóm
Đặc trưng thứ hai của năng lực được hầu hết các tài liệu nghiên cứu
trong nước và nước ngoài thống nhất là tính “hiệu quả”, “thành công” hoặc
“chất lượng cao” của hoạt động Đồng thời, có thể nêu thêm một đặc trưng nữa của năng lực là “sự phối hợp (tổng hợp, huy động) nhiều nguồn lực”
Những nguồn lực này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những
gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của học sinh; những
kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn lực bên ngoài, như bạn cùng lớp, thầy giáo, cô giáo… Theo Howard Gardner, để giải quyết một vấn đề có thực trong cuộc sống, con người phải kết hợp các trí năng liên quan với nhau (8 lĩnh vực trí năng là ngôn ngữ, logic - toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức, hướng tới thiên nhiên,
sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân Thực ra, những điều nói về sự phối
Trang 9hợp nhiều nguồn lực liên quan đến cấu trúc của năng lực (thường được cho là bao gồm kiến thức, kĩ năng, thái độ ) và một số năng lực cụ thể (như năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp ) có thể xem đó là một đặc điểm của năng lực nhưng khó có thể xem là một đặc trưng phân biệt năng lực với những khái niệm khác như tiềm năng, khả năng hay năng khiếu - những thuộc tính vốn cũng có tính tổng hợp Bởi vậy, có thể hiểu năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể
Như vậy, hai đặc trưng cơ bản của năng lực là:
+ Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động
+ Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn
Quan niệm về năng lực như trên giúp chúng ta hình dung một chương trình định hướng năng lực cho người học phải là một chương trình chú trọng
tổ chức hoạt động cho học sinh Các hoạt động này tạo tình huống học tập mới, mở rộng điểm nhìn cho học sinh, giúp các em phát triển tư duy sáng tạo Đồng thời, qua hoạt động, bằng hoạt động, học sinh hình thành, phát triển năng lực, bộc lộ được tiềm năng của bản thân; tự tin, có niềm hạnh phúc bởi thành công và tiếp tục phát triển
* Cấu trúc của năng lực
Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành
Mặc dù cách trình bày về khái niệm năng lực có khác nhau nhưng phần lớn các tài liệu trong nước và nước ngoài đều hiểu năng lực là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, niềm tin, sự sẵn sàng hoạt động Có thể hiểu đó là hướng tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành
F.E.Weinert cho rằng năng lực gồm ba yếu tố cấu thành là khả năng, kĩ năng và thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân
Gần với ý kiến của F.E.Weinert, Đặng Thành Hưng cho rằng năng lực gồm ba thành tố cơ bản là tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm (thái độ),
trong đó “yếu tố cốt lõi trong bất cứ cụ thể nào đều là kĩ năng (hoặc những kĩ
Trang 10năng) Những thứ khác trong như tri thức, thái độ, tình cảm, vận động, sức khỏe cũng rất quan trọng, song thiếu kĩ năng thì chúng trở nên kém giá trị mặc dù không phải hoàn toàn vô dụng” [11, 9]
Ðề tài nghiên cứu cấp Bộ, năm 2011 của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam do Lương Việt Thái làm chủ nhiệm cũng khẳng định: năng lực được cấu thành từ những bộ phận cơ bản:
+ Tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ nào đó
+ Kĩ nãng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó + Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ nãng đó trong một cõ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng, chẳng hạn ý chí
- động cơ, tình cảm - thái độ đối với nhiệm vụ, hoặc nói chung là tính tích cực trí tuệ, tính tích cực giao tiếp, tính tích cực học tập
Theo nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam: mỗi một thứ trong 3 cấu tạo tâm lí nói trên khi tách riêng nhau ra đều có những dạng chuyên biệt của năng lực: có dạng năng lực ở dạng tri thức (năng lực nhận thức), có loại năng lực ở dạng kĩ năng (năng lực làm), và có loại năng lực ở dạng xúc cảm, biểu cảm (năng lực xúc cảm) Khi kết hợp 3 thứ lại, vẫn
là năng lực, nhưng mang tính chất hoàn thiện hơn, khái quát hơn Đặng Thành Hưng thể hiện các dạng năng lực nói trên bằng sơ đồ cấu trúc sau:
Ý kiến của Đặng Thành Hưng và nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã gợi cho chúng tôi nghĩ đến mối quan hệ giữa các nguồn lực hợp thành năng lực là tri thức, kĩ năng và thái độ với sự thể hiện
Trang 11của chúng trong hoạt động là năng lực hiểu, năng lực làm và năng lực ứng xử
Đó là mối quan hệ giữa nguồn lực (đầu vào) với kết quả (đầu ra), nói cách khác là giữa cấu trúc bề mặt với cấu trúc bề sâu của năng lực Nhận thức này
có ý nghĩa rất lớn trong giáo dục Nếu chúng ta chỉ tập trung vào mục tiêu cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và tổ chức đánh giá những mặt đó thì mới chỉ dừng lại ở đầu vào Một chương trình tiếp cận, phát triển năng lực phải nhằm hình thành, phát triển và kiểm soát được, đo lường được các chỉ số ở đầu ra Có thể hình dung cấu trúc của năng lực theo các nguồn lực hợp thành bằng sơ đồ sau:
Cấu trúc bề mặt (đầu vào) -> kiến thức (năng lực hiểu), kỹ năng (năng lực làm), thái độ (năng lực ứng xử) -> Cấu trúc bề sâu (đầu ra)
Theo sơ đồ cấu trúc này, để hình thành, phát triển năng lực cho học sinh, việc dạy học trong nhà trường không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng thái độ sống đúng đắn mà còn phải làm cho những kiến thức sách vở trở thành những hiểu biết thực sự của mỗi học sinh, làm cho những kỹ năng rèn luyện trên lớp được thực hành, ứng dụng trong đời sống ngay trên ghế nhà trường, làm cho thái độ sống được giáo dục qua mỗi bài học có điều kiện, môi trường để bộc lộ, hình thành, phát triển qua các hành vi ứng xử, trở thành phẩm chất bền vững của mỗi học sinh Việc đánh giá, vì vậy, phải chuyển từ kiểm tra kiến thức, thao tác kĩ thuật và nhận thức tư tưởng đơn giản sang đánh giá sự hiểu biết, khả năng thực hành – ứng dụng và hành vi ứng xử của học sinh trong cuộc sống Ví dụ, khi đánh giá năng lực của học sinh qua việc học các tác phẩm văn chương, sẽ không tập trung vào kiểm tra kiến thức về tác giả, tác phẩm hay những vấn đề về lịch sử
