1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh cho trẻ 4 – 5 tuổi

94 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn Luyện Kĩ Năng Tự Nhận Thức Bản Thân Thông Qua Hoạt Động Khám Phá Môi Trường Xung Quanh Cho Trẻ 4 – 5 Tuổi
Trường học Trường Mầm Non
Chuyên ngành Giáo Dục Mầm Non
Thể loại Đề Tài
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghĩa là người được giáo dục phải có hiểu biết nhất định về bản thân, biết khả năng và hạn chế của mình trong hoạt động để có niềm tin vào bản thân, có thể điều khiển hành vi, hành động

Trang 1

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục mầm non là bậc học giáo dục đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của trẻ mầm non Để đáp ứng sự phát triển giáo dục hiện nay, Đảng và Nhà nước ta không ngừng cải cách, đầu tư mạnh mẽ cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non Đảng và Nhà nước ta xác định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu và là chìa khóa mở cửa vào tương lai, đó là

cơ sở, là động lực để thúc đẩy phát triển xã hội Chính vì thế, giáo dục có nhiệm vụ: đào tạo cho đất nước những con người năng động, sáng tạo, có tư duy nhạy bén, có tri thức, có kĩ năng và có khả năng giải quyết vấn đề để thích ứng với sự phát triển của xã hội

Một trong những cơ sở để tạo ra sự chuyển đổi này là ở mỗi người cần có khả năng TNTBT Nghĩa là người được giáo dục phải có hiểu biết nhất định về bản thân, biết khả năng và hạn chế của mình trong hoạt động để có niềm tin vào bản thân, có thể điều khiển hành vi, hành động của mình trong mối quan hệ với mọi người xung quanh nhằm tạo ra được hiệu quả cao trong hoạt động Do đó, việc giáo dục TNTBT của mỗi người là vô cùng quan trọng Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó là vấn đề đang được gia đình và xã hội quan tâm

Trong gia đình, việc nuôi dạy trẻ khỏe mạnh, thông minh, trở thành người

có ích cho xã hội đã trở thành yêu cầu, mục tiêu hàng đầu của các bậc làm cha làm mẹ Thế nhưng, trong cuộc sống hiện nay, không hiếm những sự việc đau lòng xảy ra khiến mọi người không khỏi giật mình, và chính những người làm cha mẹ luôn canh cánh nỗi lo bên mình Dạy trẻ kĩ năng sống là việc làm thiết thực nhất mà cha mẹ có thể làm cho con Cùng với sự phối hợp với nhà trường

và toàn xã hội, chúng ta có thể giáo dục cho trẻ em những kĩ năng sống cần thiết, trong đó có kĩ năng TNTBT thông qua nhiều hình thức khác nhau

Trẻ em lứa tuổi mầm non nói chung và trẻ 4 - 5 tuổi nói riêng có nhu cầu cao trong việc nhận thức TGXQ Hoạt động khám phá MTXQ giúp trẻ hiểu biết

sự vật, hiện tượng và con người trong môi trường sống, và chính trong quá trình tìm hiểu, khám phá TGXQ đứa trẻ cũng có nhiều cơ hội trải nghiệm và khám phá chính mình Trẻ nhận ra chính mình, nhận ra năng lực của mình, biết được những

Trang 2

khả năng và giới hạn của mình Từ đó, trẻ biết tự điều chỉnh hành vi của bản thân

Do vậy, hoạt động khám phá MTXQ là một trong những hoạt động có ưu thế để rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ mẫu giáo

Thực tế, tại các trường mầm non cho thấy: Mặc dù đã được triển khai các hoạt động GD kĩ năng sống cho trẻ Tuy nhiên, việc rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi còn mờ nhạt Mặc dù, trong chương trình GD mầm non hiện hành, chủ đề tìm hiểu bản thân đã được thực hiện ngay từ độ tuổi nhà trẻ Nhưng, do giáo viên chưa xác định đúng đắn về tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng này cho trẻ Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng TNTBT cho trẻ còn chưa được chú trọng, do đó mà hiệu quả giáo dục chưa cao

Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh”

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Làm rõ một số vấn đề lí luận cơ bản về kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi, xác định nội dung TNTBT và vai trò của việc rèn kĩ năng nhận thức bản thân cho trẻ 4 - 5 tuổi

- Xác định cơ sở khoa học của việc xây dựng các biện pháp rèn kĩ năng cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh

2.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Bước đầu tìm hiểu về mức độ và biểu hiện kĩ năng TNTBT của trẻ 4 - 5 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ

- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ

3 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4

- 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ Từ đó, góp phần hình thành các

kĩ năng sống cần thiết cho trẻ và phát triển toàn diện nhân cách trẻ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 - Nghiên cứu những vấn đề lí luận về việc rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5

tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ

Trang 3

4.2 - Xác định thực trạng về việc rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông

qua hoạt động khám phá MTXQ

4.3 Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua

hoạt động khám phá MTXQ

4.4 Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của một số biện pháp rèn

kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi

thông qua hoạt động khám phá MTXQ

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trẻ thuộc lớp 4 - 5 tuổi trường mầm non

Hùng Vương và trường mầm non Phong Châu - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Sưu tầm, đọc, phân tích và tổng hợp những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu và xây dựng hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề lí luận về việc

rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động MTXQ

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát và ghi chép quá trình giáo dục kĩ năng TNTBT cho trẻ mẫu giáo

4 - 5 tuổi của giáo viên mầm non và biểu hiện tự nhận thức bản thân,

6.2.2 Phương pháp đàm thoại

- Trao đổi với giáo viên để có thêm thông tin về vấn đề nghiên cứu

- Trò chuyện với trẻ mẫu giáo 4 - 6 tuổi để biết được mức độ và biểu hiện của kĩ năng TNTBT của trẻ

6.2.3 Phương pháp điều tra Anket

Sử dụng phiếu Anket bằng hệ thống câu hỏi đóng và mở để điều tra cán

bộ quản lí và giáo viên mầm non Từ đó, xác định rõ nhận thức của cán bộ quản

lí và giáo viên mầm non về một số vấn đề liên quan đến kĩ năng TNTBT của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

6.2.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng công thức toán học để xử lí số liệu kết quả thu được qua điều tra thực trạng kĩ năng TNTBT của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

Trang 4

6.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Kiểm nghiệm và đánh giá tính khả thi của việc rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ

Trang 5

NỘI DUNG Chương1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, là những con người của thế kỉ XXI, của nền văn minh tin học, công nghiệp sinh học, năng lượng mới, vật liệu mới… Do vậy, họ phải có nhân cách, phẩm chất, đáp ứng đòi hỏi của xã hội hiện đại là tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong việc nghiên cứu sự phát triển tâm lí của trẻ nói chung và trẻ mầm non nói riêng đó là mối liên quan chặt chẽ đến sự phát triển tự ý thức Hạt nhân của sự tự ý thức là TNTBT Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy được rằng: Vấn đề này được rất nhiều người quan tâm Trên thế giới, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Tựu chung lại, có thể tổng hợp theo hai hướng:

* Hướng thứ nhất: Nghiên cứu kĩ năng tự nhận thức là kĩ năng sống cần thiết

Trong công trình “Vấn đề tự ý thức trong tâm lí học (1977)” I.I.Trexnôcôva cho rằng TNT là một thành phần trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó gồm 3 mặt thống nhất: nhận thức (tự nhận thức), cảm xúc - giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động - ý chí, điều khiển (tự điều chỉnh) [20] Việc hình thành và rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ được I.I.Trexnôcôva cho là kĩ năng sống rất cần thiết đối với trẻ

Nhà tâm lí học người Mĩ D.Mead cho rằng, trong mối tương tác với những người khác trong quá trình hoạt động của mỗi con người trở thành khách thể nhận thức của chính mình Nhận thức bản thân không được thực hiện trực tiếp

mà gián tiếp qua thái độ của cá nhân đó với những người khác trong nhóm người hoặc toàn bộ nhóm nói chung Ông cho rằng, nguồn gốc hình thành tự ý thức là trò chơi của trẻ Đầu tiên, đó là những trò chơi lặp lại hành động của người lớn Thông qua hoạt động vui chơi, trẻ đã dần hình thành kĩ năng sống đầu tiên, cơ bản cần thiết cho trẻ Đặc biệt, vấn đề này cũng được các tổ chức trên thế giới quan tâm:

Theo tổ chức y tế thế giới WHO [33; tr8] KNS được chia thành ba nhóm:

Trang 6

- Nhóm kĩ năng nhận thức: TNTBT, tự đạt mục tiêu và xác định giá trị, kĩ năng tư duy, kĩ năng sáng tạo, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề

- Nhóm kĩ năng liên quan đến cảm xúc: Kĩ năng nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình, kĩ năng kiềm chế, kiểm soát được cảm xúc, kĩ năng

tự giám sát, tự điều chỉnh cảm xúc cá nhân

- Nhóm kĩ năng xã hội: Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng cảm thông, kĩ năng chia

sẻ, kĩ năng hợp tác, thích ứng

Kĩ năng sống bao gồm 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết [43]

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc UNESCO [30; tr9] thì kĩ năng sống được phân chia theo hai nhóm:

- Nhóm kĩ năng chung: Kĩ năng nhận thức, kĩ năng liên quan đến cảm xúc,

kĩ năng cơ bản về xã hội

- Nhóm kĩ năng chuyên biệt: Các kĩ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, các

kĩ năng liên quan đến giới và giới tính, các kĩ năng liên quan đến môi trường và thiên nhiên, gia đình, cộng đồng

Theo cách phân loại của UNESCO, thì kĩ năng tự nhận thức là kĩ năng sống quan trọng và mang tính chất tiền đề Tự nhận thức cho con người khả năng sống nhân

ái, đúng mực với mọi người Ngoài ra, tự nhận thức còn giúp chúng ta hiểu đúng về mình, từ đó có những quyết định, lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện hoàn cảnh thực tế và với yêu cầu của xã hội [44]

Theo một số tài liệu như Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF [32; tr9]

Kĩ năng sống được chia ra làm ba nhóm:

- Nhóm kĩ năng nhận thức và sống của chính mình: Tự nhận thức và đánh giá bản thân, kĩ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống, kĩ năng bảo vệ bản thân

- Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với người khác: Kĩ năng thiết lập quan hệ, kĩ năng hợp tác, kĩ năng làm việc nhóm

- Nhóm kĩ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả: Phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định, ứng xử, giải quyết vấn đề

Kĩ năng sống phải là những khả năng thuộc về năng lực các nhân, giúp bản thân tồn tại và làm chủ cuộc sống của mình cũng như đạt được mục tiêu sống một cách hiệu quả Kĩ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và

Trang 7

phát triển của con người Kĩ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể

và tư duy trong não bộ của con người Kĩ năng sống có thể hình thành một cách

tự nhiên, thông qua học tập hoặc rèn luyện của con người

Trong cách phân loại của WHO, UNESCO, UNICEF và những quan niệm của các nhà tâm lí học trên thế giới đều có sự khẳng định tầm quan trọng của kĩ năng tự nhận thức và kĩ năng tự nhận thức được coi là một trong những kĩ năng sống cần thiết

* Hướng thứ hai: Nghiên cứu về kĩ năng tự nhận thức ở trẻ mầm non Trước hết phá kể đến các nghiên cứu của S Freud [16; tr47] cho rằng:

Nhân cách con người gồm ba cấp: cái “Nó”, cái “Tôi”, và cái “Siêu tôi” Cái

“Nó” gồm tất cả những xung lực bản năng thôi thúc đứa trẻ đòi hỏi được thỏa mãn để tìm khoái cảm Về nguồn gốc, cái “Nó” là một hệ thống các nhu cầu có sức mạnh và động lực nhất định Mâu thuẫn giữa đứa trẻ và thực tế dần dần tập

ra cái “Tôi”, trẻ cảm nhận về bản thân mình đối lập với các đồ vật và những đồ vật và những người khác, tức là cảm nhận được thực tế Đó là nguồn gốc của cái

