1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

72 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Và Sử Dụng Bài Giảng Điện Tử Nhằm Hình Thành Biểu Tượng Kích Thước Cho Trẻ Mẫu Giáo
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Giáo Dục Mầm Non
Thể loại khóa luận
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về lý luận - Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học cho trẻ em nói chung, hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo nói riêng.. Mục tiêu nghi

Trang 1

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của để tài

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Mục tiêu của giáo dục mầm non là hình thành cơ sở ban đầu về phát triển nhân cách con người toàn diện Hình thành các biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ mầm non là một nội dung quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non Nó cung cấp cho trẻ những biểu tượng đơn giản, ban đầu về tập hợp, số lượng- phép đếm, kích thước, hình dạng, không gian, thời gian Từ đó tạo nền tảng vững chắc chuẩn

bị cho trẻ vào học ở trường phổ thông Nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non gồm 5 mạch kiến thức chính: Số lượng – phép đếm, hình dạng, kích thước, không gian, thời gian Trong đó, nội dung hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non là một nội dung khác quan trọng và tương đối khó Nó cung cấp cho trẻ những biểu tượng kích thước cụ thể như chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớn…ở một đối tượng hay một nhóm đối tượng Nội dung này có liên quan chặt chẽ với các nội dung khác góp phần tạo nên một chỉnh thể thống nhất, toàn diện trong nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ

Nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ nói chung và nội dung hình thành biểu tượng, kích thước cho trẻ nói riêng là tương đối khó so với các nội dung học khác Để nội dung toán đó gần gũi, dễ hiểu, ta cần chú ý tới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học thích hợp cho trẻ mầm non Một trong những cách

đó là sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, cụ thể là sử dụng các thiết bị kĩ thuật hiện đại, các phần mềm dạy học để hỗ trợ cho việc thiết kế giáo án,

sử dụng bài giảng điện tử vào hoạt động giảng dạy trên lớp

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Nhiều tác giả đã nghiên cứu về thiết kế

và sử dụng bài giảng điện tử nói chung, áp dụng trong dạy học các môn học ở trường tiểu học và Mầm non nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non thông qua sự hỗ trợ của bài giảng điện tử

Vì vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo” nhằm

góp phần thực hiện định hướng đổi mới Giáo dục Mầm non

Trang 2

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Về lý luận

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học cho

trẻ em nói chung, hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo nói riêng

- Đề xuất được quy trình thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

2.2 Về thực tiễn

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, giáo viên ngành Giáo dục mầm non những ai quan tâm đến vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy trẻ mẫu giáo làm quen với toán

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất được quy trình sử dụng bài giảng điện tử trong hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo và thiết kế một số giáo án minh họa theo quy trình đã đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử hình

thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

4.2 Tìm hiểu thực trạng thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử hình thành biểu

tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo ở một số trường Mầm non Thị Xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

4.3 Đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử hình thành biểu

tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

4.4 Tiến hành thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của

quy trình thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử đã đề xuất

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Quan hệ giữa bài giảng điện tử và hoạt động làm quen với biểu tượng kích

thước của trẻ mẫu giáo

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử trong hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

Trang 3

Phạm vi khảo sát thực tiễn: Tiến hành khảo sát tại trường Mầm nonPhong Châu- thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

Tiến hành thử nghiệm sư phạm tại trường Mầm non Phong Châu, Thị Xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài nhằm xây dựng

cơ sở lí luận cho đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm

Dự giờ, quan sát hoạt động của giáo viên, của trẻ trong việc tổ chức hoạt động học hình thành biểu tượng kích thước của trẻ mẫu giáo để xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài

6.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket

Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên mầm non nhằm mục đích điều tra thực trạng, tìm hiểu việc tổ chức hoạt động học về biểu tượng kích thước cho trẻ em mẫu giáo

6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sử dụng các thiết kế, cách sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo định hướng không gian để kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết đã đưa ra

6.2.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng để xử lí số liệu điều tra và thực nghiệm

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và phần mềm dạy học nói riêng trong dạy học ở các cấp học mà đặc biệt là ở bậc học mầm non theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và triển khai ứng dụng Cụ thể:

1.1.1 Trên thế giới

Ở Canada, năm 1971, tác giả Hess.R.D và Tenezakis.M.D- trường đại học Sanford đã nghiên cứu ảnh hưởng của giảng giạy với sự trợ giúp của máy tính đến xã hội Kết quả nghiên cứu cho thấy việc dạy học bằng máy tính cho học sinh cao hơn học sinh chỉ được tiếp nhận thông tin theo phương pháp truyền thống

Ở Mỹ, tác giả Grimrs.D.M nghiên cưú “ Việc sử dụng máy tính trong giảng dạy ở trường công ở California” (1977) Tác giả bàn luận nhiều khía cạnh của việc sử dụng máy tính trong trường học ở California, đề cập tới tính hiệu quả, những khó khăn khi sử dụng, yếu tố chi phí, tiềm năng giáo dục và các nguồn thông tin khác

Như vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin- truyền thông trong dạy học đã trở nên quen thuộc Người ta không còn tranh cãi nhiều về tính hiệu quả của nó trong việc góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục mà tập trung nghiên cứu để làm sao nâng cao tính ưu việt, giảm thiểu những tác dụng ngược chiều có thể nảy sinh Điểm qua những kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy:

Giáo dục và giảng dạy bằng máy tính là những thuật ngữ rộng, có thể

đề cập tới bất kỳ loại công dụng nào trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm luyện tập và thực hành, hướng dẫn, mô phỏng được chính người dạy đề xuất hay xem như phần bổ sung, lập chương trình, phát triển cơ sở dữ liệu, xử lý văn bản và các ứng dụng khác Những thuật ngữ này cũng có thể đề cập tới các hoạt động học tập được giáo viên sử dụng máy tính để giảng dạy

Trang 6

Giảng dạy với sự trợ giúp của máy tính là một thuật ngữ mang nghĩa hẹp và thường được dùng để đề cập tới các hoạt động luyện tập và thực hành, hướng dẫn hay mô phỏng được chính người dạy đề xuất hay như xem như phần bổ sung cho phương pháp dạy học truyền thống Các ứng dụng của việc giảng giải với sự trợ giúp của máy tính có thể được sử dụng trên nhiều máy tính và hệ điều hành khác nhau

Những kết quả đã đạt được của một số lĩnh vực nghiên cứu tổng quát về chương trình giảng dạy với sự trợ giúp của máy tính trên thế giới

Về tốc độ học tập: Các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy rằng giáo dục dựa vào máy tính tăng cưởng tốc độ học tập, tốc độ của học sinh nhanh hơn so với phương pháp truyền thống, học sinh học cùng số lượng tài liệu trong khoảng thời gian ít hơn học sinh theo phương pháp truyền thống, học sinh được học nhiều hơn trong cùng thời gian Công trình của Capper and Coppe (1985) đã kết luận: Những người sử dụng với sự trợ giúp của máy tính đôi khi học nhanh hơn những người học theo phương pháp truyền thống với sự hướng dẫn của giáo viên gấp 40%

Về khả năng ghi nhớ trong học tập: Nghiên cứu so sánh về việc ghi nhớ trong học tập, học sinh được học với sự trợ giúp của máy tính nhanh hơn và tốt hơn những học sinh học theo phương pháp truyền thống

Về thái độ học tập: Nhiều nghiên cứu đã khảo sát những tác dụng, ứng dụng của máy tính lên kết quả học tập của học sinh, thái độ tiếp nhận kiến thức của học sinh Đa số các nghiên cứu đã kết luận rằng việc giáo dục dựa vào máy tính tạo nên sự hứng thú, ham tìm hiểu, thái độ tích cực của học sinh hơn

là sử dụng cách dạy truyền thống

Về tính hiệu quả đối với các đối tượng học tập: Đa số các nghiên cứu cho thấy giáo dục dựa vào máy tính có lợi cho người nhỏ tuổi hơn so với người lớn tuổi Mức độ tác động giảm từ bậc học mầm non đến bậc học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông Giáo dục dựa vào máy tính có hiệu quả hơn với học sinh có khả năng lĩnh hội thấp so với học sinh có khả năng lĩnh hội cao hơn Cả hai đối tượng đều có lợi từ hình thức giáo dục này, tuy nhiên, giống những lợi ích mà học sinh nhỏ tuổi thu được, những lợi ích tương đối lớn hơn do học sinh có khả năng tiếp thu thấp hơn chủ yếu là do hai nhóm

Trang 7

này có nhu cầu đối với các yếu tố chung của đa số chương trình giáo dục dựa vào máy tính- các hoạt động luyện tập thực hành tăng cường, tính riêng tư, sự phản hồi và củng cố tức thời

Về lí do người học yêu thích sự giảng dạy với phần trợ giúp của máy tính:

Sự yêu thích này giúp chúng ta hiểu lí do tại sao bài giản điện tử làm tăng thành tích học tập Học sinh thích làm việc với máy tính bởi vì máy tính

vô cùng kiên nhẫn, không bao giờ trở nên mệt mỏi, không bao giờ thất vọng hay giận giữ, cho phép làm việc cá nhân, kông bao giờ quên sửa lỗi hay khen ngợi, có tính hài hước và giải trí, cá nhân hóa việc học, điều chỉnh tốc độ bởi bản thân, không làm người học lúng túng khi phạm lỗi, giúp người đọc có thể thử nghiệm những tùy chọn khác nhau, đưa ra phản hồi tức thời, không thiên

vị sắc tộc, tuyệt vời cho việc học tập và thực hành, mức độ khó tăng dần Cập nhật thành tựu khoa học kỹ thuật tạo sự hứng thú học