và lí luận văn học như hiện nay mà đưa ra các công cụ để đánh giá mức độ đọc hiểu, cảm thụ thẩm mĩ và cảm xúc của học sinh trước các hình tượng, cảnh ngộ được phản ánh qua các tác phẩm, kể cả những tác phẩm chưa được học trong chương trình
Trang 12Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo năng lực bộ phận
Khác với các tài liệu nói trên, Nguyễn Lan Phương không quan niệm cấu trúc năng lực bao gồm tri thức, kỹ năng, thái độ mà gồm 3 thành phần chính sau đây:
- Hợp phần: là lĩnh vực chuyên môn tạo nên năng lực;
- Thành tố: là các năng lực hoặc kĩ năng bộ phận tạo nên mỗi hợp phần;
- Hành vi: bộ phận được chia tách từ mỗi thành tố
1.1.2 Định hướng dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong môn tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.2.1 Chương trình giáo dục định hướng năng lực
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (định hướng phát triển năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với
tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể
coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là
kết quả học tập của học tập
Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển năng lực sẽ cho chúng ta thấy ưu điểm của chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực:
Trang 13Bảng 1.1 So sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng
nội dung và chương trình định hướng phát triển năng lực
Tiêu chí Chương trình định hướng
nội dung
Chương trình định hướng phát triển năng lực
Mục tiêu giáo dục Mục tiêu dạy học được mô
tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được
Kết quả học tập cần đạt được
mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục
Nội dung giáo dục Việc lựa chọn nội dung
dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra
đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết
Hình thức dạy học Chủ yếu dạy học lý thuyết
trên lớp học
Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học
Đánh giá kết quả
học tập của học sinh
Tiêu chí đánh giá được xây dựng chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung đã học
Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến
sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn
Trang 141.1.2.2 Vai trò của môn Tiếng Việt trong phát triển các năng lực của học sinh
Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác Môn tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh thể hiện ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Do đó, môn tiếng Việt
có một vị trí rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học
Môn tiếng Việt là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động và giao tiếp của học sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập trong trường học, giúp học sinh hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản ở Tiểu học, đồng thời nó chi phối kết quả học tập của các môn học khác
Giai đoạn 1: Lớp 1, 2, 3
Đối với học sinh lớp 1, 2, 3, nội dung của môn tiếng Việt tập trung hình thành những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết; định hướng cho việc học nghe, học nói dựa trên vốn tiếng Việt mà các em đã có Các bài học ở giai đoạn này chủ yếu là bài học thực hành, được thấm vào học sinh một cách tự nhiên qua các bài học thực tế Những tri thức về âm – chữ cái, về tiếng (âm tiết) – chữ, về thanh điệu – dấu ghi thanh đều được học qua những bài dạy chữ Những tri thức về câu trong đoạn hội thoại (câu hỏi, đáp và dấu câu) cũng không được dạy qua bài lý thuyết mà học sinh được hình dung cụ thể trong một văn bản cụ thể
Ở giai đoạn này, học sinh sẽ nhận diện được và sử dụng được các đơn
vị của tiếng Việt, các quy tắc sử dụng tiếng Việt trong lúc đọc, viết, nghe, nói
Vậy nên, việc học Tiếng Việt ở bậc tiểu học sẽ tạo nền tảng cho trẻ trong việc
phát triển tư duy ngôn ngữ, biểu hiện qua việc trẻ đọc thông thạo và hiểu đúng ý nghĩa một văn bản ngắn; viết rõ ràng, đúng chính tả; nghe chủ động; nói chủ động, rành mạch
Giai đoạn 2: Lớp 4, 5
Về nội dung môn học, học sinh ở giai đoạn này đã được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng tiếng
Trang 15Việt làm nền móng cho việc phát triển kỹ năng Bên cạnh những bài học thực hành (ở giai đoạn trước), học sinh được học các bài về tri thức tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản, phong cách,…) Những bài học này cũng không phải là lý thuyết đơn thuần, được tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư duy trừu tượng, mà chủ yếu vẫn bằng con đường nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã đọc, viết, nghe, nói; rồi sau đó mới khái quát thành những khái niệm Nội dung chương trình giai đoạn này nhằm phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói lên một mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn
Ngoài ra, tầm quan trọng của tiếng Việt ở bậc tiểu học còn hướng đến
việc hình thành các kỹ năng mềm, kỹ năng sống cần thiết cho học sinh Nội dung kỹ năng sống được thể hiện ở tất cả các nội dung của môn học Những
kỹ năng đó chủ yếu là: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng suy nghĩ sáng tạo, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng làm chủ bản thân, Thông qua các kỹ năng này sẽ giúp học sinh nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết tự nhìn nhận đánh giá đúng về bản thân để tự tin, tự trọng và không ngừng vươn lên trong học tập cũng như cuộc sống Tiếng Việt sẽ dạy học sinh biết cách giao tiếp, ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tự nhiên, biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh
Bởi vậy, tiếng Việt là môn học không thể thiếu trong hệ thống giáo dục của đất nước, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh ở bậc tiểu học – lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành về nhân cách và tư duy Tiếng Việt không những là
“công cụ của tư duy” mà còn bước đệm để hình thành nhân cách của trẻ thơ
1.1.2.3 Năng lực tiếng Việt và các năng lực chuyên biệt trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 5
* Các năng lực cụ thể của năng lực tiếng Việt:
Theo chúng tôi, việc phân chia năng lực tiếng Việt thành các năng lực cấu thành có thể dựa theo các tiêu chí sau:
– Theo tiêu chí các kĩ năng sản sinh và tiếp nhận, ta có các năng lực cụ
thể của tiếng Việt như: năng lực nói, năng lực nghe, năng lực đọc và năng lực
Trang 16viết Chúng tôi cho rằng đây là 4 năng lực bộ phận cấu thành năng lực tiếng
Việt Để hình thành và phát triển tốt 4 năng lực bộ phận này, cần hình thành cho học sinh năng lực nhận thức về các quy tắc ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ (gọi tắt là năng lực nhận thức) như: dùng từ, đặt câu, phong cách ngôn ngữ, các biện pháp tu từ v.v Năng lực nhận thức được nói đến ở đây gồm hai mảng nhận thức cơ bản: Thứ nhất là nhận thức ngôn ngữ – nhận thức về các đơn vị ngôn ngữ, các quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ, các quy tắc kết hợp các đơn vị ngôn ngữ thành những đơn vị lớn hơn Tóm lại, đó là nhận thức về ngôn ngữ như một hệ thống Thứ hai là nhận thức văn hoá giao tiếp – nhận thức về các điều kiện sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong thực tiễn Nếu nhóm nội dung thức nhất giúp học sinh có thể sử dụng từ, đặt câu đúng với ngữ pháp của tiếng Việt thì nhóm nội dung thứ hai sẽ giúp học sinh sử dụng các câu được đặt ra phù hợp với tình huống giao tiếp, giúp cho giao tiếp đạt được hiệu quả và hiệu quả cao
Song, cần cân nhắc về cách thức hình thành nhận thức về ngôn ngữ ở học sinh – qua các bài học riêng biệt về kiến thức ngôn ngữ hay học sinh tự đúc kết, rút ra những hiểu biết về ngôn ngữ cũng như văn hoá giao tiếp thông qua việc rèn luyện các kĩ năng, các năng lực bộ phận
Mỗi năng lực lại được chia tiếp tục thành các năng lực cụ thể theo các mức độ từ đơn giản đến phức tạp, trong đó có những năng lực có thể rèn luyện độc lập nhưng cũng có những năng lực phải rèn luyện tổng hợp Theo các nghiên cứu bước đầu của chúng tôi, các năng lực bộ phận có thể được chia thành các năng lực cụ thể như sau:
Trang 17– Năng lực độc thoại, đối thoại trong gia đình, lớp học, nhà trường và trong cuộc sống
– Năng lực nói về một nội dung cho trước
– Năng lực thuyết phục: nói đúng chủ đề, lập luận logic, nhất quán – Năng lực phát biểu ý kiến, thuyết trình, thuyết minh, giải thích trước đám đông
– Năng lực đối thoại, trao đổi, thoả thuận, đàm phán
Năng lực nghe
– Năng lực nghe – hiểu nghĩa tường minh: nghe người khác nói, nghe người khác đọc, nghe đài, ti vi
– Năng lực nghe – hiểu nghĩa hàm ẩn trong hội thoại
– Năng lực đánh giá, nhận xét về lời nói của người khác
– Năng lực nghe – phản hồi ý kiến của người khác
– Năng lực nghe – ghi, nghe – tóm tắt ý chính
– Năng lực nghe – cảm nhận văn bản văn chương nghệ thuật
– Năng lực đọc để tóm tắt văn bản
– Năng lực đọc để thu thập thông tin phục vụ cho một chủ đề cho trước, năng lực đọc để tổng thuật các ý kiến
Năng lực viết
– Năng lực viết đúng: chuyển từ âm nghe được đến chữ
– Năng lực viết đúng chính tả, sử dụng dấu câu thích hợp
Trang 18– Năng lực viết câu phản ánh đúng tư tưởng, suy nghĩ của cá nhân, bộc
lộ cảm xúc phù hợp
– Năng lực viết thư, lời nhắn cá nhân
– Năng lực điền các mẫu tờ khai
– Năng lực trích dẫn ý kiến người khác trong bài viết
– Năng lực viết đoạn văn, văn bản: miêu tả, kể chuyện
– Năng lực viết các loại văn bản: viết đơn, báo cáo, tờ trình
– Năng lực viết văn bản văn chương nghệ thuật
Trên đây là những năng lực, theo chúng tôi, cần được hình thành và phát triển ở học sinh
Các năng lực cụ thể cần được tiếp tục nghiên cứu để sắp xếp thành bảng các năng lực tối thiểu cho mọi học sinh và những năng lực nâng cao, có tính phân hoá dành cho học sinh theo học chuyên sâu ở các môn học khác nhau Việc xây dựng một bảng các năng lực cụ thể cần xuất phát từ chuẩn năng lực tiếng Việt đối với học sinh từng lớp, từng cấp học Chuẩn năng lực phải được quy định chi tiết cho từng năng lực cụ thể
Việc rèn luyện năng lực cũng cần được chú ý đến sự khác nhau của đối tượng học sinh – đặc điểm dân tộc, điều kiện địa lí – xã hội, văn hoá, kinh tế Việc hình thành và phát triển các năng lực cụ thể không thể không gắn với những nội dung giao tiếp hằng ngày trong đời sống cũng như trong học tập Việc lựa chọn các nội dung để rèn luyện các kĩ năng tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng trong việc tích hợp môn tiếng Việt với những môn học khác như Giáo dục đạo đức, tăng cường những hiểu biết về lịch sử, địa lí, kinh tế - xã hội của đất nước
Có thể nói định hướng dạy tiếng Việt theo hướng hình thành và phát triển năng lực vừa hướng tới được tính thực tiễn của môn học vừa tạo điều kiện để thực hiện tích hợp trong dạy học
* Các năng lực mà phân môn Luyện từ và câu hướng tới:
Năng lực tư duy, logic
Ngôn ngữ và tư duy luôn có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ Thực tế cho thấy học sinh có kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ thì những năng lực,
Trang 19phẩm chất tư duy của các em cũng được thể hiện rõ Ngược lại, học sinh không có ngôn ngữ hoặc khả năng ngôn ngữ kém thì năng lực tư duy cũng hạn chế Tuy vậy, cần nhận thức rằng, ngôn ngữ và tư duy thống nhất chứ không đồng nhất
Mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy cho thấy môn tiếng Việt có nhiều lợi thế trong việc rèn luyện và phát triển tư duy cho học sinh Chắnh vì vậy, mục tiêu cơ bản của việc dạy học tiếng Việt là hình thành và phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cho học sinh Điều đó cũng có nghĩa là hình thành và phát triển điều kiện cần thiết, quan trọng để phát triển tý duy Các nhà nghiên cứu về phýõng pháp dạy học tiếng đã rút ra những kết luận có tắnh chất phương pháp từ việc nhận thức mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy Theo họ, kiến thức, kĩ năng ngôn ngữ phải được xem xét như là những yếu tố của sự phát triển tư duy; các hệ thống dạy học tiếng Việt phải bảo đảm mối liên hệ giữa lời nói và tư duy; phải thường xuyên luyện tập cho học sinh khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau Lời nói cần có nội dung, trong dạy học tiếng có thể đi từ tư duy đến ngôn ngữ hoặc ngược lại (giải nghĩa từ là đi từ ngôn ngữ đến tư duy; viết câu, dựng đoạn là đi từ tư duy đến ngôn ngữ) Họ cũng cảnh báo rằng, phương pháp dạy học tiếng không dựa vào sự phát triển tương hỗ giữa lời nói