“Tôi”, sau này chính là phần ý thức của con người biết suy nghĩ và đòi hỏi thực

tế chứ không phải theo dục vọng của bản thân Những cấm đoán mệnh lệnh, khuyên bản của người lớn dần dần được nhập tâm và biến thành vô thức chi phối hành vi của trẻ, đó là cái “Siêu tôi” S Freud cho rằng: việc xuất hiện cái “Siêu tôi” vừa là một sự kiện mang tính chất cá nhân vừa có tính chất lịch sử Cái

“Siêu tôi” được tạo ra và hoạt động như đại diện cho các lực lượng kiềm chế của cha mẹ và đảm nhiệm chức năng kiểm soát cái “Tôi” Theo S Freud, giữa ba cấp này luôn xảy ra xung đột

Vấn đề hình thành kĩ năng tự nhận thức không chỉ có S Freud nghiên cứu

mà còn được nhiều nhà tâm lí khác quan tâm như: P Janet, M.Lixina… Mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác nhau song đều thống nhất với nhau rằng kĩ năng được hình thành trong hoạt động Kĩ năng tự nhận thức được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn với các mức độ từ thấp tới cao Mức độ thấp là những kĩ năng nguyên phát - dạng kĩ năng đơn giản, tương ứng với những thao tác của hành động nhất định Mức độ cao là các kĩ năng thứ phát - là tập hợp của nhiều yếu tố để tạo nên kĩ năng phức hợp, nâng cao Quan điểm này tương đối phù hợp cho nghiên cứu những kĩ năng chuyên sâu trong lĩnh vực hoạt

Trang 8

động chuyên môn Kĩ năng tự nhận thức của trẻ được nhiều nhà tâm lí, giáo duc

và các nhà khoa học tiếp cận, xem xét Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu này thật

sự đầy đủ, thống nhất khi đem kĩ năng tự nhận thức đó được đặt ở góc độ rộng hơn khi nó kết nối các yếu tố kiến thức, kĩ thuật và giá trị (thái độ, niềm tin) trong hành vi của một hoạt động nhất định

Tóm lại, vấn đề TNTBT của trẻ mẫu giáo được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu Việc rèn luyện kĩ năng sống cho trẻ là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ Đó là một trong những vấn đề mà thế giới đang quan tâm, chú trọng và đề cập trong công tác quản lí giáo dục

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Không chỉ những nhà tâm lí học, giáo dục học hay các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về vấn đề nhận thức của trẻ mẫu giáo mà ở Việt Nam cũng

có rất nhiều nhà nghiên cứu đã và đang quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên, các nghiên cứu đều tập trung theo hai hướng nghiên cứu cơ bản sau:

* Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về kĩ năng tự nhận thức là kĩ năng sống cần thiết

Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Thiên Thạch, Đinh Thị Tứ, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Công Khanh trong các công trình nghiên cứu đã xác định nguồn gốc, cơ sở hình thành kĩ năng tự nhận thức là sự kết hợp hài hòa giữa yếu

tố vật chất, tinh thần của mỗi con người với môi trường xã hội, trong đó môi trường hoạt động và giao tiếp đóng vai trò quan trọng Thông qua môi trường, trẻ được tham gia hoạt động, nhận thức và trải nghiệm cuộc sống [41]

Tự nhận thức của trẻ mẫu giáo được các tác giả Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết [36] trong các công trình nghiên cứu về sự phát triển tâm lí của trẻ

em đã đề cập đến TNTBT là một kĩ năng sống rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Hoạt động khám phá MTXQ giúp trẻ hiểu biết sự vật, hiện tượng và con người trong

Trang 9

môi trường sống Trẻ nhận ra chính mình, nhận ra năng lực của mình, biết được những khả năng và giới hạn của mình Từ đó, trẻ biết điều chỉnh bản thân

Học kĩ năng sống không có nghĩa là học những gì cao siêu đặc biệt, mà chính là học cách để làm việc, sinh hoạt, vận động, giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, xoay quanh bản thân, gia đình, và môi trường xã hội, những người lạ không quen biết Để sống hài hòa, thích nghi và thoải mái trong đời sống xã hội, biết cách đối phó với những tình huống bất thường phát sinh hay không bị mất bình tĩnh trước những nguy cơ đột ngột, cần cho trẻ được học và rèn luyện ngay

từ nhỏ, từ những bản năng tự nhiên như việc học ăn, học nói, học đi, đứng, ngủ nghỉ đến việc học để có kiến thức và nhận thức về bản chất của cuộc sống, tôn trọng môi trường sống, môi trường thiên nhiên xung quanh, và giao tiếp, ứng xử trung thực, khôn ngoan, lịch sự với mọi người

Nói chung, không chỉ có các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về kĩ năng sống cho trẻ mà các nhà tâm lí, nhà giáo dục… ở Việt Nam đã và đang thực hiện công cuộc đổi mới giáo dục, tăng cường rèn luyện kĩ năng sống cho trẻ lứa tuổi mầm non Điều đó cho thấy, kĩ năng sống là một trong những kĩ năng cần

thiết, quan trọng đối với trẻ, đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo

* Hướng thứ hai: Nghiên cứu kĩ năng tự nhận thức ở trẻ mầm non

Theo tâm lí học phát triển, nhóm tác giả Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc [15] cho rằng: dấu hiệu đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách là sự xuất hiện của tự ý thức, còn được gọi là “cái tôi” hay ý thức bản ngã, tức là tự nhận thức về bản thân mình

Việc trẻ ý thức được bản thân liên quan tới bốn sự kiện sau:

- Thứ nhất, trẻ tự nhận ra bản thân bắt đầu từ hình dáng bên ngoài và bộ phận cơ thể của mình

- Thứ hai, trẻ nhận ra và kiểm soát được xúc cảm của mình

- Thứ ba, hình thành cái tôi ban đầu về bản thân bao gồm cả nhận biết về giới tính

- Thứ tư, tự đánh giá về hành vi của bản thân

Bước cao hơn của tự ý thức là trẻ biết tự nhận xét, tự đánh giá hành vi của mình Ban đầu trẻ dựa vào lời nhận xét của người lớn về mình, về bạn cùng tuổi

Trang 10

hay nhận vật trong truyện mà người lớn cho là tốt hay xấu và bày tỏ thái độ khen chê rõ ràng Trẻ phân biệt được điều này căn cứ vào thái độ của người lớn

Nhóm tác giả Ngô Công Hoàn, Trương Thị Khánh Hà [17; tr202] lại cho rằng: Nhận thức được mục đích sống là điều quan trọng giúp ta tự thay đổi mình

để đạt được những thành tựu nho nhỏ Tự ý thức là khả năng nhận biết những đăc điểm khác biệt của bản thân trong so sánh với những người xung quanh; là khả năng nhận biết bản thân như tồn tại khách quan với những đặc điểm có một không hai

Tự ý thức “cái tôi” bản thân sau này là chủ nhân của mọi hành động cá nhân sau này Cái tôi được hợp thành bởi ba phần:

- Bản ngã sinh lí: thân xác là tiền đề vật chất, ta nhận biết bản thân ta nhờ

có hoạt động của giác quan Người ta hãnh diện về cơ thể cân đối, hài hòa, khỏe mạnh, và ngược lại thất vọng về những thiếu khuyết của bản thân

Ta nhận biết, ý thức được về thân xác mình nhờ phổ giác - thứ cảm giác chung về tình trạng cơ thể như thoải mái, thanh thản hoặc bức xúc, băn khoăn về một việc nào đó…

- Bản ngã xã hội (cái tôi xã hội): ta nhận biết được vị trí xã hội của mình trong các nhóm xã hội Một dấu hiệu nhận biết sớm của cá nhân mang tính xã hội đó là danh tính, tên chúng ta; họ và tên người, nhờ đó ta phân biệt được những cá nhân này với cá nhân khác

- Bản ngã tinh thần (tâm lí): là những năng lực, năng khiếu, kinh nghiệm

cá nhân, thói quen, hành động, tính tình đời sống xúc cảm Cái “tôi” “quá khứ”,

“hiện tại” và “tương lai” là động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động đạt những thành tựu trong cuộc sống

Ngoài ra, một số tác giả khác như: Nguyễn Thị Thư, Trần Thị Bích Ngọc, Bùi Thị Hoài [16]… cũng đã có các đề tài nghiên cứu về vấn đề tự nhận thức, sự hình thành kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo

Như vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về vấn

đề rèn lXuyện kĩ năng nhận thức bản thân của trẻ Các nghiên cứu đi theo những

xu hướng khác nhau nhưng đều đã chỉ ra vai trò của việc rèn luyện kĩ năng TNTBT đối với sự phát triển tâm lí, nhân cách trẻ, khẳng định ý nghĩa to lớn của việc rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ lứa tuổi mầm non Việc khám phá MTXQ

Trang 11

là cơ hội tốt để các nhà giáo dục cho trẻ tham gia các hoạt động trải nghiệm, khám phá, tìm hiểu bản thân, biết tự điều chỉnh hành vi của bản thân, qua đó giúp trẻ rèn luyện được kĩ năng TNTBT một cách đúng đắn và hiệu quả

1.2 Một số vấn đề lí luận về tự nhận thức

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm kĩ năng

Kĩ năng là một vấn đề được nhiều nhà tâm lí học, giáo dục trong và ngoài nước quan tâm Ở các góc độ khác nhau, các tác giả có những quan niệm khác nhau về KN, nhưng tổng kết lại có 2 quan niệm về KN như sau:

- Quan niệm thứ nhất, xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kĩ thuật của hành động Theo quan niệm này, kĩ năng là phương tiện thực hiện hành động mà con người đã nắm vững Người có kĩ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu cần có của nó

mà không cần tính đến kết quả của hành động [Dẫn theo 25]

- Quan niệm thứ hai, xem xét kĩ năng nghiêng về mặt năng lực của con người Kĩ năng không chỉ đơn thuần là kĩ thuật hành động mà nó còn là biểu hiện của năng lực, kĩ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo Nhờ có sự mềm dẻo mà con người có tính sáng tạo hoạt động thực tiễn Ở đây, các tác giả có chú

ý đến kết quả của hành động

Kĩ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động hay hành động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động đó

có kết quả theo mục đích đã đề ra

Người có KN hành động trong một lĩnh vực hoạt động được biểu hiện ở những dấu hiệu sau đây:

+ Có tri thức về hành động: nắm được mục đích hành động; nắm được cách thức thực hiện hành động và các điều kiện thực hiện hành động

+ Thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của nó

+ Hành động đạt kết quả theo mục đích đề ra

+ Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện thay đổi

1.2.1.2 Khái niệm nhận thức

Nhận thức đã được các nhà triết học và các nhà tâm lí học quan niệm như sau:

Trang 12

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn Nhận thức là một dạng hoạt động cơ bản của đời sống tâm lí con người: Nhận thức, tình cảm, hành động Nó quan hệ chặt chẽ với các mặt kia và quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lí khác của con người [39]

Theo quan điểm của Piaget (1896 – 1980), quá trình nhận thức được coi là

sự tổng hợp của hai quá trình trái ngược và bổ xung lẫn nhau: Quá trình đồng hóa và quá trình điều ứng Đứng trước một sự vật, hiện tượng, để tìm hiểu hay tác động lên nó, con người bước đầu vận dụng một “sơ cấu” hành động hoặc tư duy đã có từ bẩm sinh hoặc trải nghiệm trước đó là quá trình đồng hóa Cả đồng hóa và điều ứng đều nhằm giúp cá thể thích nghi với môi trường và đạt đến sự cân bằng Quan điểm này có tác dụng rất lớn trong việc giải thích sự phát triển quá trình nhận thức và tự thích nghi của con người với môi trường Theo quan điểm của tâm lí học nhận thức, nhà tâm lí học và giáo dục học Jean Piaget (1896

