Xuất phát từ những lý do như đã trình bày ở trên, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn toán, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau 7 tháng nghiên cứu và thực hiện, đến nay đề tài khóa luận tốt nghiệp
“Sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập chủ đề “Phân số” cho học sinh lớp 4 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”.của
tôi đã hoàn thành Để hoàn thành được đề tài khóa luận tốt nghiệp này phải kể đến công lao to lớn của các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non - Trường Đại học Hùng Vương Các thầy cô đã không quản ngại khó khăn động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo và các em học sinh trường Tiều học Phú Hộ - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ Các thầy, cô và các em đã tạo điều kiện để tôi tiến hành công tác điều tra, giảng dạy và thu thập số liệu
Đặc biệt tôi xin dành những tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Nguyễn Thị Thanh Tuyên Tôi xin cảm ơn cô trong suốt thời gian qua đã hướng dẫn, chỉ bảo tôi tận tình để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài khóa luận này
Do điều kiện thời gian và trình độ hiểu biết của bản thân có hạn, nên đề tài khóa luận của tôi không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Trang 2CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1.2 Về vấn đề tích cực hóa hoạt động của học sinh 5
1.3.2 Nội dung dạy học chủ đề “Phân số” ở lớp 4 11 1.3.3 Cấu trúc của hệ thống bài tập chủ đề “Phân số” trong môn toán ở
1.4 Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong quá trình dạy học và tác dụng
của phần mềm VIOLET trong việc xây dựng hệ thống bài tập ở Tiểu học 13 1.4.1 Sự hỗ trợ của công nghệ thong tin trong quá trình dạy học 13
Trang 31.4.2 Tác dụng của phần mềm VOLET trong việc xây dựng hệ thống bài tập 13 1.5 Thực trạng việc sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập
chủ đề phân số nhằm phát huy tính tích cực của học sinh lớp 4 15
CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG PHẦN MỀM VIOLET XÂY DỰNG HỆ
THỐNG BÀI TẬP CHỦ ĐỀ “PHÂN SỐ” NHẰM TÍCH CỰC HÓA
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
18
2.1 Yêu cầu của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng
2.1.1 Cơ sở phân loại của hệ thống bài tập trong dạy học môn toán 18
2.1.3 Các yêu cầu của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo
2.1.4 Yêu cầu của việc sử dụng phần mềm dạy học trong việc xây dựng
2.2 Sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập chủ đề “Phân
số” theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh 27
Trang 42.2.6 Phép cộng phân số 57
2.3 Hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập chủ đề: “Phân số” 73
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nhà trường cần phải đào tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề Một yếu tố quan trọng góp phần đáp ứng yêu cầu nói trên là nhà trường phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học nhằm “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí
vươn lên” Để thực hiện nhiệm vụ này cần tổ chức hợp lý quá trình học tập của
học sinh, kích thích nhu cầu, động cơ và hứng thú học tập của học sinh; giúp học
sinh có khát vọng, niềm tin để nắm vững và hoàn thiện tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
Hệ thống bài tập có vai trò quan trọng, cho phép tổ chức hợp lý quá trình học tập, là công cụ phát huy nhu cầu, động cơ, hứng thú và hoạt động học tập
độc lập, sáng tạo của học sinh Mục tiêu của môn toán ở tiểu học là nhằm giúp
học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số
và số thập phân “Phân số” không chỉ đóng vai trò quan trọng trong mạch kiến thức số học, mà nó còn giữ vai trò quan trọng trong đời sống thực tiễn Phân số được giới thiệu cho học sinh làm quen bắt đầu từ lớp 2 và được đưa vào dạy
hoàn chỉnh từ lớp 4 Hệ thống bài tập về chủ đề: “Phân số” được kết cấu trong
sách giáo khoa, nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng về phân số và các phép tính với phân số Tuy nhiên cần xem xét hệ thống bài tập về “Phân số” như một công
cụ góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Trong thực tế, nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến mục tiêu cung cấp kiến thức, mà chưa chú ý phát huy được tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh Việc sử dụng hệ thống bài tập trong quá trình dạy học của giáo viên chưa phát huy được tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh
Violet là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng được
hệ thống các bài tập theo ý tưởng của mình một cách nhanh chóng So với các phần mềm khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài tập có chèn âm
thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác rất phù hợp với học sinh tiểu học
Trang 6Xuất phát từ những lý do như đã trình bày ở trên, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn toán, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề
tài: “Sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập chủ đề “Phân số” cho học sinh lớp 4 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”
2 Mục đích nghiên cứu
Sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập chủ đề “Phân số” cho học sinh lớp 4 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập và góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn toán
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: Quá trình dạy học ở tiểu học
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu nội dung hệ thống bài tập chủ đề:
“Phân số” ở lớp 4
4 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng phần mềm Violet xây dựng được một hệ thống bài tập hợp
lý, kết hợp với việc phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên thì sẽ phát huy được tính tích cực học tập của học sinh trong quá trình dạy học chủ đề :
“Phân số” ở lớp 4, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn toán
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về hoạt động học tập và tính tích cực học tập của học sinh tiểu học
- Nghiên cứu nội dung chương trình và sách giáo khoa môn toán ở tiểu học nói chung chủ đề: “Phân số” ở lớp 4 nói riêng và tìm hiểu hệ thống bài tập
chủ đề “Phân số” đang được sử dụng trong quá trình dạy học ở lớp 4
- Tìm hiểu sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong quá trình dạy học và tác dụng của phần mềm Violet trong việc xây dựng hệ thống bài tập ở Tiểu học
- Nghiên cứu cách sử dụng phần mềm Violet xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chủ đề “Phân số” cho học sinh lớp 4
- Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh bằng phần mềm Violet
- Thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của đề tài
Trang 76 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu việc sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập chủ đề
