Kĩ năng giữ an toàn thân thể là một trong những kĩ năng quan trọng mà người lớn cần trang bị ngay cho trẻ, giúp các em hiểu và biến những kiến thức về kĩ năng giữ an toàn thân thể thành
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục là quốc sách hàng đầu và là chìa khóa mở cửa vào tương lai, đó là
cơ sở, là động lực để thúc đẩy phát triển xã hội Nhiệm vụ của giáo dục là phải đào tạo cho đất nước những con người năng động, sáng tạo, có tư duy sắc bén, có tri thức, có kĩ năng và có khả năng giải quyết vấn đề để thích ứng với sự phát triển của
xã hội hiện nay Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc học mầm non là bậc học tạo tiền đề cho giáo dục phổ thông Chính vì thể, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng bậc học giáo dục mầm non, xác định nhiệm vụ giáo dục mầm non là thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục nhằm giúp trẻ phát triển cả về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một Hiện nay, khi xã hội càng phát triển, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh làm thay đổi cuộc sống con người Song song với những mặt tích cực thì còn có những mặt tiêu cực, gây nguy hại cho con người, đặc biệt là trẻ em Trẻ 4-5 tuổi thường rất hiếu động, thích khám phá thế giới xung quanh vì thế việc trẻ thường xuyên phải đối mặt với những nguy hiểm là điều không thể tránh khỏi Bên cạnh đó, mỗi khi đứng trước nguy hiểm thay vì giải thích cho trẻ vì sao và hậu quả như thế nào thì cha mẹ lại đứng ra ngăn cản, cấm đoán trẻ Với tâm lý thích tìm hiểu, khám phá, vô tình sự ngăn cấm này lại khiến trẻ tò mò Do đó nếu trẻ em không được trang bị kĩ năng cần thiết để ứng phó và vượt qua những thách thức mà chỉ biết hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp trở ngại, rủi ro
Từ trước đến nay, việc bảo vệ và chăm sóc trẻ luôn được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm và đặt lên hàng đầu Sự bảo vệ và chăm sóc này bao gồm việc trang bị cho trẻ những kĩ năng cần thiết để giúp trẻ tồn tại và phát triển Kĩ năng giữ an toàn thân thể là một trong những kĩ năng quan trọng mà người lớn cần trang bị ngay cho trẻ, giúp các em hiểu và biến những kiến thức về kĩ năng giữ an toàn thân thể thành hành động cụ thể trong quá trình hành động thực tiễn với bản thân, với người khác, với xã hội, ứng phó trước nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống để bản thân
có sự an toàn
Ngày nay, tình trạng trẻ em bị tai nạn thương tích, bị lạm dụng sức lao động, xâm hại tình dục, bắt cóc,…ngày càng gia tăng ở nhiều quốc gia, trong đó lứa tuổi
Trang 2mầm non là lứa tuổi có thể gặp phải bất cứ các tình trạng đó nhất Vì thế, ở các trường mầm non hiện nay, việc giáo dục cho trẻ về bảo vệ sự an toàn của bản thân trẻ được đặt lên hàng đầu Trẻ được học, được giáo dục qua các hoạt động học, hoạt động ngoại khóa và các trò chơi ở lớp, đặc biệt trò chơi học tập Việc giáo dục trẻ giữ an toàn thân thể qua việc cho trẻ tham gia trò chơi học tập góp phần giúp trẻ hứng thú với bài học và biết được các kiến thức để bảo vệ và giữ an toàn cho chính mình Trò chơi học tập còn là phương tiện củng cố tri thức, rèn luyện kĩ năng kích thích cho trẻ phát huy tính tích cực, tính sáng tạo trong hoạt động nhận thức và hiểu biết nhờ các tình huống chơi hấp dẫn
Hiện nay, ở các trường mầm non các giáo viên đã sử dụng trò chơi học tập như một phương tiện giúp trẻ khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ một cách hiệu quả Các trò chơi được đưa vào trong nhiều thời điểm, đặc biệt là trong tiết học và trong góc học tập Một mặt giúp giáo viên củng cố kiến thức cho trẻ, mặt khác mang lại cho trẻ nhiều kiến thức Song trên thực tế số lượng trò chơi học tập giúp trẻ biết kĩ năng giữ an toàn thân thể cho bản thân còn chưa nhiều, trẻ còn chưa hiểu biết về việc làm thế nào để giữ an toàn cho bản thân Một số trường mầm non
ở miền núi trên các địa bàn cả nước nói chung và đại bản tỉnh Phú Thọ nói riêng, trẻ chưa có cơ hội được tiếp xúc, giáo dục và hiểu biết về trò chơi học tập và giữ an toàn thân thể
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “ Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi”
giúp giáo viên mầm non và sinh viên lựa chọn và sử dụng có hiệu quả một số trò chơi học tập nhằm giúp trẻ rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể của mình
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Về lí luận
Làm rõ cơ sở lí luận về giữ an toàn thân thể và kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi; vai trò của trò chơi học tập đối với việc rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
Trang 3Xác định cơ sở khoa học từ đó đề xuất về thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi Thiết kế hệ thống các trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4- 5 tuổi
2.2 Về thực tiễn
Xác định rõ mức độ biểu hiện về kĩ năng giữ an toàn thân thể của trẻ 4-5 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn Thị xã Phú Thọ
Đề tài là tài liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non
và giáo viên mầm non quan tâm đến vấn đề tổ chức trò chơi học tập nhằm rèn luyện
kĩ năng giữ an toàn thân thể của trẻ 4-5 tuổi
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi Thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5, từ đó giúp trang bị cho trẻ kiến thức và hình thành thái độ tích cực cho trẻ trong việc đảm bảo an toàn cho bản thân
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
- Nghiên cứu thực trạng về thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
- Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
- Thực nghiệm sư phạm hệ thống trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi thông qua trò chơi học tập
Trang 45.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng trước đồ vật nguy hiểm; trước động, thực vật nguy hiểm; trước những tình huống,nơi, địa điểm nguy hiểm để giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
Phạm vi về khách thể nghiên cứu: 50 trẻ 4-5 tuổi và 20 giáo viên đang giảng dạy lớp 4-5 tuổi tại trường mầm non Hùng Vương, trường mầm non Phong Châu, trường mầm non Lê Đồng - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Sưu tầm, đọc, phân tích những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng các khái niệm công cụ cho đề tài và các vấn đề lí luận có liên quan đến việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-
6.2.3 Phương pháp điều tra Anket
Sử dụng phiếu Anket bằng hệ thống câu hỏi đóng và mở để điều tra giáo viên mầm non Từ đó xác định rõ nhận thức của giáo viên mầm non về việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
Trang 56.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Kiểm nghiệm và đánh giá tính khả thi của việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
6.2.5 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng công thức toán học để xử lí số liệu kết quả thu được qua điều tra thực trạng và kinh nghiệm
7 Cấu trúc khóa luận
Kết cấu khóa luận gồm ba phần : Mở đầu, Nội dung, Kết luận và kiến nghị Phần nội dung bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thực trạng và thiết kế một số trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Kĩ năng giữ an toàn thân thể là một trong những kĩ năng sống quan trọng của con người, đặc biệt là trẻ em Dựa vào luận án của cô Mai Hiền Lê, chúng tôi có được một số tài liệu được phân loại như sau [17]
Hướng thứ nhất: Triển khai giáo dục kĩ năng giữ an toàn thân thể trong
những chương trình cụ thể của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ các nước trên thế giới
Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em (1989) ở điều 19 đã khẳng định " Vì chưa đạt đến sự trưởng thành về mặt thể chất và trí tuệ, trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, trước cũng như sau khi ra đời Các bậc cha mẹ là người chịu trách nhiệm chính trong việc nuôi nấng và giáo dục con cái mình" " Không ai được phép làm tổn hại đến trẻ em Các nước khi kí phê chuẩn công ước này sẽ phải thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ trẻ em, đồng thời có các biện pháp giáo dục phù hợp nhằm hình thành kĩ năng tự bảo vệ cho mình"
Trong giai đoạn 1990-1995, trong dự án về "Trẻ em và môi trường gia đình" của Unesco phối hợp cùng với Unicef và tổ chức Y tế thế giới tập trung công sức vào những lĩnh vực có ý nghĩa sống còn như dinh dưỡng, kích thích trẻ phát triển toàn diện, cách nuôi dạy trẻ an toàn Unesco tìm cách góp phần mình một cách lâu dài và có hiệu quả để giúp trẻ phát triển và tự tin vào đời
Hội nghị cộng đồng an toàn khu vực châu Á lần thứ sáu được tổ chức tại Toshiba , Nhật Bản tháng 12/2012 với chủ đề "Hãy xây dựng năng lực của cộng đồng để an toàn mỗi ngày và phòng chống thảm họa" Nội dung của Hội nghị nhằm đánh giá chính sách và các chương trình can thiệp tại cộng đồng, ngôi nhà an toàn, trường học an toàn và an toàn cho trẻ em
Trang 7Tại nhiều nước phương tây, thanh thiếu niên đã được học những kĩ năng về tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu với những khó khăn, cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người với người Đó là những kĩ năng sống quan trọng để con người có thể ứng phó với những rủi ro trong cuộc sống
Ở các nước trong khu vực Châu Á việc nghiên cứu và áp dụng thứ nghiệm giáo dục các kĩ năng tự bảo vệ bản thân cũng rất được quan tâm Tại Nhật, một quốc gia thường xuyên xảy ra động đất và các thảm họa thiên nhiên, nên việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ được tiến hành tự bậc học mầm non với những bài học tình huống mô phỏng như thực tế giúp trẻ biết cách tự bảo vệ mình Còn tại Hàn Quốc, học sinh tiểu học cũng được học cách đối phó thích ứng với các tai nạn như cháy, động đất, thiên tai
Như vậy, hầu hết các quốc gia đều có những chương trình nhằm hình thành
kĩ năng giữ an toàn cho người học Những chương trình này nhằm mang đến cho người học những kĩ năng cơ bản để họ nhận diện và ứng phó với những nguy hiểm