- 1986) cho rằng sự phát triển nhận thức của trẻ em gồm thu thập các cấu trúc nhận thức, các nguyên tắc để hiểu và làm việc với thế giới bên ngoài, để tư duy

và giải quyết vấn đề Hai dạng nguyên tắc của cấu trúc nhận thức này là sơ đồ và

hệ lí thuyết Sơ đồ là hệ quy tác xác định các phạm trù cụ thể ứng xử: ứng xủa sẽ được thực hiện ra sao và ở điều kiện như thế nào? Nói cách khác sơ đồ là một chuỗi hành động cảm giác - vận động có tổ chức Ví dụ: Cấu trúc nhận thức của trẻ sơ sinh bao gồm sơ đồ múi, sơ đồ với và sơ đồ nhìn

Nhận thức là một dạng hoạt động cơ bản của con người Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện ở mức độ hiện thực khách quan khác nhau (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm…)

- Quan điểm theo lí thuyết thông tin: Quá trình nhận thức của con người được xem như quá trình thu nạp và xử lí thông tin trong một hệ thống máy tính, trong đó các thông tin được các cơ quan cảm giác của con người ghi lại và xử lí, quá trình này theo họ thực chất là quá trình chuyển hóa thông tin qua lại giữa bộ nhớ động và bộ nhớ tĩnh Bộ nhớ sử dụng như một màn hình máy tính, trong

Trang 13

cùng một lúc nó có thể hiểu và biểu diễn ra thành phần ứng bên ngoài và tối đa không tồn tại đối tượng khác nhau còn bộ nhớ tĩnh như cái thư viện khổng lồ có sức chứa gần như vô hạn Các thông tin từ bộ nhớ hoạt động có thể được ghi lại trực tiếp vào bộ nhớ tĩnh hoặc ghi vào nhờ quá trình lặp lại, ngược lại, thông tin

từ bộ nhớ tĩnh có thể được lấy trở lại bộ nhớ hoạt động nhờ quá trình hồi tưởng, đôi khi thông tin có thể bị mất đi do không có ý nghĩa hoặc không được sử dụng lại (Hiện tượng quên) Lí thuyết thông tin về quá trình nhận thức cho phép hình dung một cách khá tường minh về quá trình nhận thức khách quan nhưng không

kể đến tác động qua lại với các quá trình tâm lí khác, những đặc điểm mang tính chủ quan của chủ thể, cách tiếp cận này tỏ ra tương đối thuận lợi cho việc mô tả lại các đặc điểm nhận thức của trẻ

Nhóm tác giả Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc [14; tr56] cho rằng:

Hoạt động nhận thức là quá trình cá nhân thâm nhập, khám phá, tái tạo lại cấu trúc thế giới xung quanh Qua đó, hình thành và phát triển chính bản thân mình, mà trước hết là các kiến thức về thế giới, các kĩ năng và phương pháp hành động cũng như những giá trị sống khác

Phân tích các quan điểm trên về khái niệm “nhận thức” chúng tôi xác định

khái niệm “nhận thức” như sau: “Nhận thức được hiểu là quá trình chủ thể tiếp nhận những thông tin và xử lí những thông tin thu được làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình nhằm đảm bảo sự thích ứng và phát triển của cá nhân”

1.2.1.3 Khái niệm tự nhận thức

Để có cách hiểu về tự nhận thức làm cơ sở lí luận cho nghiên cứu thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã phân tích các khái niệm khác nhau về tự nhận thức dưới các góc độ khác nhau để tìm hạt nhân hợp lí

Theo nhà tâm lí học người Nga N.N.Yechocoba “tự nhận thức như là mắt xích đầu tiên và là cơ sở tồn tại thể hiện của tự ý thức Qua nhận thức, con người

đi từ những hiểu biết xác định về bản thân Những hiểu biết đó đi vào nội dung của tự ý thức như là tâm điểm của nó”

Trang 14

Nhà tâm lí học S.Franz cho rằng, tự nhận thức là một thành phần của ý thức Tự nhận thức là một quá trình nhận thức hướng vào chính bản thân mình cùng với kết quả của quá trình đó

Theo I.I.Trexnôcôva [21] cho rằng tự nhận thức là một thành phần trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó bao gồm 3 mặt thống nhất:

+ Nhận thức (có tự nhận thức)

+ Cảm xúc giá trị (có thái độ với bản thân)

+ Hành động ý chí (tự điều chỉnh, điều khiển hành vi)

Tự nhận thức là quá trình phát triển cao của con người Đây là một trong những vấn đề phức tạp và quan trọng nhất của chủ thể Tự nhận thức được hiểu

là quá trình cá nhân phân biệt cái thuộc về mình, đặc biệt là phân tách cái tôi nội tâm của mình để hiểu được mình với đặc điểm tâm lí, nhân cách và phẩm chất

đạo đức riêng của cá nhân

Tự nhận thức không phải là khám phá những bí mật thầm kín, đen tối hoặc những động cơ vô thức mà mà là phát triển một sự hiểu biết chính xác và trung thực

về những điểm mạnh của bản thân Một điều ngạc nhiên về sự nhận thức là chỉ cần nghĩ về nó thôi đã đủ giúp cho con người cải thiện kĩ năng, cho dù thoạt đầu bạn có khuynh hướng tập trung vào những gì bạn làm sai Đạt được khả năng tự nhận thức

có nghĩa là bạn không còn sợ mình sai lầm trong cảm xúc nữa

Quá trình tự nhận thức là quá trình kích thích sự lĩnh hội một cách tích cực các kinh nghiệm văn hóa của cá nhân Đối với lứa tuổi vị thành niên, quá trình này bắt đầu với câu hỏi: “Tôi là ai?”; “Tại sao mình lại không như vậy?”;

“Tôi sẽ cần trở thành một người như thế nào?” Đó là sự nhận thức về cái tôi lí

tưởng và đây chính là bắt đầu của sự tự hoàn thiện cá nhân [8; tr968] Tự nhận

thức là thành tố trong cấu trúc của tự ý thức Đó là quá trình tâm lí phản ánh những đặc điểm, phẩm chất,… của bản thân, làm cơ sở định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình

Tác giả Hoàng Thị Phương trong cuốn “Giáo trình lí luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh” đã đưa ra nội dung giáo dục

tự nhận thức bản thân cho trẻ bao gồm: Hướng dẫn trẻ làm quen với cơ thể chúng; Giáo dục trẻ tự nhận thức về tình cảm, ý nghĩ, hành vi; Giáo dục ý thức

vị trí xã hội cho trẻ Tác giả đã khẳng định rằng: “Giáo dục tự nhận thức về bản

Trang 15

thân là một phần quan trọng của quá trình hình thành nhân cách trẻ Trẻ ý thức

về bản thân ngày càng đầy đủ thì càng tích cực tham gia vào quá trình hoàn thiện bản thân để trở thành người” [10]

Dựa vào cách hiểu trên, chúng tôi xác định khái niệm” tự nhận thức” như sau:

“Tự nhận thức là quá trình chủ thể tiếp nhận thông tin và xử lí thông tin

về bản thân làm cơ sở cho việc định hướng điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ với môi trường xung quanh nhằm đảm bảo sự thích ứng

và phát triển của cá nhân”

1.2.1.3 Khái niệm kĩ năng tự nhận thức bản thân

Có thể nói, kĩ năng TNTBT là kĩ năng căn bản; một khi bạn đã có nó, bạn

sẽ vận dụng những kĩ năng trí tuệ, cảm xúc khác dễ hơn nhiều Khi mức độ tự nhận thức tăng lên, sự thỏa mãn của con người trong cuộc sống - được định nghĩa là khả năng họ có thể đạt được những mục tiêu trong công việc

Kĩ năng TNTBT còn được hiểu là năng lực cá nhân vận dụng có hiệu quả những tri thức, những kinh nghiệm thành hành động để nhận biết đúng đắn mình

là ai, mình có thể làm được gì, mình đang sống trong hoàn cảnh nào

Tác giả Trần Thanh Bình [5; tr9] quan niệm: “Kĩ năng TNTBT là khả

năng một người nhận biết đúng đắn rằng: mình là ai, sống trong hoàn cảnh nào, yêu thích điều gì, ghét điều gì, điểm mạnh và điểm yếu của mình ra sao, mình có thể thành công ở những lĩnh vực nào, những động cơ thúc đẩy bản thân hành động và phải vui vẻ, muốn thay đổi bản thân và những thành quả mong đợi, các niềm tin, giá trị bản thân…” Từ đó, có thể cảm nhận được cảm xúc của nhiều người khác nữa, hiểu được những gì người khác nói với mình và cách mà cảm xúc của mình ảnh hưởng đến những người xung quanh Nó bao gồm: cảm giác, ý nghĩ của bản thân cũng như khi bản thân mình hiểu được cảm xúc của người khác như thế nào, nó cho phép bản thân mình kiểm soát được mối quan hệ của mình hiệu quả hơn, hòa hợp hơn

Dựa vào cách hiểu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về kĩ năng tự nhận

thức bản thân như sau: “Kĩ năng tự nhận thức bản thân là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm của bản thân vào hoạt, tìm hiểu, khám phá chính mình để thỏa mãn nhu cầu phát triển của bản thân.”

1.2.2 Đặc điểm hoạt động nhận thức

Trang 16

Các tiến trình nhận thức liên quan đến việc quyết định biến cố nào trong nhiều biến cố bên ngoài sẽ được quan sát và cá nhân tiếp nhận, phản ứng với các biến cố này như thế nào Nhận thức ảnh hưởng đến hành vi của trẻ về một số phương diện Trước tiên một động cơ thúc đẩy nào đó được căn cứ theo nhận thức trong đó, trong một số trường hợp, các hành động có thể phát sinh không phải sự kích thích từ yếu tố bên ngoài mà từ các hoạt động nhận thức nội tại Do

đó, những ý nghĩ về hậu quả của tương lai và một hành vi có thể đang thúc đẩy,

và về mặt nhận thức các mục tiêu được ấn định có thể thúc đẩy hành vi Qua nhận thức, moi người hoạt động như những tác nhân tích cực trong sự năng động của chính mình Nhận thức cũng giữ vai trò khác trong việc quyết định hành vi [31; tr 436]

Nhận thức gồm 4 đặc trưng cơ bản sau:

+ Thứ nhất: Hoạt động nhận thức có mục đích khám phá, tái tạo lại và

sáng tạo thế giới, nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người, qua đó hình thành và phát triển hiểu biết của con người về thế giới và phương pháp vận động của nó Thực chất hoạt động nhận thức là qúa trình cá nhân tích cực hoạt động trong thế giới sự vật, hiện tượng, thâm nhập vào chúng, khám phá, phân tích tái tạo lại, cấu trúc lại chúng bằng các vận động vật chất, tinh thần, trí óc

+ Thứ hai: Trong hoạt động nhận thức con người không trực tiếp tác động

vào đối tượng, mà phải gián tiếp thông qua công cụ (phương tiện) Vì vậy, trong hoạt động nhận thức bao giờ cũng diễn ra một quá trình kép: Quá trình tìm hiểu

và nắm vững cách sử dụng công cụ (học cách sử dụng công cụ) và quá trình tìm hiểu, tái tạo đối tượng nhận thức Hai quá trình này không tách rời nhau, thường chuyển hóa lẫn nhau tạo thành bản chất của quá trình nhận thức về đối tượng và cách tiếp cận đối tượng

+ Thứ ba: Hoạt động nhận thức diễn ra trong mối tương tác trực tiếp hoặc

gián tiếp giữa các cá nhân

+ Thứ tư: Hoạt động nhận thức có nhiều cấp độ, tùy thuộc vào sự tham

gia của các chức năng nhận thức: cảm tính và lí tính Trong nhận thức cảm tính vai trò chủ đạo thuộc về cảm giác, tri giác, dựa trên nền tảng của quá trình trí nhớ, kết hợp với sự tham gia của tư duy tái tạo trong nhận thức lí tính, vai trò chủ đạo thuộc về tư duy logic, tư duy và tưởng tượng sáng tạo

Trang 17

Các cơ chế này không tồn tại riêng rẽ hoặc xếp chồng lên nhau Chúng đan xen, kế thừa, giao thoa và hỗ trợ nhau trong suốt quá trình phát triển cá nhân

và xã hội [31]

1.3 Kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

1.3.1 Khái niệm “Kĩ năng tự nhận thức bản thân trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.”

Từ khái niệm kĩ năng, nhận thức, TNTBT nói trên cho thấy tầm quan trọng của nó trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ Qua đó, chúng tôi đưa ra một số quan niệm về kĩ năng TNTBT của trẻ mẫu giáo như sau:

“Kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm của bản thân trẻ vào hoạt động tìm hiểu và khám phá chính mình, nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển của bản thân.”