“Phân số” cho học sinh ở trường tiểu học Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến phương pháp dạy học toán ở tiểu học Nghiên cứu sách giáo khoa, sách bài
tập và các tài liệu khác
Phương pháp điều tra: Điều tra, phỏng vấn, dự giờ, quan sát
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp thống kê toán học: Thu thập, xử lý, đánh giá số liệu
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Sử dụng hệ thống bài tập để dạy
một số tiết, để kiểm chứng các lập luận đề xuất trong đề tài
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài xây dựng với 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập chủ đề phân số cho học sinh lớp 4 nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Về vấn đề bài tập và việc giải bài tập
Dưới nhiều góc độ khoa học khác nhau, những vấn đề lý luận và thực tiễn về bản chất, cấu trúc, phân loại bài tập được nhiều tác giả nghiên cứu Chẳng hạn, những nghiên cứu của các tác giả A.Ph Exaulốp, A.N Lêônchiép, U.P Raayman, G.A Ban đã làm sáng tỏ một vấn đề rất cơ bản - khái niệm về bài tập Các tác giả như A.M Machiuskin, G Poolia, N.A menchinxlaia, L.M Phrítman, E.H Turexki, I.Ia Lescne đã phân tích cấu trúc, bản chất của quá trình giải bài tập, quy trình của việc giải bài tập… Chẳng hạn, Poolia và Phrítman đã đề xuất quy trình gồm 4 giai đoạn của việc giải một bài tập toán
Việc nghiên cứu quá trình giải bài tập với tư cách là một phương tiện để xác lập quy luật, cấu trúc của hoạt động tư duy con người được rất nhiều trường phái khoa học tâm lý quan tâm như trường phái Vitxbua, trường phái Ghextal (Đức), trường phái tâm lý học hành vi, trường phái tâm lý học hoạt động
- Trong tác phẩm “Lý thuyết thao tác trí tuệ”, khi đề cập đến tính nguyên nhân, tính điều kiện và tính kiểm tra của bài tập đến quá trình tư duy, tác giả O Denxơ (đại diện của trường phái Vutxbua) đã chỉ ra rằng, mối liên hệ giữa bài tập và tư duy chỉ có tính chất bề ngoài, bản thân nội dung của bài tập không được đưa vào quá trình tư duy Như vậy, đối với tư duy, bài tập chỉ đóng vai trò của các cơ chế khởi động
- Các tác giả V Zabôtin, A.A Liublinskaia, E.P Xam xô nô va, L.P Bôn đa ren cô đã tiếp cận vấn đề giải bài tập dưới góc độ tâm lý học lứa tuổi Theo các tác giả này, kết quả giải bài tập luôn luôn chịu ảnh hưởng của các đặc điểm tâm lý lứa tuổi (chủ yếu là tư duy) và các loại bài tập khác nhau có một vai trò quan trọng đối với việc phát triển các thao tác trí tuệ ở học sinh Chẳng hạn, các kết quả thực nghiệm của V Za bô tin cho thấy việc sử dụng các bài tập đặc biệt (bài tập đảo ngược, bài tập chứa đựng thông tin bất ngờ) đã góp phần nâng
Trang 9cao tính tích cực trí tuệ, giúp học sinh lĩnh hội sâu sắc các quy tắc đang nghiên cứu, đồng thời phát triển ở trẻ năng lực đặt vấn đề một cách lôgic
1.1.2 Về vấn đề tích cực hóa hoạt động của học sinh
Từ xa xưa ông cha ta cũng đã vận dụng cách thưc dạy học dựa trên đặc điểm và trình độ cá nhân của mỗi người học Trong thời phong kiến xuất hiện kiểu dạy học thầy đồ (một thầy cùng một lúc dạy nhiều trò với nhiều lứa tuổi và trình độ khác nhau) Kiểu dạy này bắt buộc thầy phải quan tâm đến từng người
để có cách dạy phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và nhu cầu của
họ
Ở Phương Tây, xuất hiện nhiều nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ đã chú
ý đến dạy học hướng vào người học, khai thác tiềm năng của mỗi cá nhân học sinh
Từ những năm 30 - 40 của thế kỷ trước, dạy học phát huy tính tích cực của học sinh đã được các nhà giáo dục Nga quan tâm và đặt lên hàng đầu về công cuộc đổi mới phương pháp dạy học [2]
J.A.Cômenxki (1592 - 1670) cho rằng dạy học phải phát huy tính tích cực, tính chủ động của học sinh, dẫn dắt các em suy nghĩ tìm tòi để tự mình nắm được bản chất vấn đề học tập Ông cho rằng nếu không phát huy được tính tích cực, chủ động tồn tại trong mỗi học sinh thì dạy học sẽ không có ý nghĩa gì cả [8.tr24]
J.J.Rutxô (1712 - 1778) quan tâm đến sự phát triển tự nhiên của mỗi con người, phải lôi cuốn học sinh vào mỗi quá trình học tập làm cho họ tích cực, tự lực tìm tòi, khám phá giành lấy tri thức
A.Dictecvec chú trọng đến sự phát triển của từng học sinh và cho rằng dạy học cần dựa trên các đặc điểm tâm lý của trẻ Ông đã từng nói: “Người giáo viên tồi là người cung cấp cho học sinh chân lý, người giáo viên giỏi là người dạy cho họ tìm chân lý
Thế kỷ XX, J.Dewey (1916) cho rằng giáo dục và dạy học là sự chỉ dẫn phát triển tiềm năng, năng lực vốn có của HS Do vậy, quá trình dạy học phải hướng vào người học, đảm bảo cho họ học bằng sự phân tích kinh nghiệm của
Trang 10mình Việc học tập là quá trình sử lý kinh nghiệm mà người học tự tiến hành với
sự giúp đỡ của nhà giáo dục theo nhu cầu và lợi ích cá nhân Như vậy, dạy học phải chú ý đến cái riêng của mỗi người, đặc biệt là nhu cầu, hứng thú Dạy học dựa trên kinh nghiệm cá nhân và hiệu quả học tập do từng người quyết định [11]
E.Clapparide cho rằng quá trình dạy học phải hướng vào việc kích thích
sự ham muốn học tập, phải đặt trẻ vào trong tình huống, phải khơi dậy những phản ứng thích hợp của trẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu, sở thích đó Dựa vào khả năng riêng biệt của từng cá nhân điều khiển và hướng dẫn họ đạt được mục tiêu dạy học đã đặt ra [13.tr21]
Iu.K.Babanxki cho rằng quá trình dạy học bao gồm ba công việc cơ bản:
tổ chức thực hiện các hoạt động học tập; kích thích hoạt động nhận thức; kiểm tra đánh giá Theo ông, muốn kích thích hoạt động nhận thức của học sinh thì phải phát huy tính tích cực, tính tự giác của họ[24.tr14]
Ở Pháp người ta đã coi trọng việc rèn luyện cho học sinh phương pháp
tự tìm kiếm tri thức ngay từ bậc học Tiểu học Trong một văn bản của Bộ giáo dục Pháp (1991) đã nêu rõ: “Cần đưa trẻ vào học ở các trung tâm giáo dục có sự thích ứng tế nhị với mọi trường hợp Khi tính đến sự không đồng nhất của từng học sinh thì hoạt động của giáo viên phải tập trung vào chính đứa trẻ đang học, không kém gì chú ý đến nội dung mà nó đang phải học”[34.tr85]
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu dạy học theo hướng tích cực hóa học tập của học sinh còn chưa nhiều
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Hoạt động học tập
Hoạt động học tập là một trong những hoạt động của con người, vì thế
nó cũng tuân theo cấu trúc tổng quát của hoạt động nói chung Học sinh tiến hành hoạt động học nhằm lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội, được thực hiện dưới
dạng những tri thức, kỹ năng
Theo V.A.Krutexki cấu trúc của hoạt động học tập bao gồm các giai đoạn sau:
Trang 11+ Giai đoạn định hướng tìm tòi, nhận thức rõ ràng về nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết
+ Giai đoạn lập kế hoạch thực hiện, chọn lựa biện pháp hành động hợp
lý nhất
+ Giai đoạn thực hiện
+ Giai đoạn kiểm tra kết quả, sửa chữa sai lầm và đánh giá