Về kinh tế: Một số nghiên cứu cũng cho thấy rằng bài giảng điện tử có chi phí thấp hơn nhiều so với phương pháp dạy học truyền thống, tiết kiệm được đáng kể một số đồ dùng, thiết bị dạy học Các nhà nghiên cứu như Hawley, Fletcher, Piele đã ghi chép lại những khác nhau về chi phí giữa bài giảng điện tử và phương pháp truyền thống là đáng kể, và kết luận rằng “ Giảng dạy với sự trợ giúp của máy tính là một sự lựa chọn thay thế hiệu quả”

1.1.2 Ở Việt Nam

Từ việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến phần mềm dạy học ở 5 nguồn: Phần mềm dạy học có mặt ở thị trường, website có nội dung học tập, sách báo, đề tài nghiên cứu trọng điểm, luận án tiến sỹ

Thứ nhất: Trong 10 năm (2000-2010) đã có nhiều phần mềm dạy học xuất hiện trên thị trường Năm 2004, phần mềm dạy học các môn học: Toán,

Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử…Được triển khai tới hơn 1000 trường trung học cơ sở Các sản phẩm được đánh giá cao về nội dung, chất lượng bám sát nội dung và chương trình sách giáo khoa Đây là kết quả nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu phát triển Học liệu và Thiết bị Giáo dục thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

Trang 8

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, thị trường phần mềm giáo dục đang có nhiều tiềm năng lớn với nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú Công ty công nghệ tin học nhà trường (www.vnschool) đã đưa ra thị trường bộ sản phẩm phần mềm hỗ học tập và nâng cao kiến thức liên quan đến các môn học khoa học, toán, văn học….đã có các phần mềm liên quan đến trình độ nhận thức, kiến thức toán học của học mầm non Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở chỗ mở rộng kiến thức chứ nội dung học tập chưa bám sát chương trình giáo dục mầm non, đặc biệt là hoạt động phát triển biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non

Thứ hai, các website có nội dung về giáo dục được nhiều bạn trẻ truy cập, đó là trang web của các trường Đại học như Đại học Sư phạm Hà Nội (http://www.hnue.edu.vn), Đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh (http://hcmup.edu.vn) Một số trường quan tâm đến việc chia sẻ những bài giảng điện tử để sinh viên có thể đăng nhập và tải về Tuy nhiên, đa số những giáo án này chưa được hội đồng khoa học thẩm định, chủ yếu để giáo viên tham khảo chứ không thể ứng dụng vào thực tế nếu không biết được ý tưởng của người soạn và chưa phù hợp với từng bài giảng cụ thể để vừa đảm bảo được nội dung, vừa phù hợp đặc điểm nhận thức, đặc điểm tâm lý lứa tuổi và các bài giảng dành cho lứa tuổi mầm non còn hạn chế

Thứ ba, quán triệt các văn bản của nhà nước về dạy tin học và ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, quản lý giáo dục, các sở giáo dục đào tạo, các trường học ở phổ thông, cao đẳng, đại học đều quan tâm nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học

Theo tác giả Đào Thái Lai (2003 ), tác giả đã nghiên cứu đã đề xuất

mô hình ứng dụng công nghệ thông tin ở trường phổ thông với những yêu cầu về cơ sở vật chất và trang thiêt bị, yêu cầu về đội ngũ, yêu cầu về công tác quản lý của trường, yêu cầu về hoạt động triển khai tích hợp công nghệ thông tin trong giờ dạy học, đổi mới phương pháp dạy học

Sự xâm nhập của công nghệ thông tin và truyền thông vào lĩnh vực giáo dục làm thay đổi cách dạy, cách học trong nhà trường Không ngoại trừ khỏi vòng phủ song của công nghệ thông tin, việc dạy học ở bậc học mầm non cũng được chú trọng và có nhiều thay đổi Bài giảng điện tử được tích hợp và lồng

Trang 9

ghép vào bài dạy cho trẻ mầm non để làm tăng hiệu quả, hứng thú của học sinh mầm non khi tiếp nhận vấn đề Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học toán cho trẻ mầm non và đặc biệt là việc hình thành biêu tượng kích thước cho trẻ chưa có nghiều thành tựu, chưa có nghiên cứu sâu dành cho vấn đề này

1.2 Khái quát về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.2.1 Khái niệm về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học

Khái niệm: Công nghệ Thông tin là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993:

"Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện

và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"

Khái niệm: Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là việc sử dụng

kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác, sáng tạo có hiệu quả công nghệ điện tử vào chương trình dạy và học Vừa đáp ứng được nhu cầu đổi mới, hiện đại cùng sự phát triển phương pháp giáo dục toàn cầu, vừa nâng cao hiệu quả dạy học, giúp học sinh tiếp cận vấn đề một cách sinh động, dễ hiểu

1.2.2 Khả năng và định hướng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học

Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin được coi là một trong những ngành khoa học phát triển với tốc độ nhanh nhất Được như vậy vì đây là một ngành khoa học phục vụ và mang lại hiệu quả rõ rệt cho hầu hết các ngành nghề khác nhau trong xã hội Tuy vậy, tại Việt Nam, tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin có thể mang lại cho giáo dục chưa được khai thác một cách thoả đáng Xét cho quá trình giáo dục, với sự đa dạng và phong phú của các phần mềm dạy học, công nghệ thông tin hoàn toàn có thể trợ giúp cho quá trình dạy học bởi những lý do dưới đây:

Thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học sẽ khiến máy tính

Trang 10

trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình dạy học, cụ thể là:

Khả năng biểu diễn thông tin: Máy tính có thể cung cấp thông tin dưới dạng

văn bản, đồ thị, hình ảnh, âm thanh Sự tích hợp này của máy tính cho phép mở rộng khả năng biểu diễn thông tin, nâng cao việc trực quan hoá tài liệu dạy học

Khả năng giải quyết trong một khối thống nhất các quá trình thông tin, giao lưu và điều khiển trong dạy học: Dưới góc độ điều khiển học thì quá trình dạy học

là một quá trình điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Với một chương trình phù hợp, máy tính có thể điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh trong việc cung cấp thông tin, thu nhận thông tin ngược, xử lý thông tin và đưa ra các giải pháp cần thiết giúp hoạt động nhận thức của học sinh đạt kết quả cao

Tính lặp lại trong dạy học: Khác với giáo viên, máy tính có thể lưu trữ một

thông tin nào đó, cung cấp và lặp lại nó cho học sinh đến mức đạt được mục đích sư phạm cần thiết Trên cơ sở này, sự phát triển của từng cá thể học sinh trong quá trình dạy học trở thành hiện thực Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc cá thể hoá trong quá trình dạy học

Khả năng mô hình hoá các đối tượng: Đây chính là khả năng lớn nhất của

máy tính Nó có thể mô hình hoá các đối tượng, xây dựng các phương án khác nhau,

so sánh chúng từ đó tạo ra phương án tối ưu Thật vậy, có nhiều vấn đề, hiện tượng không thể truyền tải được bởi các mô hình thông thường, ví như các quá trình xảy

ra trong lò phản ứng hạt nhân, hiện tượng diễn ra trong xilanh của động cơ đốt trong, từ trường quay trong động cơ không đồng bộ ba pha, chuyển động của điện

tử xung quanh hạt nhân trong khi đó máy tính hoàn toàn có thể mô phỏng chúng

Khả năng lưu trữ và khai thác thông tin: Với bộ nhớ ngoài có dung lượng

như hiện nay, máy tính có thể lưu trữ một lượng lớn dữ liệu Điều này cho phép thành lập các ngân hàng dữ liệu Các máy tính còn có thể kết nối với nhau tạo thành các mạng cục bộ hay kết nối với mạng thông tin toàn cầu Internet Đó chính là những tiền đề giúp giáo viên và học sinh dễ dàng chia sẻ và khai thác thông tin cũng như xử lý chúng có hiệu quả

Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có thể hỗ trợ cho

nhiều hình thức dạy học khác nhau như dạy học giáp mặt (face to face); dạy học từ

xa (distance learning); phòng đào tạo trực tuyến (online training lab); học dựa trên công nghệ web (web based training); học điện tử (e-learning) đáp ứng được nhu

Trang 11

cầu học tập ngày càng cao của các thành phần khác nhau trong xã hội

Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học dẫn đến việc giao

cho máy tính thực hiện một số chức năng của người thầy giáo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học Nhờ đó, có thể xây dựng những chương trình dạy học mà ở đó máy thay thế một số công việc của người giáo viên Cách dạy này đã thể hiện nhiều ưu điểm về mặt sư phạm như khuyến khích sự làm việc độc lập của học sinh, đảm bảo mối liên hệ ngược và cá biệt hoá quá trình học tập

1.2.3 Tác động của công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo

Chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng: cách mạng khoa học – kỹ thuật (CMKH-KT) và cách mạng xã hội Những cuộc cách mạng này đang phát triển như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người, thúc đẩy nhiều lĩnh vực, có bước tiến mạnh mẽ và đang mở ra nhiều triển vọng lớn lao khi loài người bước vào thế kỷ XXI

Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc CMKH-KT hiện nay Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác Trong giáo dục – đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội

và nhân văn Hiệu quả rõ rệt là chất lựơng giáo dục tăng lên cả về mặt lý thuyết và thực hành Vì thế, nó là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT ” Như vậy, ICT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong đổi mới phương pháp DH (PPDH), đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạng giáo dục, vì nhờ có cuộc cách mạng này

mà giáo dục đã có thể thực hiện được các tiêu chí mới:

Học mọi nơi (any where)

Học mọi lúc (any time)

Học suốt đời (life long)

Dạy cho mọi người (any one) và mọi trình độ tiếp thu khác nhau

* Thay đổi vai trò của người dạy, người học, đổi mới cách dạy và cách học:

Trang 12

Ở nước ta, vấn đề ứng dụng ICT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và

Nhà nước rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện

kỹ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõ điều này, như: Nghị quyết

CP của Chính phủ về chương trình quốc gia đưa công nghệ thông tin (CNTT) vào giáo dục đào tạo (1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Luật giáo dục (1998)

và Luật giáo dục sửa đổi (2005), Nghị quyết 81 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị

29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010,… Quyết định số 698/QĐ-TTG ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020

Chỉ thị số 15/CT-TTG ngày 22 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ

về việc tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012

Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục

Chỉ thị số 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 nêu rõ “CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội hóa học tập”, nhưng “giáo dục

và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển của CNTT ” Trong “Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2010” của Bộ Giáo dục – Đào tạo đã yêu cầu ngành giáo dục phải từng bước phát triển giáo dục dựa trên CNTT, vì “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lý

hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học”

* Tính sư phạm trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học:

Trang 13

Đối với nghề dạy học, tiêu chí của bài học không giống như những bài thuyết trình, những bản báo cáo Đối tượng dạy học lại hoàn toàn không như các đối tượng Hội nghị, Hội thảo Cho nên, việc chuẩn bị một bài giảng có ứng dụng CNTT cần đảm bảo không những tính nội dung (khoa học) mà còn phải đặt mạnh tiêu chí về tính sư phạm Tính sư phạm ở đây bao gồm: sự phù hợp về mặt tâm sinh lí học sinh (HS), tính thẩm mĩ của trang trình chiếu, sự thể hiện nhuần nhuyễn các nguyên tắc dạy học và các phương pháp dạy học (PPDH) Vì vậy, người giáo viên (GV) muốn sử dụng CNTT để dạy học có hiệu quả thì không những phải có kiến thức tối thiểu về các phần mềm (không phải chỉ đơn thuần là

“viết” chữ lên các trang trình chiếu) mà còn cần phải có ý thức sư phạm, kiến thức về lí luận dạy học và về các PPDH tích cực, sau đó mới là sự linh hoạt và sáng tạo trong thiết kế các trang trình chiếu sao cho hấp dẫn một cách có ý nghĩa

Sử dụng máy tính để dạy học là một trong những hướng thay đổi PPDH trong nhà trường chúng ta hiện nay, trong đó, việc giảng bằng các trang trình chiếu PowerPoint đang được nhiều GV thực hiện Đương nhiên, không phải và cũng không cần thiết biến mọi tiết dạy trở thành giờ học bằng máy tính, cho dù ở trường nào đó có đủ khả năng về cơ sở vật chất cũng như các kĩ năng thích hợp cho công việc Mỗi giáo viên cần chọn tiết học sao cho nếu đưa nó lên trang trình chiếu PowerPoint thì sẽ tận dụng được tối đa ưu việt của máy tính về phương diện cung cấp thông tin cho người học, về tính hấp dẫn của của bài giảng, chí ít cũng có hiệu quả hơn bài giảng với bảng viết thông thường Cần tránh việc chạy theo phong trào để rồi bài giảng thiếu chất lượng, lạm dụng các hiệu ứng trong phần mềm PowerPoint làm người học bị phân tán sự chú ý Cũng không nên tầm thường hoá việc dạy bằng PowerPoint Như vậy có nghĩa là, sử dụng máy tính

để dạy học phải đạt được yêu cầu cao nhất là:hiệu quả giờ học

1.2.4 Các mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học:

Những năm gần đây, phong trào giảng dạy bằng GAĐT đã nở rộ trong các cấp học và ở nhiều địa phương khác nhau trên cả nước Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về GAĐT

Dưới góc độ kỹ thuật, GAĐT là giáo án được thiết kế trên máy tính chạy trên nền (hoặc sự hỗ trợ) của một số phần mềm chuyên dụng khác như: Máy ảnh

kỹ thuật số, scanner, projecter…và được trình chiếu cho trẻ xem qua hệ thống

Trang 14

dạy học đa phương tiện (máy tính, máy chiếu đa năng, màn chiếu chạy đĩa CD,

vô tuyến truyền hình…)

Dưới góc độ giáo dục, GAĐT là kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được giáo viên chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi lên lớp Thể hiện được mối quan hệ tương tác giữa giáo viên với trẻ Mặt khác, quá trình dạy học lại quá trừu tượng, các loại hình thiết bị dạy học truyền thống ( tranh, ảnh, mô hình…) khó thể hiện

Vì vậy, những ứng dụng CNTT và truyền thông đang mở ra hướng tiếp cận kiến thức mới cho trẻ

Theo quan điểm của các chuyên gia UNESSCO và UNESSCO PROAP, GAĐT là một thuật ngữ dùng để mô tả việc thiết kế và thực hiện giáo án trước và trong quá trình thực hiện dạy học bằng CNTT và truyền thông Từ đó, theo các chuyên gia nhận định thì ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay có 3 mức độ

Mức độ 1: Giáo viên thiết kế giáo án có ứng dụng CNTT và truyền thông

Với mức độ này, các cán bộ quản lý giáo dục mầm non và giáo viên có trình độ tin học ở mức cơ bản đều có thể làm được Tuy nhiên, ở mức độ này trẻ chỉ được nhìn

Mức độ 2: Giáo viên thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng

dụng CNTT và truyền thông ở mức độ cơ bản Hiện nay, đa số giáo viên mầm non đang thực hiện ở mức độ này Đầu tiên, giáo viên thiết kế giáo án dạy học tích cực, những nội dung kiến thức quá trừu tượng mà thiết bị dạy học truyền thống khó thể hiện rõ sẽ được thể hiện qua ứng dụng CNTT và truyền thông VD: Mô phỏng quá trình bông hoa nở, Các đoạn video về môi trường dưới đáy đại dương…

Mức độ 3: Dựa trên giáo án dạy học tích cực thông thường, những nội dung

kiến thức nào trừu tượng với trẻ mà thiết bị dạy học truyền thống khó có thể thực hiện, hoặc không thể tiến hành được sẽ được lồng ghép vào môi trường có ứng dụng CNTT và truyền thông ở mức độ cao hơn Mức độ này yêu cầu giáo viên phải có trình độ tin học cao hơn hoặc cần phải có sự trợ giúp của người có chuyên môn về CNTT Ở mức độ này, trẻ vừa được nhìn, vừa được nghe, vừa được hoạt động tương tác

Đối với cấp học mầm non, do đặc điểm trẻ chưa biết đọc, biết viết nên việc thiết kế và sử dụng GAĐT có những đặc trưng riêng Hiện nay, rất nhiều giáo

Trang 15

viên, cán bộ quản lý tại các cơ sở mầm non chưa nắm được GAĐT là gì? Không

rõ nó khác với giáo án thông thường như thế nào? GAĐT phải mua hay giáo viên mầm non tự thiết kế được? Trong đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non còn quan niệm rằng chỉ cần làm được các slide Power Point trình chiếu lên cho trẻ xem là đã thiết kế được GAĐT

Thực chất, Giáo án điện tử không quá phức tạp như các phần mềm dạy học.Tuy nhiên, thiết kế và sử dụng GAĐT không phải đơn giản là dữ liệu được đưa vào máy tính sau đó trình chiếu hệ thống qua thiết bị dạy học cho trẻ xem mà đây là một hình thức giảng trên lớp, ở đó toàn bộ kế hoạch và hoạt động dạy học đều do giáo viên điều khiển thông qua môi trường đa phương tiện

Điều kiện để có thể thiết kế được GAĐT là cần phải đảm bảo các yêu cầu về

cơ sở vật chất như: máy tính, máy chiếu, máy ảnh kỹ thuật số, loa…Ngoài ra, giáo viên mầm non cũng phải có tâm huyết, có kiến thức và kỹ năng cơ bản về CNTT và truyền thông, chịu khó đầu thư thời gian và công sức cho bản thiết kế của mình để truyền thông tin đến trẻ dưới hoạt ảnh, ảnh chụp, âm thanh…

GAĐT không chỉ là hoạt động cung cấp kiến thức của giáo viên đến trẻ mà

là toàn bộ hoạt động dạy và học tích cực của giáo viên và học sinh, bao gồm tất

cả các tình huống có thể sảy ra Toàn bộ quá trình đã được đa phương tiện hóa một cách cho tiết được quy định bởi cấu trúc bài học

1.3 Quá trình hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

1.3.1 Vai trò của việc hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

Trước tiên, chúng ta cần hiểu rõ một số khái niệm có liên quan

“Biểu tượng” là một khái niệm được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Đứng ở mỗi góc độ trên quan điểm khác nhau ta sẽ có những định nghĩa khác nhau về nó

Theo quan điểm của Triết học duy vật biên chứng (Triết học Mác- Lê nin) thì “Biểu tượng là hình ảnh của khách thể đã được tri giác còn lưu lại trong bộ óc của con người và do một tác động nào đó được tái hiện Hay nói cách khác, biểu tượng là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Biểu tượng được hình thành sau quá trình cảm giác, tri giác, là kết quả của quá trình tri giác Nó phản ánh thế giới một cách gián tiếp”

Trang 16

Theo Từ điển Tâm lý của tác giả Vũ Dũng (2000) thì “Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai”

Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê thì “Biểu tượng là hình ảnh tưởng tượng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt”

“Kích thước” là một khái niện cơ bản của Toán học, xuất hiện từ thời cổ

và hoàn thiện trong quá trình rất lâu dài Kích thước là một khái niệm chung, tổng quát, biểu thị độ lớn của các đại lượng (có khi còn gọi là độ lớn), trực tiếp hơn là các khái niệm cụ thể như: Độ dài, thể tích, diện tích…Mỗi loại kích thước cụ thể liên quan đến một phương pháp xác định, cách so sánh và cả tính thích ứng của vật thể

“ Biểu tượng kích thước” chính là biểu tượng của sự tri giác, điều đó cũng có nghĩa là tri giác chính là cơ sở để tạo nên những biểu tượng, có tri giác kích thước thì mới có biểu tượng kích thước Nói cách khác, tri giác kích thước

là cơ sở tạo nên biểu tượng kích thước Hơn thế nữa, việc tri giác phải kĩ lưỡng, chính xác và tổng thể thì biểu tượng được hình thành mới trọn vẹn và sâu sắc