1.3.2 Một số đặc điểm tâm sinh lí liên quan đến kĩ năng tự nhận thức của trẻ 4 - 5 tuổi

* Đặc điểm về cảm giác và tri giác

Trước tuổi mẫu giáo, khi tìm hiểu đối tượng mới, trẻ thường hành động ngay với nó Sang tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu khảo sát theo một trình tự nhất định

Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu có khả năng tri giác có kế hoạch, có hệ thống những sự vật, hiện tượng xung quanh Trẻ tri giác chính xác hơn, phát hiện các sự vật nhanh hơn Tri giác của trẻ thường gắn với chính hoạt động của trẻ Nếu cho trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động, các sự vật, hiện tượng sinh động, hấp dẫn thì tri giác của trẻ càng phát triển và đạt được kết quả tốt [38] Chính vì vậy, trẻ tham gia các hoạt động trải nghiệm môi trường là hoạt động không thể thiếu trong quá trình giáo dục trẻ Trẻ được khám phá và tìm tòi các sự vật xung quanh mình Trẻ biết đến tên gọi, đặc điểm, cấu tạo và sự phát triển của sự vật, hiện tượng đó Trẻ biết mô tả hoạt động, biết bày tỏ cảm xúc của mình về chúng

* Đặc điểm phát triển biểu tượng

Biểu tượng là hình ảnh của sự vật được giữ lại trong trí nhớ Biểu tượng thường diễn ra khi có tác nhân tác động, kích thích đến trí nhớ của con người Có thể xem biểu tượng như là hình thức trung gian quá độ cần thiết để chuyển từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lí tính

Trong thời kì mẫu giáo, trẻ em phát triển nhiểu loại biểu tượng Biểu tượng đầu tiên mà trẻ cảm nhận được đó là biểu tượng về khối lượng của vật, tiếp đến là biểu tượng về quan hệ không gian, thời gian, biểu tượng về phép đếm,

Trang 18

số lượng, số và biểu tượng xã hội Ngay từ khi cuối tuổi nhà trẻ đến đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã có biểu tượng vị thế cho mình, hình thành “cái tôi xã hội” Vị thế bản thân còn giúp trẻ phân biệt được giới tính Tiếp đến là trẻ biểu tượng về khả năng của bản thân Đây là biểu tượng được hình thành thông qua quá trình hoạt động của con người trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi Từ những hoạt động đó, trẻ nhân thức được khả năng của mình thông qua các hoạt động khác

* Đặc điểm phát triển các thao tác tư duy

Ở đây chúng ta chỉ đề cập tới quá trình tâm lí phát triển mạnh mẽ và đặc trưng nhất, đó là tư duy Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng

Tư duy của trẻ được phát triển và mở rộng hơn trong quá trình khám phá môi trường Trẻ biết đặt cho mình những câu hỏi thắc mắc khi tiếp xúc với các đối tượng từ môi trường sống Trẻ phải tự mình quan sát, ghi nhớ, tư duy về các hình ảnh, sự vật, hiện tượng đã quan sát được Từ đó, trẻ có thể giải đáp các câu hỏi đó một cách chính xác và dễ hiểu nhất

Trẻ mẫu giáo nhỡ bắt đầu phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế Tuy nhiên, do nhiệm vụ hoạt động mà cả loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng được phát triển ở trẻ Loại tư duy này giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan

* Đặc điểm phát triển trí nhớ

So với trẻ ở lứa tuổi trước, ghi nhớ của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ngày càng

có tính chủ định hơn do trẻ sử dụng một số phương thức nhắc lại hay liên hệ các

sự kiện với nhau do người lớn định hướng Tuy vậy, ở lứa tuổi này chủ yếu là trí nhớ không chủ định Ngoài ra, trí nhớ của trẻ gắn liền với cảm xúc và điều gì gây xúc động mạnh trẻ sẽ nhớ tốt hơn

Tuy vậy, ở độ tuổi này trí nhớ của trẻ vẫn được đặc trưng bởi trí nhớ hình ảnh, cho nên phải để trẻ tích cực hoạt động thì kết quả ghi nhớ, nhận thức sự vật, hiện tượng và TGXQ trẻ sẽ cao hơn Thông qua việc khám phá MTXQ, trẻ có cơ hội khám phá sự vật, hiện tượng theo nhiều khía cạnh khác nhau, dưới nhiều góc

độ khác nhau để lấy được thông tin đầy đủ về nó, về bản thân như: hình dáng, kích thước, đặc điểm bên ngoài, bản chất bên trong, đặc điểm của các bộ phận

Trang 19

trên cơ thể và chức năng của từng bộ phận cũng như mối liên hệ giữa chúng Trẻ ghi nhớ được tất cả mọi thứ một cách đơn giản và dễ dàng

* Đặc điểm phát triển trí tưởng tượng

Tưởng tượng của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi phần lớn là không chủ định Tưởng tượng có chủ đích đã bắt đầu được xuất hiện nhưng chủ yếu là trong các hoạt động sáng tạo của trẻ Khi trẻ tham gia hoạt động trải nghiệm MTXQ, trẻ được tiếp xúc với nhiều nguồn tri thức mới lạ sẽ giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng tốt hơn Không những trí tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh trong giai đoạn này mà trẻ còn hình thành biểu tượng cho bản thân

* Đặc điểm phát triển ngôn ngữ

Ở lứa tuổi này, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ là phương tiện cơ bản để nhận thức TGXQ và sử dụng ngôn ngữ trong sinh hoạt

Ngôn ngữ không chỉ giúp trẻ khám phá MTXQ mà còn giúp trẻ tự khẳng định bản thân thông qua việc trẻ sử dụng ngôn ngữ để thể hiện những yêu cầu, suy nghĩ và ý kiến của mình trong mối quan hệ giao tiếp với mọi người xung quanh

1.3.3 Đặc điểm quá trình phát triển tự nhận thức bản thân của trẻ 4 - 5 tuổi

Nếu coi tự nhận thức là quá trình đơn điệu, trơn tru không có mâu thuẫn, không gặp khó khăn rất là sai lầm Khó khăn chính của sự nhận thức là ở chỗ chủ thể và khách thể là tách biệt, thì trong tự nhận thức bản thân, khách thể và chủ thể đồng nhất với nhau

Tự nhận thức là ý thức về bản thân (còn gọi là ý thức bản ngã hay cái

“tôi” của một người) đã chớm nở từ cuối tuổi ấu nhi [36] Đến 4 tuổi tự nhận

thức của trẻ được biểu hiện trong sự khẳng định cái tôi của trẻ thể hiện dưới hình thức các cử động và động tác của cơ thể phát triển bột phát về số lượng Sự xác định ý thức bản ngã của trẻ được phát triển Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tự tách mình ra khỏi người khác đã được hình thành từ cuối tuổi ấu nhi Tuy nhiên, phải trải qua một quá trình phát triển thì ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình có hành động này hay hành động khác ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công và thất bại của mình, về những ưu điểm

và khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa [35]

Trang 20

Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình như thế nào Cuối tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ nắm được kĩ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để noi gương những người tốt, việc tốt Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết nếu mình là trai hay gái thì hành vi này phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình

- Đầu tiên, tự nhận thức của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi được thể hiện là trẻ nhận biết được các bộ phận trên cơ thể mình một cách tương đối rõ ràng, chính xác Trẻ cũng nhận biết được giới tính của mình, không những trẻ biết mình là trai hay gái mà còn biết phải có hành vi, ăn mặc, đầu tóc… như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình

- Trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi cũng đã có sự nhận biết về trạng thái xúc cảm, tình cảm của mình Trẻ nhận biết được những trạng thái tâm lí khác nhau như: vui, buồn, tự hào, xấu hổ… ở bản thân mình

- Trẻ bắt đầu nhận thức được vị trí của mình trong nhóm bạn bè, trong gia đình và trong lớp học.Trẻ lứa tuổi này biết rõ mình là con ai, cháu ai… Trong ngôn ngữ của trẻ đã biết dùng những đại từ phù hợp trong giao tiếp (xưng con với bố mẹ, cháu với ông bà, em với anh chị…) Sự hiểu biết về bản thân ở trẻ 4 -

5 tuổi không chỉ thông qua cách gọi tên mà còn là cảm nhận của trẻ về chính các

bộ phận trong cơ thể mình Từ sự hiểu biết rõ ràng về các bộ phận trong cơ thể

đã hình thành khả năng định hướng, di chuyển trong không gian phối hợp với các bộ phận trên cơ thể tham gia quá trình hoạt động

- Sự tự nhận thức, tự đánh giá của trẻ trong giai đoạn này bắt đầu tham gia vào sự điều khiển, điều chỉnh hành vi và một phần nào đó ảnh hưởng đến sự phát triển thái độ cảm xúc đối với bản thân Sự tự đánh giá bắt đầu đã có sự thống nhất giữa nhận thức và cảm xúc Trẻ càng ngày càng trải nghiệm nhiều hơn sự vui sướng từ nhận thức những khả năng của mình, sự nhận biết về thế giới xung quanh Mặt khác, cũng có những trẻ còn mơ hồ về khả năng của mình nên có khi trẻ làm được việc gì đó mà trẻ lại nói là không làm được Khả năng nhận thức của trẻ 4 - 5 tuổi bắt nguồn từ việc đánh giá, nhận xét các bạn rồi so sánh với bản

Trang 21

thân Tuy vậy, nó còn phụ thuộc vào sự đánh giá của người lớn, của môi trường hoạt động

Như vậy, tự đánh giá của trẻ giai đoạn này đã bắt đầu hình thành, song còn mờ nhạt Trẻ đánh giá được một số hành vi, hành động, ý định cụ thể Tuy vậy tự đánh giá, tham gia vào quá trình điều khiển, điều chỉnh hành vi, thao tác

và một phần nào đó ảnh hưởng tới sự phát triển thái độ cảm xúc đối với bản thân Trẻ ngày càng trải nghiệm nhiều hơn từ hiểu biết về cơ thể bản thân đến cương vị xã hội, khả năng của mình và sự nhận thức về TGXQ Sự hình thành ban đầu là cơ sở cho trẻ khám phá, nhận thức về TGXQ cũng như nhận thức chính bản thân mình Từ đó, trẻ dần hoàn thiện mình và phát triển nhân cách của mình sau này

Tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi được thể hiện rõ nhất qua việc trẻ biết được tên gọi của mình, các bộ phận, giác quan trên cơ thể Khi trẻ khám phá MTXQ, trẻ nhận biết thêm công dụng, chức năng của các bộ phận, các giác quan khi trẻ được tham gia hoat động Ví dụ: Khi cho trẻ khám phá một

số loại quả Trẻ biết được tác dụng của đôi bàn tay và các ngón tay Nhờ có ngón tay mà trẻ có thể cầm, nắm các loại quả một cách dễ dàng Không chỉ vậy, thông qua hoạt động, trẻ tích lũy thêm kiến thức mới Ngoài ra, trẻ biết bảo vệ mình, tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp và kiểm soát cảm xúc bản thân Ví dụ: Khi trẻ tham gia tiết học ngoài trời: Quan sát một số hiện tượng thời tiết Trẻ biết được tác dụng và tác hại của nắng, mưa, sấm chớp, bão, lũ… Từ đó, trẻ biết mặc trang phục bảo vệ bản thân, phù hợp với thời tiết Đồng thời, trẻ biết phòng tránh

và tự bảo vệ mình như: không đi vào vũng nước, bùn lầy hay đội mũ lúc trời nắng, không ra ngoài khi trời mưa…

