Thực trạng việc dạy học các yếu tố toán chuyển động và việc rèn luyện, phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hùng Vương - Thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ 20 C
Trang 1Lời cảm ơn !
Kớnh thưa cỏc thầy cụ giỏo ! Thưa cỏc bạn sinh viờn thõn mến !
Sau một thời gian nghiờn cứu và thực hiện đến nay đề tài: Rốn luyện và phỏt triển kỹ năng giải toỏn thụng qua hệ thống bài tập toỏn chuyển đụng lớp 5 của
em đó được hoàn thành
Em xin được bày tỏ lũng cảm ơn Ban giỏm hiệu, Phũng quản lý khoa học và quan hệ quốc tế trường Đại học Hựng Vương, Ban chủ nhiệm khoa, Cỏc thầy cụ giỏo Khoa Giỏo dục Tiểu học và Mầm non,thư viện trường Đại học Hựng Vương
đó giỳp đỡ em trong suốt quỏ trỡnh thực hiện đề tài
Với tấm lũng kớnh trọng và biết ơn sõu sắc, em xin được chõn thành cảm ơn thầy giỏo, Thạc sĩ Lờ Văn Lĩnh – Phú trưởng khoa Giỏo Dục Tiểu học và mầm non, người đó tận tỡnh hướng dẫn và giỳp đỡ em trong suốt quỏ trỡnh thực hịờn đề tài nghiờn cứu khoa học này
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giỏo, các em học sinh khối lớp 5 tr-ờng tiểu học Hựng Vương, Thị xó Phỳ Thọ, tỉnh Phỳ Thọ đó tạo điều kiện hợp tác và giỳp đỡ em trong quá trình thực nghiệm đề tài tại tr-ờng
Do thời gian và năng lực cú hạn đề tài khụng trỏnh khỏi những thiếu xút Em kớnh mong nhận được sự đúng gúp ý kiến quý bỏu của cỏc thầy cụ và cỏc bạn sinh viờn để cho đề tài hoàn thiện hơn
Em xin chõn thành cảm ơn !
Phỳ Thọ, thỏng 5 năm 2013
Sinh viờn thực hiện
Nguyễn Thị Minh Lan
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ RÈN LUYỆN
VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5
THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP VỀ CHUYỂN ĐỘNG
Trang 3a) Khái niệm 10
1.2.1.3 Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh và việc lựa chọn
b) Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức của học sinh Tiểu học 12 c) Tính tích cực nhận thức và kết quả học tập của học sinh 13 d) Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh bằng cách lựa chọn
1.2.2 Vị trí, chức năng của bài tập toán ở Tiểu học 14 1.2.3 Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học toán chuyển
1.2.3.1 Mục tiêu dạy học toán chuyển động ở lớp 5 15
Trang 4f) Phương pháp ôn tập, củng cố, hệ thống hoá các kiến thức và kỹ năng
1.2.4 Vai trò của dạy học toán chuyển động và rèn luyện kỹ năng giải
1.3.1 Thực trạng việc dạy học các yếu tố toán chuyển động và việc rèn
luyện, phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5 trường Tiểu
học Hùng Vương - Thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ
20
CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIẢI
TOÁN CHO HỌC SINH THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP
TOÁN CHUYỂN ĐỘNG LỚP 5
24
2.3 Rèn luyện và phát triển kỹ năng giải toán 28
2.3.1 Rèn luyện và phát triển kỹ năng nhận thức 28
2.3.2 Rèn luyện và phát triển kỹ năng thực hành 29
Trang 52.3.2.2 Kỹ năng toán học hoá tình huống thực tế 29
2.3.3 Rèn luyện và phát triển kỹ năng tổ chức hoạt động nhận thức 30 2.3.4 Rèn luện và phát triển kỹ năng tự kiểm tra đánh giá 30 2.4 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập toán chuyển động nhằm rèn
luyện và phát triển kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5 31
2.5.1 Nội dung của các bài toán phải đáp ứng đúng mục đích, yêu cầu của bài
2.5.2 Bài toán phải phù hợp với trình độ kiến thức của học sinh 33
2.5.4 Câu hỏi của bài toán phải rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa 33
2.5.6 Số liệu của bài toán phải phù hợp với thực tế 34 2.5.7 Ngôn ngữ của bài toán phải ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu 34 2.6 Cấu trúc cụ thể của các dạng bài tập toán chuyển độn g 35
2.6.2 Các dạng bài toán chuyển động nâng cao 47
2.6.2.2 Dạng 2: Các bài toán về hai chuyển động cùng chiều 55 2.6.2.3 Dạng 3: Các bài toán về hai chuyển động ngược chiều 61 2.6.2.4 Dạng4: Các bài toán về vật chuyển động trên dòng nước 67 2.6.2.5 Dạng5: Các bài toán về vật chuyển động có chiều dài đáng kể 74
2.7 Một số biện pháp bước đầu rèn luyện và phát triển kỹ năng giải toán
Trang 62.7.1 Trong giảng bài mới 79
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG ĐỀ TÀI
Bảng 1.1: Mức độ sử dụng phương pháp dạy học các yếu tố toán chuyển
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nhân loại đang bước vào thế kỉ XXI, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Xã hội đang dần tiến đến “ xã hội học tập” con người vừa là mục đích, vừa là mục tiêu - động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển kinh tế xã hội đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân Vì lẽ đó có thể coi giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển Có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá Chính nhờ giáo dục mà các di sản tư tưởng và kỹ thuật của thế hệ trước mới có thể truyền lại cho thế hệ sau Các di sản này tích luỹ càng phong phú làm cho xã hội càng phát triển Trong văn kiện hội nghị TW4 - khoá VII đã khẳng định: “ Giáo dục đào tạo là chìa khoá mở cửa tiến vào tương lai” Chính vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho các bậc học nói chung và bậc Tiểu học nói riêng
là phải giáo dục cho học sinh phát triển một cách toàn diện, hài hoà, đầy đủ các mặt tri thức, đạo đức, thẩm mĩ và thể chất
Theo Quyết định số 2994/QĐ-BGDĐT đã ban hành và triển khai cho giáo viên được tập huấn giáo dục kỹ năng sống trong một số môn học và hoạt động giáo dục của các cấp học Tiểu học là bậc học nền tảng đặt nền móng vững chắc cho giáo dục Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Đất nước
ta đang bước vào thời kì đổi mới Chất lượng giáo dục là vấn đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục và là vấn đề sống còn của một đất nước Vấn đề lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học là một vấn đề mang tính quyết định đối