Việc hình thành biểu tượng kích thước sẽ giúp trẻ xác định độ lớn của các vật, nhận biết được các chiều kích thước (dài, rộng, cao, thấp,…) và so sánh độ lớn của các vật theo chiều kích thước đó

Việc hình thành biểu tượng kích thước cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các giác quan, đặc biệt là thị giác và xúc giác Trẻ quan sát cô làm mẫu, ước lượng độ lớn bằng mắt, sử dụng hoạt động bằng tay để thực hiện các biện pháp xếp chồng, xếp cạnh, đo…Do đó, quá trình hình thành biểu tượng kích thước cũng giúp cho các giác quan của trẻ phát triển hơn, trẻ quan sát tốt hơn, hoạt động bằng tay cũng trở nên khéo léo và chính xác hơn

Trong quá trình hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ, Giáo viên cung cấp cho trẻ một số từ mới, mở rộng vốn từ cho trẻ và giúp trẻ sử dụng

Trang 17

chính xác: Dài hơn, ngắn hơn, to hơn, nhỏ hơn, cao hơn, thấp hơn…từ đó phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ

Khi nắm được các chiều kích thước và độ lớn của vật thể sẽ góp phần thích cực chuẩn bị cho trẻ và trường phổ thông

Hình thành biểu tượng kích thước có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Từ các biểu tượng mà trẻ có được sẽ ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống của mình Ví dụ: trẻ có thể giúp đỡ mọi người lầy những đồ vật theo yêu cầu của họ như: Lấy cho mẹ cái ca to, cái bát to, cái gậy dài, chai nước mắm nhỏ…Khi đã có biểu tượng chính các về kích thước, trẻ không còn cố xô chân vào cái tất của búp bê hay đôi giầy của mẹ nữa mà trẻ có thể tự chon những đồ dung phù hợp với kích cỡ của mình hoặc người khác như: Giày, tất, mũ, găng tay, quần áo… Cùng với sự lớn lên về nhận thức các biểu tượng kích thước thì nhân thức của trẻ cũng dần hoàn thiện hơn- đó chính là vai trò to lớn của việc hình thành biểu tượng kích thước

1.3.2 Đặc điểm nhận thức biểu tượng kích thước của trẻ mẫu giáo

Ngay từ nhỏ ở trẻ đã diễn ra sự tích lũy những kinh nghiệm tri giác và xác định kích thước các vật thể Những kinh nghiệm này dần dần được tích lũy trong quá trình trẻ thao tác với đồ vật, đồ chơi có kích thước khác nhau

Khi lên một tuổi sự tri giác của trẻ dần dần trở nên ổn định, trẻ càng lớn thì tính ổn định của sự tri giác kích thước càng trở nên bền vững

Lên hai tuổi, tuy chưa nắm được ngôn ngữ tích cực nhưng trẻ đã có những phản ứng trước kích thước khác nhau của các vật và cả mối liên hệ kích thước giữa chúng Dấu hiệu kích thước thường được trẻ lĩnh hội gắn liền với vật cụ thể, quen thuộc với trẻ và đối với trẻ đó là dấu hiệu mang tính tuyệt đối Ví dụ: Trẻ luôn cho rằng chiếc ô tô của mình là to còn ô tô của bạn là nhỏ mà không cần tới sự so sánh

độ lớn giữa chúng

Trẻ 3-4 tuổi rất khó khăn để nắm được tính tương đối của khái niệm kích thước Ví dụ: Đặt trước mặt trẻ 3-4 tuổi vật giống nhau nhưng có độ lớn tăng dần, trẻ thường thực hiện rất đúng nhiệm vụ chỉ vật to nhất và vật nhỏ nhất Tuy nhiên khi cô cất vật to nhất đi rồi lại yêu cầu trẻ chỉ vật to nhất trong những số vật còn lại, thì trẻ trả lời “cô cất vật to nhất rồi” Hơn nữa trẻ thường không biết lựa chọn các

Trang 18

vật có kích thước tương ứng với nhau Ví dụ: Trẻ cố xỏ chân mình vào một chiếc tất chân của búp bê, hoặc đội mũ của mẹ, xỏ dép của chị

Sự tri giác kích thước ở trẻ ba tuổi còn thiếu tính phân định, trẻ thường chỉ định hướng tới độ lớn chung của vật mà không có sự phân tách từng chiều đo kích thước của vật Vì vậy khi yêu cầu trẻ mang ghế cao nhất cho cô trẻ thường mang ghế to nhất Tuy nhiên trẻ ba tuổi lại phân biệt đúng người lớn và trẻ em từ xa và thường thực hiện đúng nhiệm vụ được giao như: mang quả bóng to hay mang cái gậy dài

Trong ngôn ngữ thụ động của trẻ đã có những từ phản ánh sự phân biệt các chiều đo kích thước khác nhau Điều này chứng tỏ ở trẻ đã hình thành những biểu tượng kích thước và sự tri giác kích thước của trẻ nhỏ ngày càng ổn định

Ở lứa tuổi này, trẻ có khả năng phân biệt kích thước của hai vật có độ chênh lệch lớn

Lên bốn tuổi, trẻ em đã biết lựa chọn các vật theo chiều dài, chiều cao, chiều rộng của chúng một cách đúng hơn nếu sự khác biệt giữa các chiều đo đó là rõ rệt

Ví dụ: Trẻ dễ dàng xác định chiều cao của các vật khi chiều đo đó dài hơn các chiều

đo khác, nhưng trẻ khó nhận cao của các vật thấp Trẻ em thường phân biệt đúng các chiều đo cụ thể của vật khi trực tiếp so sánh sự khác biệt về chiều dài, chiều rộng hay chiều cao của hai hay ba vật Phần lớn trẻ mắc lỗi khi so sánh chiều rộng của các vật, nhầm lẫn giữa chiều rộng và chiều dài

Khi xác định từng chiều đo của vật, trẻ thường dùng đầu ngón tay sờ dọc theo chiều dài, chiều rộng của vật Các thao tác khảo sát này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ tri giác kích thước và phân tích các chiều đo của vật một cách chính xác hơn

Trong sự tri giác kích thước và diễn đạt các dấu hiệu khác nhau của kích thước vật thể, lời nói đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên sự tri giác thiếu phân định các chiều đo kích thước của vật ở trẻ nhỏ lại ảnh hưởng lớn tới sự diễn đạt kích thước bằng lời

Trẻ 4-5 tuổi thường sử dụng các từ to – nhỏ, to hơn – nhỏ hơn Phần lớn trẻ 4 tuổi không hiểu ý nghĩa của từ kích thước, nên khi hỏi trẻ về kích thước của vật nhiều trẻ trả lời màu sắc, số lượng của chúng Vì vậy khi cho trẻ làm quen với các chiều đo kích thước khác nhau, giáo viên cần chú ý sử dụng lời nói cách chính xác,

Trang 19

mạch lạc như: “Hãy tìm cái nơ có chiều dài như thế này”, “Giơ băng giấy rộng như băng giấy của cô”, tránh tình trạng giao nhiệm vụ cách chung chung Việc sử dụng một cách tùy tiện lời nói của giáo viên là tiền đề cho trẻ nhỏ học cách diễn đạt thiếu chính xác

Trẻ 4-5 tuổi đã có khả năng phân biệt được kích thước hai chiều dài của vật Ví dụ:Trẻ biết phân biệt chiều dài và chiều rộng của mặt bàn hình chữ nhật Trẻ đã có thể nắm được ý nghĩa của danh từ “kích thước” nên việc diễn đạt các từ chỉ kích thước của vật được chính xác hơn

Trẻ có khả năng phân biệt được kích thước của 2-3 vật có độ chênh lệch nhỏ Khả năng so sánh ước lượng bằng mắt về kích thước của trẻ được tăng lên

* Nhận xét:

Dạy cho trẻ 4-5 tuổi biết so sánh phân biệt của 2-3 vật theo chiều (dài – rộng – cao – bề dày) với độ chênh lệch nhỏ Dạy trẻ biết sử dụng đúng các từ chỉ mối quan

hệ kích thước của 3 vật, theo chiều tăng giảm dần về kích thước

Phát triển khả năng so sánh ước lượng bằng mắt về kích thước của vật này so với vật khác

Trẻ 5-6 tuổi có khả năng phân biệt 3 chiều kích thước (dài, rộng, cao) của vật

Trẻ có khả năng dùng thước đo để đánh giá kích thước của vật, hiểu được mối quan hệ phụ thuộc giữa “độ lớn” của thước đo với số đo kích thước của vật

“độ lớn” của thước đo càng nhỏ thì số đo kích thước của vật càng lớn

* Nhận xét: Cần dạy cho trẻ phân biệt 3 chiều kích thước của vật (dài – rộng –

cao) Dạy trẻ 5-6 tuổi các thao tác đo lường đơn giản, cho trẻ nhận thấy mối quan hệ phụ thuộc giữa thước đo với số đo kích thước vật

Tóm lại: Trẻ mẫu giáo bé rất khó khăn khi phân biệt ba chiều đo của vật,

nhiều trẻ lĩnh hội từ cao, rộng đồng nghĩa với từ to Trẻ mẫu giáo nhỡ đã biết lựa chọn các vật theo chiều dài hoặc chiều rộng nếu sự chênh lệch giữa hai chiều đo đó

là lớn Nhờ tác động dạy học, trẻ mẫu giáo lớn thực hiện đúng nhiệm vụ phân tích đúng chiều dài, chiều rộng, chiều cao của vật

1.3.3 Nội dung hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

1.3.3.1 Nội dung dạy trẻ 3-4 tuổi

Trang 20

Phát triển sự tri giác kích thước các vật, làm phong phú và hoàn thiện hơn kinh nghiệm cảm nhận kích thước của trẻ nhỏ