1.3.4 Biểu hiện và mức độ của kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 4 - 5 tuổi

Trong cuốn “Tâm lí học trẻ em từ lọt lòng đến 6 tuổi” của tác giả Ngô Công Hoàn đã quan niệm: “Tự ý thức là sự nhận thức về bản thân mình: Sự phát triển tự ý thức của trẻ, xảy ra đồng thời với ý thức.” [17] Nói cách khác, cốt lõi của tự ý thức chính là tự nhận thức bản thân để có những đầy đủ về bản thân từ

cơ thể cho tới khả năng, kĩ năng, năng lực của bản thân, thái độ với bản thân Tự nhận thức biểu hiện ở các mặt sau:

Trang 22

+ Trẻ đã nhận thức được về bản thân mình: nhận ra được thân thể mình với những người xung quanh, đã có một “sơ đồ thân thể phân biệt” trẻ với trẻ khác; nhận ra được các bộ phận cơ thể bản thân, nhận thức được vị trí làm con, làm em, làm cháu hay làm trai, làm gái”

+ Bước đầu tự chủ nhận thức được hành vi của bản thân mình

+ Trẻ đã ý thức được những gì gia đình ngăn cấm, chấp nhận và làm theo hướng dẫn của người lớn, chấp nhận một số kỉ cương, biết dùng từ ngoan, muốn trở thành con người ngoan để vui lòng cha mẹ Ngược lại, trẻ cũng có thể hành động ngược lại với sự hướng dẫn của người lớn để tự khẳng định mình

Nguyễn Quang Uẩn [39] lại cho rằng: Những dấu hiệu biểu hiện sự phát triển ý thức (tự nhận thức) của trẻ gồm:

+ Các nhân tự nhận thức về bản thân bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến

vị thế và các quan hệ xã hội

+ Có thái độ với bản thân tự nhận xét, tự đánh giá

+ Tự điều chỉnh, tự điều chỉnh hành vi theo mục đích tự giác

+ Có khả năng tự hoàn thiện, tự giáo dục mình

Cách hiểu này cho thấy, sự tự ý thức chính là tự nhận thức về bản thân mình bao gồm: nhận thức về cơ thể bản thân, vị thế bản thân, các khả năng bản thân… Khả năng tự nhận biết, tự đánh giá về những đặc điểm, tính cách, khả năng, hạn chế, nhu cầu… của bản thân

Tác giả Hoàng Thị Phương [30] cho rằng: TNTBT của trẻ thể hiện ở mức

độ hiểu biết đặc điểm, cấu tạo các bộ phận cơ thể, biết thể hiện xúc cảm bản thân với sự vật xung quanh và mạnh dạn, tin tưởng vào bản thân

Theo quan điểm của chúng tôi, chúng tôi xác định nội dung kĩ năng TNTBT của trẻ được biểu hiện như sau:

Trang 23

+ Trẻ xác định các trạng thái tâm lí cảm xúc của con người, so sánh biểu

hiện, cảm xúc của trẻ với những người khác và mọi người với nhau

+ Hình thành ở trẻ biểu tượng con người biết suy nghĩ, biết lập kế hoạch hành động Từ đó, trẻ biết cách tôn trọng, biết cách thể hiện sự quan tâm đến mọi người

- Kĩ năng tự nhận thức vị trí xã hội của mình với mọi người xung quanh

+ Nhằm hình thành tình cảm bền vững của trẻ đối với mọi người xung quanh + Củng cố sự tin tưởng vào bản thân và giáo dục lòng tự trọng cho trẻ + Trẻ biết tên, tuổi, giới tính của mình: Biết tên, công việc của bố mẹ, vị trí của trẻ trong gia đình, trong dòng họ…

Như vậy, giáo dục TNTBT là một phần quan trọng của quá trình hình thành nhân cách trẻ Trẻ ý thức về bản thân càng đầy đủ thì càng tích cực tham gia vào quá trình hoàn thiện bản thân để trẻ trở thành người

1.4 Vai trò của kĩ năng tự nhận thức đối với sự phát triển của trẻ

1.4.1 Vai trò của kĩ năng tự nhận thức đối với việc hình thành tự ý thức, tự điều chỉnh, lòng tự trọng và tính tự tin cho trẻ

1.4.1.1 Kĩ năng tự nhận thức bản thân đối với việc hình thành tự ý thức của trẻ Nhóm tác giả Trần Lan Hương, Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thư [19] cho rằng: “Phát triển tình cảm dựa trên nền tảng của sự phát triển khả năng tự nhận thức về bản thân và sự tự tin”.Trẻ thể hiện sự nhận thức về bản thân như: Biết một số thông tin quan trọng về bản thân và gia đình, ứng xử phù hợp với giới tính của bản thân, nói được khả năng và sở thích riêng của bản thân, đề xuất các trò chơi và hoạt động thể hiện sở thích của bản thân

Từ đó, trẻ ý thức tự ý thức được bản thân mình Tự quan sát chính mình để so sánh với cái mà mình sẽ quan sát để tự sửa chữa trở thành người khác nhưng vẫn

là chính mình Tự quan sát mình để biết được người khác muốn gì Điều đó vô cùng quan trọng trong sự phát triển đời sống xã hội và cộng đồng Điều quan trọng hơn là

tự nhận thức bản thân giúp trẻ tự ý thức về mục đích cần đạt tới [17]

Tự nhận thức có mối quan hệ mật thiết với sự hình thành ý thức của trẻ:

- Tự nhận thức là một thành phần của tự ý thức, là mắt xích đầu tiên, là cơ

sở để tồn tại và phát triển của tự ý thức

- Trong cấu trúc tự ý thức chứa đựng tự nhận thức ở tất cả các mặt cấu thành của nó

Trang 24

- Tự nhận thức là quá trình (đồng thời là kết quả) nhận thức hướng vào bản thân

- Tự nhận thức được bắt đầu bằng sự hiểu biết bản thân làm cơ sở cho sự

tự ý thức về mình

Người có ý thức bản thân mạnh có khả năng điều chỉnh ý thức bản thân tương đối tốt và thúc đẩy ý thức cá nhân Quá trình nhận thức ý thức cá nhân giúp trẻ nhỏ phát huy tính linh hoạt và phản ứng nhạy bén [5; tr84]

1.4.1.2 Kĩ năng TNTBT đối với khả năng tự điều chỉnh của trẻ

Khi trẻ đã nhận thức được mọi sự việc đang diễn ra xung quanh trẻ, trẻ được học hỏi, lĩnh hội được những tri thức về sự vật, hiện tượng hay tiếp thu được những kinh nghiệm cho bản thân mình Đầu tiên, trẻ biết bộc lộ cảm xúc, học cách hiểu và quan tâm người khác sau đó trẻ biết thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh [19] Trẻ học cách hiểu và quan tâm đến người khác, biết nói khẽ, đi lại nhẹ nhành khi người khác đang nghỉ, bị ốm; giữ thái độ nghiêm túc khi hoạt động chung với cả nhóm; vui vẻ, hào hứng tham gia các sự kiện chung ở lớp và ở gia đình: sinh nhật, ngày lễ…; buồn khi phải chia tay với bạn bè và người thân Trẻ cố gắng không để cảm xúc tiêu cực ảnh hưởng đến người khác Trẻ cố gắng trấn tĩnh lại và kiềm chế những hành vi tiêu cực như đánh bạn, cào cấu, cắn, khóc… Trẻ biết sử dụng lời nói diễn tả cảm xúc tiêu cực, khó chịu, tức giận của bản thân để giải quyết một số vấn đề xung đột trong giao tiếp

Trẻ có các hành vi thích hợp trong ứng xử: Nhận ra hành động của mình

có ảnh hưởng đến người khác, biết đề nghị sự giúp đỡ của người khác khi cần giúp đỡ Nhận xét một số hành vi đúng hoặc sai của con người với môi trường và điều chình hành vi đó sao cho đúng [19]

Trẻ luôn hứng thú và muốn được tiếp xúc với nhiều đối tượng trong môi trường sống của mình Tất cả mọi sự vật, hiện tượng có trong MTXQ (con người, động vật, thực vật…) đều gây sự chú ý đối với trẻ Môi trường chính là nguồn tri thức mà chúng ta cần giúp trẻ lĩnh hội được một cách có ý thức dựa trên nhận thức cảm tính và giáo dục thái độ đúng với nó, phản ánh đúng hiện thực hàng ngày Nếu trẻ thiếu hụt tri thức hay có những hiểu biết sai lệch thì sẽ dẫn đến trẻ có những hành động không đúng đắn làm ảnh hưởng xấu đến môi

Trang 25

trường sống Chính vì vậy, tự nhận thức có vai trò quan trọng trong việc tự điều chỉnh hành vi của trẻ lứa tuổi mầm non

1.4.1.3 Kĩ năng tự nhận thức bản thân đối với hình thành lòng tự trọng của trẻ

Lòng tự trọng là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người Đó là luôn chú ý giữ gìn phẩm giá, nhân cách của mình dù ở bất cứ hoàn cảnh nào Nhu cầu tự trọng là nhu cầu được thấy giá trị và tầm quan trọng của bản thân, có bản lĩnh để tự chịu trách nhiệm với bản thân và chịu trách nhiệm với người khác (Reasoner, 1982) [47]

Lòng tự trọng là một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên giá trị bản thân mình đồng thời nó là nền tảng điều chỉnh suy nghĩ, hành động giúp trẻ giao tiếp một cách hiệu quả

Lòng tự trong là thước đo đạo đức, nhân cách của mỗi con người Người có phẩm giá, biết tôn quý, yêu thương bản thân mình thì mới có lòng tự trọng [46]

Lòng tự trọng là sự nhận thức ý nghĩa, giá trị vốn có và tầm quan trọng của bản thân như một con người Từ đó, có mong muốn học tập, phát triển để lòng tự trọng không bị tổn thương, học tập, tạo dựng thành tích cá nhân và tránh những trải nghiệm tiêu cực vì bị coi là vô bổ, vô dụng [48]

1.4.1.4 Kĩ năng tự nhận thức bản thân đối với việc hình thành tính tự tin của trẻ

Kĩ năng TNTBT là kĩ năng quan trọng đối với mỗi cá nhân Hình thành được kĩ năng tự nhận thức bản thân sẽ giúp cá nhân đạt được thành công và hạnh phúc trong cuộc sống, tránh được những sai lầm không đáng do sự ảo tưởng hoặc quá tự ti về bản thân mang đến Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ

Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân trẻ giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình Đồng thời, cũng giúp bản thân trẻ có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống

Kĩ năng TNTBT giúp cá nhân trẻ giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, giúp suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống Trẻ thấy tin tưởng vào bản thân mình vào khả năng tự nhận thức cũng như khả năng ứng xử của mình Khi đó, trẻ cố gắng thực hiện công việc đó đến cùng

Trang 26

Thể hiện sự vui thích khi hoàn thành công việc, chủ động làm một số công việc đơn giản hàng ngày và mạnh dạn nói ý kiến của bản thân [19; tr66]

1.4.2 Vai trò của kĩ năng tự nhận thức đối với các kĩ năng sống khác

1.4.2.1 Kĩ năng tự nhận thức bản thân đối với kĩ năng kiểm soát cảm xúc bản thân

Tự kiểm soát là sự điều chỉnh và ngăn chặn hành vi của bản thân mà các nhân thấy không nên thực hiện Sự hình thành kĩ năng tự kiểm soát và tự điều chỉnh là một trong cấu thành quan trọng của sự phát triển cá nhân

Trẻ em muốn thể hiện tính độc lập và tự xác định bằng cách làm mọi việc theo ý mình, ngay cả trong trường hợp bị ngăn cản hoặc phải phục tùng người lớn Ngoài tác động của người lớn thì ngôn ngữ của chính trẻ em là phương tiện quan trọng giúp trẻ điều chỉnh và kiểm soát hành vi của mình [36; tr132] Vì vậy, khi trẻ nhận thức được bản thân thì kĩ năng kiểm soát bản thân của trẻ sẽ được nâng cao, trẻ tạo dựng được bản thân về sự kiên nhẫn, trung thực hay kỉ luật; trẻ không còn phá phách, bướng bỉnh như lúc trước