và tư duy thì đó là phương pháp sai lầm về phương diện triết học Quan điểm trên cho thấy trong quá trình dạy học tiếng Việt, chúng ta cần tuân thủ nguyên tắc phát triển tư duy cho học sinh với những yêu cầu: (1) Phải chú ý rèn luyện các thao tác và phẩm chất tư duy trong giờ dạy tiếng cho các em; (2) Phải làm cho học sinh thông hiểu được ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ; (3) Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm được nội dung các vấn đề cần nói cần viết và biết thể hiện nội dung này bằng các phương tiện ngôn ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức lôgắc, lắ tắnh nên chúng ta phải rèn luyện các thao tác tư duy lôgắc cho học sinh Chắnh trong các đơn vị và các dạng thức ngôn ngữ có sự khái quát hoá, trừu tượng hoá Chẳng hạn, khi
chúng ta nói Ộdanh từỢ nghĩa là không phải nói đến một danh từ cụ thể nào cả
Trang 20mà nói đến tất cả các danh từ trong sự đối chiếu với động từ, tính từ Để rèn luyện thao tác tư duy lôgíc cho học sinh, trong thực tế chúng ta đã tổ chức bài học bằng các phương pháp dạy học cụ thể Các bài học hình thành khái niệm,
áp dụng khái niệm để giải quyết một vấn đề cụ thể của ngôn ngữ, của việc sử dụng ngôn ngữ là những cơ hội để phát triển tư duy cho các em Thông qua việc phân tích những hiện tượng ngôn ngữ riêng lẻ, các em vận dụng những phẩm chất tư duy lôgíc để khái quát hoá thành những khái niệm, những tri thức về ngôn ngữ Và từ những kiến thức đã thu nhận được, các em, một lần nữa, lại vận dụng năng lực tư dưy lôgíc của mình để sử dụng những kiến thức
đó trong giao tiếp bằng ngôn ngữ
Trong phân môn Luyện từ và câu, ngoài việc rèn luyện thao tác tư duy
lôgic cho học sinh, chúng ta cần hình thành và phát triển các phẩm chất tư duy cho các em Muốn vậy, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh nắm được các vấn đề cần nói và viết, biết thể hiện nội dung các vấn đề đó bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau Chúng ra cần rèn cho học sinh nói, viết từ một ý bằng nhiều cách khác nhau, cần biết sử dụng các dạng ngôn ngữ nói, viết cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp Hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài là hệ thống câu hỏi phát huy hết năng lực của từng cá nhân học sinh trong lớp
Năng lực giải quyết vấn đề
Trên thực tế, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về năng lực giải quyết vấn đề Tuy nhiên, các ý kiến và quan niệm đều thống nhất cho rằng giải quyết vấn đề là một năng lực chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong việc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu
Với phân môn Luyện từ và câu, năng lực này cũng cần được hướng đến
khi triển khai các nội dung dạy học, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trình hình thành năng lực có thể gắn với các bối cảnh học tập của môn học, khi nảy sinh những tình huống có vấn đề Với một số nội dung dạy học trong phân
Trang 21môn Luyện từ và câu như: tiếp nhận một dạng bài tập mới, học những kiến
thức tiếng Việt mới,… quá trình học tập các nội dung trên là quá trình giải quyết vấn đề theo quy trình đã xác định Quá trình giải quyết vấn đề trong
phân môn Luyện từ và câu có thể được vận dụng trong một tình huống dạy
học cụ thể hoặc trong một chủ đề dạy học
Năng lực hợp tác
Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ
để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau Khi làm việc cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp
đỡ, lắng nghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ Đây là hình thức học tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả
về quan hệ xã hội lẫn thành tích học tập
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung Đây là một năng lực rất cần thiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một không gian rộng mở của quá trình hội nhập
Trong phân môn Luyện từ và câu, năng lực hợp tác thể hiện ở việc học
sinh cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người học sinh trong bối cảnh mới
Năng lực giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe, nhằm đạt được một mục đích nào đó Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong
Trang 22giao tiếp là ngôn ngữ Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xã hội Năng lực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huống phù hợp để đạt được mục đích
Trong phân môn Luyện từ và câu, việc hình thành và phát triển cho học
sinh năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của môn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, học sinh được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, học sinh được luyện tập những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để học sinh được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống
“muốn” thay cho cái mình “phải”
Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha Hồn nhien trong quan hệ với
Trang 23thầy cô, bạn bè, với người lớn Hồn nhiên nên rất cả tin, tin vào thầy cô, tin vào sách Niềm tin của học sinh tiểu học còn cảm tính, chưa có lí trí soi sáng dẫn đường
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, tính bắt chước của các em vẫn còn đậm nét Các em bắt chước hành vi, cử chỉ của giáo viên, của những người các em
coi như “thần tượng”, kể cả những nhân vật trong truyện, trong phim ảnh Tính bắt trước của trẻ lợi hại như “con dao hai lưỡi” cũng có thể tích cực, cũng có thể “lợi bất cập hại”
Học sinh tiểu học thích hoạt động và thích làm việc gì đó phù hợp với mình, nên có thể sớm hình thành ở các em thói quen đối với lao động Hoạt động lao động còn hình thành ở các em những phẩm chất tốt đẹp như tính kỷ luật, sự cần cù, óc tìm tòi sáng tạo, tình cảm đối với người lao động
* Nhu cầu nhận thức
Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học là nhu cầu tinh thần Nhu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Thường thì nhu cầu nhận thức, nhu cầu được học là nhu cầu tự nhiên của trẻ, nhưng nhu cầu này có thể bị ức chế, bị dập tắt từ chính kết quả học tập của các em Nguyên nhân đó là:
- Nội dung và phương pháp không phù hợp với tâm lý trẻ em, làm cho việc học của các em trở nên nặng nề, quá tải, trẻ em cảm thấy chán nản
- Trong quá trình học tập, một số học sinh không nhận được sự quan tâm
từ phía giáo viên, đắc biệt là khi các em gặp khó khăn dẫn đến không đạt được kết quả (thường bị chê bai…)
- Điều kiện học tập quá thiếu thốn cho việc dạy học và trở nên nhọc nhằn, khó đạt được kết quả và rất kém hiệu quả
Trang 24Tính dễ xúc cảm được thể hiện trước hết qua các quá trình nhận thức: Quá trình tri giác, tưởng tượng, tu duy Hoạt dộng trí tuệ và tu duy của các em đượm màu cảm xúc
Dễ xúc cảm đồg thời học sinh tiểu học cũng hay xúc động Đặc biệt trước những lời khen, chê của giáo viên thì học sinh cũng bày tỏ ngay sự xúc cảm, xúc động của mình như vui, buồn,…
Tình cảm của học sinh tiểu học còn mong manh, chưa bền vững sâu sắc Các em ưa thích đối tượng này, nhưng nếu có đối tượng khá hấp dẫn hơn, đặc biết hơn thì dễ dàng bị lôi cuốn vào đó và lãng quên ngay đối tượng cũ
1.1.3.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5
Ngoài những nét tâm lí chung như đã trình bày ở trên thì học sinh lớp 5 còn có những đặc điểm tâm lý riêng biệt nổi bật như:
* Tư duy
Khả năng khái quát háo phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 5 các em đã bắt đầu biết khái quát hóa lý luận
* Tưởng tượng
Ở lớp 5 tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh
cũ, trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sang tạo tương đối phát triển ở giai đoạn này, trẻ bắt đầu biể phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các cảm xúc, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý
có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong
Trang 25hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán, hay một bài hát dài, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành để thành công việc trong một khỏang thời gian quy định
* Trí nhớ và sự phát triển nhận thức
Ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức dộ tích cực tập chung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em…
* Ý chí và sự phát triển nhận thức
Các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành dộng của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
1.1.4 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
1.1.4.1 Vị trí, ý nghĩa của Luyện từ và câu ở Tiểu học
Phân môn Luyện từ và câu là một phân môn có vị trí đặc biệt quan
trọng ở trường tiểu học Ngoài việc xây dựng thành phân môn độc lập, các kiến thức, kĩ năng về từ và câu còn được tích hợp trong các phân môn còn lại của Tiếng Việt và các môn học khác ở trường Tiểu học
Vị trí quan trọng của phân môn nào được quy định bởi tầm quan trọng của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ
Từ là một đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ Muốn nắm được ngôn ngữ nào đó đầu tiên phải nắm được vốn từ Nếu như không làm chủ được vốn
từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng ngôn ngữ đó như một công cụ để học tập và giao tiếp Vì vậy, dạy luyện từ cho học sinh tiểu học là phải làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh, phải chú trọng số lượng từ, tính đa dạng và tính năng động của từ
Tuy nhiên, từ không phải là đơn vị trực tiếp sử dụng trong giao tiếp Muốn giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau con người phải
Trang 26sử dụng một đơn vị ngôn ngữ tối thiểu và cơ bản là câu Vì vậy, dạy từ ngữ cho học sinh phải gắn liền với dạy câu, dạy các quy tắc kết hợp từ thành câu, quy tắc sử dụng câu nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao
1.1.4.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của Luyện từ và câu ở Tiểu học
a, Mục tiêu
Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu là rèn luyện và phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học thông qua việc phát triển vốn từ, rèn luyện kĩ năng sử dụng từ chính xác, tinh tế để đặt câu, rèn luyện kĩ năng tạo lập câu và sử dụng câu phù hợp với tình huống giao tiếp Mục tiêu của phân môn được thực hiện đầy đủ trong tên gọi Luyện từ và câu
từ mới chưa biết trong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa
từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau
- Hệ thống hóa vốn từ (trật tự hoá vốn từ): Dạy học sinh biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ của mình để tích lũy từ được nhanh chóng và tạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi Công việc này hình thành ở học sinh kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo… tức là kĩ năng liên tưởng để huy động vốn từ
- Tích cực hóa vốn từ (luyện tập sử dụng từ): Dạy cho học sinh sử dụng
từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ trong lời nói và lời viết của học sinh, đưa từ
Trang 27vào trong vốn từ tích cực được học sinh dùng thường xuyên Tích cực hóa vốn từ tức là dạy học sinh biết dùng từ ngữ trong hoạt động nói năng của mình
- Văn hóa vốn từ: Giúp học sinh loại bỏ khỏi vốn từ những từ ngữ không văn hóa nghĩa là những từ ngữ thông tục hoặc sử dụng sai phong cách
Mặt khác còn phải cung cấp cho học sinh một số khái niệm lý thuyết sơ giản về từ vựng học như về cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ về nghĩa… để học sinh có cơ sở nắm nghĩa từ một cách chắc chắn và biết hệ thống hóa vốn
từ một cách có ý thức
* Về mặt luyện câu
Phân môn này phải tổ chức cho học sinh thực hành để rèn luyện kĩ năng cơ bản về ngữ pháp như kĩ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kĩ năng sử dụng các dấu câu, kĩ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp với mục đích nói, tình huống lời nói để đạt hiệu quả giao tiếp cao, kĩ năng liên kết câu để tạo thành đoạn văn, văn bản
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ thực hành, phân môn Luyện từ và câu phải cung cấp cho học sinh một số khái niệm, một số quy tắc ngữ pháp cơ bản, sơ giản và tối cần thiết: bản chất của từ loại, thành phần câu, dấu câu, các kiểu câu, quy tắc sử dụng câu trong giao tiếp và các phép liên kết câu
Bên cạnh đó, qua phân môn này còn giúp học sinh tiếp thu một số quy tắc chính tả như quy tắc viết hoa, quy tắc sử dụng dấu câu