Theo tâm lý học dạy - học hiện đại: Hoạt động học tích cực được đặc trưng bởi nhu cầu, hứng thú và tính tự giác chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng chuyển biến thái độ Đối tượng của hoạt động học là tri thức mà người học cần Trên cơ sở đó hình thành kỹ năng, hành vi, thái độ đúng đắn Mục tiêu mà hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để hình thành nhân cách Do đó, việc học không thể thực hiện được nếu học sinh chỉ học tập một cách thụ động, máy móc, mà họ phải tích cực bằng chính ý thức tự giác, bằng năng lực, trí tuệ của bản thân
Về khía cạnh tâm lý nhận thức, hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức, nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hướng tới làm thay đổi chính bản thân người học Nội dung của tri thức thường không mới đối với nhân loại, nhưng khi chủ thể chiếm lĩnh được, thì nhờ sự chiếm lĩnh này, tâm lý của chủ thể đã thay đổi và phát triển Sự tếp thu này có tính tích cực cao
sẽ hình thành được phương pháp tự học cho học sinh Nó có vai trò đặc biệt giúp các em biết tự học suốt đời Muốn cho việc tự học đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, người dạy phải ý thức được những tri thức cần được hình thành, những kỹ năng, kỹ xảo cần được phát triển ở học sinh
Trang 12Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên, mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội Đồng thời sáng tạo ra nền văn hóa của mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội [2, tr 12]
Hình thành và phát triển tính tích cực học tập cho học sinh là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện, đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục [2, tr 12]
1.2.3 Tích cực hóa hoạt động học tập
Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học Tính tích cực trong hoạt động học tập về thực chất – là tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá
trình chiếm lĩnh tri thức [2, tr 13]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo: “Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập – nhận thức”
Khác với quá trình nhận thức nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện ra những điều loài người chưa biết, mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích lũy được Tuy nhiên, trong học tập học sinh cũng phải “khám phá” ra những hiểu biết đối với bản thân Học sinh sẽ hiểu những gì đã nắm được thông qua hoạt động chủ động chủ động, nỗ lực của chính mình
Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan trước hết đến động cơ học tập Động cơ tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề của tính tự giác Hứng thú
và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống và sáng tạo Ngược lại, phong cách
Trang 13học tập tích cực độc lập, sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động
cơ học tập [2, tr 13, 14]
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: Hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải quyết cặn kẽ những vấn đề chưa rõ; chủ động vận dụng kiến thức kỹ năng đã học để nhận thức vấn
đề mới; tập chung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn [2, tr 14]
3 Tính tích cực sáng tạo: Là mức độ cao nhất của tính tích cực Nó đặc trưng bằng sự khẳng định con đường riêng của mình, không giống với con đường
mà mọi người đã thừa nhận, đã trở thành chuẩn hóa, để đạt được mục đích
Dựa theo các cấp độ của tính tích cực, giáo viên có thể đánh giá được mức độ tích cực của học sinh Tuy nhiên, cũng còn hết sức khái quát, muốn cụ thể và sát thực, giáo viên còn phải căn cứ vào một loại các chỉ số khác như: Kết quả học tập sau một tiết, một chương, một phần; thời gian duy trì sự chú ý trong một giờ học; năng lực giải bài tập, khả năng đưa ra những cách giải độc đáo…
Từ đó có thể nói tích cực hóa hoạt động học tập là quá trình làm cho người học trở thành chủ thể tích cực trong hoạt động học tập của chính họ
1.3 Những căn cứ để xây dựng hệ thống bài tập chủ đề “Phân số” cho học sinh lớp 4
1.3.1 Vị trí chức năng của bài tập toán
Hoạt động học tập của học sinh trong các giờ học toán có thể diễn ra
Trang 14dưới nhiều hình thức khác nhau: nghe lời giảng giải của giáo viên, trả lời câu hỏi, trao đổi thảo luận, đọc sách giáo khoa, Nhưng hoạt động cơ bản nhất, chủ đạo nhất vẫn là giảt bài tập toán Vì vậy, bài tập toán có vị trí và chức năng quan
trọng trong quá trình dạy học bộ môn toán
1.3.1.1 Vị trí
Bài tập toán có vị trí quan trọng, nó là phương tiện rất có hiệu quả, để giúp học sinh nắm vững tri thức, phát triển tư duy, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
và ứng dụng toán học vào thực tiễn Hoạt động giải bài tập toán học là điều kiện
để thực hiện tốt các mục tiêu dạy học toán
1.3.1.2 Chức năng
Trong thực tiễn dạy học, bài tập toán học được sử dụng với những dụng
ý khác nhau Mỗi bài tập có thể dùng để tạo điều kiện xuất phát, để gợi động cơ học tập, để vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hoặc để ôn tập, kiểm tra kiến thức của học sinh Tuy nhiên, mỗi bài tập toán cụ thể, được đưa ra ở một thời điểm nào đó, trong quá trình dạy học đều chứa đựng một cách tường minh hay hàm
Èn những chức năng khác nhau Những chức năng này, đều hướng đến việc thực
hiện các mục đích dạy học
Bài tập toán học có những chức năng sau:
+ Chức năng dạy học: Hình thành củng cố cho học sinh những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo khác nhau của quá trình dạy học
+ Chức năng giáo dục: Nhằm hình thành cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, tạo hứng thú học tập, niềm tin vào chân lý và giáo dục phẩm
chất đạo đức của người lao động
+ Chức năng phát triển: Phát triển năng lực tư duy của học sinh, đặc biệt
là rèn luyện những thao tác trí tuệ, hình thành khả năng tư duy khoa học
+ Chức năng kiểm tra: Đánh giá kết quả quá trình dạy- học của giáo viên
và học sinh Đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức và trình độ phát triển tư duy
của học sinh
Trang 15Như vậy, hiệu quả của việc dạy học toán sẽ phụ thuộc vào việc khai thác
và thực hiện một cách đầy đủ, các chức năng khác nhau của bài tập toán, mà
người thầy đã thiết, kế xây dựng
1.3.2 Nội dung dạy học chủ đề “Phân số” ở lớp 4
1.3.2.1 Mục tiêu
Dạy học chủ đề “Phân số” ở lớp 4 nhằm giúp học sinh:
+ Có những tri ban đầu về cách nhận thức phân số, biết đọc và viết phân số; tính chất cơ bản của phân số; biết cách rút gọn phân số và tìm ra phân số tối giản; biết cách quy đồng mẫu số các phân số và so sánh các phân số cùng mẫu
1.3.2.2 Nội dung
Chủ đề “Phân số” trong môn toán ở lớp 4 có những nội dung sau:
a) Phân số
+ Khái niệm phân số
+ Phân số và phép chia phân số
+ Phân số bằng nhau
+ Rút gọn phân số
+ Quy đông mẫu số các phân số
+ So sánh hai phân số cùng mẫu số
+ So sánh hai phân số khác mẫu số
Trang 16+ Phép chia phân số
c) Tỉ số
d) Các bài toán có lời văn liên quan đến phân số
+ Tìm phân số của một số
+ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số
+ Tìm hai số khi biết và tỉ số