Trẻ có ý thức bản thân mạnh rất mẫn cảm đối với sự thay đổi của bản thân, có khả năng điều chỉnh bản thân tương đối tốt Trẻ quan điểm về bản thân mình như thế nào, thiết lập hình tượng về bản thân như thế nào, trực tiếp ảnh hưởng đến việc trẻ có thể thích ứng, linh hoạt với xã hội Ý thức bản thân trong hành vi và hoạt động tâm lí của trẻ có tác dụng điều chỉnh, đó là động cơ mạnh

mẽ, giúp trẻ ý thức được là mình đang trưởng thành và ngày càng hoàn thiện hơn [31; tr98] Một điều ngạc nhiên về sự nhận thức là chỉ cần nghĩ về nó thôi đã đủ giúp cho con người cải thiện kĩ năng, cho dù thoạt đầu bạn có khuynh hướng tập trung vào những gì trẻ làm sai Đạt được khả năng tự nhận thức có nghĩa là trẻ không còn sợ mình sai lầm trong cảm xúc nữa

Từ đó, trẻ có thể cảm nhận được cảm xúc của nhiều người khác nữa, hiểu được những gì mà người khác nói với mình và cách mà cảm xúc của mình ảnh hưởng đến những người xung quanh Nó bao gồm cả cảm giác, ý nghĩ của bản thân cũng như khi bản thân mình hiểu được cảm xúc của người khác như thế nào, nó cho phép bản thân mình kiểm soát được mối quan hệ của mình hiệu quả hơn, hòa hợp hơn

1.4.2.2 Kĩ năng tự nhận thức bản thân đối với kĩ năng đặt mục tiêu

Trang 27

Mục tiêu là là điều mà chúng ta muốn thực hiện, muốn đạt tới ở mỗi giai đoạn của cuộc đời hay trong một công việc cụ thể Nếu không có mục tiêu thì chúng ta không có hướng phát triển cho cuộc đời mình Mục tiêu có thể là sự hiểu biết, là hành vi hoặc một thay đổi về thái độ [12]

Kĩ năng đặt mục tiêu là khả năng một người có thể đề ra cái đích có thể thực hiện được thuộc về một vấn đề nào đó trong cuộc sống, chẳng hạn một kiến thức cần hiểu biết, một hành động cần thực hiện, một việc cần hoàn thành, một thái độ cần đạt đến Trong những điều kiện hay hoàn cảnh nhất định Đặt mục tiêu chính là lập kế hoạch một cách rõ ràng, chi tiết và thực tế về những điều mình muốn thực hiện trong tương lai Mục tiêu càng cụ thể thì càng có đễ đạt được Kĩ năng đặt mục tiêu không chỉ giúp chúng ta mà còn giúp trẻ sống có mục đích, có sự chuẩn bị sẵn sàng, có định hướng tốt, biết xây dựng kế hoạch cho cuộc sống và khả năng thực hiện mục tiêu đã đặt ra Việc đặt mục tiêu giúp trẻ sống có định hướng, không bị ảo tưởng hoặc tham vọng

Quá trình nhận thức phản ánh cách suy nghĩ về một sự vật, hiện tượng nào

đó một cách vô ý hay hữu ý, một cách trực tiếp hay gián tiếp để rút ra bài học nhằm mục đích tự phục vụ bản thân Quá trình này có thể đến trong tích tắc hay

một mục tiêu nào đó bất chợt nảy ra trong đầu [5] Mục tiêu không phù hợp với

bản thân sẽ không đem lại sức mạnh cho mình do nhận thức về bản thân liên quan tới việc thiết lập mục tiêu Việc hiểu sức mạnh nhận thức giúp con người

có thể hiểu bản thân và điều khiển về suy nghĩ, hành động để đạt được mục tiêu

rõ ràng của mình Kĩ năng đặt mục tiêu của trẻ chịu sự ảnh hưởng tích cực, tiêu cực hay không là do sự tác động của kĩ năng TNT tác động đem lại

1.4.1.3 Kĩ năng TNTBT đối với kĩ năng ra quyết định

Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời

Mỗi cá nhân phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụ thuộc vào người khác Mặc dù, có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trước khi ra quyết định [49] Ra quyết định là sự lựa chọn một giải pháp tốt nhất, hợp lí nhất cho vấn đề đã xác định Kĩ năng ra quyết định là một

Trang 28

loại các kết luận và hoạt động của bản thân để đưa ra một quyết định đảm bảo được một kết quả nào đó theo mong muốn [50]

Khi trẻ có các kĩ năng tự nhận thức tốt, trẻ xác định được những việc cần làm để hoàn thành hiệm vụ, cố gắng hoàn thiện thay đổi bản thân, đưa ra những quyết định, những hành vi và cách ứng xử phù hợp với mọi người xung quanh

1.5 Hoạt động khám phá môi trường xung quanh và việc hình thành kĩ năng

tự nhận thức bản thân cho trẻ 4 - 5 tuổi

1.5.1 Vị trí và vai trò của hoạt động khám phá môi trường xung quanh trong chương trình CSGD trẻ 4 - 5 tuổi

Khám phá MTXQ là một hoạt động mới được đưa vào chương trình giáo dục mầm non mới Đây là một hoạt động có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển nhận thức cho trẻ

Mục đích chính của hoạt động khám phá MTXQ cho trẻ ở trường mầm non không phải là cung cấp những kiến thức khoa học mà là cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá những gì trẻ quan tâm và muốn tìm hiểu Đối với trẻ mầm non, học khoa học chủ yếu là học cách suy nghĩ chứ chưa phải là học những quy luật của khoa học Điều quan trọng là giáo viên giúp trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những gì chúng nhìn thấy và đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem xét, suy luận, phỏng đoán về các sự vật và hiện tượng xung quanh

Với quan niệm về cách dạy, cách học khoa học như trên, hoạt động khám phá MTXQ chủ yếu nhằm: Phát triển ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết, tích cực tìm tòi, khám phá các sự vật và hiện tượng xung quanh; khả năng nhận biết, phân biệt bằng các giác quan, khả năng quan sát, so sánh, phân loại, suy luận và phỏng đoán, tìm ra mối liên hệ nhân quả, óc tưởng tượng, khả năng chú ý, ghi nhớ có chủ định; khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong cuộc sống hàng ngày theo những cách khác nhau, khả năng diễn đạt những suy nghĩ; một số hiểu biết ban đầu về cơ thể con người, cây cối, con vật, đồ vật, một số hiện tượng tự nhiên [22]

Cùng với các hoạt động khác, hoạt động khám phá MTXQ góp phần phát triển toàn diện cho trẻ Trước hết hoạt động khám phá MTXQ góp phần phát triển nhận thức cho trẻ Thông qua quá trình khám phá khoa học về các sự vật, hiện tượng xung quanh, trẻ được trực tiếp tiếp xúc với các đối tượng, điều đó làm thoả mãn tính tò mò, lòng ham hiểu biết, kích thích và nuôi dưỡng hứng thú

Trang 29

của trẻ Bản thân hoạt động khám phá MTXQ như là hoạt động trong phòng thí nghiệm, qua hoạt động này trẻ được trực tiếp thao tác, hành động, hoạt động với đối tượng, trẻ được thử và sai, được sử dụng các giác quan để khám phá nhờ

đó mà các quá trình tâm lí được rèn luyện, phát triển: Cảm giác, tri giác, trí nhớ,

tư duy, ngôn ngữ, tưởng tượng Trong quá trình tìm hiểu, khám phá MTXQ góp phần hình thành ở trẻ những biểu tượng đúng đắn về các sự vật, hiện tượng xung quanh: Tên gọi, đặc điểm, thuộc tính, tính chất, mối liên hệ Trong hoạt động khám phá MTXQ đặt ra rất nhiều nhiệm vụ nhận thức đòi hỏi trẻ phải giải quyết: Trẻ phải suy nghĩ tìm lời giải đáp, tìm phương án giải quyết, đưa ra dự đoán

Do vậy tính độc lập, chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo của trẻ phát triển Vì vậy, hoạt động khám phá MTXQ góp một phần quan trọng trong việc phát triển nhận thức cũng như phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ

Ngoài ra hoạt động khám phá MTXQ còn góp phần quan trọng vào việc phát triển ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mĩ, thể chất cho trẻ

1.5.2 Vai trò của hoạt động khám phá môi trường xung quanh đối với việc hình thành kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 4 - 5 tuổi

Hoạt động khám phá MTXQ là phương tiện giúp trẻ tích cực lĩnh hôi tri thức, thể hiên thái độ với những điều đã lĩnh hội được, rèn luyện kĩ năng, hành vi

trong mối tác động qua lại với môi trường [30, tr13]

Vai trò của hoạt động khám phá MTXQ đối với việc hình thành kĩ năng TNTBT thể hiện ở các điểm:

* Hoạt động khám phá môi trường giúp trẻ tích lũy và mở rộng biểu tượng

về bản thân

Thông qua việc trải nghiệm, thực hiện khám phá các đối tượng trong MTXQ, trẻ tiếp nhận, mở rộng vốn hiểu biết về các sự vật, hiện tượng và về chính bản thân mình nhờ quá trình tương tác với các đối tượng trong môi trường sống hoặc tiếp nhận qua sự đánh giá của những người xung quanh mình

Trong quá trình tham gia hoạt động, trẻ dễ dàng hiểu được con người làm

ra, biết được cấu tạo, tính chất của các công cụ đó Tham gia hoạt động, trẻ dễ dàng nắm bắt được quy tắc hành vi, sử dụng nó trong cuộc sống hàng ngày Tham gia hoạt động, trẻ không chỉ lĩnh hội tri thức mà còn nắm bắt được các kĩ năng nhận thức, kĩ năng lao động, kĩ năng hợp tác và làm việc cùng nhau

Trang 30

* Hoạt động khám phá môi trường xung quanh giúp trẻ tự khẳng định bản thân

Quá trình phát triển của cá nhân diễn ra khác nhau là do mức độ tích cực của họ Cá nhân không chỉ thích ứng hoàn cảnh, mà thể hiện bản thân trong các hoạt động có ý nghĩa như một nhà cải tạo tích cực Điều đó gây hứng thú cho trẻ, làm cho trẻ tự giác, chủ động tiếp nhận tri thức chứ không tiếp nhận một cách thụ động Kết quả hoạt động sẽ tạo ra động cơ bên trong, kích thích trẻ hoạt động tích cực hơn nữa để có thể tự khẳng định bản thân, rèn luyện kĩ năng và thể hiện thái độ đối với môi trường

Hoạt động khám phá MTXQ giúp trẻ khám phá độc lập hơn trong việc cho trẻ nhận thức thế giới Trong hoạt động, trẻ cũng học được các kĩ năng nhận thức như: quan sát, so sánh, phân loại, đo lường, suy luận, dự đoán, đặt giả thuyết… Các kĩ năng này giúp trẻ chủ động tìm kiếm tri thức về TGXQ và tự lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong Trẻ không chỉ được tiếp thu tri thức, nhận thức thế giới dưới sự hướng dẫn của giáo viên hay sự tác động của gia đình và người lớn, mà trẻ biết tự khám phá sự vật, hiện tượng một cách độc lập và tự do suy nghĩ Do vậy, tri thức mà trẻ lĩnh hội được trong quá trình hoạt động là do chính trẻ tự tìm kiếm

* Hoạt động khám phá môi trường xung quanh tạo điều kiện để hình thành các phẩm chất nhân cách quan trọng của trẻ

Tham gia quá trình hoạt động khám phá MTXQ sẽ rèn luyện cho trẻ các phẩm chất ý chí như: tính kiên trì, bền bỉ, kiềm chế, vượt qua khó khăn, cô gắng đạt mục đích tham gia hoạt động Tham gia hoạt động sẽ kích thích trẻ say mê, hứng thú và sáng tạo (không chỉ trên bình diện biểu tượng mà còn ở mức độ tạo

ra biểu tượng cụ thể) Hình thành ở trẻ tinh thần tập thể, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, khả năng hợp tác, tinh thần trách nhiệm với nhiệm vụ được giao Hoạt động còn là môi trường giúp trẻ học cách tự điều chỉnh hành vi, tạo điều kiện cho trẻ có cơ hội đứng ở vị trí của người khác để điều chỉnh hành vi của mình Đây là cơ sở để trẻ có thể đồng cảm với hành vi của người khác, chia sẻ khó khăn giúp đỡ lẫn nhau