có thể gặp phải giúp con người được an toàn
Hướng thứ 2 : Giáo dục kĩ năng giữ an toàn thân thể thông qua những tác
phẩm cụ thể
Bên cạnh các chương trình về giáo dục kĩ năng giữ an toàn nói trên thì có rất nhiều tác giả cũng dành sự quan tâm của mình với chủ đề này Nhiều tác phẩm hữu ích được ra đời nhằm hỗ trợ sự hoàn thiện các kĩ năng giữ an toàn của người học Trong đó có thể kể đến những tác phẩm sau:
Được biên soạn nhằm đóng góp vào Hội nghị thượng đỉnh về trẻ em do Liên
Hiệp quốc tổ chức ở Newyork tháng 9-1990, cuốn sách " Để con em vững bước vào đời" - Pour un bon départ dans la vie" tác giả Robert G.Myers đã chỉ rõ nguyên tắc
để cứu trẻ em sinh tồn, phải đi đôi với cố gắng làm sao cho cuộc sống có ý nghĩa Những người đang cố gắng bảo vệ, giáo dục và giúp trẻ em trưởng thành càn lấy định để nói trên làm kim chỉ nam
Trong cuốn sách " Chương trình giảng dạy kĩ năng sống" (Life Skill
Education and Curriculum) (2006) tác giả Gracious Thomas nhấn mạnh vai trò của
Trang 8giáo viên nhằm giáo dục kĩ năng giữ an toàn cho trẻ dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS Ngoài việc phát triển một kế hoạch khả thi của hành động, tác giả cũng đã phát triển một chương trình có thể điều chỉnh bởi
hệ thống giáo dục trong nước
Còn trong cuốn " Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh - thưởng thức an toàn" của nhà xuất bản Quảng Tây năm 2008 được Vũ Hoàng Minh và Minh Hào
dịch năm 2009 xuất bản bởi nhà xuất bản giáo dục giúp trẻ nắm được những nguyên tắc cơ bản để thoát khỏi hoàn cảnh nguy hiểm như : giữ bình tĩnh hoặc cách
tự bảo vệ mình và không ngừng phát tín hiệu cầu cứu, đồng thời tác giả cũng đưa ra những lời khuyên để giúp trẻ có được sự an toàn khi tham gia giao thông, an toàn khi sử dụng điện, khí đốt, an toàn trong luyện tập thể dục thể thao, phòng chống bạo lực
Những câu hỏi như "vật này có an toàn không?", " các rủi ro có thể gặp phải trong tình huống là gì?" là những câu hỏi thường gặp của các bậc cha mẹ khi con cái của họ đối mặt với những tình huống hàng ngày hoặc sử dụng những vật dụng trong gia đình Cuốn sách độc đáo " An toàn là gì" (What is Safe) của tác giả David R.Williams Ông đã giải thích nguyên nhân các nguy cơ mà trẻ phải đối mặt trong cuộc sống hiện đại ngày nay Thuật ngữ như "nguy cơ" và "an toàn" được xác định
rõ ràng, những rủi ro gặp phải trong khih tham gia giao thông, trong gia đình, chăm sóc sức khỏe, chế độ ăn uống và nơi làm việc
Còn tác giả Carrie Lynn trong tác phẩm "Giúp trẻ hòa nhập vố xã hội - How parents can help their children from 4 to 6 years" (2008) đã giới thiệu nhiều trò
chơi vận động có tác dụng hỗ trợ phát triển một số kĩ năng sống của trẻ như kĩ năng giữ an toàn bản thân, kĩ năng giao tiếp ứng xử xã hội, kĩ năng tự lập
Tuyển tập gồm bảy cuốn " Những câu chuyện càng về khả năng tự bảo vệ mình" (2010) của tác giả Bạch Băng là những câu chuyện về khả năng tự bảo vệ bản thân Đó là những câu chuyện diễn ra trong chính cuộc sống của trẻ nhỏ, thông qua các câu chuyện mà các em nhỏ yêu thích để đề cập đến những vấn đề an toàn của cuộc sống, giúp trẻ nhận thức tầm quan trọng trong việc tự bảo vệ bản thân.[2]
Tác giả Yoon Yeo Hong trong tác phẩm "45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình" (2011) đã giúp phụ huynh, giáo viên và trẻ em nhận thấy rằng thể giới bên ngoài
Trang 9luôn ẩn chứa những cạm bẫy Vì vậy, trẻ em cần chuẩn bị những kĩ năng cần thiết
để ứng phó với những tình huống nguy hiểm Tác giả đã hướng dẫn trẻ cách nhận biết các mối nguy hiểm, nâng cao cảnh giác và bảo vệ an toàn cho chính mình Cuốn sách còn hướng dẫn trẻ cách đối phó hoặc thoát khỏi nguy hiểm trong các tình huống như : khi ở những nơi hoang vắng mà chỉ có một mình, khi có người lạ dụ dỗ [11]
Trong cuốn sách " Giữ an toàn cho trẻ em và thanh thiếu niên" (Keeping Children và Teenager Safe) tác giả Gavin De Becker đã chia sẻ cái nhìn sâu sắc, những giải pháp thiết thực giúp phụ huynh hướng dẫn con cái của mình biết cách tự bảo vệ trước nguy cơ bạo lực ngày càng tăng như: lam thế nào để nhận biết những dấu hiệu nguy hiểm trong những hoạt động hàng ngày, cha mẹ sẽ làm gì nếu con mình bị lạc nơi công cộng, làm thế nào để nhận diện một kẻ lạm dụng tình dục
Như vậy, những tác phẩm viết về kĩ năng giữ an toàn đã được rất nhiều tác giả quạn tâm Trong những tác phẩm của mình, các tác giả hướng đến việc giúp người học nhận ra những giá trị và vai trò của kĩ năng giữ an toàn với sự tồn tại và thích ứng của con nguời với cuộc sống Đồng thời các tác giả cũng định hướng cho người học cần rèn luyện những kĩ năng cụ thể, phù hợp để bản thân có sự an toàn
Hướng thứ 3: Những nghiên cứu cụ thể về kĩ năng giữ an toàn thân thể
Từ những thập niên 80 của thế kỷ XX khi những nghiên cứu về kĩ năng giữ
an toàn bắt đầu được quan tâm, mà người đầu tiên phải kể đến là Gilbert J.Botvin là giáo sư về sức khỏe cộng đồng, chuyên gia cao cấp về Tâm lý học, trưởng khoa phát triển kĩ năng sống thuộc trường Đại học Cornell, Hoa Kỳ từ năm 1979 ông và cộng sự dã lập nên một chương trình giáo dục kĩ năng sống cho giới trẻ Một chương trình được lập ra nhằm giúp người học có khả năng từ chối những lời rủ rê
sử dụng chất gây nghiện giúp bản thân có được sự an toàn và nâng cao giá trị của bản thân
Tiếp theo đó, trong đề tài " Đánh giá hiệu qủa của chương trình giảng dạy tại trại hè về an toàn với nýớc ở cộng đồng đô thị" ( Teaching Safety at Summer
Camp Evalucation of a Water Safety Curriculum in an Urban Community Setting) của nhóm tác giả Karla A Lawson, Sarah V Duzinski thuộc trung tâm y tế trẻ em miền Trung Texas, Hoa Kỳ Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá hiệu quả
Trang 10của một chương trình đào tạo về kĩ năng an toàn cho nhóm 166 thiếu niên thành thị thuộc nhóm gia đình có thu nhập thấp Nghiên cứu cho thấy rằng, trẻ em đã có nhiều kiến thức về an toàn với nước sau khi nhận được chương trình đào tạo này thông qua các bài tập là các tình huống thực tế Chương trình cũng đánh giá vai trò của phụ huynh trog việc thiết lập thái độ và hành vi cho trẻ trước những nguy cơ thiếu an toàn
Năm 1994 nhóm tác giả Lizette Peterson, Krista K Oliver Đại học Misouri-Columbia đã nghiên cứu về đề tài " Nghiên cứu triển vọng về việc ngăn chặn tai nạn thương tích do va chạm xe đạp" ( A Development Exploration of Expectations for and Beliefs About Preventing Bicycle Collision Injuries) để tìm ảnh hưởng của giới tính và độ tuổi với tai nạn thương tích ở trẻ Kết quả cho thấy không có mối tương quan giữa yếu tố giới tính hay tuổi tác với nguy cơ xảy ra tai nạn thương tích ở trẻ Kết quả cho thấy không có mối tương quan giữa yếu tố giới tính hay tuổi tác với nguy cơ xảy ra tai nạn thương tích ở trẻ Trẻ em cho rằng chúng sẽ có được sự an toàn nếu có các thiết bị an toàn hỗ trợ nhằm phòng tránh những tai nạn thương tích đó
Vào năm 1999 trong đề tài : "Hành vi sử dụng an toàn thiết bị trong gia đình của trẻ nhỏ" (Behavior using safety equipment family of young children) của tác
giả David DfiLillo và George Trenblay Đại học Missouri-Columbia đã hướng dẫn
151 bà mẹ có con độ tuổi 3-7 cách đối mặt với những tình huống giả định thiếu an toàn trong ngôi nhà của mình và hướng dẫn cách nhận biết cũng như ứng phó với những tình huống đó Sau đó chính phụ huynh sẽ hướng dẫn cho con mình thực hiện các thao tác an toàn với những đồ dùng trong gia đình trước sự giám sát của mình Sau này các em sẽ tự thao tác không có sự giám sát của họ Kết quả cho thấy, những trẻ tham gia đề tài nghiên cứu đã nhận diện được những nguy cơ rủi ro, biết cách phòng ngừa những nguy cơ đó để bản thân có được sự an toàn
Nhóm tác giả gồm Risk David C.Schwebel, Carl M.Brezasek, Sharon L.Ramey và Craig T Ramey Đại họi Alabama ở Birmingham trong nghiên cứu " Tương tác giữa các mẫu hành vi của cha mẹ và con cái với tai nạn thương tích ở trẻ em" (Interactions Between Child Behavior Patterns and Patening Implications for Children's Unintentional Injury) năm 2003 đã nghiên cứu ảnh hưởng hành bi mẫu
Trang 11của cha mẹ có thể ảnh hưởng đến việc hình thành những thói quen và hành vi rủi ro dẫn đến tai nạn thương tích ở trẻ 5 tuổi Nghiên cứu cho thấy, nguy cơ bị chấn thương ở trẻ cao hơn trong những môi trường giáo dục gia đình thiếu tích cực Nghiên cứu cũng cho thấy vai trò giám sát của phụ huynh sẽ hạn chế những mối nguy hiểm xảy đến với trẻ Bên cạnh đó, tinh khí bốc đồng và hành vi hung hăng của trẻ khi phản ứng trước tình huống nguy hiểm sẽ khiến trẻ gặp nhiều nguy hiểm hơn
Cũng trong những năm 2005, Barry L.Boyd trong đề tài " Phát triển kĩ năng sống cho giới trẻ" (Developing life skills in youth) Tác giả cho rẳng giwois trẻ hiện
nay cần được hình thành và phát triển kĩ năng sống và tác giả nhấn mạnh đến những
kĩ năng cơ bản như: kĩ năng tự ứng phó, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tự tìm kiếm
sự giúp đỡ
Năm 2006 trong nghiên cứu " Đào tạo kĩ năng sống đơn giản nhằm tăng cường hành vi đi bộ an toàn cho trẻ em" (Increasing Children's Safe Pedestrian Behaviors through Simple Skill Trainning) của nhóm tác giả Benjamin K Barton, Barbara A Morronggiello thuộc đại học Alabama và Guelph ở Birmingham cho thấy : trước thực trạng nguy cơ thiếu an toàn khi tham gia giao thông đường bộ đã khiến hàng trăm trẻ em bị thiệt mạng mà nguyên nhân là do các en chưa có những hành vi tham gia giao thông an toàn Bằng những can thiệp đơn giản và hiệu quả làm thay đổi hành vi tham gia giao thông thiếu an toàn ở trẻ em Nghiên cứu đã thử nghiệm một phương pháp đào tạo các kĩ năng đơn giản để hình thành hành vi cho người đi bộ an toàn
Còn đề tài " Đào tạo toàn diện kĩ năng giữ an toàn tại gia đình cho trẻ nhỏ" (The Safe at Home Game Traning Comprehensive Prevetion Skills in Latchkey Children) của tác giả Lizette Peterson thuộc Đại học Missouri-Columbia đã thực nghiệm những biện pháp tác động nhằm tăng cường khả năng tự bảo vệ bản thân, Các em đã được hướng dẫn cách làm thế nào để phản ứng với các tình huống khẩn cấp của một đám cháy, thiên tai, cách để đối phó với người lạ đến yêu cầu mở cửa hoặc gọi qua điện thoại, lựa chọn dinh dưỡng an toàn và những hoạt động an toàn sau giờ học, những trò chơi an toàn tại gia đình Đề tài cho thấy thực trạng kĩ năng