1.3.3 Cấu trúc của hệ thống bài tập chủ đề “Phân số” trong môn toán ở lớp 4
Hệ thống bài tập chủ đề “ Phân số” quán triệt các tư tưởng của toán học hiện đại và phù hợp với quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh tiểu học Các bài tập về khái niệm phân số giúp học sinh những hiểu biết ban đầu về phân số; việc giải các bài tập về tính chất cơ bản của phân số giúp học sinh có kỹ năng để tìm
ra các phân số bằng nhau rồi từ đó vận dụng nội dung kiến thức này để giải các bài tập về rút gọn phân số; việc coi trọng đúng mức các bài tập về quy đồng mẫu
số giúp các em có kỹ năng cơ bản để giải các bài tập về so sánh phân số và phép cộng phép trừ với phân số; Các bài toán có lời văn liên quan đến phân số có nội dung gần gũi với cuộc sống của trẻ em, giúp các em có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, … đều có tác dụng quán triệt tư tưởng của toán học hiện đại và phù hợp với quá trình lĩnh hội tri thức về chủ đề “Phân số” của học sinh tiểu học
Hệ thống bài tập chủ đề “Phân số” của các tài liệu đang được sử dụng trong quá trình học tập hiện nay đã giúp học sinh ôn tập, củng cố nội dung kiên thức đã học; nó là phương tiện cơ bản để giúp các em rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo
và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống Tuy nhiên, trong quá trình điều tra thực tế (bằng cách phỏng vấn một số giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở lớp 4) Chúng tôi nhận thấy rằng:
+ Hệ thống bài tập cần phải tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động tích cực, tăng thêm loại bài tập nhằm phát triển trí thông minh cho học sinh
+ Một số bài tập chưa phù hợp với quá trình phát triển tư duy của học sinh
Trang 17+ Các nội dung trong hệ thống bài tập đưa ra cân đối, có nội dung đưa ra
số lượng bài tập quá nhiều hoặc quá ít
+ Các bài tập đưa ra chủ yếu nhằm mục đích cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh; chưa thực sự chú ý đến các bài tập phát huy tính tích cực của học sinh
Chính vì vậy, trong nội dung dạy học chủ đề “Phân số” cần đưa ra một
hệ thống bài tập mới để tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
1.4 Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong quá trình dạy học và tác dụng của phần mềm VIOLET trong việc xây dựng hệ thống bài tập ở Tiểu học
1.4.1 Sự hỗ trợ của công nghệ thong tin trong quá trình dạy học
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục là một việc hết sức cần thiết, và hiện nay việc ứng dụng này đang được thực hiện một cách rộng rãi
Ở Việt Nam, ngành công nghệ thông tin đang dần lớn mạnh và cố gắng bắt nhịp
được với sự phát triển tin học trên thế giới
Hiện nay trên thị trường ngành công nghệ thông tin có rất nhiều phần mềm trợ giúp cho việc soạn thảo thiết kế bài giảng điện tử cho giáo viên, tạo ra công cụ rất hữu ích cho việc thiết kế bài giảng, công việc giảng bài của giáo viên
ở trên lớp và quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh
1.4.2 Tác dụng của phần mềm VOLET trong việc xây dựng hệ thống bài tập
Violet là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể xây dựng được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả So với các công
cụ khác, Violet trú trọng hơn tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển
động và tương tác rất phù hợp với học sinh từ bậc Tiểu học
Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng anh: Visual & Online Lesson Editor
for Teachers (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho giáo viên)
Tương tự phần mềm Powerpoint, Violet có đầy đủ các chức năng dùng
để tạo các trang nội dung bài giảng như: Cho phép nhập các dữ liệu văn bản, công thức, các file dữ liệu multimedia (hình ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash ), sau đó lắp ghép các dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình ảnh, tạo các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, thực hiện các tương tác với người dùng
Trang 18Riêng đối với việc sử lý những dữ liệu multimedia, Violet tỏ ra mạnh hơn so với Powerpoint, ví dụ như cho phép thể hiện và điều khiển các file Flash hoặc cho
phép thao tác quá trình chạy của các đoạn phim v.v
Violet cũng có các module công cụ dùng cho vẽ hình cơ bản và soạn thảo văn bản nhiều định dạng (Rich Text Format) Ngoài ra, Violet còn cung cấp sẵn nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được sử dụng trong các SGK và sách bài
tập như:
* Bài tập trắc nghiệm, gồm có các loại: Một đáp án đúng, nhiều đáp án
đúng, ghép đôi, chọn đúng sai, v.v
* Bài tập ô chữ: học sinh phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc
* Bài tập kéo thả chữ / kéo thả hình ảnh: học sinh phải kéo thả các đối tượng này vào đúng những vị trí được quy định trước trên một hình ảh hoặc một đoạn văn bản Bài tập này còn có thể thể hiện dưới dạng bài tập điền khuyết hoặc ẩn/hiện
Ngôn ngữ lập trình mô phỏng: Một ngôn ngữ lập trình đơn giản, có độ linh hoạt cao, giúp người dùng có thể tự tạo ra được các mẫu mô phỏng vô cùng sinh động
Violet còn có cho phép chọn nhiều kiểu giao diện (skin) khác nhau cho bài giảng, tùy thuộc vào bài học, môn học và ý thích của giáo viên
Sau khi soạn thảo xong bài giảng, Violet sẽ cho phép xuất bài giảng ra thành một thư mục chứa file EXE hoặc file HTML chạy độc lập, tức là không cần Violet vẫn có thể chạy được trên mọi máy tính
Violet có giao diện được thiết kế trưc quan và dễ sử dụng, ngôn ngữ giao tieeso và phần trợ giúp đều hoàn toàn bằng tiếng việt, nên phù hợp với cả những giáo viên không giỏi Tin học và Ngoại ngữ Mặt khác, do sử dụng Unicode nên font chữ trong Violet và trong các sản phẩm bài giảng đều đẹp, dễ nhìn và có thể thể hiện được mọi thứ tiếng trên thế giới Thêm nữa, Unicode là bảng mã chuẩn quốc tế nên font tiếng việt luôn đảm bảo tính ổn định trên mọi máy tính, mọi hệ điều hành và mọi trình duyệt Internet
Trang 191.5 Thực trạng việc sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập chủ đề phân số nhằm phát huy tính tích cực của học sinh lớp 4
1.5.1 Mục đích điều tra
Mục đích điều tra của chúng tôi là tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phần mềm Violet để xây dựng hệ thống bài tập phân số nhằm phát huy tính tích cực của trong dạy học toán lớp 4 ở trường Tiểu học Phú hộ - thị xã Phú Thọ
1.5.2 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra của chúng tôi trong đề tài này là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại trường tiểu học Phú Hộ, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
1.5.3 Đôi nét về trường Tiểu học Phú Hộ
Trường tiểu học Phú Hộ là một trường ngoại thị được tách ra từ trường phổ thông cơ sở vào tháng 8 năm 1989 Trường tiểu học Phú Hộ là một xã thuộc miền núi Huyện Phù Ninh Trước năm 2007-2008 có 4 khu, 30 lớp, 700 học sinh Năm học 2008-2009 được tách ra thành 2 trường Tiểu học Phú Hộ và Phú