Ngoài ra, hoạt động còn là môi trường giáo dục tình cảm cho trẻ Tham gia hoạt động khám phá MTXQ không chỉ góp phần giúp trẻ bổ sung nguồn tri thức mới về sự vật, hiện tượng Môi trường vật chất tạo cho trẻ những cơ hội tốt

Trang 31

để trẻ thỏa mãn nhu cầu hoạt động và phát triển toàn diện về mặt thể chất, trí tuệ thẩm mĩ, đạo đức, xã hội Môi trường xã hội được hiểu là toàn bộ những điều kiện xã hội như chính trị, văn hóa, các mối quan hệ giúp trẻ hình thành nhân cách của mình Qua đó, trẻ học trải nghiệm, đồng cảm, biết thể hiện thái độ của mình và phản ánh nó ở các hình thức và sản phẩm hoạt động phù hợp với lứa tuổi Sự trải nghiệm và lĩnh hội thông tin làm cho tri thức trở nên có giá trị đối với trẻ và là cơ sở để hình thành phẩm chất đạo đức, quan điểm tình cảm, niềm

Bởi vậy, hoạt động khám phá MTXQ có vai trò quan trọng và ý nghĩa cho quá trình hình thành kĩ năng TNT ở trẻ, đặc biệt là trẻ lứa tuổi mầm non

Trang 32

Kết luận chương 1

Tự nhận thức bản thân là một thành phần quan trọng của tự ý thức, nó được coi như một thành tố trong cấu trúc nhân cách Đặc biệt, kĩ năng TNTBT được xem như một trong những kĩ năng sống cần thiết Trên cơ sở tự nhận thức được đặc điểm bản thân mình và đặc điểm của người khác, cá nhân so sánh bản thân mình với người khác và tỏ thái độ hài lòng hay không hài lòng với bản thân mình Từ đó, các nhân có thể định hướng, điều chỉnh bản thân mình để hoàn thiện hơn

Trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi có thể tự nhận thức một cách độc lập về hình thức bên ngoài, khả năng và phẩm chất tâm lí của mình Tuy nhiên, trẻ cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của người lớn để từ đó rèn cho trẻ một số kĩ năng tự nhận thức bản thân, kĩ năng sống cơ bản và cần thiết Sự tự nhận thức bản thân của trẻ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh lí, các yếu tố xã hội như: gia đình, hoạt động học tập và cuộc sống nhà trường, bạn bè, thầy cô

Hoạt động khám phá MTXQ là môi trường, là một hoạt động có nhiều ưu thế trong việc rèn luyện và phát triển kĩ năng TNTBT cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi Thông qua quá trình khám phá TGXQ trẻ được trải nghiệm và khám phá những khả năng của chính mình Mặt khác, qua sự tương tác với mọi người trong TGXQ, trẻ sẽ có nhiều cơ hội đề nhìn nhận và đánh giá bản thân Từ đó, giúp trẻ biết tự điều chỉnh suy nghĩ, hành vi cho phù hợp với mọi người xung quanh, thỏa mãn nhu cầu phát triển của bản thân

Trang 33

Chương 2:

THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN

KĨ NĂNG TỰ NHẬN THỨC CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA HOẠT

ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH

2.1 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.1.1 Thực trạng về mức độ hình thành kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

2.1.1.1 Mục đích khảo sát

Xác định thực trạng về mức độ tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi làm cơ sở thực tế để đề ra một số biên pháp rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

2.1.1.2 Đối tượng quan sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ trong hoạt động tìm hiểu MTXQ trên mẫu là 70 trẻ thuộc các lớp mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ:

+ Lớp 4 - 5 tuổi B1, B2 - Trường mầm non Hùng Vương

+ Lớp 4 - 5 tuổi B1, B2 - Trường mầm non Phong Châu

2.1.1.3 Nội dung khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ và biểu hiện của kĩ năng tự nhận thức bản thân ở trẻ 4 - 5 tuổi với các nội dung sau:

- Nhận thức về đặc điểm cơ thể, về ý nghĩ, tình cảm, kĩ năng, hành vi và

vị trí của trẻ trong quan hệ với mọi người xung quanh

- Kĩ năng sử dụng các giác quan và bộ phận cơ thể để tìm hiểu môi trường xung quanh; để thể hiện ý nghĩ, tình cảm, hành vi và quan tâm đến người khác

- Thái độ quan tâm tới cơ thể, hứng thú với quá trình suy nghĩ, nhạy cảm trong quan hệ với mọi người xung quanh

2.1.1.4 Các tiêu chí và thang đánh giá

* Cơ sở để xây dựng tiêu chí đánh giá

Chúng tôi dựa vào các cơ sở sau đây để xây dựng tiêu chí đánh giá kĩ năng tự nhận thức về bản thân của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

- Mục tiêu chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

- Khái niệm “Kĩ năng tự nhận thức bản thân” của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

Trang 34

- Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi

Mục tiêu GDMN hiện nay hướng đến 3 lĩnh vực: Biểu tượng về bản thân của trẻ; Cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ; Thái độ của trẻ đối với bản thân mình và đó cũng là mục tiêu chung về vấn đề giáo dục con người Chính vì vậy, chúng ta cần quan tâm đến cả 3 lĩnh vực này khi đánh giá khả năng

tự nhận thức bản thân của trẻ

Để thu thập thông tin về 3 mặt trên: Biểu tượng về bản thân của trẻ; Cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ; Thái độ của trẻ đối với bản thân mình một cách đầy đủ và đáng tin cậy, chúng tôi tiến hành lựa chọn các tiêu chí đánh giá sau:

Tiêu chí 1: Biểu tượng về bản thân của trẻ (5 điểm)

- Có biểu tượng về bản thân như một thực thể tự nhiên

- Có biểu tượng về bản thân như một thực thể xã hội

- Có biểu tượng về vị trí của bản thân trong xã hội

Tiêu chí 2: Cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ (5 điểm)

- Biết sử dụng các giác quan để tìm hiểu MTXQ

- Biết sử dụng các giác quan và cơ thể để thể hiện tình cảm, suy nghĩ, hành vi

- Biết chăm sóc cơ thể và quan tâm đến người khác

Tiêu chí 3: Thái độ của trẻ đối với bản thân mình (5 điểm)

- Có nhu cầu quan tâm đến cơ thể

- Hứng thú với quá trình suy nghĩ

- Nhạy cảm trong quan hệ với mọi người xung quanh

Biểu hiện ở các mức độ sau:

*Mức độ cao: 5 điểm

+ Trẻ có biểu tượng về bản thân như một thực thể tự nhiên (biết được tên, các bộ phận cơ thể, các giác quan và vị trí của nó, hiểu ý nghĩa của các giác quan cũng như các bộ phận của cơ thể)

+ Trẻ có biểu tượng về bản thân như một thực thể xã hội (là con người phải biết suy nghĩ, biết thể hiện được tình cảm, điều khiển được hành vi…)

+ Có biểu tượng về vị trí của bản thân trong xã hội, trong gia đình, lớp học… Trẻ biết trong gia đình có những thành viên nào, nơi ở, quan hệ của trẻ và gia đình…

Trang 35

+ Trẻ biết sử dụng các giác quan và cơ thể để tìm hiểu MTXQ; biết thể hiện tình cảm, suy nghĩ, điều khiển hành vi; biết chăm sóc cơ thể và quan tâm đến người khác… một cách tự giác trong mọi tình huống, đúng yêu cầu đề ra và

sử dụng kĩ năng vào việc nhận thức tốt

+ Trẻ có nhu cầu quan tâm đến cơ thể, hứng thú với quá trình suy nghĩ, nhạy cảm trong quan hệ với mọi người xung quanh

* Mức độ tương đối cao: 4 điểm

+ Trẻ có biểu tượng về bản thân như một thực thể tự nhiên đến bản thân như một thực thể xã hội Bước đầu có biểu tượng về vị trí bản thân trong xã hội… khi có sự gợi ý, hướng dẫn của giáo viên

+ Trẻ biết sử dụng các giác quan và cơ thể để tìm hiểu MTXQ; Biết thể hiện tình cảm, suy nghĩ, điều khiển hành vi; Biết chăm sóc cơ thể và quan tâm đến người khác trong một số tình huống quen thuộc; Có thái độ phù hợp trong khi thực hiện kĩ năng; Mức độ sử dụng các giác quan và cơ thể để tìm hiểu MTXQ tương đối tốt

+ Trẻ có nhu cầu quan tâm đến cơ thể; Đã thể hiện hứng thú với quá trình suy nghĩ; Bước đầu tỏ ra nhạy cảm trong quan hệ với một số người gần gũi xung quanh

* Mức độ trung bình: 3 điểm

+ Trẻ có biểu tượng về bản thân như một thực thể tự nhiên, bước đầu nhận thức bản thân như một thực thể xã hội Các hành vi thể hiện chưa phù hợp (cả về biểu tượng về bản thân của trẻ và cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ) chưa xác định rõ vị trí xã hội của mình trong gia đình và trong mối quan hệ với MTXQ

+ Trẻ biết sử dụng các giác quan và cơ thể để tìm hiểu MTXQ; Bước đầu thể hiện tình cảm, suy nghĩ, hành vi trong một số tình huống quen thuộc Kĩ năng chăm sóc trẻ chưa tốt

+ Trẻ có nhu cầu quan tâm đến cơ thể, thể hiện hứng thú với quá trình suy nghĩ, chưa nhạy cảm với mọi người xung quanh

Trang 36

+ Trẻ chưa có nhu cầu quan tâm đến cơ thể, không thể hiện hứng thú với quá trình suy nghĩ, chưa để ý đến cách cư xử với mọi người xung quanh

* Mức độ rất thấp: 1 điểm

+ Trẻ chưa có biểu tượng về bản thân

+ Trẻ chưa có kĩ năng tự nhận thức bản thân

+ Không thể hiện thái độ đúng với bản thân

2.1.1.5 Cách tiến hành khảo sát thực tiễn

Để đánh giá thực trạng kĩ năng TNTBT của trẻ 4 - 5 tuổi, chúng tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp để thu thập, xử lí thông tin Sau đó, chúng tôi

sử dụng công thức tính giá trị trung bình và tần suất của phương pháp toán thống

kê để xử lí số liệu

Cách tiến hành khảo sát:

Để đánh giá kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 4 - 5 tuổi, chúng tôi phối hợp sử dụng nhiều phương pháp: trao đổi trực tiếp với trẻ, quan sát trẻ trong sinh hoạt hàng ngày, hoạt động vui chơi, tạo tình huống, trong giờ học “làm quen MTXQ”… Đồng thời, chúng tôi cũng kết hợp trao đổi với giáo viên để biết thêm thông tin về trẻ Sau đó chúng tôi sử dụng công thức tính giá trị trung bình và phương pháp toán thống kê để xử lí số liệu

Tiến hành khảo sát tự nhận thức bản thân của trẻ 4 - 5 tuổi như sau:

- Khảo sát tự nhận thức của trẻ: Chúng tôi trao đổi, đàm thoại với trẻ bằng

hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn nhằm xác định trẻ nhận thức được gì về bản thân Ngoài ra sử dụng các bài tập khác như: vẽ, trải nghiệm, trò chơi… để đánh giá trẻ

- Khảo sát về kĩ năng: thông qua quan sát hoạt động của trẻ trong sinh hoạt hàng ngày, trong hoạt động vui chơi, trong giờ học cho trẻ làm quen với MTXQ… Khi không có cơ hội, chúng tôi đã tạo các tình huống cho trẻ thực hiện

Trang 37

để quan sát Ngoài ra, chúng tôi còn trao đổi với giáo viên và phụ huynh nhằm

bổ sung thông tin làm cho việc đánh giá chính xác hơn

- Khảo sát về thái độ: thông qua đàm thoại, quan sát trẻ trong hoạt động Sau khi sử dụng phối hợp các phương pháp thu thập thông tin trên, chúng tôi xử lí số liệu bằng công thức tính giá trị trung bình của phương pháp toán thống kê