Trang 11với chất lượng dạy và học, điều này đang được quan tâm vì trong nhà trường Tiểu học hoạt động dạy học và giáo dục được tiến hành khá đơn điệu ( cả về mặt hình thức và phương pháp dạy học ) Do vậy phương pháp dạy học cần phải được đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
1.2 Trong quá trình phát triển giáo dục với sự nỗ lực chung của đội ngũ giáo viên, các phương pháp dạy học truyền thống đã được vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của nhà trường Tiểu học Việt Nam và có những đóng góp đáng kể trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục qua môn Toán nói riêng
Hiện nay ở tất cả các bậc học từ bậc Mầm non đến bậc Đại học đã và đang đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy ở tất cả các môn học Trong việc đổi mới phương pháp dạy học với tư tưởng chủ đạo được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: “ Lấy người học làm chung tâm”, “ Phát huy tính tích cực”, “ Phương pháp dạy học tích cực”, “ Tích cực hoá hoạt động”, Những ý tưởng này đều bao hàm yếu tố tích cực, có tác dụng thúc đẩy phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo
Tuy nhiện việc vận dụng những phương pháp dạy học tích cực vào dạy học nói chung, dạy học ở Toán Tiểu học nói riêng, nhất là dạy các dạng toán chuyển động ở Tiểu học để đạt được chất lượng cao quả là điều không dễ đối với các giáo viên
1.3 Toán chuyển động chiếm một vị trí rất quan trọng trong chương trình toán lớp 5 và cũng là loại toán không thể thiếu trong chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 5 Đây là một dạng toán khó, nội dung phong phú, đa dạng vì thế cần phải có phương pháp cụ thể đề ra dạy giải các bài toán này để đáp ứng các nội dung bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, bồi dưỡng
Trang 12nâng cao khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo của học sinh Tiểu học.Qua các bài toán chuyển động góp phần củng cố kiến thức số học, đại lượng và phép đo đại lượng, phát triển năng lực thực hành, năng lực tư duy đối với học sinh Tiểu học, rèn luyện cho học sinh nhiều đức tính, phẩm chất tốt như: cẩn thận, cần cù, chu đáo, khéo léo và thích sự chính xác, làm việc có kế hoạch Nó giúp các em định hướng trong không gian, gắn liền việc học với cuộc sống xung quanh, là mảng kiến thức quan trọng làm nền móng ở bậc học cao hơn Đồng thời dạy toán chuyển động
là một biện pháp quan trọng gắn học với hành, kiến thức với thực tiễn, nhà trường với cuộc sống Các bài toán về chuyển động có rất nhiều các kiến thức được áp dụng vào thực tế đời sống Vì thế các bài toán về chuyển động cung cấp một lượng vốn sống hết sức cần thiết cho một bộ phận các em học sinh không có điều kiện học tiếp phổ thông cơ sở phải nghỉ học để tham gia lao động sản xuất Mặt khác các em học sinh lên tiếp phổ thông cơ sở thì các bài toán về chuyển động giúp các
em có một nền móng vững chắc để học tiếp chương trình toán học lớp 6
1.4 Thực trạng dạy và học các dạng toán chuyển động ở Tiểu học nói chung
và ở lớp 5 nói riêng trong hầu hết các trường Tiểu học cho thấy: Đối với các em học sinh toán chuyển động là một loại toán khó, các em chưa có kỹ năng làm các dạng toán này nên độ chính xác vẫn chưa cao Mặt khác tư duy của một số học sinh trung bình và yếu còn hạn chế có khả năng thiết lập các mối quan hệ, Các mối quan hệ phụ thuộc giữa các động tử cho biết và chưa biết của bài toán nên không thể tìm ra cách giải bài toán hay chưa biết cách sắp xếp các lời giải đúng, phù hợp
để làm nổi rõ mối liên hệ phụ thuộc của các chuyển động Mặt khác do mới tiếp cận với việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy nên trong quá trình dạy học không ít giáo viên còn lúng túng trong phương pháp tổ chức cho học sinh khám phá kiến thức nhất là việc rèn luyện kỹ năng giải toán Mặt khác, một số giáo viên chưa thấy hết được vai trò với tư cách là người thiết kế, điều
Trang 13khiển quá trình dạy học, chưa biến ý đồ của mình thành nhiệm vụ học tập tự giác,
tự nguyện của học sinh, việc chuyển giao cho học sinh không phải là những tri thức có sẵn mà là những tình huống để học sinh hoạt động
C¸c dạng toán chuyển động là những kiÕn thøc khã vµ trõu t-îng Trong thực tiễn ở Tiểu học việc d¹y häc các dạng toán chuyển động không ít giáo viên chỉ
tổ chức cho học sinh lĩnh hội các kiến thức là chủ yếu, việc rèn luyện các kỹ năng giải toán hiệu quả còn chưa cao Học sinh còn mắc nhiều sai lầm trong cách nhận dạng bài toán, cách lựa chọn phương pháp giải, cách trình bày lời giải,…
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Rèn luyện
và phát triển kỹ năng giải toán thông qua hệ thống bài tập toán chuyển đông lớp
5
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, thực tiễn, xây dựng hệ thống bài tập toán chuyển động cơ bản và nâng cao, sử dụng chúng nhằm rèn luyện và phát triển kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra chúng tôi xác định các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, những cơ sở lí luận dạy học Tiểu học
- Nghiên cứu nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học các dạng toán chuyển động ë líp 5
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học các dạng toán chuyển động cho học sinh lớp 5
Trang 14- Xây dựng hệ thống bài tập toán chuyển động cho học sinh lớp 5
- Nghiên cứu cách sử dụng hệ thống bài tập toán chuyển động nhằm rèn luyện và
kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học toán ở trường Tiểu học
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung, chương trình, sách giáo khoa, tài liệu về môn toán lớp
5, lựa chọn và phân loại bài tập chuyển động cơ bản, nâng cao và cách sử dụng chúng