Trang 12ứng phó của trẻ với những tình huống thiếu an toàn và nhận diện nguy cơ rủi ro cũng như có ý thức phòng tránh những nguy cơ này
Trong đề tài "Dạy trẻ em kĩ năng giữ an toàn cá nhân" (Teaching personal
safety skills to young children) của các tác giả Sandy K Wurtele, Julie Sarno Owens Khoa Tâm lý, Đại học Colorado, Hoa Kỳ, đã nghiên cứu trên 406 trẻ mẫu giáo xác định mức độ kĩ năng an toàn cá nhân, phòng chống lạm dụng tình dục của trẻ, đồng thời 24 trẻ ở nhóm thực nghiệm đã tham gia vào chương trình thực nghiệm nhằm nâng cao kĩ năng an toàn cho bản thân
Trong đề tài " Dạy trẻ em kĩ năng giữ an toàn" (Teaching safety skills for
children) của nhóm tác giả Raymond F Miltenberger, Brian J Gatheridge, Melisa Satterlund, Kristin R Egemo-Helm, Brigitte M Johnson, Cadice Jostad, pamela Kelso, Christopher A Fressner năm 2013 đã cho thấy những hiệu quả từ việc cho trẻ em trải nghiệm những tình huống giả định trong đời sống hàng ngày và hướng dẫn các em cách ứng xử trước những tình huống này từ đó các em đã nhận diện được những nguy cơ thiếu an toàn cũng như cách ứng phó với những tình huống đó
Như vậy, có thể nhận thấy, các nghiên cứu về kĩ năng giữ an toàn cho trẻ được thể hiện trong rất nhiều lĩnh vực từ: an toàn khi tham gia giao thông, an toàn khi sử dụng các vật dụng trong gia đình, an toan khi giao tiếp với người khác, an toàn trước những nguy cơ của các tệ nạn xã hội ở mỗi lĩnh vực khác nhau, trẻ em cần có những cách nhận diện và ứng phó linh hoạt để có sự an toàn cho bản thân Đồng thời các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người lớn, ch mẹ, thầy cô có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn để hình thành kĩ năng giữ an toàn cho trẻ
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các chương trình giáo dục kĩ năng giữ an toàn thân thể cũng
do các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ triển khai Cho đến những năm gần đây,
kĩ năng giữ an toàn thân thể đã là thuật ngữ được nhắc nhiều tới trong những câu chuyện về giáo dục Nhiều chương trình, dự án giáo dục kĩ năng giữ an toàn được tiến hành theo các hướng sau:
Hướng thứ nhất: Các chương trình giáo dục kĩ năng giữ an toàn thân thể do
các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ
Trang 13Cho đến những năm gần đây, kĩ năng giữ an toàn thân thể trở thành thuật ngữ được nhắc tới nhiều trong những câu chuyện về giáo dục và từ đó, giáo dục kĩ năng giữ an toàn cho trẻ em nói riêng, thế hệ trẻ nói chung trở thành vấn đề không chỉ được ngành giáo dục mà được cả xã hội quan tâm Nhiều chương trình, dự án giáo dục kĩ năng giữ an toàn được thực hiện như:
Bộ giáo dục phối hợp với ngành công an, Ủy ban an toàn giao thông Quốc
gia đưa " Chương trình giảng dạy thí điểm tìm hiểu luật an toàn giao thông" cho trẻ
em các trường từ mẫu giáo đến phổ thông trung học để trang bị những kiến thức ban đầu về luật an toàn giao thông Tuy nhiên, trong chương trình này chủ yếu mới đưa
ra được các thông điệp về an toàn, mà chưa chú trọng các phương pháp giáo dục làm thay đổi hành vi người học
Dự án " Giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn cho học sinh tiểu học" được
tiến hành với sự phối hợp giữa Sở giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng trị cùng với tổ chức Cứu trợ và Phát triển Mĩ Cathilic Relief Services Dự án bắt đầu từ tháng 8/2000 với mục đích giúp các trường tiểu học trong khu vực bị ảnh hưởng bom mìn của hai huyện Triệu Phong và Gio Linh tiếp nhận kĩ năng để thực hành và tuyên truyền các thông điệp giáo dục phòng tránh bom mìn và thông điệp đối xử thân ái với người khuyết tật đến cộng đồng Đối tượng hưởng lợi là 5500 học sinh và 300 giáo viên được tập huấn về tiếp cận kĩ năng phòng tránh tai nạn bom mìn
Chương trình thực nghiệm giáo dục " Sống khỏe mạnh và kĩ năng sống" do UNICEF hỗ trợ được triển khai trên 20 trường thuộc Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang Nội dung cụ thể của chương trình : Phổ biến về quyền trẻ em; phòng tránh thuốc lá, rượu bia; phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em; phòng tránh và ứng phó với các tình huống căng thẳng Những chủ
đề trên được tổ chức cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 định kì mỗi tháng một buổi
Trong chương trình " Giáo dục sống khỏe mạnh và kĩ năng sống" thì quan niệm về kĩ năng giữ an toàn thân thể cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được thể hiện khá đa dạng Đó là những kĩ năng cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội dành cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đượng đầu với những thách thức của xã hội, vận dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau trong tình huống khác nhau của từng loại đối tượng để bản thân có sự an toàn
Trang 14Năm 2005, chương trình " Phòng tránh tai nạn thương tích" do Ủy ban bảo
vệ và chăm sóc trẻ em phối hợp với UNICEF triển khai Chương trình nhằm giảm thiểu tỉ lệ trẻ em bị chết và tàn tật do tai nạn thương tích ở Việt nam Do hướng đến đối tượng là trẻ em nên chương trình đã chú trọng phòng ngừa thụ động với mục đích thay đổi môi trường hay phượng tiện của người sử dụng, chưa coi trọng phòng ngừa chủ động với mục đích là thay đổi hành vi của trẻ
Chương trình " Bạn hữu trẻ em" được thực hiện trên khuôn khổ hợp tác giữa
Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn 2010-2016 Chương trình được thực hiện tại Đồng Tháp, Kom Tum, Ninh Thuận, Điện Biên, An Giang và Thành phố
Hồ Chí Minh, giáo dục kĩ năng sống cho trẻ ngoài trường học với các nội dung như: phổ biến Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Công ước quốc tế về quyền trẻ
em, kĩ năng phòng chống xâm hại trẻ em , phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ
Dự án " Giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục sức khỏe cho học sinh" ở tiểu học do Vụ thể chất - Bộ giáo dục và đào tạo hợp tác với UNICEF triển khai, hỗ trợ xây dựng tài liệu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học miền núi bao gồm những nội dung bổ trợ như: Giáo dục kĩ năng an toàn: giúp các em biết tránh hoặc
xử lý những tai nạn về sông nước, điện giật, sét đánh, động vật cắn, bom mìn; Giáo dục kĩ năng ăn uống vệ sinh, an toàn
Bắt đầu từ năm học 2010-2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống vào chương trình học chính khóa trong các nhà trường phổ thông, từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông Các trường lồng ghép một cách linh hoạt những nội dung giáo dục hành vi ứng xử, kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tính Những nội dung này được lồng ghép vào một số môn học phù hợp và chuyển tải trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Từ năm 2001, UNICEF đã làm việc với Chính phủ Việt Nam thực hiện
chương trình "Phòng chống tai nạn thương tích trẻ em" là một trong các chương
trình đầu tiên về phòng chống tai nạn thương tích của các nước phát triển, giúp can thiệp toàn diện và liên ngành để giải quyết vấn đề tai nạn thương tích trẻ em và đã tạo ra các tiến bộ rất quan trọng ở các cấp quốc gia và địa phương
Trang 15Năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt " Chính sách Quốc gia phòng, chống tan nạn, thương tích giai đoạn 2002-2010", trong đó nhiệm vụ của Bộ Giáo
dục và Đào tạo là chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thực hiện chương trình sức khỏe học đường, trong đó có nội dung phòng chống tai nạn, thương tích, xây dựng nhà trường an toàn, biên soạn tài liệu giáo dục về phòng, chống tai nạn thương tích trong nhà trường
Năm 2010 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành "Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non" Đây là công cụ để cơ sở giáo dục mầm non tự đánh giá, nhằm thực hiện tốt
nhiệm vụ đàm bảo an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ, để đảm bảo an toàn cho trẻ, khi trẻ được chăm sóc, nuôi, dạy tại cơ sở giáo dục mầm non
Như vậy, từ năm 1990 đến nay, tại Việt Nam đã triển khai nhiều dự án, chương trình hướng đến nhiều đối tượng từ trẻ mầm non, học sinh tiểu học đến trung học phổ thông, từ trẻ em trong trường học đến những trẻ em đường phố và các đối tượng khác Những chương trình nhằm giáo dục kĩ năng giữ an toàn cho trẻ em
ở Việt Nam, giúp các em nhận thức về sự cần thiết của kĩ năng giữ an toàn thân thể đối với bản thân, đồng thời nâng cao nhận thức của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc thực hiện quyền trẻ em Tuy nhiên các chương trình này được triển khai còn mang tính cục bộ, thời gian thực hiện chưa dài Mặt khác, chưa có nhiều dự án dành cho đối tượng là trẻ mẫu giáo Nhiều dự án mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng tài liệu tham khảo
Hướng thứ hai: Giáo dục kĩ năng giữ an toàn thân thể thông qua những tác
Trang 16Cũng trong năm nay, bộ sách " Tủ sách an toàn" của nhóm tác giả Nam
Hồng, Dương Phong, Ngọc Lan được xuất bản Bộ sách gồm 4 cuốn: Ngôi nhà an toàn cho trẻ, An toàn cho trẻ trên đường phố và nơi thiên nhiên, An toàn cho trẻ trong cộng đồng xã hội, Sơ cấp cứu các loại tổn thương do tai nạn ở trẻ em Trong
bộ sách này, tác giả đã hướng dẫn bé cách đối mặt hiệu quả với những nguy hiểm
có thể xảy ra khi trẻ tự mình tiếp xúc với môi trường thiên nhiên và bên ngoài xã hội mỗi lúc một phức tạp hơn[21]
Bên cạnh đó, hai tác giả Ngô Thị Hợp và Nguyễn Thị Bích Hạnh trong cuốn
sách " Những kiến thức ban đầu hình thành kĩ năng sống cho trẻ mầm non" cũng đã
cung cấp những kiến thức nhằm giúp trẻ tìm hiểu về giới tính, cách giải quyết và ứng phó với những vấn đề khó khăn giúp trẻ được an toàn và đặc biệt hướng đến việc hình thành nhân cách sống cho trẻ mầm non.[8]