Dạy trẻ phân biệt, nhận biết và nắm được tên gọi của từng chiều đo, kích thước khác nhau, như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao và độ lớn của vật

Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt rõ nét về độ lớn, về chiều dài, chiều rộng và chiều cao của hai đối tượng

Dạy trẻ sử dụng đúng các từ diễn đạt sự khác biệt này như: dài hơn – ngắn hơn, rộng hơn – hẹp hơn, to hơn – nhỏ hơn, cao hơn – thấp hơn

1.3.3.2 Nội dung dạy trẻ 4-5 tuổi

Phát triển khả năng nhận biết sự khác biệt về độ lớn, chiều dài, chiều rộng, chiều cao của hai đối tượng trên cơ sở ước lượng kích thước của chúng

Dạy trẻ so sánh, nhận biết mối quan hệ kích thước của hai đối tượng về độ lớn, về

bề rộng, về chiều cao, về chiều dài

Dạy trẻ so sánh sắp thứ tự về độ lớn, về chiều dài, về bề rộng, về chiều cao của 3 đối tượng Dạy trẻ cách diễn đạt mối quan hệ này

1.3.3.3 Nội dung dạy trẻ 5-6 tuổi

Củng cố và phát triển kỹ năng so sánh kích thước của các đối tượng bằng các biện pháp: xếp chồng, xếp cạnh và ước lượng kích thước bằng mắt

Củng cố, phát triển kỹ năng sắp xếp các vật theo trình tự kích thước tăng dần hoặc giảm dần và phản ảnh mối quan hệ kích thước của chúng bằng lời nói Dạy trẻ các thao tác đo lường đơn giản (bằng các đơn vị đo quy ước) và sử dụng các thao tác đo lường đơn giản vào các hoạt động thực hành để nhận biết mối quan

hệ về kích thước theo từng chiều giữa các đối tượng hoặc giữa các chiều trên một đối tượng

1.3.4 Phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

1.3.4.1 Phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ dưới 3 tuổi

Cần cho trẻ chơi các đồ vật, đồ chơi có kích thước to – nhỏ khác nhau, trong quá

trình trẻ chơi giáo viên cần hướng sựu chú ý của trẻ tới độ lớn của vật cùng với việc sửu dụng các từ to – nhỏ để diễn đạt độ lớn của chúng Ví dụ: Quả bóng to, quả

bóng nhỏ, ô tô to, ô tô nhỏ

Sử dụng trò chơi học tập là phương pháp chính để để hình thành biểu tượng về

kích thước cho trẻ dưới 3 tuổi, tổ chúc cho trẻ chơi các trò chơi tập như: Xâu vòng

Trang 21

từ hột to – nhỏ, lắp khối tháp từ các bánh xe to – nhỏ Khi tổ chức chơi, giáo viên

có thể đưa yếu tố thi đua vào việc thực hiện nhiệm vụ nhận biết kích thước cho trẻ

Để dạy trẻ xác định độ lớn của vật, giáo viên cần sử dụng vật chuẩn và yêu cầu trẻ so sánh độ lớn của vật khác với độ lớn của vật chuẩn, cho trẻ chơi trò chơi như

“Chọn quần áo, giày dép cho búp bê”

Để củng cố những biểu tượng về kích thước và khả năng nhận biết của các vật, giáo viên có thể cho trẻ xem tranh ảnh Ngoài ra, giáo viên cần củng cố kỹ năng nhận biết kích thước của vật trong quá trình tổ chức các hoạt động có sản phẩm cho trẻ như: Vẽ, nặn hay qua các trò chơi độc lập và các tình huống cuộc sống của trẻ

1.3.4.2 Phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo bé (3-4 tuổi)

* Dạy trẻ trên giờ học:

Dạy trẻ nhận ra sự khác biệt về kích thước của hai đối tượng bằng trực giác: ở lứa tuổi này do động tác tay chưa thành thạo, khả năng ước lượng bằng mắt còn kém, vì vậy cô không sử dụng kỹ năng so sánh để dạy trẻ Cô nên tạo tình huống bằng các hoạt động hằng ngày mà trẻ vẫn thường làm nhưng có yêu cầu cao hơn để khi thực hiện nhiệm vụ của cô giáo, trẻ không thể thực hiện hết yêu cầu của cô Lý

do là vì có sự khác biệt về kích thước của các đối tượng Từ đó trẻ nắm được các biểu tượng của từng loại kích thước Sau khi trẻ phát hiện được sự khác biệt trong khi hoạt động, cô giáo dùng kỹ năng so sánh bằng cách đặt chồng hoặc đặt kề hai đối tượng với nhau và chỉ cho trẻ sự khác biệt này và giải thích để trẻ hiểu ý nghĩa

sự khác biệt của từng loại kích thước

Ví dụ: Cô cho trẻ chơi “hái hoa – bắt bướm” thì trẻ hái được hoa vì hoa thấp, không bắt được bướm vì bướm bay trên cao nên chỉ cô bắt được, kết luận “cô cao hơn cháu còn cháu thấp hơn cô”, cô gọi một vài trẻ để các bạn nhìn rõ kết quả và cô chỉ cho trẻ thấy phần cao hơn của cô so với trẻ

Trong giai đoạn này không yêu cầu trẻ sử dụng kỹ năng so sánh để kiểm tra kết

Trang 22

Cho trẻ luyện tập nhận ra sự khác biệt về kích thước của hai đối tượng Phát cho mỗi trẻ các đối tượng theo từng cặp:

+ Cô đưa đồ vật, trẻ nói kích thước

+ Cô nói kích thước, trẻ chọn đồ vật giơ lên và nói màu sắc

+ Cô nói màu sắc, trẻ chọn đồ vật giơ lên và nói kích thước

Khi trẻ chọn đồ vật giơ lên cô nên cho trẻ dùng tay chỉ theo chiều cần so sánh của

đối tượng, vừa chỉ vừa nói càng nhiều lần càng tốt, chỉ chiều dài hay chiều rộng của

đối tượng tay theo hướng từ trái sang phải dọc theo vật, chỉ chiều cao từ trên xuống

dưới hay từ dưới lên trên

- Cho trẻ liên hệ với thực tế xung quanh:

Các cặp đối tượng của từng loại kích thước phải để gần nhau hoặc để chồng lên

nhau ở các vị trí trẻ dễ quan sát

- Lúc đầu cô có thể nêu tên đối tượng và vị trí đặt còn trẻ nói kết quả Ví dụ so sánh

mủ của cô và của cháu

- Sau đó cô nêu vị trí cho trẻ đi tìm các cặp đối tượng và nói kết quả Khi trẻ đã

nhận biết thành thạo, cô có thể hướng dẫn trẻ tập giải thích và làm thao tác so sánh

* Dạy trẻ trong các giờ khác, trong các hoạt động khác:

- Cho trẻ tạo nên những đồ vật có sự khác biệt rỏ nét về kích thước qua các hoạt

động xếp hình, vẽ, nặn

- Cho trẻ luyện tập nhận biết sự khác biệt và diển đạt sự khác biệt về kích thước

trong các trò chơi

- Trong sinh hoạt hàng ngày, cô chú ý hướng trẻ vào việc nhận xét mối quan hệ

kích thước của các đồ vật mà trẻ thường gặp Ví dụ: Ấm đựng nước to hơn chén,

bát đượng thức ăn to hơn bát ăn cơm, cô cao hơn cháu, bàn cao hơn ghế

1.3.4.3 .Phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5

tuổi)

*Dạy trên giờ học:

- Dạy trẻ kỹ năng so sánh kích thước

- Dạy trẻ so sánh độ dài:

+ Đối với các vật cứng: Thước kẻ, bút chì, que tính sử dụng biện pháp xếp

chồng hoặc xếp kề các đối tượng cạnh nhau theo chiều cần so sánh sao cho một đầu

các đối tượng trùng nhau

Trang 23

+ Đối với các vật mềm: Dây len, dây nơ bằng giấy mỏng không đặt trên mặt phẳng mà có thể dùng tay cầm một đầu các đối tượng và điều chỉnh cho 2 đối tượng song song với nhau Nếu đầu còn lại đối tượng nào có phần thừa ra, đối tượng đó dài hợn, đối tượng còn lại ngắn hơn

- Dạy trẻ so sánh bề rộng:

+ Nếu 2 đối tượng bằng nhau hoặc có thể nằm trọn trong nhau, sử dụng biện pháp đặt 2 đối tượng lên nhau: Đối tượng nào có phần thừa ra thì đối tượng đó rộng hơn, đối tượng còn lại la hẹp hơn Nếu cả 2 đối tượng không có phần thừa ra thì 2 đối tượng là rộng bằng nhau

+ Nếu các đối tượng là hình vuông hay hình chữ nhật, cô hướng trẻ cách đặt 2 canh liên tiếp để dể so sánh

- Dạy trẻ so sánh chiều cao: Chiều cao của 2 đối tượng:

Dạy trẻ so sánh bằng cách đặt 2 đối tượng theo chiều thẳng đứng trên cùng 1 mặt phẳng, hoặc chọn các đối tượng trên cùng mặt phẳng để so sánh

- Dạy trẻ so sánh độ lớn của 2 đối tượng:

+ Những đối tượng có độ lớn đề cập là diện tích và chúng có thể đặt trùng khít hoặc nằm trọn trong nhau dạy trẻ so sánh bằng cách đặt chồng lên nhau Khi đó, nếu chúng trùng khít thì 2 đối tượng to bằng nhau, nếu có 1 đối tượng nằm trọn trong đối tượng kia thì chúng không to bằng nhau

+ Những đối tượng mà độ lớn đề cập là diện tích và không trùng nhau hoặc nằm trọn trong nhau ta dạy trẻ so sánh bằng cách đặt canh nhau và ước lượng bằng mắt

- Dạy trẻ so sánh: Cô cho trẻ học cách so sánh để nhận biết được cách giống nhau và khác nhau của 2 đối tượng Giờ học theo trình tự