Hộ II Trường giữ vững danh hiệu là tập thể lao động xuất sắc trong 7 năm liền Duy trì tốt phổ cập đúng độ tuổi 99,6% Trường đạt cơ quan văn hóa cấp tỉnh năm 2009 Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 vào năm 2010 và đang phấn
đấu đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2
Trường Tiểu học Phú Hộ là đơn vị dẫn đầu về chất lượng mũi nhọn học sinh Giỏi, học sinh năng khiếu và giáo viên dạy Giỏi Trường có nhiều giáo viên
dạy giỏi đạt cấp tỉnh
1.5.4 Nội dung điều tra
Nội dung 1: điều tra hiểu biết của giáo viên về tính tích cực của học sinh trong học tập, bao gồm những vấn đề sau:
- Những dấu hiệu biểu hiện tính tích cực của học sinh trong học tập
- Quan hệ giữa tính tích cực và nhu cầu
- Quan hệ giữa tính tích cực và động cơ
- Quan hệ giữa tính tích cực và hứng thú
- Thái độ hợp lý đối với vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh
Trang 20Nội dung 2: điều tra hiểu biết của giáo viên về ứng dụng phần mềm Violet
để xây dụng hệ thống bài tập trong dạy học môn toán ở trường Tiểu học, bao gồm những vấn đề sau:
- Sự hiểu biết về cách ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học
- Tìm hiểu về cách sử dụng và ưu, nhược điểm của phần mềm Violet
- Sử dụng phần mềm Violet để xây dựng hệ thống bài tập
- Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phần mềm Violet để xây dựng
hệ thống bài tập
- Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm Violet
1.5.5 Phương pháp điều tra
Chúng tôi điều tra thông qua phiếu điều tra Phiếu điều tra gồm 5 câu hỏi tương ứng với từng nội dung đã nêu trên và được thiết kế dưới dạng trắc nghiệm lựa chọn (Multiple choice items) Các câu hỏi và các phương án trả lời được trình bày rõ ràng, đảm bảo tính lôgic của hệ thống câu hỏi, tính khách quan của các kết quả nghiên cứu
Tổng số phiếu phát ra là 24 phiếu, gửi tới GV đang trực tiếp giảng dạy khối lớp 4 trường tiểu học Số phiếu thu lại là 24 phiếu Những số liệu thu được trong phiếu điều tra được chúng tôi xử lý và thống kê bằng phương pháp toán học, trên
cơ sở đó khái quát được thực trạng Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp quan sát, phương pháp đàm thoại để hỗ trợ cho phương pháp điều tra này
1.5.6 Bảng thống kê kết quả điều tra
Với phương pháp điều tra nêu trên, chúng tôi đã thu được kết quả nghiên cứu về thực trạng việc xây dựng hệ thống bài tập chủ đề phân số nhằm phát huy tính tích cực của học sinh như sau (Bảng 1):
Trang 21Và kết quả điều tra việc sử dụng phần mềm Violet trong việc xây dựng
1.5.7 Kết luận điều tra
Qua kết quả của phiếu điều tra có thể rút ra một số kết luận sau đây: Hầu hết giáo viên đều có nhận thức đúng về tính tích cực của học sinh trong học tập
và đã biết cách vận dụng nó vào quá trình giảng dạy Tuy nhiên, hiệu quả của việc vận dụng là chưa cao Tỷ lệ giáo viên thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin đặc biệt là phần mềm Violet trong dạy học chưa được phổ biến Có thể nói việc ứng dụng phần mềm Violet để xây dựng hệ thống bài tập trong quá trình dạy học ở trường Tiểu học chưa được quan tâm đúng mức Việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và phần mềm VIOLET nói riêng vào trong dạy học còn hạn chế
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ở chương 1, chúng tôi nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan và tìm hiểu về tính tích cực trong học tập của học sinh và ứng dụng phần mềm Violet để xây dựng hệ thống bài tập
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và tìm hiểu thực tiễn, có thể thấy cần thiết và có thể ứng dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập chủ đề
“phân số” nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Trang 22CHƯƠNG 2
SỬ DỤNG PHẦN MỀM VIOLET XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHỦ ĐỀ “PHÂN SỐ” NHẰM TÍCH CỰC HÓA
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
2.1 Yêu cầu của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
2.1.1 Cơ sở phân loại của hệ thống bài tập trong dạy học môn toán
Hệ thống được hiểu như là một tập hợp các yếu tố liên kết với nhau bằng
những quan hệ đa dạng và tạo nên một thể thống nhất, toàn vẹn
Vì vậy, hệ thống bài tập được hiểu như là một tập hợp các bài tập có liên quan mật thiết với nhau và cùng đáp ứng một mục tiêu dạy học nhất định Ở đây, chúng ta xem xét một hệ thống bài tập mở, nghĩa là một hệ thống mà chúng
ta có thể bổ xung mở rộng thêm các loại bài tập thành phần Ngoài ra, cũng cần nhấn mạnh rằng hệ thống bài tập phải xây dựng tương thích với hoạt động học tập của học sinh Vì vậy, hệ thống bài tập là công cụ quan trọng để định hướng quá trình tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh nhằm hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực học tập toán và kích thích tính
tích cực trong hoạt động học tập của học sinh
Vấn đề đặt ra ở đây là cần phải xây dựng một hệ thống bài tập, cụ thể là bao gồm các dạng loại bài tập nào cho phép người giáo viên có thể tổ chức các
hoạt động học tập tích cực của học sinh
Đã có nhiều nhà nghiên cứu lý luận dạy học đưa ra các quan điểm khác nhau khi phân loại hệ thống câu hỏi, bài tập trong dạy học Có quan điểm phân loại hệ thống bài tập dựa vào mục đích dạy học ; Có thể phân chia theo nội dung dạy học; hoặc dựa vào mức độ tích cực của học sinh trong học tập Mỗi quan điểm phân loại đều có ưu điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào mục đích và phương pháp sử dụng nó trong quá trình dạy học Sau đây, chúng tôi xin đưa ra một số cách phân loại cụ thể
Trang 232.1.1.1 Dựa vào mục đích dạy học
Dựa vào mục đích dạy học có thể chia thành 3 loại sau :
* Loại bài tập dùng để dạy bài mới
Loại bài tập này dùng để tổ chức, hướng dẫn học sinh nghiên cứu tài liệu mới Khi học sinh trả lời được câu hỏi hoặc giải được bài tập thì sẽ chiếm lĩnh được kiến thức mới Do vậy mỗi câu hỏi, bài tập dùng để dạy bài mới phải mã hoá được nội dung kiến thức Giáo viên có thể nêu thêm những câu hỏi để gợi ý, tăng yếu tố đã biết để học sinh giải quyết vấn đề học tập Vì vậy, tuỳ từng đối
tượng học sinh mà tính chất câu hỏi phụ là khác nhau
* Loại câu hỏi dùng để củng cố và hoàn thiện tri thức
Loại câu hỏi và bài tập này được thiết kế dựa trên những tri thức đã có của học sinh Nhưng các kiến thức đó còn rời rạc, tản mạn, chưa thành hệ thống
Do đó chúng có tác dụng củng cố kiến thức đã học, đồng thời khái quát và hệ
thống hoá kiến thức đó, nhằm phát triển tư duy logic cho các em
* Loại câu hỏi, bài tập dùng để kiểm tra đánh giá
Loại câu hỏi, bài tập này dùng để kiểm tra đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh có thể sau một bài học, một chương hoặc một phần của chương trình Giáo viên cần sử dụng bài tập vừa sức với học sinh, phải phù hợp với thời gian quy định làm bài và kiểm tra được những kiến thức trọng tâm, những nội dung kiến thức khác của chương trình
2.1.1.2 Dựa vào nội dung dạy học
Dựa vào nội dung dạy học có thể phân chia thành các loại bài tập sau: bài tập số học; bài tập về đại lượng và đo đại lượng; bài tập về hình học và bài tập về giải toán có lời văn,…