Ngoài ra, trong cuốn " Bài tập thực hành kĩ năng sống" của nhóm tác giả Lưu Thu Thủy, Trần Thị Thái Hà, Đào Vân Vi đã thiết kế những hoạt động thích hợp nhằm hình thành những kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích và một số kĩ năng sống khác của trẻ.[28]
Năm 2011, tác giả Lâm Trinh trong tác phẩm " Cẩm nang tự vệ cho con bạn"
và " Cẩm nang an toàn cho con bạn" do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin phát hành
đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể nhằm giúp trẻ có được kĩ năng giữ an toàn và kĩ năng tự vệ Với những tình huống đa dạng và gần gũi với cuộc sống của trẻ nhỏ, tài liệu đã giúp trẻ biết cách ứng phó trong những tình huống nguy hiểm, những hoàn cảnh thiếu an toàn[22],[23]
Cuốn " Sổ tay an toàn trẻ em" của tác giả Trần Thái Hùng đã khẳng định trẻ
em là tương lai của tổ quốc, là báu vật của các bậc làm cha mẹ Vì vậy cha mẹ cần hướng dẫn và tìm cách giới hạn những tổn thương bất ngờ làm ảnh hưởng tương lai của các cháu Cuốn sách đã hướng dẫn cách trẻ em nhận biết và ứng phó với những tình huống thiếu an toàn mà hàng ngày các em gặp phải từ gia đình đến ngoài xã hội
Năm 2011, cách trình bày tương tự như hai tài liệu trên, tác gủa Huyền Linh
trong cuốn " Cẩm nang tự vệ an toàn trong nhà" và " Cẩm nang tự vệ an toàn ra
Trang 17ngoài" do nhà xuất bản Thanh niên ấn hành, cũng hướng dẫn trẻ rất chi tiết cách xử
lý với những tình huống thiếu an toàn với bản thân[15],[16]
Như vậy, có thể nhận thấy hầu hết các tác phẩm viết về kĩ năng giữ an toàn hiện nay chủ yếu được biên soạn dưới dạng cẩm nang các tác giả đưa ra những lời khuyên cụ thể để trẻ em nhận diện và phòng tránh những nguy hiểm đến với bản thân Tuy nhiên, trong các tác phẩm này chưa hệ thống được những vấn đề lý luận
cơ bản như khái niệm kĩ năng giữ an toàn, xác định các biểu hiện và tiêu chí đánh giá kĩ năng giữ an toàn thân thể
Hướng thứ 3: Những nghiên cứu cụ thể về kĩ năng giữ an toàn thân thể
Có thể nói tại Việt Nam hiện nay chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi được thực hiện Thực trạng một
số biểu hiện cụ thể của kĩ năng này được thể hiện rất mờ nhạt trong những nghiên cứu về rèn luyện kĩ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi Chẳng hạn:
Trong đề tài nghiên cứu về " Giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam" của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Bình, Lưu Thu Thủy, Nguyễn Kim Dung, Vũ Thị Sơn đã chỉ
ra kĩ năng giữ an toàn thân thể thông qua những kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích là một trong những kĩ năng quan trọng của trẻ mẫu giáo Đề tài đã khám phá được những nội dung giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ em, các kĩ năng để thực hiện quyền trẻ em Tuy nhiên, chưa có những đánh giá cụ thể biểu hiện thực trạng kĩ năng này của trẻ mầm non.[3]
Năm 2007, với đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ " Giáo dục một số kĩ năng sống cho học sinh trung học phổ thông" do tác giả Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm, kết quả nghiên cứu cho thấy kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ của các em còn hạn chế Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, xác định nhu cầu giáo dục kĩ năng, đề tài đã xây dựng chương trình giáo dục kĩ năng cho học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp.[4]
Kết quả trong các nghiên cứu " Một số tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ
em trong trường mầm non nguyên nhân và giải pháp" của tác giả Vũ Yến Khánh cùng cộng sự năm 2009 và đề tài " Điều tra quốc gia về tai nạn thương tích năm 2010" cảu Trần Thị Ngọc Lan cùng cộng sự thuộc Cục Quản lý môi trường y tế cho
Trang 18thấy tai nạn thương tích được ghi nhận là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ
em Nguyên nhân là do thiếu sự giám sát, chăm nom của cha mẹ, cô giáo hoặc người trông trẻ nên trẻ có thể tiếp xúc với các yếu tố nguy cực; do người lớn chăm sóc không được hướng dẫn cách sơ cứu an toàn và không có tủ thuốc cấp cứu.[13],[14]
Tóm lại, thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi là một trong những kĩ năng sống quan trọng của con người, đặc biệt là trẻ em Trên thế giới cũng như Việt Nam đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về kĩ năng sống, kĩ năng phòng tránh tai nạn cho trẻ nhỏ Tại Việt Nam nhiều tài liệu đã được biên soạn dưới dạng cẩm nang về kĩ năng giữ an toàn và kĩ năng tự vệ Tuy vẫn chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề thiết kế mộ số trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
1.2 Cơ sở lí luận của thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
1.2.1 Kĩ năng giữ an toàn thân thể của trẻ 4-5 tuổi
1.2.1.1 Kĩ năng
a Khái niệm kĩ năng
Vấn đề kĩ năng được nhiều nhà tâm lý học trên thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên cứu Có thể khái quát thành các hướng sau đây:
Hướng thứ nhất: Kĩ năng được xem xét nghiêng về mặt kĩ thuật của thao
Trang 19Khi bàn về kĩ năng, tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: "Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động Con người nắm được cách thức hành động tức là có kĩ năng"
Theo từ điển Tâm lý học của Liên Xô thì " Kĩ năng là giai đoạn giữa việc nắm vững một phương thức hành động mới và quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kĩ xảo"
Như vậy, theo quan niệm này, các tác giả nhấn mạnh đến mặt kĩ thuật của kĩ năng, coi trọng cách thức thực hiện hành động hơn kết quả của hành động đó
Hướng thứ hai: Kĩ năng được xem xét nghiêng về mặt năng lực của con
người
Theo quan điểm này, kĩ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và sáng tạo và vuwag có tính mục đích Đại diện cho quan điểm này có các tác giả : N.D.Levitov, V.V.Bogoxloxki, K.K.Platonov, G.G.Golubev, A.V.Barabasicoov (1963), Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh, Nguyễn Thạc, Trần Quốc Thành
Nhà Tâm lý học người Nga A.V.Barabasicoov (1963) cho rằng: " Kĩ năng là khả năng sử dụng tri thức và các kĩ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá trình của hoạt động thực tiễn Khả năng này là khả năng tự tạo của con người"
Quan niệm của các nhà giáo dục Việt Nam như : Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Lê Văn Hồng, Nguyễn Quang Uẩn cũng tương tự như các quan điểm nói trên
Như vậy, theo hướng này các tác giả cho rằng, kĩ năng không chỉ đơn thuần
là mặt kĩ thuật của hành động mà nó còn là kết quả của hành động trong mối tương quan với mục đích, điều kiện, phương tiện thực hiện hành động Kĩ năng không chỉ
là thao tác mà còn là biểu hiện của năng lực
Hướng thứ ba : Coi kĩ năng là hành vi ứng xử của con người
Theo hướng nghiên cứu này, khi xem xét kĩ năng các tác giả không chỉ xem xét đến tính chính xác, khả năng linh hoạt mà còn xem xét các yếu tố thái độ, động
cơ của cá nhân trong thực hiện hành động có kĩ năng đó Cách tiếp cận này xem xét
Trang 20kĩ năng dưới góc độ rộng hơn khi nó kết nối các yếu tố kiến thức, kĩ thuật và giá trị trong hành vi của một hành động nhất định Hai tác giả S.A.Morales và W.Sheafor (1978) đã nhấn mạnh ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân trong kĩ năng Còn J.N.Richard (2003) coi kĩ năng là hành vi thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối của cách cảm nhận và suy nghĩ của cá nhân Kĩ năng được thể hiện một cách chuyên nghiệp và tuân thủ các quy tắc ứng xử Tuy nhiên, khi xem kĩ năng là hành vi, các tác giả chưa quan tâm nhiều đến mặt kĩ thuật của nó, chính vì vậy nó sẽ gây khó khăn trong việc đào tạo kĩ năng thiết kế công cụ đo lường, đánh giá chung
Tổng hợp các quan điểm trên chúng tôi quan niệm: Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện có kết quả, đạt được mục đích của hành động hay hoạt động nào đó trong những điều kiện phù hợp
b Các đặc điểm của kĩ năng
Kĩ năng phải gắn liền với hành động hay hoạt động cụ thể Theo K.K.Platonov thì kĩ năng luôn được nhận thức Cơ sở tâm lý của nó là sự hiểu biết
về mối quan hệ qua lại giữa mục đích và hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hoạt động Như vậy, hành động hay hoạt động chưa thể gọi là kĩ năng nếu còn mắc sai lầm, vụng về Còn theo P.B.Gurvitr thì dấu hiệu đặc trưng của kĩ năng
là khả năng thay đổi hành động theo những điều kiện luôn biến đổi Có thể nói, kĩ năng được hình thành trên cơ sở của tri thức và kĩ xảo, nên người có kĩ năng thì không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt kết quả trong những điều kiện khác nhau
Như vậy, khi xem xét kĩ năng, có thể nhận thấy kĩ năng bao gồm bốn đặc điểm sau:
- Tính đúng đắn (đúng - sai): Là sự tuân theo và thực hiện đúng những yêu
cầu khách quan của kĩ năng về tất cả các mặt: tri thức, tốc độ, thao tác, kĩ thuật hành động
- Tính thành thục: là sự vận dụng thích hợp các thao tác của kĩ năng với mục
đích và điều kiện của hoạt động Tính thành thục được thể hiện ở sự thành thạo, tốc
độ của từng thao tác và sự kết hợp hợp lý của các thao tác về số lượng cũng như
Trang 21trình tự Trong quá trình thực hiện các thao tác không có những thao tác thừa Tác giả Nguyễn Đức Hưởng đã đưa ra các chỉ báo đánh giá mức độ thuần thục, thành thạo của kĩ năng như sau:
+ Mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động
+ Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động + Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác hành động
Khi đánh giá kĩ năng cần phải sử dụng tông hợp các chỉ báo trên Nếu chỉ sử dụng một chỉ báo đơn lẻ thì có thể dẫn đến nhầm lẫn (chẳng hạn như coi người có tri thức, hoặc người có hành động nhanh, người làm việc có hiệu quả là người có kĩ năng)
- Tính linh hoạt : Là sự thể hiện ổn định, bền vững và sáng tạo của kĩ năng
trong các điều kiện khác nhau của hoạt động Tính linh hoạt còn được thể hiện ở chỗ chủ thể biết bỏ đi những thao tác không cần thiết trong những tình huống nhất định hoặc thêm vào những thao tác phù hợp để thực hiện có hiệu quả hành động
- Tính hiệu quả : Là việc đạt được mục đích của hoạt động ở những mức độ