+ Trẻ sử dụng kỹ năng so sánh mà trẻ đã có để so sánh từng cặp hàng đối tượng có kích thước giống nhau

+ Cô giáo chỉnh sửa kỹ năng cho trẻ

+ Trẻ luyện tập so sánh tìm ra đối tượng có sự khác nhau về kích thước diển đạt mối quan hệ này

* Dạy trẻ trong các giờ khác, trong các hoạt động khác:

- Cô tạo điều kiện để trẻ được tạo nên các đối tượng có kích thước khác nhau trong các hoạt động của trẻ khi chơi, khi học

Trang 24

- Cô hướng dẩn trẻ các cách so sánh trong hoạt động thực tiễn của trẻ:

- So sánh bằng cách đặt 1 phía trùng khít và so sánh bằng cách đặt một đối tượng nằm trọn trong đối tượng kia

- Cô cùng cho trẻ được chơi các trò chơi nhằm luyện kỷ năng diển đạt mối quan hệ kích thước và giải thich mối quan hệ này Chẳng hạn, nơ hồng dài hơn nơ

đỏ vì khi cháu đặt 2 nơ cạnh nhau, nơ hồng thừa ra một đoạn

1.3.4.4 Phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Nhiệm vụ của cô giáo khi dạy trẻ mẫu giáo lớn về biểu tượng kích

thước là dạy trẻ hành động đo lường đơn giản từ đó có thể định lượng kích thước của các đối tượng qua số đo của chúng với cùng 1 đơn vị đo

* Dạy trong giờ học toán:

Dạy trẻ đo: điều đầu tiên cần biết là phải có đơn vị đo Đo là một hoạt động có quá trình đo và có kết quả đo – số đo của kích thước đối tượng với đơn vị đo nào

Đặt một đầu của thước đo trùng với một đầu của vật cần đo theo chiều cần đo Với việc đo chiều dài, chiều rộng đo từ trái sang phải Nếu đo chiều cao có thể đo từ dưới lên trên Chú ý đặt thước đo sao cho cạnh của thước đo sát với cạnh của vật cần đo

Đánh dấu đầu kia của thước đo trên vật cần đo và nhấc thước đo ra

Đặt tiếp thước đo theo chiều cần đo, sát với cạnh của vật cần đo sao cho một đầu của thước đo trùng với vạch đánh dấu tiếp đầu kia và nhấc thước đo ra Tiếp tục làm cho đến hết

Luyện tập đo:

Cô cho trẻ thực hành đo nhiều đối tượng có kích thước bằng nhau bằng cùng đơn vị đo để trẻ nhận xét các đối tượng này đều có số đo giống nhau cùng đo được mấy lần

Trang 25

Cô cùng trẻ thực hành đo các đối tượng có độ dài khác nhau bằng cùng đơn vị

đo để trẻ nhận thấy chúng có số đo khác nhau, vật nào dài hơn thì đo được nhiều lần hơn

Cô cho trẻ thực hành đo trên cùng một đối tượng, hoặc trên các đối tượng có kích thước bằng nhau, nhưng với các đơn vị đo khác nhau để trẻ nhận thấy kết quả

đo khác nhau nếu đơn vị đo là khác nhau

* Dạy trong các giờ khác, trong các hoạt động khác:

Cô cho trẻ được thực hành đo trong hoạt động hàng ngày như yêu cầu của phần

Cô cho trẻ thực hành đo với các thước đo khác như: Gang tay, bước chân, thực hành đo các chiều cao, chiều rộng, chiều dài của các đồ

1.2.5 Kết quả mong đợi hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

Theo thông tư số 17/2009/TT- BGDĐT của Bộ Giáo dục, giáo dục mầm non

là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát

triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền

tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối

đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời

Hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non là một hoạt động rất quan trọng trong chuỗi các hoạt động để trẻ phát triển toàn diện Ngoài tuân thủ và

sử dụng linh hoạt nội dung, phương pháp hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ Còn phải chú ý đến kết quả mong đợi đạt được cho từng nhóm trẻ Cụ thể:

Bảng 1.2 Kết quả mong đợi hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo theo thông tư số 17/2009/TT- BGDĐTcủa Bộ Giáo dục

- Sử dụng dụng

cụ để đo độ dài, dung tích của 2 đối tượng, nói kết quả đo và so sánh

- Sử dụng một

số dụng cụ để

đo, đong và so sánh, nói kết quả

Trang 26

1.4 Vấn đề sử dụng bài giảng điện tử hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

1.4.1 Khái niệm về bài giảng điện tử

“Bài giảng điện tử” là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Cần lưu ý bài giảng điện tử không phải đơn thuần là các kiến thức mà học sinh ghi vào tập mà đó là toàn bộ hoạt động

“dạy và học” - tất cả các tình huống sẽ xãy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh Bài giàng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế “bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp

Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa Multimedia được hiểu

là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản (text), đồ hoạ (graphics), hoạt ảnh (animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip)

Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử

Xét theo quan điểm sư phạm, giáo án điện tử là một tổ hợp các thành tố nội dung và phương pháp dạy học cho một bài học cụ thể Tuy nhiên, giáo án điện tử

không chỉ đơn thuần là sự tập hợp các thông tin, dữ liệu được số hóa kèm theo đa phương tiện Mỗi giáo án điện tử được coi như là sự trợ giúp cho người học chiếm lĩnh hệ thống các vấn đề lý thuyết, hình thành những thao tác, kỹ năng cụ thể theo một mục tiêu đã định sẵn thông qua các con đường lĩnh hội kiến thức và kỹ năng

Về tổng thể, mô hình của bài giảng điện tử có thể bao gồm các thành phần sau:

Trang 27

- Thông tin chung về bài giảng

- Giáo trình, sách giáo khoa điện tử (các văn bản, nguồn tài liệu phục vụ dạy học, nội dung bài học, tài liệu tham khảo đã được số hóa)

- Sách chỉ dẫn điện tử (văn bản, từ điển chú giải thuật ngữ đã được số hóa)

- Hệ thống luyện tập, thực hành (các phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo, bài tập mô phỏng )

- Hệ thống kiểm tra đánh giá

1.4.2 Điều kiện để sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học

Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngành giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào giảng dạy

Hiện nay các trường mầm non có điều kiện đầu tư và trang bị Tivi, đầu Video, xây dựng phòng đa năng với hệ thống máy tính và máy chiếu, nối mạng internet Một số trường còn trang bị thêm máy quay phim, chụp ảnh, tạo điều kiện cho giáo viên mầm non có thể ứng dụng CNTT vào giảng dạy Qua đó người giáo viên mầm non không những phát huy được tối đa khả năng làm việc của mình mà còn trở thành một người giáo viên năng động, sáng tạo và hiện đại, phù hợp với sự phát triển của người giáo viên nhân dân trong thời đại CNTT

Công nghệ thông tin phát triển đã mở ra những hướng đi mới cho ngành giáo dục trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học Công nghệ thông tin phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của hàng loạt các phần mềm giáo dục và có rất nhiều những phần mềm hữu ích cho người giáo viên mầm non như Bộ Office, Lesson Editor/ Violet, Active Primary, Flash, Photoshop, Converter, Kispix,

Kismas, Các phần mềm này rất tiện ích và trở thành một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc thiết kế giáo án điện tử và giảng dạy trên máy tính, máy chiếu, bảng tương tác cũng như trên các thiết bị hỗ trợ khác như Tivi, đầu Video vừa tiết kiệm được thời gian cho người giáo viên mầm non, vừa tiết kiệm được chi phí cho nhà trường

mà vẫn nâng cao được tính sinh động, hiệu quả của giờ dạy Nếu trước đây giáo viên mầm non phải rất vất vả để có thể tìm kiếm những hình ảnh, biểu tượng, đồ dùng phục vụ bài giảng thì hiện nay với ứng dụng CNTT giáo viên có thể sử dụng Internet để chủ động khai thác tài nguyên giáo dục phong phú, chủ động quay phim, chụp ảnh làm tư liệu cho bài giảng điện tử Chỉ cần vài cái "nhấp chuột" là hình ảnh

Trang 28

những con vật ngộ nghĩnh, những bông hoa đủ màu sắc, những hàng chữ biết đi và những con số biết nhảy theo nhạc hiện ngay ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lập tức thu hút được sự chú ý và kích thích hứng thú của học sinh vì được chủ động hoạt động nhiều hơn để khám phá nội dung bài giảng Đây có thể coi là một phương pháp ưu việt vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên lý giáo dục của Vưgotxki "Dạy học lấy học sinh làm trung tâm" một cách dễ dàng

Có thể thấy ứng dụng của công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non đã tạo

ra một biến đổi về chất trong hiệu quả giảng dạy của ngành giáo dục mầm non, tạo

ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao giữa giáo viên và học sinh

1.4.2 Sử dụng bài giảng điện tử trong hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

1.4.2.1 Ưu điểm của việc sử dụng bài giảng điện tử trong hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

Phương pháp dạy học bằng CNTT trong giáo dục mầm non tạo ra một môi trường dạy học tương tác cao, sống động, hứng thú và đạt hiệu quả cao của quá trình dạy học đa giác quan cho trẻ

Nội dung, tư liệu bài giảng giới thiệu cho trẻ mang tính chân thực, phong phú Trong bài giảng điện tử trẻ có thể làm quen với những hiện tượng tự nhiên, xã hội mà trẻ khó có thể tự bắt gặp trong thực tế

Giáo viên mầm non có thể chủ động khai thác tìm kiếm nguồn tài nguyên giáo dục qua mạng thông tin truyền thông, Internet, Nguồn tài nguyên vô cùng phong phú với hình ảnh, âm thanh, văn bản, phim sống động tự nhiên tác động tích cực đến sự phát triển trí tuệ của trẻ mầm non cũng như ảnh hưởng đến quá trình