2.1.1.3 Dựa vào mức độ tích cực của học sinh trong hoạt động học tập
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi quan tâm đến việc phân chia dạng loại các bài tập tương thích với các dạng cơ bản trong hoạt
động học tập của học sinh
Theo Pitcaxixtưi hoạt động học tập được chia thành 3 dạng cơ bản: hoạt
động tái hiện; hoạt động tái tạo và hoạt động sáng tạo:
Trang 24+ Hoạt động tái hiện: Là hoạt động học sinh dùng trí nhớ và tư duy tái
hiện để nhớ lại nội dung kiến thức đã học
+ Hoạt động tái tạo: Là hoạt động mà học sinh tiến hành nhiều hoạt động
thành phần để giải quyết các tình huống khác nhau trong bài
+ Hoạt động sáng tạo: Là hoạt động chủ động, sáng tạo của học sinh để
giải quyết vấn đề khái quát hơn bằng sự suy nghĩ sáng tạo của học sinh
Muốn phát huy tính tích cực học tập của học sinh thì cần tổ chức, khuyến khích các hoạt động tái tạo và sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, không thể xem nhẹ việc cung cấp cho học sinh một vốn tri thức, kỹ năng cơ bản, đủ để thực hiện các hoạt động tái tạo và sáng tạo Nghĩa là không thể xem nhẹ hoạt động tái hiện Mọi hoạt động khác đều không thể thực hiện được nếu học sinh không có khả năng ghi nhớ, tái hiện Vì vậy, việc cần làm đầu tiên trong dạy học là phải
tạo ra sự tái hiện tốt
2.1.2 Cấu trúc cụ thể của các dạng bài tập
Từ những căn cứ như đã nêu trên, chúng tôi xem xét 4 dạng bài tập cơ bản trong hệ thống bài tập toán dành cho học sinh tiểu học nói chung và cho chủ
đề “Phân số” nói riêng Đó là các dạng bài tập sau:
+ Dạng 1: Là dạng bài tập mà khi giải học sinh chỉ cần dựa vào trí nhớ
và tư duy tái hiện để nhớ lại những nội dung kiến thức mà các em đã được học như: các khái niệm, tính chất, quy tắc, công thức toán học Các bài tập này, giúp các em ôn tập củng cố nội dung kiến thức đã học, để các em có thể ghi nhớ, không bị lãng quên kiến thức và sau khi giải bài tập các em lĩnh hội được nội dung kiến thức cơ bản Các bài tập dạng này còn được xem như là các bài tập cơ
bản (được thể hiện trong sách giáo khoa) Chúng tôi gọi các bài tập này là bài tập tái hiện
Trang 25b) Trong phân số đó, mẫu số cho biết gì, tử số cho biết gì? [BT toán 4, tr 29]
+ Dạng 2: Là dạng bài tập không chỉ đơn thuần yêu cầu học sinh tái hiện lại
những kiến thức đã học như: các khái niệm, tính chất, các quy tắc toán học mà yêu cầu học sinh khi giải phải qua nhiều bước trung gian và phải tổ chức, sắp xếp
lại các kiến thức đã học Chúng tôi gọi các bài tập này là bài tập tái tạo Như vậy,
bài tập tái tạo là những bài tập giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải bài tập và giúp các em nắm chắc hơn về nội dung kiến thức mà các em đã tiếp thu được
Ví dụ: Trong các nhóm hai phân số dưới đây, nhóm nào có hai phân số bằng nhau? [BT Toán 4, tr.32]
+ Dạng 3: Là dạng bài tập có chứa đựng những tình huống khác nhau Để
giải các bài tập này, học sinh không chỉ tái hiện lại những kiến thức đã học về các khái niệm, tính chất, các công thức quy tắc toán học mà còn phải vận dụng nó một cách linh hoạt, để giải quyết những tình huống khác nhau trong bài Các bài tập này đôi khi không còn “gần gũi” với nguyên mẫu mà là các bài tập
đã bị “biến dạng” đi Điều này đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng tri thức đã có
vào hoàn cảnh mới Chúng tôi gọi các bài tập này là bài tập phát triển
Ví dụ: Viết số thích hợp vào ô trống: [Toán 4, tr.114]
54 27 3
72 12
+ Dạng 4: Là dạng bài tập mang nhiều khả năng huy động tính sáng tạo,
chủ động của học sinh Các bài tập này yêu cầu học sinh vận dụng phối hợp những kiến thức đã học, để giải quyết vấn đề khái quát hơn, bằng sự suy nghĩ
sáng tạo của HS Chúng tôi gọi các bài tập này là bài tập sáng tạo
Ví dụ: Viết phân số thích hợp vào chỗ trống (theo mẫu): [BT Toán 4, tr.30]
0 1
5
2 5
1
Trang 262.1.3 Các yêu cầu của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
2.1.3.1 Yêu cầu 1:
Hệ thống bài tập cần góp phần ôn tập, tái hiện và chuẩn bị một cách tích cực vốn tri thức cho học sinh khi học kiến thức mới Việc sử dụng hệ thống bài tập một cách hiệu quả nhất sẽ cho phép xác định động cơ, gây hứng thú, hình thành nhu cầu và tính tích cực nhận thức cho học sinh
Nhưng nhu cầu nhận thức chỉ xuất hiện khi học sinh có vốn tri thức, khả
năng tối thiểu để có thể giải quyết được nhiệm vụ đặt ra (với sự nỗ lực trí tuệ của học sinh) Vì vậy, vốn tri thức tối thiểu cần thiết là rất quan trọng trong quá trình học tập Trong giảng dạy người giáo viên cần xác định xem trước khi học kiến thức mới học sinh đã có vốn tri thức kỹ năng đến đâu, đã hiểu và nhận biết được những tri thức nào phục vụ cho việc giải quyết nhiệm vụ sắp tới Mỗi tri thức mới bao giờ cũng được hình thành dựa trên một tập hợp các tri thức đã biết Trên cơ sở đó xác định các câu hỏi và bài tập nhằm gợi mở, bổ trợ cho học sinh chuẩn bị lĩnh hội các tri thức mới Điều này đặc biệt quan trọng đối với học sinh yếu kém, hoặc đối với những học sinh còn thiếu tính vững chắc trong kiến thức
đã thu nhận được
Vì vậy, yêu cầu đầu tiên đối với hệ thống bài tập là trước khi học về kiến thức mới cần có những câu hỏi và bài tập giúp học sinh ôn tập, củng cố một cách tích cực kiến thức, kỹ năng sẽ là điểm tựa để tiếp thu tri thức mới
Chẳng hạn: Trước khi học khái niệm Phân số giáo viên cần cho học sinh
ôn tập về “các phần bằng nhau của đơn vị” mà học sinh đã được học từ lớp 2 và lớp 3
Ví dụ 1: Hình nào có 1
2 số ô vuông được tô màu?
Trang 27Ví dụ 2: Hình nào có 1
3 số bông hoa được tô màu?
Ví dụ 3: Ngăn trên có 6 quyển sách, ngăn dưới có 24 quyển sách Hỏi số sách ở ngăn trên bằng một phần mấy số sách ở ngăn dưới?
Việc ôn tập sẽ giúp học sinh chuyển vốn kiến thức, kỹ năng bị động của họ thành một công cụ hoạt động tích cực trong việc chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng mới
Do đó học sinh có niềm tin chắc chắn hơn vào những tri thức, kỹ năng mới, cho phép nâng cao tính tích cực học tập, hứng thú học tập bộ môn toán của học sinh
Chẳng hạn: Cùng một bản chất là áp dụng tính chất cơ bản của phân số,
có thể ra các dạng bài tập như sau:
Ví dụ 1: Số thích hợp để viết vào ô trống của 3
Trang 28Các ví dụ trên chỉ khác nhau ở độ biểu đạt về tính chất cơ bản của phân số
mà thôi Trong ví dụ 1, học sinh áp dụng trực tiếp tính chất cơ bản ở các ví dụ 2
và ví dụ 3, học sinh phải dự đoán, mò mẫm một chút, chứ không thể áp dụng trực tiếp tính chất cơ bản được Ở đây, học sinh áp dụng một chút gì đó của sự nhanh trí, mềm mại, uyển chuyển trong tư duy Do đó phát huy được tính tích cực, độc lập trong học tập của học sinh
Những ví dụ trên còn cho thấy cách lựa chọn câu hỏi, bài tập sao cho phù hợp với trình độ của từng đối tượng học sinh cũng như phù hợp với từng hoàn cảnh, tình huống dạy học cụ thể
Ngoài ra phải thấy rằng các bài tập này cùng một bản chất (hoặc cùng kiểu dạng) còn cho phép hình thành ở học sinh thuật giải một lớp các bài toán như vậy Việc hình thành kỹ năng giải (thuật giải) một lớp bài toán là rất quan