khác nhau Tri thức, kinh nghiệm đã có và các thao tác phù hợp sẽ không có ý nghĩa nếu cá nhân không đạt hiệu quả của hành động Vì vậy, có thể nói, tính hiệu quả của
kĩ năng là biểu hiện cao nhất của kĩ năng hành động
Tính hiệu quả của kĩ năng được tạo ra từ sự kết hợp một cách thống nhất 3 đặc điểm: đúng đắn, thành thục, linh hoạt và bộc lộ cũng trên cơ sở tổng hợp với các tính chất này
Những đặc điểm của kĩ năng nêu trên sẽ là cơ sở để xây dựng các tiêu chí đánh giá kĩ năng giữ an toàn thân thể trong khóa luận này
c Các giai đoạn hình thành và các mức độ của kĩ năng
Khi nghiên cứu về các giai đoạn hình thành và các mức độ biểu hiện cụ thể của kĩ năng cũng có nhiều quan điểm khác nhau Chẳng hạn:
Với quan niệm kĩ năng hình thành qua 5 giai đoạn, tác giả K.K.Platonov chỉ rõ:
Trang 22Giai đoạn 1: Kĩ năng ban đầu
Giai đoạn 2: Hành động còn thiếu sự sáng tạo
Giai đoạn 3: Có những kĩ năng chung
Giai đoạn 4: Có kĩ năng phát triển ở mức độ cao
Giai đoạn 5: Sự thành thạo của kĩ năng
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, sự hình thành kĩ năng chia thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nắm vững các tri thức về hành động hay hoạt động
Giai đoạn 2: Thực hiện hành động theo các tri thức đó
Khác quan niệm của tác giả trên, theo tác giả Hoàng Thị Oanh thì kĩ năng hình thành gồm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn nhận thức
- Giai đoạn làm thử
- Giai đoạn bắt đầu hình thành kĩ năng
- Giai đoạn kĩ năng được hoàn thiện
Vì vậy, theo chúng tôi các giai đoạn hình thành và mức độ biểu hiện của kĩ năng của trẻ mẫu giáo được thể hiện như sau:
- Giai đoạn nhận thức
- Giai đoạn quan sát và làm thử theo mẫu
- Giai đoạn luyện tập
Các giai đoạn hình thành và mức độ biểu hiện trên đây của kĩ năng sẽ là cơ
sở để rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể của trẻ 4-5 tuổi
1.2.1.2 Khái niệm của an toàn
Theo từ điển tiếng Việt, "an toàn" là sự bình yên, không nguy hiểm Ngoài ra tính từ "an toàn" được xuất hiện trong nhiều lĩnh vực, chẳng hạn:
Trang 23- Trong lĩnh vực vệ sinh dinh dưỡng :" An toàn thực phẩm được hiểu là khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người"
- Còn trong lĩnh vực giao thông : " An toàn giao thông là sự bình an trong quá trình giao thông không xảy ra tai nạn"
Trong cuốn sách " Ngôi nhà an toàn cho trẻ" Tác giả Nam Hồng định nghĩa:
" An toàn" là sự đảm bảo không bị tác động xấu gây tổn thương cả về thể chất lẫn tinh thần cho bản thân hoặc cho một ai đó hoặc một cái gì đó
Như vậy, có thể thấy rằng an toàn không có những nguy hiểm xảy đến đối với bản thân Để có sự an toàn con người cần có sự chuẩn bị, đề phòng để những nguy hiểm không xảy ra Muốn vậy, con người cần nắm được các nguyên lý của sự
an toàn trong các lĩnh vực trong cuộc sống
Khi nói đến an toàn và cũng nhằm đem lại sự an toàn cho con người thì một khái niệm luôn đi song song với khái niệm này đó là khái niệm "tự vệ" Thông thường khi nói đến "tự vệ" người ta chỉ nghĩ đến việc dùng võ thuật để đánh trả khi
bị tấn công nhưng ở đây ta dùng "tự vệ" với nghĩa gốc và đầy đủ nhất của nó, đó là:
Tự che chở, tự bảo vệ mình, tự mình giữ lấy mình, chống lại sự xâm phạm của kẻ khác Có thể nói khái niệm "an toàn" là một khái niệm rộng hơn Khác với an toàn, khi con người tự vệ là khi đã có những nguy hiểm xảy đến với bản thân và tự vệ cũng với mục đích để con người được an toàn
Như vậy, an toàn là sự bình yên, không có những nguy hiểm hoặc không có tác dụng xấu gây tổn thương về thể chất và tinh thần của con người
c Khái niệm kĩ năng giữ an toàn thân thể
Từ các khái niệm "kĩ năng", "an toàn" đi đến xây dựng khái niệm kĩ năng giữ an toàn thân thể như sau:
Kĩ năng giữ an toàn thân thể là khả năng của con người vận dụng tri thức, vốn kinh nghiệm đã có để nhận diện và ứng phó với những nguy hiểm đồng thời biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ khi cơ thể gặp nguy hiểm nhằm tránh những mối đe dọa, những tác động xấu gây tổn thương về cấu tạo giải phẫu và hoạt động sinh lý của con người
Trang 241.2.2 Một số đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 4-5 tuổi có liên quan đến rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể
1.2.2.1 Đặc điểm sinh lý
Đặc điểm sinh lý nổi bật ở trẻ 4-5 tuổi là hệ thần kinh phát triển tương đối nhanh về hình thái cũng như cấu trúc Trọng lượng của não tăng từ khoảng 1.100 gram đến 1.300 gram Một số vùng trên vỏ não tiếp tục được meilin hóa Các vùng chức năng của não tiếp tục chuyên môn hóa, nhờ đó trẻ đã có khả năng hoạt động trí tuệ phức tạp và điều khiển hoạt động đòi hỏi sự tinh tế của cơ bắp Bộ não của trẻ không khác người trưởng thành bao nhiêu với trên 1,5 tỷ tế bào thần kinh
Hệ xương và cơ của trẻ tiếp tục phát triển Xương tiếp tục được cốt hóa, các
cơ to ra Cơ quan hô hấp và tuần hoàn phát triển Sự phát triển của các cơ để thực hiện các chức năng vận động phát triển mạnh Trẻ có thể kiểm soát và phối hợp vận động các nhóm cơ lớn vì vậy trẻ có thể thực hiện các vận động mạnh như: Bật xa, nhảy từ độ cao 40cm xuống đất, bắt và ném bóng bằng hai tay từ khoảng cách 4m, trèo lên, xuống thang ở độ cao 1,5m so với mặt đất Đồng thời trẻ có thể kiểm soát
và phối hợp vận động các nhóm cơ nhỏ Vì vậy, trẻ có thể thực hiện được những thao tác đòi hỏi sự khéo léo
Trẻ có thể phối hợp các giác quan và giữ thăng bằng khi vận động vì vậy trẻ
có thể thực hiện được những hành động như nhảy lò cò, đi thăng bằng trên ghế Không chỉ phối hợp khéo léo và hệ vận động của trẻ cũng phát triển khá tốt thể hiện được sự nhanh nhẹn và dẻo dai của cơ thể
Như vậy, trong giai đoạn này, trẻ rất hiếu động, hay tò mò, thích khám phá thế giới xung quanh do đó thường hay xảy ra những tai nạn thương tích đáng tiếc Tuy nhiên, sự trưởng thành của hệ thần kinh và hoàn thiện của các giác quan trong
cơ thể về cả lượng và chất là điều kiện thuận lợi cho giáo viên tổ chức các hoạt động nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
1.2.2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ 4-5 tuổi
a Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 4-5 tuổi
* Đặc điểm phát triển trí nhớ của trẻ 4-5 tuổi
Trang 25Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định bắt đầu xuất hiện ở trẻ mẫu giáo nhỡ do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp và do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao
Những hoạt động mà giáo viên tổ chức nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ cần phải kết hợp giữa sự giải thích cặn kẽ bằng lời về mục đích, cách thức thực hiện kĩ năng cho trẻ hiểu Đồng thời trẻ phải được quan sát các thao tác mẫu và giáo viên cần sử dụng nhiều hình ảnh trực quan sinh động minh họa trong khi hướng dẫn trẻ Bên cạnh đó, trẻ cần được tự mình tham gia thực hiện các hành động, hoạt động hình thành kĩ năng Một điều quan trọng, liên quan đến trí nhớ cảm xúc của trẻ, là trẻ dễ nhớ những điều gây cho trẻ cảm xúc tích cực, vì vậy các hoạt động được tổ chức phải phù hợp với nhu cầu, hứng thú và sở thích của trẻ
* Đặc điểm phát triển tư duy
Ở trẻ lứa tuổi 4-5, loại tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hình ảnh Khi giải quyết vấn đề đặt ra, trẻ hay suy nghĩ dựa vào tư duy trực quan hình ảnh Trẻ giải quyết vấn đề dựa vào các hình ảnh cụ thể vẫn dễ dàng hơn khi bài toán đó được giao dưới hình thức các con số trừu tượng
Trẻ 4-5 tuổi với đặc điểm tư duy nổi trội là tư duy trực quan hành động Do vậy, khi giáo viện thiết kế các hoạt động nhằm giúp trẻ nhận diện và ứng phó trong những tình huống thiếu an toàn về điện, nước, các vật sắc nhọn, hành vi ăn uống không an toàn giáo viên cần đưa ra nhiều hình ảnh minh họa trực quan sẽ giúp trẻ
dễ dàng nhận diện và từ đó trẻ sẽ dễ dàng tư duy để thực hiện các nhiệm vụ học tập
1.2.3 Đặc điểm quá trình rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
Ở lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt là đối với trẻ 4-5 tuổi thì sự nhận thức và quá trình lĩnh hội, tích lũy kinh nghiệm, biểu tượng, vốn sống so với các lứa tuổi trước
đã khá phong phú hơn Điều đó giúp trẻ có những nhận biết cơ bản về một số đồ vật không an toàn, những nơi nguy hiểm, một số tình huống khó khăn… và có những cách ứng phó và giữ an toàn thân thể Nói cách khác, trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi đã có những hiểu biết nền tảng và có kĩ năng giữ an toàn thân thể cho bản thân trẻ Tuy nhiên, kĩ năng giữ an toàn thân thể của trẻ còn nhiều hạn chế Thực tế chúng ta thấy rằng, do đặc trưng tâm lí lứa tuổi mẫu giáo, trẻ 4-5 tuổi thường hay bắt chước các
Trang 26hành động của người lớn Trẻ rất dễ bị mất tập trung bởi những cảnh vật mới lạ hoặc những đồ vật trong tay trẻ nếu thình lình rơi xuống đất hoặc lăn vào những nơi nguy hiểm như hồ, ao, bể chứa nước, giếng, bụi rậm,… Trẻ sẽ tìm cách đuổi theo
mà không chú ý đến những nguy hiểm trước mắt Hơn nữa, trẻ tuổi mẫu giáo ít khi ghi nhớ những điều gì nếu chỉ nói một lần với trẻ Để trẻ có thể nhớ những gì người lớn dạy, hãy nhẹ nhàng nhắc đi nhắc lại nhiều lần cho đến khi trẻ nhớ Nhu cầu khám phá thế giới, môi trường xung quanh là một trong các nhu cầu rất lớn của trẻ Trẻ luôn khao khát tìm tòi, khám phá mọi thứ xung quanh bất kể chúng có an toàn hay không Đặc biệt, đối với những đồ vật hàng ngày bị người lớn cấm đoán, không cho phép được tiếp xúc hoặc chơi thì khi không có sự giám sát của người lớn trẻ sẽ
tò mò muốn khám phá xem chúng như thế nào.Vì thế, trẻ không lường trước được những nguy hiểm có thể gặp phải Các nguy cơ đó có thể đến từ: đồ chơi trơn trượt,
đồ chơi bị gãy hỏng một mắt xích nào đó, hoặc chơi các trò chơi nguy hiểm: trèo cây, vin cành, ném cát – đất vào mặt nhau, trêu nghịch các con vật, chạm vào bô xe máy đang nóng… Ở trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, tư duy của trẻ vẫn mang tính trực quan,
sự quan sát và đánh giá của trẻ còn mang đậm màu sắc chủ quan, cảm tính rất dễ bị thuyết phục, nếu những người xấu nắm được đặc điểm tâm lí của trẻ như: thích ăn kẹo, thích xem phim hoạt hình, nhận quà, chơi đồ chơi,… là cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng và dụ dỗ trẻ Hay trong những tình huống, hiện tượng bất thường nào đó xảy