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập toán chuyển động và sử dụng chúng một cách hợp lý trong quá trình dạy học toán chuyển động ở lớp 5 sẽ góp phần nâng cao chất lượng rèn luyện và phát triển các kỹ năng giải toán cho häc sinh
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này chúng tôi sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Trang 15- Phương pháp thống kê toán học
7 Cấu trúc của đề tài
PhÇn I: PhÇn më ®Çu
PhÇn II: PhÇn néi dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn cuả đề tài
Ch-¬ng 2: Rèn luyện và phát triển kỹ năng giải toán thông qua hệ thống bài tập toán chuyển động cho häc sinh líp 5
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
PhÇn III: PhÇn kÕt luËn
1 KÕt luËn
2 KiÕn nghÞ
3 Những đóng góp của đề tài
4 Hướng phát triển của đề tài
Tµi liÖu tham kh¶o
Phụ lục
PhÇn néi dung
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG
QUA CÁC BÀI TẬP VỀ CHUYỂN ĐỘNG
1.1.Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề dạy học toán chuyển động cũng như việc rèn luyện các kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu học từ trước đến nay đã được nhiều nhà sư phạm quan tâm bởi họ thấy được vai trò của dạy học toán chuyển động và tính thiết thực của việc rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh
Các tác giả như: Vũ Dương Thụy, Nguyễn Danh Ninh trong: “Các dạng toán
cơ bản ở Tiểu học dành cho học sinh lớp 5”, Phạm Đình Thực trong: “ 501 bài
toán đố lớp 5”đã xây dựng được các bài tập toán chuyển động để giúp học sinh
rèn luyện các kỹ năng giải toán Song số lượng bài tập này vẫn còn chưa nhiều và chưa tập hợp được thành hệ thống Với đề tài này chúng tôi mong muốn xây dựng được tài liệu cho bản thân để sau khi ra trường làm tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình Đồng thời tôi cũng mong muốn hệ thống bài tập được xây dựng trong đề tài
sẽ được các học sinh Tiểu học, các bậc phụ huynh và thầy cô trong nhà trường Tiểu học dùng làm tài liệu tham khảo để rèn luyện và phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh, từ đó góp một phần nhỏ trong việc cải thiện chất lượng học tập cho các em học sinh
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Cơ sở tâm lí học
Xã hội ngày càng phát triển và có nhiều sự thay đổi, tư tưởng con người ngày càng tiến bộ vì vậy quan niệm về trẻ em cũng ngày một khác đi: Nếu như trước đây, trẻ em được quan niệm là “ Người lớn thu nhỏ lại” thì ngày nay người ta quan
Trang 17niệm: “ Trẻ em hiện đại là sản phẩm của xã hội hiện đại chưa hề có trong quá khứ” Trẻ em được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình giáo dục, vì vậy dạy học phải xuất phát từ trẻ em và đi đến trẻ em Tâm lí học hiện đại cho rằng: “ Muốn giáo dục trẻ em thì phải hiểu trẻ và ngược lại muốn hiểu trẻ thì phải giáo dục trẻ” [13] Đó là mối quan hệ biện chứng giữa quá trình giáo dục trẻ và quá trình nghiên cứu sự phát triển tâm lí của trẻ
Học sinh Tiểu học có độ tuổi từ 6 - 11 tuổi, đây là giai đoạn có nhiều biến đổi quan trọng về tâm lí, sinh lí Ở giai đoạn này năng lực chú ý thấp, trí nhớ kém bền vững chủ yếu là tư duy cụ thể phát triển Tư duy trừu tượng bắt đầu hình thành và phát triển nhưng còn yếu Trong giai đoạn này, học sinh luôn hiếu động, thích các trò chơi mới lạ, hấp dẫn với nhiều màu sắc sặc sỡ nhưng lại rất nhanh chán Đối với trẻ những điều mới lạ thường kích thích các em tò mò, muốn tìm hiểu khám phá Nhận thức của các em vẫn mang tính cảm tính đi từ cái cụ thể đến khái quát,
từ tư duy cụ thể đến tư duy trìu tượng Do vậy phương pháp dạy học hiện nay thường được các thầy cô sử dụng trong nhiều tiết học của bậc Tiểu học trên cơ sở tìm hiểu tâm lí học sinh Tiểu học Có thể chia học sinh Tiểu học thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 ( gồm lớp 1,2,3 ): Các em có độ tuổi từ 6 đến 9 tuổi
- Giai đoạn 2 ( gồm lớp 4,5 ): Các em có độ tuổi từ 9 đến 12 tuổi
Như vậy, việc giáo viên nắm bắt và hiểu biết về đặc điểm tâm lí lứa tuổi cũng như hoạt động học tập của trẻ em đặc biệt là trẻ em lứa tuổi Tiểu học chính là cơ sở
để giáo viên tìm ra được những phương pháp giáo dục trẻ tốt nhất từ đó thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình
1.2.1.1 Đặc điểm và cơ chế nhận thức của học sinh Tiểu học
Ở lứa tuổi Mẫu giáo, hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, quá trình nhận thức của trẻ còn yếu Đến lứa tuổi Tiểu học ở trẻ bước đầu diễn ra sự phát triển
Trang 18toàn diện về các quá trình nhận thức Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học chính là biểu hiện sinh động nhất đánh dấu sự chuyển biến cả về chất và lượng so với học sinh Mẫu giáo Do nhu cầu nhận thức phát triển nên các em học sinh Tiểu học luôn muốn học tập, tìm hiểu và khám phá thế giới xung quanh
Mặc dù trong những hoàn cảnh, điều kiện sống khác nhau nhưng trẻ đều có khả năng phát triển về nhận thức, nổi bật nhất là sự phát triển của tri giác, chú ý, trí nhớ, tưởng tượng và tư duy
Vì vậy dạy học Toán ở Tiểu học, đặc biệt dạy học các yếu tố hình học giáo viên cần phải nắm chắc đặc điểm này để giúp đỡ, hướng dẫn học sinh phương pháp quan sát thích hợp, quan sát có tổ chức từ đó phát triển tri giác cho các em
b) Chú ý
Ở lứa tuổi Tiểu học, tồn tại hai loại chú ý đó là: Chú ý có chủ định và chú ý không chủ định Cả hai loại chú ý này đều tác động đến quá trình nhận thức của học sinh Trong đó chú ý không chủ định được phát triển hơn Trẻ em dễ dàng bị lôi cuốn sự chú ý của mình vào những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác
Trang 19thường mà không có sự nỗ lực của ý chí Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi sử dụng đồ dụng dạy học đẹp, mới lạ, gợi cho các em cảm xúc tích cực Do đó trong quá trình dạy học giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học được hấp dẫn, lí thú để kích thích và duy trì được sự chú ý không chủ định cho học sinh Bên cạnh sự phát triển của chú ý không chủ định thì khả năng phát triển của chú ý có chủ định, bền vững, tập trung của học sinh Tiểu học trong quá trình học tập cũng rất cao Bản thân trong quá trình học tập luôn đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí Việc dạy học các yếu tố hình học cũng là một hình thức rèn luyện và tăng cường sự chú ý của học sinh