Ngoài các nhiệm vụ kể trên, phân môn Luyện từ và câu phải chú trọng việc rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mĩ cho học sinh
1.1.4.3 Chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 5
Phân môn Luyện từ và câu lớp 5 (62 tiết: 32 tiết học kì I, 30 tiết học kì II):
Trang 28Cánh chim hòa bình – tuần 5 và 6), Thiên nhiên (chủ điểm Con người với thiên nhiên– tuần 8 và 9); Bảo vệ môi trường (chủ điểm Giữ lấy màu xanh – tuần 12
và 13); Hạnh phúc (chủ điểm Vì hạnh phú con người – tuần 15)
- Học kì II (9 tiết) gồm các bài: Công dân (chủ điểm Người công dân – tuần 20); Trật tự - An ninh (chủ điểm Vì cuộc sống thanh bình – tuần 23
và 24); thống (chủ điểm Nhớ nguồn – tuần 26 và 27); Nam và nữ (chủ điểm Nam và nữ - tuần 30 và 31); Trẻ em, Quyền và bổn phận (chủ điểm Những chủ nhân tương lai – tuần 33 và 34)
2 Nghĩa của từ (11 tiết)
Phần này cung cấp một số kiến thứ sơ giản về các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa và hình thức sử dụng các lớp từ này Cụ thể là: Từ đồng nghĩa, Luyện tập về từ đồng nghĩa (tuần 1: 2 tiết, tuần 2: 1 tiết, tuần 3: 1 tiết), Từ trái nghĩa, Luyện tập về từ trái nghĩa (tuần 4: 2 tiết); Từ đồng âm, Dùng từ đồng
âm để chơi chữ (tuần 5: 1 tiết, tuần 6: 1 tiết), Từ nhiều nghĩa, Luyện tập về từ nhiều nghĩa (tuần 7: 2 tiết, tuần 8: 1 tiết)
3 Từ loại (5 tiết)
Phần này cung cấp các kiến thứ sơ giản về hai từ loại có tính chất
từ công cụ trong hoạt động giao tiếp của người Việt và luyện tập sử dụng hai từ loại này Cụ thể là: Đại từ và Đại từ xưng hô (tuần 19: 1 tiết, tuần 11:
1 tiết); Quan hệ từ, Luyện tập về quan hệ từ (tuần 11: 1 tiết, tuần 12: 1 tiết, tuần 13: 1 tiết)
4 Câu ghép (8 tiết)
Phần này cung cấp các kiến thứ sơ giản về câu ghép: khái niệm Câu ghép (tuần 19: 1 tiết); Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ (tuần 20: 1 tiết, tuần 21: 1 tiết, tuần 22: 2 tiết, tuần 23: 1 tiết); Nối các vế câu ghép bằng cặp
từ hô ứng (tuần 24: 1 tiết)
5 Ngữ pháp văn bản (4 tiết)
Phần này cung cấp các kiến thức sơ giản về ba phương tiện liên kết câu
cơ bản: Liên kết câu trong bài bằng cách lặp từ ngữ (tuần 25: 1 tiết); Liên kết các câu trong bài bằng cách thay thế từ ngữ (tuần 25: 1 tiết); Luyện tập thay
Trang 29thế từ ngữ để liên kết câu (tuần 26: 1 tiết); Liên kết các câu trong bài bằng từ ngữ nối (tuần 27: 1 tiết)
6 Ôn tập (14 tiết)
Là lớp cuối bậc Tiểu học, phân môn Luyện từ và câu lớp 5 có phần ôn
tập hệ thống hóa tất cả các nội dung về từ và câu mà học sinh được học ở cấp Tiểu học Cụ thể là:
+ Ôn tập về từ loại: 1 tiết (tuần 14)
+ Ôn tập về từ và cấu tạo từ: 2 tiết (tuần 16)
+ Tổng kết vốn từ: 2 tiết (tuần 15: 1 tiết, tuần 16: 1 tiết)
+ Ôn tập về câu: 1 tiết (tuần 17)
+ Ôn tập về dấu câu: 8 tiết (tuần 29: 2 tiết, tuần 30: 1 tiết, tuần 31: 1 tiết, tuần 32: 2 tiết, tuần 33: 1 tiết, tuần 34: 1 tiết)
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Giới thiệu khái quát về trường Tiểu học Văn Bán – huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ
Trường Tiểu học Văn Bán đặt trên địa bàn khu 3 xã Văn Bán
Trường được thành lập năm 1992 Từ ngày thành lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, công tác xã hội hoá giáo dục được triển khai thực hiện sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân và thu được nhiều kết quả đáng kể Hệ thống giáo dục của xã có đầy đủ các ngành học cấp học, cơ sở vật chất được nâng cấp và xây mới Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên được chuẩn hoá, chất lượng giáo dục của nhà trường từng bước được nâng cao Nhiều năm liền trường được công nhận tập thể lao động tiên tiến, tập thể lao động xuất sắc
Năm học 2008 - 2009 trường Tiểu học Văn Bán được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 tháng 2 năm
2009 và được Ủy ban nhân dân tỉnh kiểm tra công nhận lại tại thời điểm tháng
1 năm 2015
Năm học 2016 - 2017: Trường đạt danh hiệu tập thể lao động Xuất sắc Được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng bằng khen
Trang 30Năm học 2017 - 2018: Trường đạt danh hiệu tập thể lao động Xuất sắc Được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng giấy khen
Năm học 2018 - 2019: Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên: 27 đồng chí (Số cán bộ quản lý và giáo viên, nhân viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn: 27/27 đạt 100%.Trong đó trên chuẩn 15/27 đạt 55,6%)
Cán bộ nhà trường:
- Hiệu trưởng: Nguyễn Thị Tư
- Phó Hiệu trưởng: Nguyễn Hữu Tuyết
- Chủ tịch công đoàn: Hoàng Tiến Phương
- Có 2 cán bộ quản lí, 23 giáo viên giảng dạy và 2 nhân viên
- Trường có 2 tổ chuyên môn: Tổ 1, 2, 3 và tổ 4 , 5
Nhà trường luôn chú trọng hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi, chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi cũng tăng lên nhằm bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Về cơ sở vật chất kĩ thuật: Nhà trường đã cơ bản đảm bảo của chuẩn mức độ 1 Cảnh quan nhà trường được cải thiện theo hướng thân thiện và an toàn cho học sinh
1.2.2 Thực trạng dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Văn Bán – huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ
1.2.2.1 Nội dung khảo sát
Môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng là một môn học quan trọng trong chương trình dạy học các môn học ở Tiểu học Các giáo viên ở trường Tiểu học rất chú trọng đến việc dạy và học Luyện từ và câu cho học sinh
Chúng tôi đã tiến hành tham dò ý kiến của 15 giáo viên dạy Tiếng Việt ở trường Tiểu học Văn Bán để khảo sát thực trạng của việc dạy học Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực học sinh Chúng tôi đã khảo sát một số vấn đề:
- Khảo sát việc nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng dạy học Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Trang 31- Khảo sát về việc xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực học sinh
1.2.2.2 Kết quả khảo sát
Qua khảo sát và thăm dò ý kiến của các giáo viên, chúng tôi nhận thấy:
- Phần lớn giáo viên (90%) đã hiểu về tầm quan trọng của dạy học Luyện