ra như: đi lạc, đám cháy, động đất, bắt cóc, một tai nạn hay một vật gì đó bất ngờ đổ sập xuống trẻ … trẻ thường không đủ bình tĩnh để phán đoán, để quyết định hành động, xử trí như thế nào trong những tình huống như vậy Với những đặc điểm về kĩ năng giữ an toàn thân thể của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nêu trên thiết nghĩ vấn đề giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ là rất cấp thiết
1.2.4 Nội dung rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
Để thân thể có được sự an toàn trẻ 4-5 tuổi cần có khả năng nhận diện và ứng phó với các tình huống thiếu an toàn, biết thực hiện các hành vi ăn uống an toàn, sử dụng đồ vật an toàn, tránh xa động, thực vật nguy hiểm đồng thời biết tìm kiếm sự giúp đỡ trong những tình huống nguy hiểm
Làm cha mẹ, ai cũng muốn cho trẻ tự do chạy nhảy và khám phá thế giới Tuy nhiên, những nỗi lo về sự an toàn vẫn khiến không ít ông bố bà mẹ luôn lo ngại
Trang 27khi cho trẻ tự do bước ra ngoài Kĩ năng tự giữ an toàn là khả năng trẻ biết nhận diện được và tránh xa những nguy cơ gây nguy hiểm cho bản thân và có khả năng
xử lý trong những tình huống bất lợi để tạo cho bản thân sự bình an Kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi bước đầu giúp trẻ nhận diện được những nguy hiểm, trẻ e dè khi có ý định sử dụng hay chạm vào những vật nguy hiểm như chó, mèo, ổ điện, tiếp theo đó trẻ biết tránh xa những nguy hiểm và xử lí những tình huống nguy hiểm có thể gặp phải xung quanh mình
Khi có kĩ năng tự giữ an toàn, trẻ sẽ phân biệt được những mối nguy hiểm từ những vật dụng quen thuộc xung quanh mình, những trò chơi bé vẫn thường chơi, những tình huống bé thường gặp, giúp bé biết được những nơi bé có thể gặp nguy hiểm Đồng thời giúp bé có kĩ năng tự xoay xở tự giải quyết khi không có người lớn
ở bên cạnh Nhưng, để có sự an toàn thì trẻ cần có sự trang bị và rèn luyện một cách bài bản, có hệ thống Đề phòng để những nguy hiểm xảy ra, đồng thời phải rèn luyện cho mình khả năng nhận diện và tránh xa những nguy cơ gây nguy hiểm cho bản thân và có kĩ năng giải quyết các bất lợi đó để bảo đảm cho bản thân được an toàn
Kĩ năng giữ an toàn thân thể là khả năng con người vận dụng tri thức, vốn kinh nghiệm đã có để nhận diện và ứng phó với nguy cơ gây nguy hiểm, đồng thời biết thực hiện các hành vi ăn uống an toàn và tìm kiếm sự giúp đỡ khi cơ thể gặp nguy hiểm nhằm tránh những tác động xấu gây tổn thương về cơ sở giải phẫu và hoạt động sinh lý con người
Kĩ năng giữ an toàn thân thể của trẻ 4-5 tuổi là khả năng trẻ vận dụng tri thức, vốn kinh nghiệm đã có để nhận diện và ứng phó với nguy cơ gây nguy hiểm, đồng thời biết thực hiện các hành vi ăn uống an toàn và tìm kiếm sự giúp đỡ khi cơ thể gặp nguy hiểm nhằm tránh những tác động xấu gây tổn thương về cơ sở giải phẫu và hoạt động sinh lý đảm bảo cho thân thể của trẻ được an toàn, khỏe mạnh và phát triển đầy đủ
1.2.4.1 Rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể trước đồ vật nguy hiểm
Trang 28Để thân thể có được sự an toàn trẻ 4-5 tuổi cần có khả năng nhận diện và ứng phó được với các đồ vật xung quanh mình Trẻ cần nhận biết đâu và đồ vật nguy hiểm và đâu là đồ vật an toàn để bảo vệ được bản thân
Nhận diện đưọc những nguy hiểm từ những vật dụng thông thường như điện, nước, lửa, dao kéo và các vật dụng sắc nhọn, đồ chơi, vật dụng dễ vỡ, dung dịch, hóa chất, vật nuôi trong gia đình
Trẻ phải biết không được tự ý ăn, uống khi chưa được người lớn cho phép, không ăn thức ăn có mùi ôi thiu, ăn lá, quả lạ
Dạy trẻ thói quen không được tự ý uống thuốc: Giúp bé nhận thức không được tự tiện uống thuốc khi không có sự chỉ dẫn của bác sĩ, cha mẹ Dạy trẻ không nên tự lấy thuốc và uống, nhất là khi không biết chính xác loại thuốc cần dùng Chỉ khi nào thuốc mẹ đã để sẵn thì mới được uống
1.2.4.2 Rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể trước động, thực vật nguy hiểm
Xã hội hiện đại mang đến cho cuộc sống con người nhiều tiện ích, sự thoải mái nhưng cũng tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm, đặc biệt là đối với con trẻ Điều này đòi hỏi mỗi trẻ đều phải có những kĩ năng để xử lý cũng như bảo vệ chính bản thân mình
Trừ những thú dữ ăn thịt, hầu hết các con vật đều hiền hòa, không chủ động gây hại cho người; những phản ứng của chúng thường mang tính tự vệ trước kẻ mà chúng cho là gây hấn Phụ huynh nên nhắc nhở trẻ không bao giờ được quấy rầy khi thú đang ngủ, đang ăn hoặc chăm sóc con
Vì không hiểu biết, hồn nhiên hay quá cưng yêu thú vật, trẻ có thể bất ngờ sờ chạm, hôn hít con vật, khiến chúng giật mình, hoảng hốt có thể quay lại cắn, cào Phải luôn đánh động cho thú nghe thấy, nhìn thấy hoặc ít nhất là đánh hơi thấy mình rồi mới được tiếp cận (không được tiếp cận bất ngờ, nhất là từ phía sau đuôi hoặc lưng)
Tuyệt đối không đụng chạm, nựng nịu, chọc ghẹo con vật lạ Trẻ cũng không được chạy đuổi theo, không la hét hay trêu chọc, khiêu khích chúng Nếu thấy con vật bị thương, không được trổ tài “bác sĩ” mà phải báo cho người lớn Với những
Trang 29con vật đang bị cột xích, nhốt trong chuồng hay đang ở phía sau hàng rào, tuyệt đối không được thò tay vào ve vuốt, cho ăn
Phụ huynh phải luôn quan tâm đến trẻ, đồng thời nhắc nhở trẻ đừng mải chơi
mà không để ý những nguy cơ rình rập Trên thực tế, đã xảy ra nhiều bi kịch đau lòng khi trẻ ngồi đại tiện, bị chó táp mất bộ phận sinh dục; trẻ bị gà mổ vào mắt khi hiếu kỳ thò đầu coi ổ gà ấp; trẻ bị ong, kiến, mối và các loại côn trùng khác chui vào tai, mũi; trẻ bị gà lôi, ngỗng dí chạy khiến vấp té chấn thương, ngã nhầm đống lửa, lọt xuống ao, giếng; trẻ cho thú ăn bị thú cắn nát bàn tay… Đó là chưa kể những nguy cơ khác như trẻ có thể nhiễm vi rút, dịch bệnh khi tiếp xúc với gia cầm, chó, mèo, khỉ…
Bố mẹ, người thân xung quanh trẻ cũng cần quan tâm đến những món ăn trẻ
ăn xem đã đảm bảo vệ sinh chưa hay những thực phẩm bẩn, thực phẩm chưa chín cần tránh xa vòng tay của trẻ
1.2.4.3 Rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể trước tình huống, nơi, địa điểm nguy hiểm
Ở trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, tư duy của trẻ vẫn mang tính trực quan, sự quan sát
và đánh giá của trẻ còn mang đậm màu sắc chủ quan, cảm tính rất dễ bị thuyết phục, nếu những người xấu nắm được đặc điểm tâm lí của trẻ như: thích ăn kẹo, thích xem phim hoạt hình, nhận quà, chơi đồ chơi,… là cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng và dụ
dỗ trẻ Hay trong những tình huống, hiện tượng bất thường nào đó xảy ra như: đi lạc, đám cháy, động đất, bắt cóc, một tai nạn hay một vật gì đó bất ngờ đổ sập xuống trẻ … trẻ thường không đủ bình tĩnh để phán đoán, để quyết định hành động,
xử trí như thế nào trong những tình huống như vậy
Thực tế chúng ta thấy rằng, do đặc trưng tâm lí lứa tuổi mẫu giáo, trẻ 4-5 tuổi thường hay bắt chước các hành động của người lớn Trẻ rất dễ bị mất tập trung bởi những cảnh vật mới lạ hoặc những đồ vật trong tay trẻ nếu thình lình rơi xuống đất hoặc lăn vào những nơi nguy hiểm như hồ, ao, bể chứa nước, giếng, bụi rậm,… Trẻ sẽ tìm cách đuổi theo mà không chú ý đến những nguy hiểm trước mắt Hơn nữa, trẻ tuổi mẫu giáo ít khi ghi nhớ những điều gì nếu chỉ nói một lần với trẻ Để trẻ có thể nhớ những gì người lớn dạy, hãy nhẹ nhàng nhắc đi nhắc lại nhiều lần cho
Trang 30đến khi trẻ nhớ Nhu cầu khám phá thế giới, môi trường xung quanh là một trong các nhu cầu rất lớn của trẻ Trẻ luôn khao khát tìm tòi, khám phá mọi thứ xung quanh bất kể chúng có an toàn hay không Đặc biệt, đối với những đồ vật hàng ngày
bị người lớn cấm đoán, không cho phép được tiếp xúc hoặc chơi thì khi không có sự giám sát của người lớn trẻ sẽ tò mò muốn khám phá xem chúng như thế nào.Vì thế, trẻ không lường trước được những nguy hiểm có thể gặp phải Các nguy cơ đó có thể đến từ: đồ chơi trơn trượt, đồ chơi bị gãy hỏng một mắt xích nào đó, hoặc chơi các trò chơi nguy hiểm: trèo cây, vin cành, ném cát – đất vào mặt nhau, trêu nghịch các con vật, chạm vào bô xe máy đang nóng…
Trẻ phải biết nhận diện và tránh xa những nơi có thể gây nguy hiểm như: những nơi vắng vẻ như công trường bỏ hoang, đồi vắng, bãi đất trống, ao, hồ, sông, suối, cây cao, miệng cống, hố ga
1.2.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể của trẻ
1.2.5.1 Yếu tố chủ quan, khả năng nhận thức, tính tích cực của trẻ
* Năng lực nhận thức của trẻ
Năng lực nhận thức giúp trẻ hiểu biết đầy đủ về mục đích, yêu cầu, điều kiện, phương tiện, cách thức thực hiện hành động nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể Như vậy, việc trẻ có tri thức về những hành vi thiếu an toàn của bản thân không phải chỉ đơn giản là biểu hiện ở sự hiểu biết về những tình huống thiếu
an toàn đó, mà điều quan trọng hơn là phải biết vận dụng những hiểu biết đó vào việc tìm kiếm, lựa chọn phương thức phù hợp với mục đích, yêu cầu, điều kiện của hoạt động trong những tình huống nguy hiểm cụ thể
Năng lực nhận thức của mỗi trẻ là không giống nhau Năng lực nhận thức thể hiện ở khả năng tập trung chú ý, năng lực tri giác, năng lực trí nhớ, năng lực thực hiện các thao tác tư duy sự khác nhau này cũng sẽ ảnh hưởng đến sự nhanh hay chậm, khó khăn hay dễ dàng trong việc rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ
* Hứng thú nhận thức của trẻ
Trang 31Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người, trong đó có trẻ em Khi những hoạt động nay phù hợp với hứng thú của mình thì dù nó có khó khăn trẻ cũng vẫn cảm thấy thoải mái và cố gắng nỗ lực để đạt được hiệu quả cao Sự hứng thú của trẻ thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của trẻ Sự hứng thú này sẽ là động lực thúc đẩy trẻ tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào hành động đó Ngược lại, khi trẻ không có hứng thú thì kết quả rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể sẽ không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực
Với phụ huynh ở gia đình muốn giúp con có hứng thú trong hoạt động nhằm cung cấp tri thức và rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể, cha mẹ hãy quan sát để biết trẻ hứng thú với hoạt động nào, sở thích của bé là gì để từ đó chúng ta hướng trẻ, khơi gợi và kết nối những sở thích của trẻ với các hoạt động mà trẻ phải theo Khi trẻ đang tập trung hay có hứng thú làm gì thì cha mẹ không nên ngắt giữa chừng, cứ để trẻ làm Đồng thời cha mẹ nên khen trẻ hơn là chê, vì nếu cha mẹ chê trẻ nhiều trẻ sẽ không tự tin, hứng thú để làm việc đó nữa
Cha mẹ hãy cùng học cách nhận diện và ứng phó trong những tình huống thiếu an toàn với con là tốt nhất giúp con tìm được niềm vui và khi trẻ gặp khó khăn trong hoạt động nào thì cha mẹ cũng kịp thời giúp con giải quyết Trẻ sẽ tự tin hơn
và hứng thú hơn Cha mẹ cũng không nên so sánh trẻ với đứa trẻ khác vì như thế sẽ làm chúng mất tự tin, nhút nhát và không muốn cố gắng
* Tính cách của trẻ
Tính cách là cái thuộc về bản chất của cá nhân Mỗi trẻ có biểu hiện những nét tính cách riêng như tự tin, mạnh dạn hay sự dụt dè, không có trẻ nào lại có tính cách giống hệt tính cách trẻ nào Mặc dù có nhiều điểm trong tính cách của một nhóm trẻ có thể có tính chất điển hình cho một nhóm người, thậm chí cho cả một xã hội
Thông thường những đứa trẻ mạnh dạn, tự tin thường tích cực trong việc tham gia các hoạt động, thực hiện các nhiệm vụ mà giáo viên hướng dẫn, cởi mở trong việc chia sẻ kinh nghiệm hay suy nghĩ của bản thân từ đó sẽ rèn luyện kĩ năng tốt hơn Ngược lại, những trẻ rụt rè thường thụ động trong khi thực hiện các nhiệm
Trang 32vụ hành động, không dám đưa ra ý kiến của bản thân, khiến việc rèn luyện kĩ nãng giữ an toàn thân thể sẽ gặp khó khăn hơn
Do vậy, giáo viên và phụ huynh cần có những biện pháp nhằm khuyến khích trẻ tham gia nhiều hoạt động khác nhau nhằm giúp trẻ tự tin, năng động hơn
* Tính hiếu động
Đa phần trẻ em đều có tính hiếu động, đặc biệt là trẻ trai trẻ luôn thể hiện sự năng động, luôn vận động, tò mò, tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh Tuy nhiên, chính sự hiếu động này lại dễ đưa trẻ vào những tình huống nguy hiểm, gây tổn hại về thể chất và tinh thần của trẻ nếu trẻ không có kĩ năng nhận diện và ứng phó với những nguy cơ tiềm ẩn đó
Đôi khi, trẻ có tính hiếu động lại bị cha mẹ, thầy cô cho là quậy phá và hay cấm đoán, ngăn cản bằng nhiều hình thức như đe dọa, đánh, nhốt điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến tâm lý của trẻ và vô tình cản trở sự phát triển tốt của trẻ Như vậy, thầy cô và cha mẹ cần quan sát những biểu hiện của con một cách thường xuyên để xác định những biểu hiện đó là sự năng động, tò mò ham hiểu biết, thích khám phá hay là biểu hiện của sự năng động giảm chú ý để có biện pháp kịp thời nhằm khuyến khích sự tìm tòi hoặc can thiệp kịp thời những hành động thái quá về mặt vận động
Việc bắt chước rất phổ biến ở trẻ Nó đảm bảo cho trẻ tiếp thu nhiều kinh nghiệm ứng xử một cách an toàn trong những tình huống hàng ngày của cuộc sống Việc bắt chước của trẻ mẫu giáo được tiến hành theo các bước : quan sát hành động
Trang 33giữ an toàn thân thể -> ghi nhớ -> tạo dựng lại hành động giữ an toàn thân thể trong đầu -> hành động lặp lại -> củng cố
Trên thực tế trẻ bắt chước cả những hành động an toàn và những hành động thiếu an toàn Vì vậy, cha mẹ và thầy cô cần chú ý trong việc tạo dựng các mô hình hành vi mẫu đúng đắn để cho trẻ noi theo là việc làm cần thiết
1.2.5.2 Yếu tố khách quan, dạy dỗ của người lớn, môi trường sống
* Môi trường giáo dục nhà trường
Môi trường nhà trường, nơi có những tác động mang tính chuyên nghiệp, những người giáo dục được đào tạo chuyên môn, có chương trình mang tính logic, khoa học và có những phương pháp giáo dục hiệu quả Tất cả những tác động từ những môi trường giáo dục này sẽ góp phần hình thành nên những thói quen giữ an toàn thân thể và có tác động rất lớn tới ý thức, nhận thức, hành vi giữ an toàn của trẻ
Nhà trường mầm non là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp Giáo viên mầm non là những người có chuyên môn v́ vậy họ có khả năng tổ chức các hoạt động nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể một cách phù hợp với trình độ nhận thức, hứng thú, sở thích của trẻ Sự tác động toàn diện của giáo dục nhà trường tạo điều kiện tối ưu để trẻ phát triển đầy đủ và nhanh chóng mọi tiềm năng của mình Đồng thời giúp trẻ có các điều kiện và phương tiện nhằm khắc phục những sai lệch trong việc nhận diện những hành động nguy hiểm và những cách ứng phó tiêu cực, lệch lạc, thiếu an toàn trong quá khứ
* Môi trường giáo dục gia đình
Ngay từ khi đứa trẻ ra đời, gia đình là môi trường văn hóa - xã hội đầu tiên
và gần gũi nhất, có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển nhân cách những năm đầu đời của trẻ Gia đình là tác nhân quan trọng trong việc tạo ra môi trường sống an toàn, đảm bảo sự sống của trẻ, chăm sóc và giáo dục trẻ đạt được những giá trị xã hội cơ bản, là màng bọc giúp trẻ em khắc phục những tác động tự phát của các yếu
tố tiêu cực bên ngoài xã hội, giúp trẻ thích ứng tích cực với cuộc sống xã hội phức tạp và đầy biến động
Trang 34Như vậy, để gia đình thực sự là cái nôi cho sự phát triển của trẻ thì trước hết gia đình phải là một môi trường an toàn, cha mẹ phải là tấm gương sáng trong những hành vi ứng xử, thường xuyên quan tâm trò chuyện và tận dụng những tình huống trong cuộc sống hàng ngày để giáo dục kĩ năng an toàn thân thể cho trẻ
* Hoạt động truyền thông
Ngày nay truyền hình, máy tính, các phương tiện truyền thông đã phát triển rất mạnh mẽ, chi phối đời sống của con người Những phương tiện này không chỉ là những phương tiện truyền thông đơn thuần mà thực sự đã trở thành một lực lượng
xã hội độc lập, can thiệp mạnh mẽ, trực tiếp, sâu sắc tới sự phát triển của xã hội, trong đó có trẻ em
Không chỉ có vai trò giải trí và giáo dục ở gia đình, truyền hình, máy tính, internet và các phương tiện thông tin khác là công cụ giáo dục đắc lực Hiện nay truyền hình đang thâm nhập sâu vào lĩnh vực giáo dục trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các chương trình giáo dục chính thức trong nhà trường kể cả phương tiện chuyển tải nội dung lẫn phương thức triển khai Các chương trình khoa học - giáo dục của các kênh truyền hình cùng với các chương trình trên mạng internet ngày càng hấp dẫn và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến trẻ Đồng thời là nguồn tư liệu quý giá để giáo viên mầm non có thể tìm kiếm, khai thác các nội dung nhằm giáo dục kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ
1.2.6 Trò chơi học tập đối với rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể của trẻ 4-5 tuổi
1.2.6.1 Khái niệm về trò chơi học tập
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về trò chơi học tập Trong lý luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn liền với việc dạy học như là phương pháp, hình thức tổ chức tập luyện cho trẻ, không tính đến nội dung và tính chất đều gọi là trò chơi
Theo tác giả Trần Thị Ngọc Trâm cho rằng: Trò chơi học tập còn được hiểu
là trò chơi có định hướng đối với sự phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo là trò chơi có luật Quan niệm được thừa nhận trong tổ chức vui chơi cho trẻ trong giáo dục Xô Viết trước dây và trong trường mẫu giáo ở nước ta hiện nay
Trang 35Theo cuốn tài liệu Giáo dục học mầm non của nhóm tác giả Trần Thị Châu, Nguyễn Thi Oanh, Trần Thị Sinh cũng chỉ ra tính đặc thù của trò chơi học tập như sau: " Trò chơi học tập là loại trò chơi tiêu biểu Khi tham gia vào trò chơi này, gián tiếp giải quyết các nhiệm vụ nhận thức nhằm củng cố, chính xác hóa các biểu tượng, các tri thức, phát triển ngôn ngữ, rèn luyện kĩ năng và hình thành những biểu tượng mới"
Theo tôi thì trò chơi học tập là loại trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ
ra cho trẻ chơi Đó là loại trò chơi đòi hỏi trẻ phải thực hiện một quá trình hoạt động trí tuệ để giải quyết nhiệm vụ học tập được đặt ra như nhiệm vụ chơi, qua đó mà trí tuệ của trẻ phát triển
1.2.6.2 Đặc điểm trò chơi học tập
Trò chơi học tập là loại trò chơi mà nhiệm vụ trí lực được thực hiện dưới hình thức nhiệm vụ chơi vui vẻ thoải mái Ở đây, nội dung học tập được lồng ghép vào nội dung chơi Việc thực hiện các thao tác chơi, hành động chơi chính là thực hiện các nhiệm vụ trí dục Như vậy giữa chơi và học có quan hệ chặt chẽ với nhau Đứng về phương diện kết quả thì đó là học tập, đứng về phương diện hành động thì đó chính
là chơi Do vậy "học mà chơi, chơi mà học" được xem là phương thức học tập độc đáo của trẻ em lứa tuổi mầm non
Xét về cấu trúc thì trò chơi học tập có cấu trúc rõ ràng gồm ba thành phần: nội dung chơi, hành động chơi và luật chơi Ba thành phần này có liên quan chặt chẽ với nhau, thiếu một trong ba thành phần này thì không thể tiến hành trò chơi được Nôi dung chơi chứa đựng nhiệm vụ nhận thức Nó có thể là phát triển một vài chức năng tâm lí nào đó của hoạt động trí tuệ (quan sát,tư duy, tưởng tượng, chú ý, ngôn ngữ ); có thể là nhận thức một điều gì mới mẻ hoặc cũng cố một biểu tượng
mà trẻ đã biết
Hành động chơi là hệ thống các thao tác, chủ yếu là thao tác trí óc nhằm thực hiện nhiệm vụ nhận thức mà trò chơi đặt ra Hành động chơi càng phong phú bao nhiêu thì trò chơi càng lí thú bấy nhiêu Hệ thống thao tác trong hành động chơi do nhiệm vụ chơi (nhiệm vụ nhận thức) quy định và được diễn ra theo một luật chơi (quy tắc chơi)
Trang 36Luật chơi là những quy định mà nhất thiết trẻ phải tuân tủ trong khi chơi, nếu phá vỡ chúng thì trò chơi cũng bị phá vỡ Luật chơi quy định tính chất phương pháp hành động, cách thức tổ chức và điều khiển hành vi, các mối quan hệ của trẻ trong khi chơi Luật chơi quy định tính chất phương pháp hành động, cách thức tổ chức
và điều khiển hành vi, các mối quan hệ của trẻ trong khi chơi Luật chơi trong hoạt động chơi trong trò chơi học tập còn là tiêu chuẩn để đánh giá hành động chơi của trẻ đúng hay sai