em thủ thuật ghi nhớ tài liệu học tập, chỉ cho các em đâu là điểm chính, điểm quan
Trang 20trọng của bài học, kích thích sự ghi nhớ có ý nghĩa, học có mục đích, biết tạo các điểm tựa và dựa vào các điểm tựa đó để ghi nhớ tốt hơn
e) Tư duy
Tư duy của học sinh Tiểu học còn nhiều dấu vết của tư duy nguyên thuỷ, mang tính chủ quan và tính xúc cảm ( tình cảm, mong muốn , ) Trong quá trình tiếp xúc với môi trường xã hội, tác động của giáo dục nó dần dần có tính logic, tính khách quan
Sự phát triển tư duy của trẻ trải qua hai giai đoạn:
Trang 21- Giai đoạn đầu là giai đoạn tư duy cụ thể, học sinh tiến hành các thao tác tư duy thường tiến vào những đặc điểm bên ngoài cụ thể, trực quan và phải dựa vào các hoạt động trực tiếp
- Giai đoạn hai là giai đoạn tư duy trừu tượng khái quát, học sinh tư duy dựa vào việc phân tích các mối quan hệ bên trong theo dấu hiệu chuẩn của đối tượng
Tóm lại, đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học không có ý nghĩa tuyệt đối,
mà có ý nghĩa tương đối Trong quá trình học tập, tư duy của học sinh Tiểu học thay đổi rất nhiều Sự phát triển của tư duy dẫn đến sự tổ chức lại một cách căn bản quá trình nhận thức, khiến chúng được tiến hành một cách có chủ định Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên phải đảm bảo tính trực quan nhưng không nên lạm dụng các đồ dùng trực quan một cách quá mức, chỉ nên coi đó là điểm tựa ban đầu cho tư duy của các em Việc học các yếu tố hình học đặc biệt qua các bài toán có nội dung hình học góp phần rất to lớn trong việc phát triển cho học sinh các thao tác tư duy như: trìu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp
1.2.1.2 Hoạt động học của học sinh Tiểu học
a) Khái niệm
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh Tiểu học Theo nhà tâm lí học D.B.Elconin thì: “ Hoạt động học tập là hoạt động có ý thức nhằm thay đổi bản thân của chủ thể của hoạt động học” [13] Trong hoạt động này các phương thức chung của việc thực hiện hoạt động được học sinh ý thức và phân biệt với kết quả của hoạt động Như vậy, hoạt động học kkhông chỉ được xem xét dưới góc độ nhờ
nó học sinh lĩnh hội được cái gì, bằng cách nào, trên cơ sở như thế nào mà còn được xem xét sự biến đổi của bản thân của chủ thể hoạt động
b) Bản chất của hoạt động học
Trang 22Đối tượng của hoạt động học là tri thức, khái niệm khoa học, kỹ năng, kỹ xảo đích của hoạt động học hướng tới là bằng hgoạt động của mình học sinh chiếm lĩnh tri thức, khái niệm, hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Hoạt động học làm thay đổi chính bản thân chủ thể của hoạt động học ( học sinh ) Nó là hoạt động có tính tự giác cao, được điều khiển một cách có ý thức nhằm lĩnh hội nền văn minh nhân loại Vì vậy, giáo viên Tiểu học không chỉ dạy tri thức khoa học, kỹ năng mà còn phải dạy học sinh cách chiếm lĩnh tri thức đó một cách có hiệu quả Đồng thời việc hình thành hoạt động học phải được giáo viên ý thức và phải xem
là một trong những mục đích quan trọng của hoạt động dạy
c) Cấu trúc hoạt động học của sinh
Theo các nhà tâm lí học Tiểu học hoạt động học của học sinh Tiểu học bao gồm các thành tố: Nhiệm vụ học tập, các hoạt động học, động cơ học tập và nhu cầu học tập
- Nhiệm vụ học tập: Là yêu cầu học sinh phải đạt được những mục đích định trước dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, còn học sinh tự mình tạo ra sản phẩm giáo dục Mỗi nhiệm vụ học tập tạo ra ở học sinh năng lực mới, cái mới trong tâm lí chứ không đơn thuần là tích luỹ thêm, gộp thêm vào vốn kinh nghiệm
đã có
- Hành động học tập: Để thực hiện được nhiệm vụ học tập, học sinh phải tiến hành được các hoạt động học.Hành động học bao gồm: hành động phân tích, hành động mô hình hoá, hành động cụ thể hoá, hành động kiểm tra và đánh giá
- Động cơ học tập: Là những cái thôi thúc trẻ học tập, là yếu tố tâm lí tạo động lực thúc đẩy học sinh tiến hành các hoạt động học một cách tích cực
- Nhu cầu học tập: Là lòng mong muốn, niềm hứng thú, sự say mê của học sinh với việc học tập
Trang 23Tóm lại, hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh Tiểu học Trong quá trình học tập của học sinh chỉ đạt được kết quả khi học sinh thực sự tham gia các hoạt động học một cách tích cực, chủ động Để làm được điều đó giáo viên cần có sự kết hợp đồng thời giữa nội dung dạy học, phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học
1.2.1.3 Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh và việc lựa chọn các phương pháp dạy học
a) Tính tích cực nhận thức của học sinh Tiểu học
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tính nhận thức như:
Theo I.F.Kharlamop - nhà tâm lí học người Nga cho rằng: “ Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh mà đặc trưng là khát vọng học tập,
cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức”
Theo cố giáo sư Đặng Vũ Hoạt thì: “ Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết nhiệm vụ nhận thức”
b) Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức của học sinh Tiểu học
- Những biểu hiện bên ngoài:
Học sinh tập trung chú ý đến bài học, mắt nhìn bảng, tai nghe, tay viết, thời gian chú ý lâu Tuy nhiên cần lưu ý có những học sinh giả vờ chú ý, mắt nhìn bảng nhưng có thể không suy nghĩ về bài học mà đang tư duy đến những vấn đề khác
- Những biểu hiện bên trong:
Trang 24Học sinh độc lập suy nghĩ, tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, có những hành động và thao tác tư duy như: Phân tích, so sánh, tổng hợp Học sinh tập trung cao