Trang 29trọng đối với học sinh tiểu học (bậc học của kỹ năng), mà điều này được hình thành từ những gì được ôn tập, lặp đi, lặp lại đối với học sinh
2.1.3.3 Yêu cầu 3:
Các bài tập phát triển đòi hỏi học sinh phải vận dụng một cách linh hoạt
để giải quyết các tình huống khác nhau, sẽ cho phép tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Khi giải những bài tập này đòi hỏi học sinh phải có những nỗ lực trí tuệ nhất định và phải thể hiện
sự sáng trí, linh hoạt trong việc lựa chọn các thao tác biến đổi cũng như các phương án giải bài toán Nếu học sinh thụ động hoặc không tập chung chú ý thì
sẽ không giải quyết được các bài tập dạng này
Với những bài tập dạng phát triển để giải được học sinh không thể chỉ dừng ở một bước suy luận lôgíc mà đôi khi đòi hỏi học sinh phải có trực giác, sự mềm dẻo trong tư duy
Trong hệ thống những bài tập phát triển, người ta thường đưa ra những dạng bài tập không thật đã được làm quen đối với học sinh Điều đó đòi hỏi học sinh phải tìm cách đưa bài toán mới, tình huống mới về bài toán hoặc tình huống
đã quen biết Và việc giải quyết những bài tập này, không chỉ góp phần phát huy tính tích cực của học sinh mà còn phát triển khả năng sáng tạo
Một trong những đặc điểm quan trọng của dạng bài tập phát triển, đôi khi không có mẫu giải sẵn Nghĩa là việc giải những bài tập này không được sắp xếp theo một thuật toán nhất định Vì vậy, học sinh phải tìm kiếm, phát hiện cách giải Việc phát hiện ra thuật toán mới, đòi hỏi học sinh phải nỗ lực trí tuệ, nhưng
bù lại sẽ tạo nên ở học sinh sự ham thích hơn đối với môn toán
Ví dụ: Khoanh tròn vào các phân số bằng nhau:
Trang 302.1.3.4 Yêu cầu 4:
Các bài tập phát triển đòi hỏi học sinh phải vận dụng phối hợp các kiến thức đã học, để giải quyết vấn đề khái quát hơn, bằng sự suy nghĩ sáng tạo của học sinh Khi giải bài tập này, học sinh không chỉ thể hiện sự nỗ lực trí tuệ và sự linh hoạt trong việc lựa chọn cách giải bài toán mà bài tập còn đòi hỏi học sinh phải có sự suy nghĩ sáng tạo để tìm ra được cách giải hay nhất, độc đáo nhất
Nếu học sinh chỉ biết vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học để giải bài tập mà không phát huy được khả năng tư duy lôgíc thì các em sẽ không tìm
ra được cách giải hay cách giải độc đáo của bài toán
Trong hệ thống bài tập sáng tạo, người ta thường đưa ra những bài tập có nhiều tình huống có vấn đề Điều đó đòi hỏi học sinh phải tìm ra một cách giải mới hay hơn, ngắn gọn hơn so với các cách giải mà các em đã được học
Một trong những đặc điểm quan trọng của bài tập sáng tạo là những bài tập này không hề có mẫu giải sẵn hay không có thuật giải nhất định Việc tìm ra cách giải mới, độc đáo sẽ tạo được nhu cầu và hứng thú thực sự cho học sinh trong quá trình giải bài tập
Cách 1: Rút gọn phân số trên, để được phân số tối giản Rồi xem nó trùng với phân số nào
Cách 2: Tìm phân số tối giản trong các phân số trên và xét xem phân số tối giản nào là rút gọn của phân số đã cho
2.1.4 Yêu cầu của việc sử dụng phần mềm dạy học trong việc xây dựng hệ thống bài tập
Để góp phần rèn luyện tính tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
ở trường Tiểu học thong qua hoạt động giải bài tập toán, chúng tôi sử dụng phần
Trang 31mềm dạy học, cụ thể ở đây là phần mềm VIOLET để xây dựng hệ thống bài tập, với các yêu cầu cụ thể sau:
- Hệ thống phải bao quát, rèn luyện tính tích cực của học sinh
- Hệ thống được trình bày rõ ràng, xúc tích, dễ hiểu, không cầu kỳ, giúp học sinh dễ dàng nhận biết các dạng bài tập cụ thể
- Hệ thống bao gồm các bài tập với nhiều mức độ phức tạp khác nhau và được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó phù hợp với nhiều trình độ học sinh
2.2 Sử dụng phần mềm Violet xây dựng hệ thống bài tập chủ đề “Phân số” theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo: “Tính tích cực nhận thức - học tập vận
dụng đối với học sinh đòi hỏi phải có những nhân tố, tính lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức, đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần phải giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng trong hoạt động sau này nhằm giải quyết vấn đề: Hoạt động mà thiếu những nhân tố đó thì chỉ có thể nói đó là sự thể hiện trạng thái hành động nhất định của con người mà không thể nói là tính tích cực nhận
thức
Như vậy, hệ thống bài tập phát huy tính tích cực của học sinh là hệ thống bài tập mà khi giải những bài tập này, trong đầu óc trẻ phải diễn ra một quá trình
huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý sau:
+ Để thể hiện tính lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức, học sinh phải sử dụng các giác quan, tập trung sự chú ý, lắng nghe giáo viên đưa ra nội dung, yêu cầu của bài tập Sau khi giáo viên đưa ra nội dung bài tập, học sinh phải biết được đây là bài tập của nội dung kiến thức nào Nếu học sinh không tập chung sự chú ý về phía giáo viên, hoặc các em không chủ động để tiếp nhận nội dung bài tập thì các em sẽ không lựa chọn được đối tượng nhận thức, học sinh sẽ không biết nội dụng kiến thức này, có trong phần nào và sẽ không hiểu
được yêu cầu, nhiệm vụ của bài tập
+ Khi đã lựa chọn được đối tượng nhận thức, học sinh phải tập trung trí tuệ vào việc suy nghĩ để xác định được nhiệm vụ của mình là phải tái hiện, vận dụng những kiến thức cơ bản nào khi giải bài tập Nếu học sinh chỉ chú ý lắng
Trang 32nghe giáo viên đưa ra nội dung bài tập, mà không có ý định suy ngẫm mối liên
hệ giữa điều thấy được, nghe được với những kiến thức mà các em đã được học thì học sinh không hiểu được nhiệm vụ mà giáo viên đưa ra Từ đó các em sẽ
không xác định được nội dung kiến thức mà các em cần phải tái hiện
+ Sau khi đã hiểu được nhiệm vụ mà giáo viên đưa ra, học sinh phải huy động trí nhớ và tư duy tái hiện của mình để tái hiện lại nội dung kiến thức cơ bản đã học Nếu học sinh không nắm chắc kiến thức cơ bản, hoặc không tích cực tái hiện lại nội dung kiến thức cơ bản này thì các em sẽ dễ nhầm lẫn trong quá
bài tập Sau đây là các dạng bài tập thuộc chủ đề: “phân số”
2.2.1 Hệ thống bài tập về khái niệm phân số
2.2.1.1 Bài tập tái hiện
Bài tập tái hiện về khái niệm phân số là những bài tập yêu cầu học sinh tái hiện lại kiến thức đã học về khái niệm phân số, phân số và phép chia số tự nhiên Trong phần khái niệm phân số có những dạng bài tập sau:
+ Cho cách đọc phân số, yêu cầu học sinh viết phân số
+ Cho hình vẽ đã tô màu, yêu cầu học sinh viết rồi đọc phân số chỉ phần
tô màu trong hình
+ Cho thương của phép chia, yêu cầu học sinh viết thương của mỗi phép chia dưới dạng phân số, rồi tính giá trị của thương
Ví dụ 1 Viết phân số sau: Năm mươi hai phần tám mươi tư [Toán 4, tr.107]
Các phân số trong bài tập này đều có tử số và mẫu số là số có hai chữ số (hoặc có tử số hay mẫu số là số có hai chữ số), đòi hỏi học sinh phải tích cực tái hiện lại kiến thức đã học về cách viết phân số, nếu không các em sẽ dễ bị nhầm giữa cách đọc và cách viết phân số