từ và câu theo định hướng phát triển năng lực học sinh Các giáo viên đều nhận thấy việc phát triển các năng lực cho học sinh trong xã hội hiện đại là cần thiết, giúp học sinh tích cực, tự tin giải quyết được các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
- Về việc xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực học sinh, 45% giáo viên đã sử dụng các bài tập Luyện từ
và câu theo định hướng phát triển năng lực học sinh Tuy nhiên việc sử dụng chưa phong phú, chưa được thường xuyên, liên tục; các bài tập còn theo lối mòn, hiệu quả sử dụng chưa cao
- Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên:
Về thuận lợi
Giáo viên đã đánh giá cao hiệu quả của việc dạy học Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực học sinh và có thái độ ủng hộ việc xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 5 nói riêng và học sinh toàn trường nói chung
Đặc điểm, nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học phù hợp với việc xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực học sinh Qua các bài tập, các em phát triển năng lực của môn Tiếng Việt
và các năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo…
Về khó khăn
Kiến thức lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh của giáo viên còn hạn chế Giáo viên chưa tiếp xúc với nhiều dạng bài tập theo định hướng phát triển năng lực
Trang 32TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Qua quá trình nghiên cứu, hoàn thiện chương 1 chúng tôi đã nêu rõ cơ
sở lý luận của năng lực, đặc trưng, cấu trúc của năng lực trong dạy học ở tiểu học Theo đó, năng lực được hiểu là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao Chương trình giáo dục định hướng năng lực là một chương trình quan tâm tới chất lượng đầu ra của học sinh, quan tâm tới việc học sinh làm được gì sau quá trình học Bởi vậy, chương trình định hướng năng lực cho người học là một chương trình chú trọng tổ chức hoạt động cho học sinh, điều này phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh Tiểu học Đặc biệt, ở phân môn
Luyện từ và câu, ngoài việc phát triển những năng lực chung như năng lực
nói, năng lực nghe, năng lực đọc và năng lực viết Học sinh còn phát triển được năng lực chuyên biệt như năng lực tư duy, logic, năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ, năng lực hợp tác
Việc áp dụng hệ thống bài tập Luyện từ và câu ở lớp 5 theo hướng tiếp cận năng lực sẽ đem lại hiệu quả cao trong quá trình học tập của học sinh, không chỉ giúp học sinh nắm vững các kiến thức, mà còn phát triển các năng lực cần thiết cho xã hội hiện đại Chương 1 của đề tài là nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu sau này của chúng tôi
Trang 33CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU
LỚP 5 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
2.1 Cơ sở xây dựng hệ thống bài tập
2.1.1 Căn cứ xây dựng hệ thống bài tập
Để xây dựng được hệ thống bài tập Luyện từ và câu lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực, chúng tôi dựa trên các căn cứ sau:
- Căn cứ vào mục tiêu môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học đó là:
+ Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
+ Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
+ Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Như vậy, trong 3 mục tiêu trên, mục tiêu thứ nhất là quan trọng nhất Bên cạnh việc phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thì việc rèn luyện các thao tác tư duy được chú trọng Đây là một trong những căn cứ quan trọng xây dựng các phương pháp tự đánh giá nhằm hướng tới sự phát triển tư duy HS Tiểu học
- Căn cứ vào tâm lí, trình độ nhận thức của học sinh
Sự phát triển của cảm xúc, ý chí học sinh lớp 5 khá phong phú, đa dạng
và cơ bản mang tính tích cực Tính kiềm chế và tự giác được tăng cường Trạng thái cảm xúc ổn định Đặc biệt tâm trạng sáng khoái, vui tươi thường bền vững, lâu dài Ở trẻ lớp 5 tính tổng thể của tri giác dần dần nhường chỗ cho tri giác chính xác, sự phân phối chú ý với những dạng hoạt động khác nhau.Tính chủ định của chú ý, tri giác là những nét tâm lý mới của trẻ lứa tuổi này
Trang 34Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến
thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
Tùy vào từng đối tượng học sinh khác nhau mà lựa chọn các dạng bài tập, câu hỏi khác nhau để phù hợp vs học sinh
- Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Chuẩn kiến thức, kĩ năng trong văn bản Chương trình Giáo dục phổ
thông – cấp Tiểu học được cụ thể hóa ở các chủ đề của môn học theo từng lớp, ở các lĩnh vực học tập cho từng lớp cà cho cả cấp học Chuẩn kiến thức,
kỹ năng môn Tiếng Việt là cơ sở để biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt, quản lí và tự đánh giá dạy học môn Tiếng Việt nhằm bảo đảm tính thống nhất, tính khả thi của Chương trình môn Tiếng Việt cấp Tiểu học
2.1.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập
2.1.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
- Về mặt hình thức: hệ thống bài tập được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực Đặc biệt là năng lực tư duy, logic, và các năng lực cụ thể của tiếng Việt: năng lực nói – nghe, năng lực viết – đọc
- Về mặt nội dung: các bài tập đều được xây dựng theo các bài tập cụ thể trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5, các bài tập đều hướng đến mục tiêu của bài học và phát triển năng lực cho học sinh
2.1.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với nội dung chương trình
Mục đích của đề tài này là xây dựng hệ thống bài tập để dạy học trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 Vì vậy hệ thống bài tập ở đây luôn bám sát nội dung chương trình của môn học, đảm bảo phát triển năng lực học sinh sau khi học xong chương trình
Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với nội dung chương trình thể hiện ở chỗ các bài tập không những phải tuân thủ nội dung chương trình của môn học mà
Trang 35còn phải đảm bảo sự phù hợp về kiến thức trong từng bài, trong cả chương trình
2.1.2.3 Nguyên tắc đảm bảo vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh
Tính vừa sức ở đây được hiểu là hệ thống bài tập đưa ra phải phù hợp với trình độ tri thức cũng như phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Bài tập đưa ra không quá dễ, cũng không quá khó