Trong trò chơi học tập có sự tự nguyện và bình đẳng giữa các trẻ em Mọi trẻ
em đều có vị trí và như nhau khi tham gia vào trò chơi Nếu ở trò chơi đóng vai theo chủ đề, đóng kịch, vị trí của trẻ em khác nhau (do vai chơi quy định: người bác sĩ; người là bệnh nhân; người là cô giáo; người là học sinh ) thì ở trò chơi học tập, mọi trẻ đều có nhiệm vụ như nhau trong việc thực hiện các thao tác chơi (cùng đoán, cùng thực hiện một công việc nào đó trên vật liệu, đồ chơi như nhau)
Trong trò chơi học tập, hành vi chơi và động cơ chơi có sự thống nhất chặt chẽ với nhau Nếu ở trò chơi đóng vai theo chủ đề, động cơ hành vi của trẻ là giả bộ làm một cái gì như thật, thì ở trò chơi học tập, động cơ thúc đẩy trẻ hành động là trẻ phải thực hiện đúng thao tác, hành động mà trò chơi đặt ra
Trò chơi học tập bao giờ cũng có một kết quả nhất định, trẻ cảm nhận được kết quả hành động của mình: đoán đúng sai, nói đúng tên và công dụng của đồ vật phát hiện ra cái mới Kết quả này có ý nghĩa to lớn đối với trẻ Nó mang lại niềm vui vô hạn ở trẻ Đối với cô, kết quả của trò chơi luôn là chỉ tiêu đánh giá mức độ thành công và mức độ lĩnh hội tri thức của trẻ
Trong trò chơi học tập, luôn tồn tại mối quan hệ qua lại giữa cô và trẻ, và giữa trẻ với nhau Quan hệ này do nhiệm vụ chơi, hành động chơi, luật chơi quy định Cô có thể là người tổ chức trẻ chơi, có thể là người cùng tham gia trò chơi với trẻ, trong mọi trường hợp, trò chơi phụ thuộc vào cô giáo - người tổ chức, điều khiển trò chơi Tuy nhiên, sự phụ thuộc này sẽ bớt dần khi trẻ biết chơi, có khả năng
tự tổ chức trò chơi học tập của mình
Tính tự lập và sáng kiến của trẻ được thực hiện trong quá trình trẻ thực hiện các thao tác chơi, hành động chơi, tự lựa chọn các phương thức hành động trong các tình huống chơi, trong việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo những hiểu biết, kĩ năng, kĩ
Trang 37xảo của mình để giải quyết nhiệm vụ nhận thức hoặc phán đoán được tình huống có thể xảy ra nhằm thay đổi chiến thuật chơi của mình Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một số trẻ quan sát thao tác, hành động của bạn và bắt chước làm theo Song
đó chỉ là thiểu số và chính những rẻ này trong lần chơi tiếp theo đã trở nên tự lập hơn
1.2.6.3 Cấu trúc của trò chơi học tập
Từ những nghiên cứu về trò chơi học tập có thể thấy cấu trúc của trò chơi học tập gồm có 3 thành phần là: Nội dung chơi, hành động chơi và luật chơi
* Nội dung chơi:
Đây chính là nhiệm vụ học tập, có tính chất như một bài toán bắt buộc trẻ phải suy nghĩ, tìm tòi tự mình tìm ra đáp số dựa trên những điều kiện cho trước Nội dung chơi khêu gợi ở trẻ hứng thú chơi, tính tích cực, lòng ham muốn, trí tò mò của trẻ Đối với trẻ mẫu giáo bé, nội dung chơi thường đơn giản, trẻ thường chỉ tìm ra được dấu hiệu đơn lẻ của sự vật, hiện tượng Nhưng bước sang tuổi mẫu giáo nhỡ nội dung chơi của trẻ phức tạp hơn, trẻ có thể nhìn nhận những nhiệm vụ chơi trong một tổng thể và biết được mối quan hệ giữa chúng
* Hành động chơi:
Chính là những hành động trẻ làm trong khi chơi Trong trò chơi, hành động chơi càng phong phú thì cành kích thích trẻ, lôi cuốn được trẻ tham gia trong trò chơi Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ, hành động chơi của trẻ đã có sự liên hệ với nhau Trẻ biết phối hợp và suy nghĩ để tìm ra nhiệm vụ chơi
* Luật chơi:
Chính là những quy định trong nội dung chơi buộc người tham gia phải tham gia phải tuân thủ Nó được coi là tiêu chuẩn đánh giá hành động chơi đúng hay sai Những luật này xác định tính chất, phương pháp hành động, tổ chức và điều khiển hành vi cùng mối quan hệ lẫn nhau của trẻ trong khi chơi Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề vị trí của trẻ là như nhau và luật chơi là tiêu chí đánh giá khả năng chơi của trẻ
Trang 38Trong trò chơi học tập có sự tự nguyện và bình đẳng giữa các trẻ em Mọi trẻ
em đều có vị trí và nhiệm vụ như nhau khi tham gia vào trò chơi Nếu ở trò chơi đóng vai theo chủ đề, đóng kịch, vị trí của trẻ em khác nhau thì ở trò chơi học tập, mọi trẻ đều có nhiệm vụ như nhau trong việc thực hiện một công việc nào đó trên vật liệu, đồ chơi như nhau
Trò chơi học tập, hành vi chơi và động cơ chơi có sự thống nhất chặt chẽ với nhau Nếu ở trò chơi đóng vai theo chủ đề, động cơ hành vi của trẻ là giả bộ làm một cái gì như thật, thì ở trò chơi học tập, động cơ thúc đẩy trẻ hành động là trẻ phải thực hiện đúng thao tác, hành động mà trò chơi đặt ra
Trò chơi học tập bao giơ cũng có một kết quả nhất định, trẻ cảm nhận được kết quả hành động của mình: đoán đúng sai, nói đúng tên và công dụng của đồ vật, phát hiện ra cái mới Kết quả này có ư nghĩa to lớn đối với trẻ Nó mang lại niềm vui vô hạn ở trẻ Đối với cô, kết quả của trò chơi luôn là chỉ tiêu đánh giá mức độ thành công hoặc mức độ lĩnh hội tri thức của trẻ
Trong trò chơi học tập, luôn tồn tại mối quan hệ qua lại giữa cô và trẻ và giữa trẻ với nhau Quan hệ này do nhiệm vụ chơi, hành động chơi, luật chơi quy định Cô có thể là người tổ chức trẻ chơi, có thể là người cùng tham gia trò chơi với trẻ, trong mọi trường hợp, trò chơi phụ thuộc vào cô giáo-người tổ chức, điều khiển trò chơi Tuy nhiên, sự phụ thuộc này sẽ bớt dần khi trẻ biết chơi, có khả năng tự tổ chưc trò chơi học tập của mình
Tính tự lập và sáng kiến của trẻ được thể hiện trong quá trình trẻ thực hiện các thao tác chơi, hoạt động chơi, tự lựa chọn các phương thức hành động trong các tình huống chơi, trong việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo những hiểu biết, kĩ năng,
kỹ xảo của mình để giải quyết nhiệm vụ nhận thức hoặc phán đoán được tình huống
có thể xảy ra nhằm thay đổi chiến thuật chơi của mình Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một số trẻ quan sát thao tác, hành động của bạn và bắt chước làm theo Song đó chỉ là thiểu số và chính những trẻ này trong những lần chơi tiếp theo đã trở nên tự lập hơn
Ba thành phần trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng nằm trong một thể thống nhất, chỉ cần thiếu một trong ba thành phần ấy thì không thể tiến hành trò chơi được
Trang 391.2.6.4 Vai trò của trò chơi học tập đối với việc rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi
Trong các trò chơi cho trẻ mầm non, trò chơi học tập là phương tiện rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 4-5 tuổi nói riêng Khi chơi trò chơi học tập, trẻ có điều kiện rèn luyện về trí tuệ, phát triển hoạt động nhận thức của mình Trò chơi học tập đã tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm và tiếp xúc để trẻ nhận thức được, qua đó nhằm rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ
Khi chơi trò chơi học tập, trẻ nắm được luật chơi Điều đó có nghĩa là trẻ đã nắm được nội dung, ý nghĩa của trò chơi Các trò chơi này có ý nghĩa tâm lí ở chỗ trong các trò chơi ấy lần đầu tiên xuất hiện thêm một yếu tố rất quan trọng trong cuộc sống xung quanh trẻ giúp trẻ dễ dàng tiếp thu được nhanh và đáp ứng được kết quả mà trò chơi mang lại
Như vậy, có thể nói trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng vừa là phương tiện, vừa là hình thức giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo, trong đó có việc rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ 4-5 tuổi Điều đó được thể hiện:
Thứ nhất, kĩ năng giữ an toàn thân thể còn khá mới lạ đối với trẻ 4-5
tuổi,trẻ được sống trong sự bao bọc của bố mẹ và xã hội vì vậy khi mà cho trẻ xử lí, nhận biết hay tiếp xúc với các tình huống, các trò chơi trẻ thấy khó khăn và còn bỡ ngỡ khi thực hiện nhiệm vụ một cách nghiêm túc và lâu dài Vì thế, trò chơi học tập với các yếu tố chơi đặc biệt là trò chơi có luật, trẻ nhận thức được như thế nào là an toàn và không an toàn và biết giữ bản thân an toàn, tránh xa khỏi những nguy hiểm xung quanh mình
Thứ hai, Trò chơi học tập là phương diện, con đường để cung cấp
những biểu tượng mới, tri thức mới, tri thức đã biết cho trẻ Thật phiến diện khi cho rằng trò chơi học tập chỉ là phương tiện củng cố những biểu tượng, tri thức, khái niệm mà trẻ đã tiếp thu được thông qua các "giờ học" Thực ra, ngoài việc củng cố biểu tượng, tri thức, khải niệm đã biết, trò chơi học tập có thể sử dụng làm phương tiện, con đường truyền tải tri thức, biểu tượng, giáo dục và rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ, trẻ sẽ biết được nhiều hơn, học được nhiều hơn những đồ vật
Trang 40có thể làm tổn thương đến trẻ, những động, thực vật có thể nguy hiểm khi lại gần và những tình huống, nơi, địa điểm nguy hiểm phải tránh xa và biết xử lý các tình huống nguy hiểm
Thứ ba, trò chơi học tập kích thích sự phát triển về não bộ của trẻ, trẻ
suy nghĩ nhiều hơn để làm thế nào hoàn thành trò chơi, xử lý tình huống chơi sẽ giúp trẻ biết cách xử lý những tình huống khi ở nhà một mình hoặc gặp người lạ ngoài đường Khi tiếp xúc với người lạ, bé hãy đứng ở một khoảng cách an toàn (cách cửa khoảng 2m) để trả lời và tuyệt đối không được mở cửa cho người lạ vào nhà, kể cả người quen, hàng xóm, nhân viên thu tiền điện thoại bé hãy nhanh miệng yêu cầu họ nhắn lại hoặc hẹn tối đến gặp ba mẹ Nếu thấy họ nhất quyết không chịu đi và nài nỉ được vào nhà thì bé hãy gọi điện cho bố mẹ, hàng xóm, người thân để hỏi ý kiến
Tựu chung lại, trò chơi học tập được xem là hoạt động học tập cơ bản cho trẻ Tức là chúng ta có thể tổ chức một số giờ học dưới hình thức trò chơi Khi đến tiến trình giờ học cần được thiết kế theo tiến trình tổ chức trò chơi học tập: nội dung học tập được thể hiện trong nội dung, nhiệm vụ chơi, trẻ giải quyết được các nhiệm
vụ chơi tức là giải quyết được nhiệm vụ học tập Như vậy giờ học trở nên nhẹ nhàng, thoải mái và phát huy được tính tích cực của trẻ, giáo dục được ý thức bản thân của trẻ, tránh được sự phổ thông hóa trong việc tổ chức hoạt động học tập cho trẻ ở trường mầm non Trong một chừng mực nào đó, trò chơi học tập vừa là phương tiện , vừa hình thức để rèn luyện kĩ năng giữ an toàn thân thể cho trẻ