Tiết kiệm được thời gian cho giáo viên và chi phí cho trường mầm non

1.4.2.2 Hạn chế của việc sử dụng bài giảng điện tử trong hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

Kinh phí đầu tư các thiết bị CNTT nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy ứng dụng CNTT trong các trường mầm non là rất lớn Vì thế không phải trường mầm non nào cũng đủ kinh phí để đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho giáo viên mầm non

Trang 29

Tuy máy tính điện tử mang lại nhiều tiện ích cho việc giảng dạy của giáo viên mầm non nhưng công cụ hiện đại này không thể hỗ trợ và thay thế hoàn toàn cho các phương pháp trực quan khác của người giáo viên Đôi lúc vì là máy móc nên nó có thể gây ra một số tình huống bất lợi cho tiến trình bài giảng như là mất điện, máy bị treo, bị virus và mỗi khi có sự cố như vậy người giáo viên khó có thể hoàn toàn chủ động điều khiển tiến trình bài giảng theo như ý muốn

Kiến thức và kỹ năng về CNTT của giáo viên mầm non còn hạn chế Có thể thấy sự đam mê sáng tạo ứng dụng CNTT ở các giáo viên mầm non trẻ nhưng điều

đó khó có thể thấy ở những giáo viên mầm non đã có tuổi thậm chí còn là sự né tránh, làm cho xong

Việc ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học ở giáo dục mầm non còn đang ở giai đoạn đầu nên vẫn còn được nghiên cứu, đánh giá và rút kinh nghiệm vì vậy vẫn chưa phát huy được hiệu quả tối đa của nó

Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng, chưa có sự phân biệt rõ ràng với các tiết dạy không ứng dụng công nghệ thông tin

Việc kết nối và sử dụng khai thác tiện ích của công nghệ mạng máy tính và mạng Internet chưa được các trường mầm non thực hiện một cách triệt để và có chiều sâu

1.5 Thực trạng thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non thị xã Phú Thọ

1.5.1 Mục đích điều tra

Qúa trình điều tra nhằm tìm hiểu thực trạng việc hình thành biểu tượng kích thước của giáo viên mầm non, từ đó thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử

nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo hiệu quả

1.5.2 Đối tượng điều tra

Để nắm được thực trạng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát hiệu quả hình thành biểu tượng kich thước thông qua bài giảng điện tử cho trẻ mẫu giáo tại 6 lớp mầm non của trường Mầm non Phong Châu- TX.Phú Thọ (số lượng là

120 trẻ)

- Lớp 3 tuổi A1 ( 20 trẻ)

- Lớp 3 tuổi A2 (20 trẻ)

- Lớp 4 tuổi B1 ( 20 trẻ)

Trang 30

- Số giáo viên có trình độ đại học sư phạm MN:10/20 chiếm 50%

- Số giáo viên có trình độ cao đẳng sư phạm MN: 1/20 chiếm 5 %

- Số giáo viên có trình độ trung cấp sư phạm MN:9/2 chiếm 45%

- Số giáo viên có trình độ sơ cấp sư phạm MN: 0

- Số giáo viên có trình độ chưa qua đào tạo: 0

Về thâm niên công tác:

- Số giáo viên có thâm niên công tác dưới 5 năm: 4/20 chiếm 20 %

- Số giáo viên có thâm niên công tác từ 5- 10 năm: 9 /20 chiếm 45 %

- Số giáo viên có thâm niên công tác từ 10 đến 15 năm: 5/20 chiếm 25%

- Số giáo viên có thâm niên công tác trên 15 năm: 2/2 chiếm 10 %

1.5.3 Nội dung điều tra

Khả năng hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo thông qua

việc sử dụng bài giảng điện tử của giáo viên mầm non

1.5.4 Thời gian điều tra

Trang 31

+ Cách tiến hành: Chúng tôi tiến hành quan sát, dự giờ, ghi chép trực tiếp hoạt động làm quen với toán của cô và trẻ trong thời gian 7 tuần

+ Cách xử lí:

- Phân tích thời gian hoạt động làm quen với toán trong từng buổi

- Phương pháp và hình thức tổ chức của cô

1.5.5.2 Phương pháp điều tra bằng Anket

+ Cách tiến hành: Tiến hành khảo sát hệ thống câu hỏi trắc nghiệm + Cách xử lí: Tổng hợp và phân tích số liệu, đánh giá mức độ

1.6 Kết quả điều tra

* Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên mầm non về việc hình thành biểu tượng kích thước và ứng dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non

Chúng tôi đã sử dụng 20 phiếu điều tra và sau một thời gian tiến hành chúng tôi tổng kết được những ý kiến sau:

Trang 32

- Qua 20 phiếu điều tra (Anket) và qua trao đổi với qiáo viên, 100% các giáo viên thuộc diện điều tra cho rằng việc hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non là rất quan trọng và cần thiết

- 100% các giáo viên đều xác định đúng những nội dung hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ gồm các nội dung sau:

+ Nội dung dạy trẻ 3-4 tuổi

+ Nội dung dạy trẻ 4-5 tuổi

+ Nội dung dạy trẻ 5-6 tuổi

Việc xác định đúng nội dung dạy trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi hình thành biểu tượng kích thước là rất quan trọng Điều này là cơ sở để giáo viên lên kế hoạch

và tiến hành thực hiện kế hoạch hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ + 100% các giáo viên đều đồng ý rằng có thể dạy trẻ hình thành biểu tượng kích thước bằng cách sử dụng bài giảng điện tử Trong đó có 80% số giáo viên (16/20 phiếu) cho cho rằng đây là việc làm rất cần thiết, còn 20% số giáo viên(4/20 phiếu) cho là cần thiết Điều này cho thấy phần lớn giáo viên mầm non ý thức được tầm quan trọng của việc hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non, đặc biệt phần lớn họ thấy được vai trò, vị trí của bài giảng điện tử đối với việc hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ cho trẻ + Có 14/20 số giáo viên (chiếm khoảng 70%) nói rằng họ thường xuyên hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ bằng cách sử dụng bài giảng điện tử, còn 30% số giáo viên chỉ thỉnh thoảng sử dụng bài giảng điện tủ với các giờ hoạt động nói chung và hình thành biểu tượng kích thước nói riêng Kết quả này cho thấy phần lớn giáo viên đã sử dụng bài giảng điện tử để hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non

Qua tổng hợp ý kiến của giáo viên trên đây cho thấy phần lớn giáo viên đều cho rằng có thể dạy trẻ hình thành biểu tượng kích thước thông qua cách sử dụng bài giảng điện tử Như vậy phần lớn giáo viên đều coi bài giảng điện tử là phương tiện để hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ

* Khó khăn và thuận lợi khi giáo viên mầm non sử dụng bài giảng điện

tử hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non

* Thuận lợi:

Trang 33

- Phương pháp dạy học bằng CNTT trong giáo dục mầm non tạo ra một môi trường dạy học tương tác cao, sống động, hứng thú và đạt hiệu quả cao của quá trình dạy học đa giác quan cho trẻ

- Nội dung, tư liệu bài giảng giới thiệu cho trẻ mang tính chân thực, phong phú Trong bài giảng điện tử trẻ có thể làm quen với những hiện tượng tự nhiên, xã hội mà trẻ khó có thể tự bắt gặp trong thực tế

- Giáo viên mầm non có thể chủ động khai thác tìm kiếm nguồn tài nguyên giáo dục qua mạng thông tin truyền thông, Internet Nguồn tài nguyên vô cùng phong phú với hình ảnh, âm thanh, văn bản, phim sống động tự nhiên tác động tích cực đến sự phát triển trí tuệ của trẻ mầm non cũng như ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách toàn diện ở trẻ

- Tiết kiệm được thời gian cho giáo viên và chi phí cho trường mầm non

* Khó khăn và thách thức:

- Kinh phí đầu tư các thiết bị CNTT nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy ứng dụng CNTT trong các trường mầm non là rất lớn Vì thế không phải trường mầm non nào cũng đủ kinh phí để đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho giáo viên mầm non

- Tuy máy tính điện tử mang lại nhiều tiện ích cho việc giảng dạy của giáo viên mầm non nhưng công cụ hiện đại này không thể hỗ trợ và thay thế hoàn toàn cho các phương pháp trực quan khác của người giáo viên Đôi lúc vì là máy móc nên nó có thể gây ra một số tình huống bất lợi cho tiến trình bài giảng như là mất điện, máy bị treo, bị virus Mỗi khi có sự cố như vậy người giáo viên khó có thể hoàn toàn chủ động điều khiển tiến trình bài giảng theo như ý muốn

- Kiến thức và kỹ năng về CNTT của giáo viên mầm non còn hạn chế Có thể thấy sự đam mê sáng tạo ứng dụng CNTT ở các giáo viên mầm non trẻ nhưng điều đó khó có thể thấy ở những giáo viên mầm non đã có tuổi thậm chí còn là sự

né tránh, làm cho xong

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học ở giáo dục mầm non còn đang ở giai đoạn đầu nên vẫn còn được nghiên cứu, đánh giá và rút kinh nghiệm vì vậy vẫn chưa phát huy được hiệu quả tối đa của nó

- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng, chưa có sự phân biệt rõ ràng với các tiết dạy không ứng dụng công nghệ thông tin

Trang 34

- Việc kết nối và sử dụng khai thác tiện ích của công nghệ mạng máy tính và mạng Internet chưa được các trường mầm non thực hiện một cách triệt để và có chiều sâu

* Thực trạng mức độ hình thành biểu tượng kích thước của trẻ mầm non

Chúng tôi điều tra mức độ hình thành biểu tượng kích thước trên 120 trẻ mầm non bằng hệ thống bài kiểm tra mà chúng tôi đã đưa ra cho từng độ tuổi rồi tổng hợp lại chia trung bình Trên cơ sở tổng hợp số điểm thực hiện các bài kiểm tra của trẻ chúng tôi phân loại mức độ hình thành biểu tượng kích thước của trẻ tuổi theo 4 mức độ: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu

Bảng 1.6 Thực trạng mức độ hình thành biểu tượng kích thước

ở mức độ trung bình chiếm tới 36,6% (44/120trẻ ), mức độ yếu cũng còn tới 18,3% (22/120 trẻ ) Trong quá trình kiểm tra trẻ, chúng tôi thấy khi phân biệt về kích thước của một số đối tượng ở nhiều trẻ 3-4 tuổi còn nhầm lẫn, to thành nhỏ, nhỏ thành to Đặc biệt, nhiều trẻ 4-5 tuổi, 5-6 tuổi còn gặp khó khăn trong cách đo kích thước các đối tượng

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Đề tài đã tìm hiểu kỹ thực trạng vấn đề hình thành biểu tượng kích trước cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non hiện nay Qua nghiên cứu lí luận và thực tiễn của việc dạy trẻ mẫu giáo hình thành biểu tượng kích thước thông qua việc sử dụng bài giảng điện tử chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

Việc dạy trẻ mẫu giáo hình thành biểu tượng kích thước là rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Qua đó trẻ nhận biết được các khái niệm về kích thước

sơ đẳng như: to, nhỏ, dài, ngắn, cao, thấp và so sánh kích thước giữa chúng: cao hơn-thấp hơn- cao nhất, dài hơn- ngắn hơn- dài nhất, to hơn- nhỏ hơn- nhỏ nhất Đồng thời các thao tác trí tuệ cơ bản được hình thành trong quá trình trẻ hình thành biểu tượng kích thước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ thực hiện thành công hoạt động học tập và các hoạt động khác trong cuộc sống

Bài giảng điện tử được coi là phương tiện cũng như là hình thức để lồng ghép nội dung hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ Việc hình thành biểu tượng kích thước thông qua việc sử dụng bài giảng điện tử đã được nhiều giáo viên mầm non quan tâm Tuy nhiên một số lượng đáng kể giáo viên chưa biết vận dụng các ứng dụng điện tử để thiết kế bài giảng điện tử để hình thành biểu tượng kích thước làm cho kết quả hình thành biểu tượng kích thước của trẻ mẫu giáo chưa cao

Những kết luận trên chính là cơ sở lí luận và thực tiễn để chúng tôi làm căn cứ trong quá trình xây dựng, thiết kế và sử dụng các bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

Trang 36

CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG KÍCH THƯỚC

CHO TRẺ MẪU GIÁO 2.1 Nguyên tắc thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo

Đề tài xác định thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo dựa trên 6 nguyên tắc chính sau đây:

Nguyên tắc 1: Quán triệt mục đích dạy học theo chương trình hiện hành

Đề tài xây dựng phần mềm dạy học nhằm phát triển biểu tượng kích thước cho trẻ mầm non đáp ứng mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ của hoạt động này theo chương trình của giáo dục mầm non do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Quán triệt mục đích dạy học, xác định được nội dung dạy học, phương pháp dạy học phù hợp cho từng độ tuổi Ngoài ra, cần chú ý đến việc phát triển kỹ năng quan sát, nhận xét, đặt câu hỏi, diễn đạt những hiểu biết của mình cho học sinh Phần mềm phải hỗ trợ việc tạo ra các tình huống, thiết kế được môi trường học tập sao cho học sinh có thể tác động lên đối tượng, cùng với những chỉ dẫn sư phạm để giúp học sinh lĩnh hội các kiến thức về chủ đề này

Nguyên tắc 2: Đảm bảo chính xác nội dung dạy học

Nội dung phần mềm dạy học được thiết kế tương ứng với cấu trúc của chương trình chuẩn giáo dục mầm non Hình thức trình bày tương thích với nội dung trong phân phối chương trình của Bộ giáo dục đề ra Ngoài ra, có tác dụng bổ sung, làm

đa dạng hóa kiến thức của hoạt động hình thành biểu tượng kích thước Kiến thức

có thể được soạn thảo dưới nhiều hình thức khác nhau, có các mức kiến thức phù hợp với những trình độ khác nhau và giáo viên có thể linh động tổ chức các hoạt động nhận thức, cắt hoặc thay thế các tình huống một cách hợp lý Kể cả thiết kế ý tưởng cho việc sử lý tình huống khi mất điện mà vẫn đảm bảo được mục tiêu của bài học

Nguyên tắc 3: Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi

Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi “ học mà chơi, chơi mà học” Phần mềm dạy học phải đảm bảo các lưu ý về tâm sinh lý nhằm tạo hứng thú học tập của học sinh

Ngày đăng: 26/06/2022, 10:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Hòa (2009), Tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non theo hướng tích hợp. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non theo hướng tích hợp
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
2. Nguyễn Thị Huệ (Chủ biên) (2008), Thiết kế dạy học-Hoạt động làm quen với toán ở trường mầm non, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học-Hoạt động làm quen với toán ở trường mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
3. Hoàng Thị Thu Hương- Vũ Ngọc Minh- Nguyễn Thị Nga (2013) Các hoạt động làm quen với toán của trẻ Mầm non, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hoạt động làm quen với toán của trẻ Mầm non
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
4. Lê Thu Hương - Lê Thị Ánh Tuyết (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo 5 - 6 tuổi, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Tác giả: Lê Thu Hương - Lê Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
5. Đỗ Thị Minh Liên (2012), Lí luận và phương pháp hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ mầm non, NXB ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phương pháp hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ mầm non
Tác giả: Đỗ Thị Minh Liên
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2012
6. Lê Thu Phương- Lê Thị Ánh Tuyết (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non (3-4 tuổi), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non (3-4 tuổi)
Tác giả: Lê Thu Phương- Lê Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
7.Lê Thu Phương- Lê Thị Ánh Tuyết (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non (4-5 tuổi), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non (4-5 tuổi)
Tác giả: Lê Thu Phương- Lê Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Lê Thu Phương- Lê Thị Ánh Tuyết (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non (5-6 tuổi), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non (5-6 tuổi)
Tác giả: Lê Thu Phương- Lê Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
9. Đào Quang Tám – Đinh thị Ngọc Loan (2014), Giáo án mầm non- Hoạt động làm quen với toán, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo án mầm non- Hoạt động làm quen với toán
Tác giả: Đào Quang Tám – Đinh thị Ngọc Loan
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2014
10. A.A.Liublinxkaia (1978) Tâm lí học trẻ em- tập 1 và tập 2, Sở GD Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em- tập 1 và tập 2

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 9.5 - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
Hình 9.5 (Trang 5)
1.2.5. Kết quả mong đợi hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo. - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
1.2.5. Kết quả mong đợi hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo (Trang 25)
* Thực trạng mức độ hình thành biểu tượng kích thước của trẻ mầm non.. - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
h ực trạng mức độ hình thành biểu tượng kích thước của trẻ mầm non (Trang 34)
2.2. Các hướng ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế bài giảng hình - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
2.2. Các hướng ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế bài giảng hình (Trang 38)
Phần Mềm Phát triển ngôn ngữ với đồ họa đẹp mắt, với bảng chữ cái đồ họa đẹp mắt. Bé có thể tập viết, hay dạo chơi cùng ếch con, hay tô mầu hoặc xếp hình - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
h ần Mềm Phát triển ngôn ngữ với đồ họa đẹp mắt, với bảng chữ cái đồ họa đẹp mắt. Bé có thể tập viết, hay dạo chơi cùng ếch con, hay tô mầu hoặc xếp hình (Trang 40)
 Đưa ra các hình ảnh để trẻ quan sát và so sánh - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
a ra các hình ảnh để trẻ quan sát và so sánh (Trang 46)
Hình ảnh 3 Hình ảnh 4 - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
nh ảnh 3 Hình ảnh 4 (Trang 47)
Hình ảnh 7 Hình ảnh 8 - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
nh ảnh 7 Hình ảnh 8 (Trang 48)
-Cho trẻ quan sát hình ảnh trên màn hình, kể tên và trò chuyện về một số  cây, hoa, quả mà trẻ biết - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
ho trẻ quan sát hình ảnh trên màn hình, kể tên và trò chuyện về một số cây, hoa, quả mà trẻ biết (Trang 49)
-Cô đưa ra hình ảnh 2 quả táo anh, đỏ, quả xanh to, quả đỏ nhỏ - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
a ra hình ảnh 2 quả táo anh, đỏ, quả xanh to, quả đỏ nhỏ (Trang 50)
2.5. Hướng dẫn sử dụng bài giảng điện tử hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giao - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
2.5. Hướng dẫn sử dụng bài giảng điện tử hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giao (Trang 55)
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ so sánh mức độ hình thành biểu tượng kích thước  cho trẻ 3-4 tuổi  của trẻ nhóm thử nghiệm và nhóm đối - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
i ểu đồ 3.1: Biểu đồ so sánh mức độ hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ 3-4 tuổi của trẻ nhóm thử nghiệm và nhóm đối (Trang 61)
Nhìn vào bảng tổng hợp kết quả và đồ thị trên chúng ta thấy, trước thử - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
h ìn vào bảng tổng hợp kết quả và đồ thị trên chúng ta thấy, trước thử (Trang 61)
Bảng 3.2: Mức độ hình thành biểu tượng kích thướcở trẻ 4-5tuổi với sự hỗ trợ của bài giảng điện tửở lớp thử nghiệm và lớp đối chứng - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
Bảng 3.2 Mức độ hình thành biểu tượng kích thướcở trẻ 4-5tuổi với sự hỗ trợ của bài giảng điện tửở lớp thử nghiệm và lớp đối chứng (Trang 62)
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ so sánh mức độ hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ 4-5 tuổi  của trẻ nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng - Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ mẫu giáo
i ểu đồ 3.2: Biểu đồ so sánh mức độ hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ 4-5 tuổi của trẻ nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w