Để phát huy tính sáng tạo của học sinh thì các bài tập được xây dựng phải mang tính khoa học, tức là: các bài tập đưa ra không lấy từ sách giáo khoavà được xây dựng dưới nhiều dạng khác nhau Từ đó, học sinh phải tìm
ra cách giải quyết mới, độc đáo
2.1.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
Dù trực tiếp hay gián tiếp, bất cứ một công trình nghiên cứu nào cũng đều phải kế thức những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước
Theo cách hiểu đó, trong khóa luận này chúng tôi đã tham khảo một số sách tham khảo, tàu liệu của Bộ Giáo dục và của một số tác giả đi trước để xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với nội dung từng bài Và cũng từ kết quả của khóa luận sẽ để lại những thành tựu nhất định cho các nghiên cứu sau về vấn đề
2.1.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Muốn đạt được mục đích đã đề ra, hệ thống bài tập phải có tính khả thi, nghĩa là chúng phải là một hệ thống bài tập có thể vận dụng trong thực tế dạy - học và đem lại hiệu quả như mong muốn
2.1.3 Hệ thống bài tập phát triển năng lực trong phân môn Luyện từ
và câu lớp 5
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi quyết định xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu theo các năng lực cần thiết với học sinh lớp 5
và phù hợp với giới phạm vi khóa luận Đó là các năng lực:
- Năng lực tư duy, logic
- Năng lực nói – nghe
Trang 36- Năng lực viết – đọc
Hệ thống bài tập Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực được áp dụng chủ yếu vào các giờ học buổi 2 Và được áp dụng trong các giờ học chính khóa như ôn tập, bồi dưỡng kiến thức Giúp học sinh nắm vững kiến thức đồng thời phát triển năng lực, nâng cao hiệu quả dạy và học
2.2 Bài tập phát triển năng lực tư duy, logic
Chúng tôi xây dựng và sắp xếp hệ thống bài tập tư duy, logic dựa trên các mảng kiến thức chính xuyên suốt từ học kì 1 đến học kì 2 của phân môn Luyện từ và câu lớp 5: kiến thức về nghĩa của từ, kiến thức về từ loại, kiến thức về câu ghép, kiến thức về ngữ pháp văn bản, kiến thức về dấu câu Giáo viên có thể áp dụng các bài tập vào giờ dạy chính khóa hoặc sử dụng vào các giờ học buổi 2, theo mạch kiến thức Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 tập 1 và tập 2
Ví dụ: Bài tập về nghĩa của từ gồm các bài tập về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa Bài tập về từ đồng nghĩa giáo viên có thể
áp dụng vào dạy các bài: “Từ đồng nghĩa” và 3 bài “Luyện tập về từ đồng nghĩa” trong chủ điểm: Việt Nam – Tổ quốc em, tuần 1, 2, 3
2.2.1 Bài tập về nghĩa của từ
đồng nghĩa với từ “mẹ” là: má, u, bu, bầm, mạ,
Bài tập trên giúp học sinh hiểu hơn về từ đồng nghĩa hoàn toàn
* Bài tập 2:
Tìm từ đồng nghĩa với từ “biếu” và đặt câu với mỗi từ tìm được:
Trang 37- Hướng dẫn thực hiện:
Trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh giải nghĩa từ “biếu” (chuyển
cái gì thuộc sở hữu của mình thành của người khác mà không đổi lấy thứ gì)
Sau khi giải nghĩa được từ “biếu”, các em sẽ tìm các từ khác nhau có cùng chung nét nghĩa với nó là các từ: tặng – dâng – hiến – cho – trao:
+ Tặng - trao cho nhằm khen ngợi, khuến khích hoặc tỏ lòng quý mến + Dâng - đưa lên một cách cung kính
+ Hiến - dâng thứ quý nhất của mình một cách tự nguyện
+ Cho - chuyển cái của mình thành của người khác
Bài tập này còn giúp các em phân biệt được nét nghĩa riêngcủa từng từ
để lựa chọn và sử dụng chúng cho hợp lí, đúng với từng ngữ cảnh
Giáo viên nhắc học sinh về các từ đồng nghĩa với từ “đen”, trong các
ngữ cảnh khác nhau, dùng để chỉ mỗi vật khác nhau Như các từ: Mun, ô, mực, Đáp án:
Bảng đen, đũa mun, ngựa ô, chó mực
* Bài tập 4:
Trong mỗi nhóm từ dưới đây, từ nào không cùng nhóm với các từ còn lại:
a) Tổ tiên, tổ quốc, đất nước, giang sơn, sông núi, nước nhà, non sông, nước non, non nước
b) Quê hương, quê quán, quê cha đất tổ, quê hương bản quán, quê mùa, quê hương xứ sở, nơi chôn rau cắt rốn
- Hướng dẫn thực hiện:
Giáo viên nhắc học sinh đọc kĩ đề bài, tìm từ có sắc thái nghĩa khác so với các từ còn lại, lưu ý xác định về nghĩa của từ Bài tập giúp học sinh hiểu hơn về dãy từ đồng nghĩa và biết cách phân tích nghĩa các từ Đáp án:
Trang 38Giáo viên gợi ý 2 nét nghĩa của từ “hòa”: hòa mang nghĩa là trạng thái
yên ổn, không có chiến tranh và hòa mang nghĩa là trộn lẫn vào nhau Đáp án:
Nhóm 1: hoà bình, hoà giải, hoà hợp, hoà thuận, (tiếng hoà mang nghĩa: trạng thái không có chiến tranh, yên ổn ); Nhóm 2: hoà mình, hoà tan, hoà tấu (tiếng hoà mang nghĩa: trộn lẫn vào nhau )
(theo Nguyễn Đình Thi)
(1): tái sinh, thay da đổi thịt, đổi mới, đổi thay, thay đổi, khởi sắc, hồi sinh (2): sinh sôi, sinh thành, phát triển, sinh năm đẻ bảy
(3): xốn xang, xao động, xao xuyến, bồi hồi, bâng khâng, chuyển mình, cựa mình, chuyển động
(4): bật dậy, vươn cao, xoè nở, nảy nở, xuất hiện, hiển hiện
(5): lay động, rung động, rung lên, lung lay
- Hướng dẫn thực hiện:
Trang 39Giáo viên gợi ý học sinh phân tích nghĩa của các từ dựa vào ngữ cảnh
của bài, chọn từ sao cho phù hợp nhất với đoạn văn Đáp án: (1) đổi mới, (2) sinh sôi, (3) cựa mình, (4) xòe nở, (5) rung động
2.2.1.2 Bài tập về từ trái nghĩa
* Bài tập 1:
Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau: thật thà, giỏi giang, cứng cỏi, hiền lành, nhỏ bé, nông cạn, sáng sủa, thuận lợi, vui vẻ, cao thượng, cẩn thận, siêng năng, nhanh nhảu, đoàn kết, hoà bình
An có tính thật thà nên được các bạn quý mến
Hưng dối trá nên không được các bạn tin tưởng
Trang 40Tìm 3 cặp từ trái nghĩa nói về việc học hành Hãy đặt một câu với một
trong 3 cặp từ trái nghĩa đó
- Hướng dẫn thực hiện:
Giáo viên lưu ý học sinh chọn các từ về việc học hành, có thể chọn tính
từ về việc học hành trước rồi tìm từ trái nghĩa sau Sau đó đặt câu với cặp từ mình chọn
Ví dụ: chăm chỉ / lười biếng ; sáng dạ / tối dạ ; cẩn thận / cẩu thả 2.1.1.3 Bài tập về từ đồng âm
* Bài tập 1:
Phân biệt nghĩa của những từ đồng âm trong các cụm từ sau:
a) Đậu tương - Đất lành chim đậu – Thi đậu
b) Bò kéo xe – 2 bò gạo – cua bò
c) Sợi chỉ - chiếu chỉ - chỉ đường - chỉ vàng