độ, hăng say phát biểu ý kiến xây dựng bài
Trong dạy học, khi đánh giá tính tích cực nhận thức của học sinh người giáo viên cần căn cứ vào cả hai biểu hiện trên để dạy học có hiệu quả
c) Tính tích cực nhận thức và kết quả học tập của học sinh
Qua quá trình dạy học cho thấy nếu học sinh thực sự tích cực nhận thức biểu hiện ở sự chăm chú nghe giảng, tập trung suy nghĩ, độc lập phát hiện và giải quyết vấn đề thì kết quả học tập sẽ cao Ngược lại, học sinh không thể hiện sâu và vững chắc kiến thức nếu không chịu khó cố gắng nỗ lực về trí tuệ, không kiên trì và phát huy tối đa các chức năng tâm lí tham gia vào quá trình nhận thức Tính tích cực nhận thức vừa là điều kiện, vừa là kết quả học tập của học sinh Nếu tích cực nhận thức thì học sinh sẽ hiểu sâu tri thức và trở nên chủ động trong quá trình học tập Tính tích cực nhận thức có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong quá trình học tập của học sinh Do đó trong quá trình dạy học, giáo viên cần có những biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
d) Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh bằng cách lựa chọn phương pháp dạy học
Việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tiến hành theo các định hướng sau:
- Khuyến khích sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học mới theo xu hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh ( như phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học kiến tạo; các hình thức dạy học như dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân, trò chơi học tập, dạy học thực hành
Trang 25ngoài lớp ) Đồng thời phát huy những mặt tích cực của các phương pháp và hình thức dạy học truyền thống
- Sử dụng các phương pháp dạy học sao cho tất cả các học sinh đều được tham gia hoạt động và hoạt động thực sự ( như phương pháp thực hành luyện tập)
- Các phương pháp dạy học phải đảm bảo cá thể hoá dạy học và khuyến khích dạy học phát hiện ra nội dung mới của bài học
- Phương pháp dạy học phải tổ chức được cả ba chiều hoạt động: Giáo viên - học sinh, học sinh - giáo viên, học sinh - học sinh
1.2.2 Vị trí, chức năng của bài tập toán ở Tiểu học
Hoạt động giải các bài tập toán học là điều kiện để thực hiện tốt các mục đích dạy học Toán ở nhà trường Tiểu học Việc tổ chức có hiệu quả dạy các bài tập toán học có vai trò quyết định đối với chất lượng dạy học Toán ở trường Tiểu học
Trong thực tiễn quá trình dạy học, bài tập Toán học được ứng dụng với nhiều dụng ý khác nhau Mỗi bài tập toán có thể dùng để tạo tiền đề xuất phát, để gợi động cơ, để làm việc với nội dung mới, để củng cố hoặc kiểm tra những kiến thức
đã học Tất nhiên, việc dạy giải một bài toán cụ thể thường không chỉ nhằm vào một dụng ý đơn thuần nào đó mà nó thường bao hàm những ý đồ nhiều mặt đã nêu
ở trên
Mỗi bài toán cụ thể được đặt ra ở một thời điểm nào đó của quá trình dạy học đều chứa đựng một cách tường minh hay tiềm ẩn những chức năng khác nhau Những chức năng này đều hướng đến việc thực hiện các mục đích dạy học đã đặt
ra Các bài tập toán học có những chức năng sau:
- Chức năng dạy học: Bài tập Toán nhằm hình thành, củng cố cho học sinh những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ở các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học
Trang 26- Chức năng giáo dục: Bài tập Toán nhằm hình thành cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, hứng thú học tập, niềm tin và những phẩm chất đạo đức của người lao động mới
- Chức năng phát triển: Bài tập Toán nhằm phát triển năng lực thực hành, năng lực tư duy của học sinh, đặc biệt là rèn luyện những thao tác trí tuệ, hình thành cho học sinh những phẩm chất tư duy khoa học
- Chức năng kiểm tra: Bài tập Toán nhằm đánh giá mức độ, kết quả dạy và học, đánh giá khả năng độc lập Toán học và trình độ phát triển của học sinh
Trên thực tế,các chức năng trên không bộc lộ một cách riêng lẻ và tách rời nhau Khi nói đến chức năng này hay chức năng khác của một bài tập cụ thể tức là hàm ý nói chức năng ấy được thực hiện một cách tường minh và công khai Hiệu quả của việc dạy học Toán ở Tiểu học phần lớn phụ thuộc vào việc khai thác và thực hiện một cách đầy đủ các chức năng có thể có của một bài tập mà tác giả cuốn sách có dụng ý chuẩn bị Người giáo viên chỉ có thể thực hiện dụng ý đó bằng năng lực sư phạm và trình độ dạy học của mình
1.2.3 Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học toán chuyển động ở sách giáo khoa Toán 5
1.2.3.1 Mục tiêu dạy học toán chuyển động ở lớp 5
a) Kiến thức
Những kiến thức về toán chuyển động học sinh cần:
- Có khái niệm ban đầu về vận tốc, đơn vị đo vận tốc
- Biết tính vận tốc của một chuyển động đều
- Biết tính vận tốc theo các đơn vị đo khác nhau
Trang 27- Biết cách tính quãng đường đi được của một chuyển động đều
- Biết cách tính thời gian của một chuyển động đều
- Biết quan hệ giữa thời gian, vận tốc, quãng đường
- Biết giải bài toán chuyển động ngược chiều trong cùng một thời gian
- Biết giải các bài toán chuyển động cùng chiều
b) Kỹ năng
- Học sinh nắm được các công thức tính vận tốc, quãng đường, thời gian để áp dụng vào giải bài tập
- Học sinh biết cách nhận dạng các dạng bài toán về chuyển động
- Học sinh biết cách lựa chọn phương pháp giải, cách trình bày lời giải cho từng dạng tiêu biểu, cách phát triển bài toán từ một bài toán vừa giải
c) Thái độ
Học sinh có thái độ tích cực, có hứng thú học tập, phát triển các kỹ năng trìu tượng hoá, khái quát hoá, kích thích trí tưởng tượng không gian ( Thông qua các bài toán về vẽ chuyển động cùng chiều, chuyển động ngược chiều, ) Giúp học sinh biết diễn đạt đúng thuật ngữ Toán học, có khả năng phát hiện, giải quyết vấn
đề, hình thành cho học sinh phương pháp tự học và ham tìm hiểu các bài toán liên quan đến các yếu tố chuyển động