Trang 33Phân số phù hợp với cách đọc trên là 52
84 Nếu các em không tích cực tái hiện lại cách viết phân số thì có thể các em sẽ viết như sau: 502
804 hoặc 50
284 Vì vậy, để viết đúng phân số theo cách đọc thì học sinh phải tích cực tái hiện lại kiến thức đã học, về cách viết phân số
Nếu bài tập đưa ra cách đọc các phân số, mà tử số và mẫu số của nó chỉ
có một chữ số thì khi viết phân số khó tạo ra tình huống nhầm lẫn của học sinh
Vì vậy bài tập này không đòi hỏi học sinh phải thực sự phát huy tính tích cực của mình, trong việc tái hiện lại kiến thức đã học về cách viết phân số
Chẳng hạn: Viết phân số: Ba phần năm
Khi làm bài tập này, học sinh dễ dàng viết được phân số có tử số là ba và mẫu số là năm (3
2.2.1.2 Bài tập tái tạo
Bài tập tái tạo về khái niệm phân số là những bài tập yêu cầu học sinh phải tái hiện lại những kiến thức đã học và vận dụng linh hoạt những kiến thức
đã học về khái niệm phân số, phân số và phép chia số tự nhiên để giải bài tập
Trang 34Chẳng hạn: Khi học về khái niệm phân số, giáo viên đưa ra một hình chữ nhật đã được chia thành các phần bằng nhau, yêu cầu học sinh nêu cách đọc phân số rồi tô màu các phần để được phân số chỉ phần tô màu
Ví dụ 1 Nêu cách đọc phân số rồi tô màu hình dưới đây để được phân số
đề đối với học sinh nên bài tập này tạo ra nhu cầu và hứng thú cho học sinh trong quá trình giải bài tập
Nếu học sinh không tích cực tái hiện lại kiến thức đã học, về cách viết phân số, dựa vào số phần bằng nhau được chia và số phần tô màu thì có thể các
em chỉ tô màu 1 phần nhỏ, trong sè 12 phần của hình Nh- vậy, số phần tô màu
sẽ tương ứng với phân số 1
12, chứ không phải phân số 1
3
2.2.1.3 Bài tập phát triển
Bài tập phát triển về khái niệm phân số là những bài tập yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức đã học về khái niệm phân số, phân số và phép chia số
Trang 35tự nhiên vào từng tình huống cụ thể, khác với những tình huống đã được học
Đó là những dạng bài tập sau:
+ Cho các phân số (hoặc tử số và mẫu số), yêu cầu học sinh viết theo
mẫu
+ Cho các phân số và cách đọc các phân số, yêu cầu học sinh nối phân số
tương ứng với cách đọc của phân số đó
+ Cho các phân số, yêu cầu học sinh viết mỗi phân số dưới dạng thương
và tính giá trị của thương
+ Cho các số tự nhiên, yêu cầu học sinh viết mỗi số tự nhiên dưới dạng
5 12
Ví dụ 2 Viết mỗi số tự nhiên sau dưới dạng phân số có mẫu số bằng 1: [Toán 4, tr 110]
8; 14 ; 32 ; 0 ; 1
Bài tập đòi hỏi học sinh phải áp dụng kiến thức về phân số và phép chia
số tự nhiên Các em đã được học cách viết phép chia số tự nhiên cho một số tự nhiên (khác 0) dưới dạng phân số Nhưng đối với bài tập này học sinh phải vận dụng những kiến thức đó, để viết các số tự nhiên dưới dạng phân số có mẫu số bằng 1 Nếu học sinh không biết cách vận dụng những kiến thức đã học, để giải quyết tình huống này thì các em sẽ không giải được bài tập Vì vậy bài tập này
Trang 36phát huy tính tích cực tìm tòi của học sinh, trong việc tìm ra mối quan hệ giữa số
tự nhiên và phân số Bất kỳ một số tự nhiên nào các em cũng có thể viết chúng dưới dạng phân số có mẫu số bằng 1 Chẳng hạn:
sẽ không phát huy được tính tích cực của học sinh Vì các em đã được học cách viết thương của mỗi phép chia dưới dạng phân số có mẫu số bằng 1, nên khi giải bài tập nàyhọc sinh chỉ việc nhớ lại những kiến thức mà các em đã được học rồi viết tương tự là được.Chẳng hạn:
8 : 1 ; 14 : 1 ; 32 : 1 ; 0 : 1 ; 1 : 1 ;
2.2.1.4 Bài tập sáng tạo
Bài tập sáng tạo về khái niệm phân số là những bài tập yêu cầu học sinh vận dụng phối hợp những kiến thức đã học về khái niệm phân số, tử số và mẫu
số, các kiến thức về phân số và phép chia số tự nhiên, để giải bài tập bằng sự suy
nghĩ sáng tạo của học sinh Đó là những bài tập sau:
+ Cho tia số, đã được chia thành các phần bằng nhau và giá trị của một số điểm trên tia số Yêu cầu học sinh viết phân số thích hợp vào những điểm còn lại
trên tia số
+ Cho đoạn thẳng đã được chia thành các phần bằng nhau và một số điểm
trên đoạn thẳng đó Yêu cầu học sinh viết phân số ứng với mỗi đoạn thẳng
Ví dụ 1 Viết phân số thích hợp vào chỗ chấm (theo mẫu): [BT Toán 4, tr.30]
Trang 37C I N D b)
Bài tập này phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, trong việc vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học về các phần bằng nhau được chia và số phần được tô màu của hình, để xác định vị trí của các phân số trên tia số Tổng
số các đoạn thẳng trên tia số, cũng như tổng số phần được chia của hình và mỗi điểm trên tia số ứng với số phần được tô màu Từ đó các em có thể viết các phân
số ứng với mỗi điểm trên tia số
Ví dụ 2 Viết phân số thích hợp vào chỗ trống (theo mẫu): [BT Toán 4, tr.30]
2.2.1.5 Minh họa hệ thống bài tập trên với phần mềm Violet
* Hệ thống bài tập về khái niệm phân số
Trang 38121 có là số hạng của dãy hay không?
* Cách chuyển tải nội dung của hệ thống bài tập trên lên máy tính
Trang 39+ Đề tài đã sử dụng phần mềm Violet (tải từ website www.vicosoft.com.)
+ Màn hình Violet được minh họa như sau:
2.2.2 Phân số bằng nhau
2.2.2.1 Bài tập tái hiện
Bài tập tái hiện về phân số bằng nhau là những bài tập yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã học về tính chất phân số là có thể giải được bài tập Để có thể tìm được một phân số bằng phân số đã cho nhưng có tử số và mẫu số lớn hơn hoặc nhỏ hơn, học sinh có thể nhân hoặc chia cả tử số và mẫu số của phân
số đó với một số tự nhiên khác 0
Trong phần phân số bằng nhau có những dạng bài tập tái hiện sau:
+ Cho một phân số, yêu cầu học sinh tìm các phân số bằng phân số đó (theo mẫu)
+ Cho hai phân số bằng nhau, trong đó viết thiếu tử số hoặc mẫu số của một phân số, yêu cầu học sinh viết số thích hợp vào ô trống
số với cùng một số tự nhiên khác 0) Khi giải bài tập này, học sinh có thể lựa chọn bất kỳ số tự nhiên nào nhân với phân số 3
4, cũng tìm được phân số bằng
Trang 40tự nhiên khác 0 Nhưng đối với bài tập này, học sinh phải tái hiện lại kiến thức
đã học để tìm ra tử số của phân số bằng phân số 2
đã cho một cách nhanh hơn, ngắn gọn hơn
Nếu sau khi đã học về phân số bằng nhau, giáo viên ra bài tập đã cho các phân số mà tử số và mẫu số của chúng, đã cùng tăng lên hay giảm đi một số lần, chỉ yêu cầu học sinh tìm kết quả, rồi điền vào ô trống để tìm được phân số bằng phân số đã cho, thì bài tập như vậy sẽ không phát huy được tính tích cực của học sinh
Chẳng hạn: Giáo viên yêu cầu học sinh điền vào chỗ trống: 2 2 3
5 5 3
, thì khi giải bài tập này, học sinh không phải tái hiện lại những kiến thức đã học
về phân số bằng nhau, mà học sinh chỉ cần tìm kết quả của phép nhân ở tử số và mẫu số rồi điền vào ô trống là tìm được phân số bằng phân số đã cho Vì vậy, bài tập này không phát huy được tính tích cực của học sinh trong việc tái hiện lại kiến thức đã học về phân số bằng nhau