1.2.3.2 Nội dung và thời lượng dạy học toán chuyển động ở sách giáo khoa Toán 5
a) Nội dung dạy học các yếu tố chuyển động lớp 5 bao gồm:
Trang 28- Vận tốc và cách tính vận tốc của vật chuyển động đều
- Quãng đường đi được của một vật chuyển động đều
- Thời gian của một chuyển động đều
- Mối quan hệ giữa thời gian, vận tốc và quãng đường
- Các bài toán chuyển động cùng chiều, chuyển động ngược chiều
* Ở chương trình Toán 5, toán chuyển động là dạng toán mới mà ở các lớp dưới chưa có Vì vậy việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, nội dung dạy học các yếu tố chuyển động có cấu trúc hợp lí sắp xếp đan xen với các mạch kiến thức khác phù hợp với từng giai đoạn phát triển học tập của học sinh
Nội dung dạy học các yếu tố chuyển động trong Toán lớp 5 đã thể hiện đúng mức độ yêu cầu cơ bản về kiến thức, kỹ năng phù hợp với trình độ chuẩn của mạch kiến thức đó, đồng thời nội dung dạy học toán chuyển động lớp 5 cũng quan tâm tới phát triển năng lực của học sinh
Trong Toán 5, nội dung dạy học các yếu tố toán chuyển động theo hướng tăng cường các bài luyện tập, thực hành Sau mỗi bài học mới đều có những tiết luyện tập để các em học sinh có thể nắm chắc kiến thức mới được học Qua hoạt động thực hành, học sinh được rèn luyện kỹ năng giải toán, lỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổ chức hoạt động, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá Ở dạng toán này học sinh được làm nhiều bài toán có nội dung thực tế liên quan đến các phương tiện giao thông quen thuộc như: xe đạp, xe máy, ô tô, … Toán chuyển động là dạng toán khó vì vậy thường được sử dụng để bồi dưỡng học sinh giỏi
b) Thời lượng dạy học các yếu tố chuyển động lớp 5
Trang 29- Vận tốc: 1 tiết
- Quãng đường: 1 tiết
- Thời gian: 1 tiết
Toán chuyển động là một dạng toán mới và khó chỉ có ở lớp 5 vì vậy thời lượng dạy học dạng toán này tương đối ít Cả chương trình Toán 5 có 9 tiết trong
đó có 3 tiết dạy bài mới và 6 tiết luyện tập Các bài tập về yếu tố chuyển động được xen kẽ hợp lí cùng với dạy học các yếu tố về số đo thời gian, đo đại lượng và giải toán Với thời lượng và lượng kiến thức hợp lí, các yếu tố trong chhương trình Toán 5 rất phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 5
1.2.3.3 Mức độ yêu cầu dạy học toán chuyển động ở lớp 5
- Có biểu tượng chính xác, nhận biết được các dạng toán để xác định cách giải
- Biết sử dụng đồ dùng học tập để vẽ sơ đồ
- Dành thời gian giải các bài tập trong SGK và sách nâng cao để củng cố kỹ năng giải toán
1.2.3.4 Phương pháp dạy học toán chuyển động ở lớp 5
Khi dạy học các yếu tố hình học ở Toán lớp 5 giáo viên thường sử dụng các phương pháp dạy học sau:
Trang 30- Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
- Phương pháp ôn tập, củng cố, và hệ thống hoá kiến thức, kỹ năng giải toán
a) Phương pháp trực quan
- Phương pháp trực quan là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức hướng dẫn cho học sinh trực tiếp hoạt động trên các phương tiện, đồ dùng dạy học, từ đó giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng cần thiết của môn Toán
- Đối với việc dạy học các yếu tố toán chuyển động ở lớp 5 việc sử dụng phương pháp trực quan là vô cùng cần thiết Giáo viên có thể sử dụng các mô hình, vật thật hay máy chiếu, để học sinh dễ hình dung ra bài học hơn từ đó các
em hiểu bài nhanh hơn, buổi học đạt hiệu quả cao hơn
b) Phương pháp gợi mở - vấn đáp
- Phương pháp gợi mở - vấn đáp là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa
ra những kiến thức đã hoàn chỉnh mà sử dụng một hệ thống những câu hỏi để hướng dẫn học sinh suy nghĩ và lần lượt trả lời từng câu hỏi, từng bước tiến dẫn đến kết luận cần thiết, giúp học sinh tự tìm ra kiến thức mới
- Khi sử dụng phương pháp gợi mở - vấn đáp trong dạy học kiến thức mới Chẳng hạn, khi dạy tiết: Quãng đường, giáo viên gợi mở để học sinh tìm ra cách tính quãng đường đi được của ô tô từ đó đi đến bài học nhanh hơn, hiệu quả hơn
- Sử dụng phương pháp gợi mở - vấn đáp kkhi hướng dẫn học sinh luyện tập, thực hành
c) Phương pháp thực hành - luyện tập
- Phương pháp thực hành - luyện tập là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động thực hành thông qua đó
Trang 31để giải quyết những tình huống cụ thể có liên quan tới các kiến thức và kỹ năng về môn Toán
- Giáo viên sử dụng phương pháp thực hành - luyện tập để dạy kiến thức mới
- Trong các tiết luyện tập về, toán chuyển động học sinh được thực hành, luyện tập giải các bài tập đa dạng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để củng
cố kiến thức mới và rèn kỹ năng giải toán
Chẳng hạn, trong tiết 133: Luyện tập, học sinh được củng cố cách tính quãng đường Học sinh được rèn luyện kỹ năng tính toán ( qua các bài tập trang 142, 143 SGK Toán 5 )
d) Phương pháp giảng giải, minh hoạ
- Phương pháp giảng giải, minh hoạ là phương pháp dạy học trong đó dùng lời để giải thích tài liệu có sẵn, kết hợp với phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích, từ đó giúp học sinh hiểu được nội dung bài học
- Trong dạy học các yếu tố toán chuyển động lớp 5 khi dạy học các kiến thức mới, khi hướng dẫn học sinh thực hành, luyện tập, khi tổ chức cho học sinh ôn tập các kiến thức đã học đều có thể sử dụng phương pháp giảng giải, minh hoạ
e) Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học mà giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động
tự giác, tích cực để giải quyết vấn đề Thông qua đó lĩnh hội tri thức, kỹ năng và đạt được những mục đích học tập khác
Trong dạy học các yếu tố toán chuyển động ở lớp 5 có thể sử dụng phương pháp đặt và giải quyết vấn đề khi dạy học kiến thức mới, hướng dẫn học sinh luyện tập, thực hành
Trang 32f) Phương pháp ôn tập, củng cố, hệ thống hoá các kiến thức và kỹ năng giải toán
Trong dạy học các yếu tố toán chuyển động ở lớp 5 những quy tắc và công thức tính của học sinh thường xuyên được ôn lại, hệ thống hoá các kiến thức và kỹ năng giải toán thông qua các tiết thực hành luyện tập, ôn tập để giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu hơn các công thức và quy tắc đó
Ngoài các phương pháp trên, khi dạy các yếu tố toán chuyển động giáo viên cần kết hợp chặt chẽ với các kiến thức khác như: Đo thời gian, hình học, đặc biệt là
hỗ trợ cho việc giảng dạy số học
1.2.4 Vai trò của dạy học toán chuyển động và rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5
Trong chương trình Toán 5, cùng với các mảng kiến thức về phân số, số thập phận, hình học, số tự nhiên, mảng kiến thức về toán chuyển động có vai trò vô cùng quan trọng Nội dung kiến dạy học các yếu tố toán chuyển động hỗ trợ tích cực cho các mảng kiến thức khác trong chương trình đặc biệt là kiến thức số học Qua đó học sinh có thể nắm được chắc các kiến thức và học tập tốt môn toán
Trong dạy học Toán nói chung và dạy học toán ở Tiểu học nói riêng, giải toán có vị trí rất quan trọng Trong giải toán học sinh phải tư duy một cách tích cực, chủ động và sáng tạo Vì vậy có thể coi giải toán là một trong những biểu hiện năng động nhất trong hoạt động trí tuệ của học sinh Qua hoạt động giải toán, học sinh biết vận dụng các khái niệm, quy tắc, công thức đã được học trong SGK để xử
lí những tình huống đặt ra trong Toán học, trong các bộ môn khác và tỏng thực tiễn đời sống lao động sản xuất Đồng thời thông qua hoạt động giải toán giáo viên cũng có thể phát hiện ra ưu điểm cũng như thiếu xót của học sinh về kiến thức, kỹ năng và tư duy đó Ngoài ra, thông qua hoạt động giải toán học sinh tự rút ra
Trang 33những ưu điểm và hạn chế của bản thân để có cách khắc phục, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học toán
Qua việc giải toán, học sinh rèn luyện được những đức tính và phong cách làm việc khoa học như: tính cẩn thận, cần cù, ý chí khắc phục khó khăn, có sự tìm tòi, sáng tạo trong học tập, làm việc chủ động, có kế hoạch, xét đoán có căn cứ, làm việc có kiểm tra, đánh giá, có thói quen suy nghĩ độc lập, linh hoạt, hạn chế sự máy móc, khuân mẫu Qua hoạt động giải toán học sinh có thể củng cố và rèn luyện kỹ năng về các môn học khác như: Tự nhiên xã hội, Tiếng việt,…
Môn Toán là môn môn học vô cùng quan trọng trong nhà trườmg Tiểu học Cùng với các môn học khác môn Toán góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục góp phần phát triển nhân cách cho học sinh
1.3 Cơ sở thực tiễn
Thực trạng việc dạy học các yếu tố toán chuyển động và việc rèn luyện, phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hùng Vương - Thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ
1.3.1 Mục đích điều tra
Bước đầu tìm hiểu thực trạng việc dạy học các yếu tố toán chuyển động và việc rèn luyện, phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hùng Vương - Thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ
1.3.2 Đối tượng điều tra
Giáo viên đang trực tiếp giảng dạy và học sinh lớp 5A trường Tiểu học Hùng Vương - Thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ
1.3.3 Nội dung điều tra
Trang 34Đối với giáo viên chúng tôi sẽ tiến hành điều tra những vấn đề sau:
- Mức độ sử dụng một số phương pháp dạy học các yếu tố toán chuyển động lớp 5
- Quan niệm của giáo viên về tầm quan trọng của mỗi phương pháp trong dạy học các yếu tố toán chuyển động ở lớp 5
- Quan niệm của giáo viên về số lượng các bài tập toán chuyển động trong sách giáo khoa Toán 5 giúp rèn luyện và phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5
- Tầm quan trọng của việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5
- Nhận thức của giáo viên về mức độ rèn luyện và phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh
Đối với học sinh: Thông qua những bài kiểm tra chúng tôi sẽ điều tra chất lượng nắm các kỹ năng giải toán của học sinh
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra sau:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn - toạ đàm
- Phương pháp thống kê toán học
Qua phiếu điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1.1: Mức độ sử dụng phương pháp dạy học các yếu tố toán chuyển động
Trang 35STT Tên phương pháp dạy học
Mức độ sử dụng
Thường xuyên
Bình thường
Hiếm khi
Trang 36Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Đề tài đã phân tích cơ sở lí luận để thấy được cơ sở tâm lí học của học sinh Tiểu học,vị trí, chức năng của bài tập toán ở Tiểu học, một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học các yếu tố toán chuyển động ở SGK Toán 5, vai trò của dạy học các yếu tố toán chuyển động và rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5
Ở chương này chúng tôi còn đề cập tới cơ sở thực tiễn về thực trạng dạy học các yếu tố toán chuyển động và việc rèn luyện, phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hùng Vương - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực trạng dạy học các yếu tố toán chuyển động và việc rèn luyện, phát triển các kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hùng Vương Từ đó chúng tôi có cơ sở để tiếp tục thực hiện chương 2
Trang 37CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP TOÁN CHUYỂN ĐỘNG
LỚP 5
2.1 Chuẩn kiến thức kỹ năng môn Toán lớp 5
- Chuẩn kíên thức, kỹ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của môn học, hoạt động giáo dục mà tất cả học sinh phải đạt được sau từng giai đoạn học tập Chuẩn kiến thức, kỹ năng được cụ thể hoá ở các chủ đề của môn học theo từng lớp, ở các lĩnh vực học tập cho từng lớp và cho cả cấp học Chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Toán đối với từng lớp ở Tiểu học đã được quy định tại: “ Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học ( ban hành theo quyết định số 16/2006/QĐBGDDT ngày 05 tháng 05 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ).”
- Chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Toán lớp 5 giúp giáo viên có cơ sở xác định yêu cầu cần đạt và các bài tập cần làm trong sách giáo khoa ( Toán 1, 2, 3, 4, 5 ) để đảm bảo mọi đối tượng học sinh đều đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn Toán trong chương trình
Đối với chương trình toán chuyển động lớp 5, chuẩn kiến thức, kỹ năng giúp học sinh có khả năng giải quyết tốt các bài tập trong sách giáo khoa và có kỹ năng giải toán để áp dụng vào các lĩnh vực khác Hướng dẫn thực hiện theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Toán lớp 5, chương trình toán chuyển động bao gồm các bài cụ thể sau:
+ Về vận tốc học sinh cần biết:
Khái niệm ban đầu về vận tốc
Trang 38 Đơn vị đo vận tốc: km/giờ, m/giây
Biết tính vận tốc của một chuyển động đều
Nắm được công thức tính vận tốc: v = s : t
+ Về thời quãng đường học sinh cần biết:
Tính quãng đường đi được của một chuyển động đều: s = v x t
Thực hành tính quãng đường
+ Về thời gian học sinh cần biết:
Cách tính thời gian của một chuyển động: t = s : v
Thực hành tính thời gian của một chuyển động
2.2 Kỹ năng và kỹ năng giải toán
2.2.1 Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong lĩnh vực nào đó rồi vận dụng vào thực tế để giải quyết các tình huống hoặc công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống
Trong giáo dục, kỹ năng là tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hoá
Kỹ năng được chia làm hai loại là:
- Kỹ năng tâm lí xã hội: là kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy với nhiều yếu
tố như: sự nhận thức, sự tư duy, sáng tạo giải quyết vấn đề
- Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với người khác, ứng phó với tình huống căng thẳng và cảm xúc biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết
+ Nguồn gốc hình thành kỹ năng:
Trang 39Nguồn gốc hình thành kỹ năng được lý giải từ hai lý thuyết về phản xạ có điều kiện ( được hình thành trong thực tiễn cá nhân ) và phản xạ không điều kiện (
là những phản xạ bẩm sinh mà cá nhân sinh ra đã có sẵn ) Trong đó, kỹ năng cá nhân gần như thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện nghĩa là kỹ năng được hình thành từ khi một cá nhân sinh ra, trưởng thành và tham gia hoạt động thực tế cuộc sống
Bản thân mỗi con người sinh ra chưa có kỹ năng về bất cứ một khía cạnh nào ( trừ những kỹ năng bẩm sinh ) nhất là kỹ năng công việc, đó là lí do hình thành hệ thống đào tạo nghề nghiệp hiện có ở tất cả mọi quốc gia trên Thế Giới Như vậy, đa số kỹ năng mà chúng ta có được là xuất phát từ đào tạo Nền tảng của
sự thành công trong cuộc sống của mỗi con người 99% do đào tạo và tự đào tạo rèn
kỹ năng, chỉ có 1% là kỹ năng bẩm sinh tham gia vào sự thành công của chúng ta
Từ đó nhận định rằng, kỹ năng trong toán học cũng như trong cuộc sống nó rất cần
sự giáo dục, sự rèn luyện của bản thân
+ Sự cần thiết của kỹ năng:
Kỹ năng rất cần thiết cho cuộc sống của mỗi con người Khi tham gia vào bất cứ nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc sống của chúng ta đều đòi hỏi phải thoả mãn những kỹ năng tương ứng Ví dụ: Nghề kỹ sư thì phải có những kỹ năng tương ứng với nghề kỹ sư, nghề bác sĩ cần phải có những kỹ năng nhất định Như vậy bất kỳ hoạt động hay nghề nghiệp nào mà chúng ta tham gia đều phải đáp ứng những kỹ năng mà hoạt động hay nghề nghiệp đó đòi hỏi nếu không chúng ta sẽ không thể tham gia vào các hoạt động hay nghề nghiệp đó
+ Các loại kỹ năng:
Kỹ năng được chia thành hai loại là kỹ năng cứng và kỹ năng mềm:
Trang 40- Kỹ năng cứng: là kỹ năng mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà trường hoặc tự học, đây là kỹ năng có tính nền tảng
- Kỹ năng mềm: Là kỹ năng mà chúng ta có được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế nghề nghiệp Đây là loại kỹ năng rất phong phú và không kém phần quan trọng Kỹ năng mềm có thể là: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình,
kỹ năng đàm phán,…
Để thành công trong cuộc sống ta phải thoả mãn cả kỹ năng cứng và kỹ năng mềm, phải vận dụng linh hoạt và phù hợp hai loại kỹ năng cơ bản này vào trong cuộc sống và trong công việc
2.2.2 Kỹ năng giải toán
Trong chương trình Toán Tiểu học, việc giải các bài toán chiếm một vị trí rất quan trọng Chúng được thể hiện qua các khái niệm toán học, các quy tắc toán học,… Việc giải toán giúp học sinh củng cố vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán,… Đồng thời qua việc giải toán cho học sinh giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu của các em về kiến thức kỹ năng và tư duy để từ đó giúp học sinh phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong học tập
Hoạt động giải toán là hoạt động phức tạp bao gồm nhiều thành tố tham gia
mà lâu nay đã được các nhà nghiên cứu chỉ rõ gồm bốn giai đoạn như sau:
* Giai đoạn 1: Quan sát, tiếp thu
- Giáo viên giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản tối thiểu cần thiết
- Giáo viên cần kết hợp vừa giảng vừa phân tích chi tiết, cụ thể giúp học sinh hiểu khái niệm