2.1.1.4 Kết quả khảo sát:

Kết quả khảo sát ở bảng 1.1 cho thấy, kết quả khái quát về mức độ tự nhận thức bản thân của trẻ MG 4 - 5 tuổi tại một số trường mầm non Thị xã Phú Thọ như sau:

Bảng 2.1: Thực trạng kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 4 - 5 tuổi ở

trường mầm non (Tính theo tiêu chí)

1 1.5

2 2.5

Tiêu chí 1 Tiêu chí 2 Tiêu chí 3

Số trẻ

TIÊU CHÍ

Biểu đồ 2.1: Thực trạng kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 4-5 tuổi

ở trường mầm non (Tính theo tiêu chí)

Chúng tôi có một số nhận xét sau:

* Kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ còn ở mức độ thấp Cụ thể:

Trang 38

- Điểm trung bình cộng (TBC) về biểu tượng về bản thân của trẻ: (2,36 điểm), cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ (2,13 điểm) và thái độ của trẻ đối với bản thân mình (1,96 điểm) Điều này có nghĩa là:

+ Về biểu tượng về bản thân của trẻ: Trẻ đã có biểu tượng về bản thân như một thực thể tự nhiên (Biết được tên gọi, vị trí các bộ phận, giác quan) Bước đầu nhận thức bản thân như một thực thể xã hội (Biết tên gọi của mình, biết xưng hô theo vai xã hội trong một số tình huống phổ biến, đơn giản), nhưng các hành vi của trẻ thể hiện chưc phù hợp, trẻ chưa xác định rõ vị trí xã hội của mình trong gia đình và trong mối quan hệ với MTXQ

+ Về cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ: Bước đầu trẻ đã biết

sử dụng các giác quan để tìm hiểu MTXQ, tuy nhiên vẫn còn phải có sự giúp đỡ của giáo viên

+ Về thái độ của trẻ đối với bản thân mình: Đa số trẻ chưa có nhu cầu quan tâm đến cơ thể một cách tự giác mà mới chỉ thể hiện được một vài tình huống cụ thể và có sự gợi ý của giáo viên Đôi khi, trẻ cũng đã có hứng thú với quá trình suy nghĩ nhưng không lâu bền, chưa biết cách ứng xử sao cho phù hợp

* Mức độ nhận thức của trẻ diễn ra không đồng đều ở cả 3 mặt: Biểu tượng về bản thân của trẻ, Cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ, Thái độ của trẻ đối với bản thân mình

Biểu tượng về bản thân của trẻ về bản thân đạt mức độ phát triển cao hơn

so với cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ thực hiện và thái độ của trẻ đối với bản thân mình: Điểm TBC về kiến thức (2,36 điểm) cao hơn điểm TBC về cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ (2,13 điểm) là 0,23 điểm

và điểm TBC về thái độ của trẻ đối với bản thân mình (1,96 điểm) là 0,40 điểm

Ta thấy điểm TBC về biểu tượng về bản thân của trẻ là cao nhất và thái độ của trẻ đối với bản thân mình là thấp nhất, điều đó có nghĩa là trẻ đã có một số biểu tượng về bản thân nhưng cách thức khai thác khả năng của bản thân còn yếu và đặc biệt chưa có thái độ đúng đối với việc tự nhận thức bản thân

* Kĩ năng tự nhận thức bản thân được hình thành không đồng đều giữa các trẻ

Một số ít trẻ thể hiện khả năng biểu tượng về bản thân của trẻ, cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ, thái độ của trẻ đối với bản thân mình tốt hơn so với trẻ khác (đạt mức cao và tương đối cao), trẻ có biểu tượng tương đối

Trang 39

rõ về bản thân, biết được suy nghĩ, tình cảm: trẻ biết sử dụng các giác quan, bộ phận cơ thể để thể hiện tình cảm, suy nghĩ, điều khiển hành vi của mình, có hứng thú và nhu cầu quan tâm đến cơ thể, đến mọi người xung quanh…Tuy nhiên phần lớn trẻ, mức độ nhận thức bản thân diễn ra không đồng đều về 3 mặt: Biểu tượng về bản thân của trẻ - Cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ - Thái độ của trẻ đối với bản thân mình

Cụ thể, một số trẻ có thể đạt điểm về biểu tượng về bản thân của trẻ ở mức

độ “cao”, nhưng cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ chỉ ở mức

“trung bình” và thái độ của trẻ đối với bản thân mình lại ở mức độ “thấp” Ngược lại, biểu tượng về bản thân của trẻ của một số trẻ chỉ đạt mức độ “trung bình” nhưng mặt cách thức khai thác khả năng của bản thân ở trẻ lại ở mức độ

“tương đối cao” Bên cạnh đó vẫn còn một số trẻ cả 3 mặt trên đều ở mức độ

“thấp” và mức độ “rất thấp”

Ví dụ: Cháu Hoàng Mai Hương, Đinh Thiên Phong, Ma Quế Hằng có biểu tượng về bản thân rất tốt như: Biết họ tên của mình, biết gọi tên các bộ phận, các giác quan trên cơ thể rất tốt Cách thức khai thác khả năng của bản thân tương đối tốt Trẻ biết sử dụng các giác quan để thể hiện tình cảm và hành vi của mình

Đó là những biểu hiện bên ngoài, cảm xúc tự nhiên của trẻ Tuy nhiên trẻ chưa biết tự chăm sóc bản thân hay quan tâm đến người khác Đôi khi trẻ giao tiếp với mọi người xung quanh chưa được tốt, trẻ không biết mối quan hệ của mình với người khác như thế nào

Thực trạng này còn tồn tại có thể do việc giáo dục chưa được thường xuyên, chưa có hệ thống, phương pháp giáo dục chưa phù hợp với lứa tuổi nên hiệu quả thực tiễn còn thấp

b) Khả năng tự nhận thức bản thân của trẻ MG 4 - 5 tuổi được thể hiện cụ thể ở các tiêu chí sau:

* Về biểu tượng về bản thân của trẻ:

- Phần lớn trẻ đã có biểu tượng về bản thân như một thực thể tự nhiên; biết được các bộ phận cơ bản của cơ thể như: đầu, tay, chân…; biết các giác

Trang 40

quan: tai mũi, mắt…, nhưng cũng còn nhiều lúng túng khi nói về ý nghĩa các giác quan cũng như một số bộ phận cơ thể

- Nhận thức bản thân như một thực thể xã hội; Trẻ nhận biết còn hạn chế; có những trẻ không hiểu được cần phải có tình cảm đối với bản thân, với mọi người Tuy nhiên đây cũng là một tiêu chí vừa sức với trẻ, nên một số trẻ đã có biểu tượng

về bản thân như một thực thể xã hội Trẻ biết suy nghĩ xem mình làm vậy đã đúng chưa, biết được suy nghĩ của mình khác với suy nghĩ của người khác

Ví dụ: Cháu Hà Ngân, lớp 4B2, khi giáo viên hỏi:

“- Con thích điều gì nhất?

- Con thích chơi búp bê

- Tại sao con thích chơi búp bê?

- Vì con là con gái”

- Nhận thức vị trí bản thân trong xã hội (gia đình, lớp học) Đây là tiêu chí khó hơn đối với nhận thức của trẻ, nên chỉ có một số rất ít trẻ có biểu tượng về vấn đề đó, nhưng cũng chỉ ở mức độ đơn giản Cụ thể: trẻ mới chỉ biết tên gọi của mình, của bạn Biết xưng hô đúng vai trong xã hội

Ví dụ: Cháu Lan Anh biết xưng hô với mọi người xung quanh

“- Con xưng hô với người đang cắt cỏ ngoài vườn như thế nào?

- Con chào là bác

- Khi ra đường con nhìn thấy cụ già, có bao giờ con gọi là bác không?

- Con không Con chào là cụ ạ.”

Ngoài ra, trẻ chỉ nói được một số thành viên trong gia đình (có ông, bà,

bố, mẹ…) Một số trẻ nói được địa chỉ của gia đình nhưng vẫn còn nhầm lẫn, chưa chính xác Nói về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình trẻ còn lúng túng, chưa diễn đạt được Trẻ vẫn còn nhầm lẫn về sự giống và khác nhau giữa các thành viên trong gia đình, trong lớp học Chưa biết mối quan hệ phụ thuộc vào nhau của những thành viên trong gia đình Ngoài ra, trẻ cũng mới chỉ thể hiện sự quan tâm của mình đối với gia đình khi có sự gợi ý của cô giáo

Ví dụ: cháu Hải Nam:

“- Khi bố mẹ con ốm con sẽ làm gì?

- Con phải giúp đỡ bố mẹ.”

Ngày đăng: 26/06/2022, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Duy An (2011), Kĩ năng sống cho trẻ, Tập 2. Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng sống cho trẻ
Tác giả: Dương Duy An
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2011
2. Phan Lan Anh, Lương Thị Bình (2014), Các hoạt động giáo dục và tình cảm kĩ năng xã hội cho trẻ mầm non, Nxb giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hoạt động giáo dục và tình cảm kĩ năng xã hội cho trẻ mầm non
Tác giả: Phan Lan Anh, Lương Thị Bình
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
3. Trương Hồng Anh, (2008), Rèn kĩ năng - trí nắng cho trẻ, Nxb Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng - trí nắng cho trẻ
Tác giả: Trương Hồng Anh
Nhà XB: Nxb Thông tin
Năm: 2008
4. Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa (1995), Giáo dục học đại cương – Tập 1, 2, 3 , Hà Nội, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương – Tập 1, 2, 3
Tác giả: Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 1995
5. Trần Thanh Bình (2013), Giúp trẻ tự nhận thức bản thân, Nxb Văn hóa- thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giúp trẻ tự nhận thức bản thân
Tác giả: Trần Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa- thông tin
Năm: 2013
6. Nguyễn Thanh Bình (2009), Giáo trình chuyên đề giáo dục kỹ năng sống, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chuyên đề giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2009
7. A - V. Daparoget (1999), Những cơ sở giáo dục mẫu giáo, Tập 1, 2 (Nguyễn Ánh Tuyết dịch), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở giáo dục mẫu giáo, Tập 1, 2 (Nguyễn Ánh Tuyết dịch)
Tác giả: A - V. Daparoget
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 1999
8. Barry D.Smith, Harold F Vetter, Biện dịch Nguyễn Kim Dâu (1887), Các học thuyết về nhân cách, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết về nhân cách
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
9. Vũ Dũng (2008), Từ điển Tâm lý học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2008
10. Nguyễn Văn Đồng (2004) Tâm lý học phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
11. Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Quang Uẩn (1992), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
12. Nguyễn Khánh Hà (2014), Rèn kĩ năng sống cho học sinh (kĩ năng đạt mục tiêu), Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng sống cho học sinh
Tác giả: Nguyễn Khánh Hà
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2014
13. Thái Hà, Thanh Sơn, (2013), Giúp con tự lập kĩ năng sống, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giúp con tự lập kĩ năng sống
Tác giả: Thái Hà, Thanh Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2013
14. Dương Thị Diệu Hoa (Cb) (2008), Giáo trình Tâm lí học phát triển, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lí học phát triển
Tác giả: Dương Thị Diệu Hoa (Cb)
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2008
15. Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc (2010), Giáo trình Tâm lí học lứa tuổi, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lí học lứa tuổi
Tác giả: Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
16. Bùi Thị Hoài (2005), Nghiên cứu khả năng tự ý thức của trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi, Luận văn thạc sĩ trường Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng tự ý thức của trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi
Tác giả: Bùi Thị Hoài
Năm: 2005
17. Ngô Công Hoàn (1995), Tâm lí học trẻ em lứa tuổi lọt lòng đến 6 tuổi, tập 1, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em lứa tuổi lọt lòng đến 6 tuổi, tập 1, tập 2
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
18. Ngô Thị Hợp, Nguyễn Thị Bích Hạnh (2006), Những kiến thức bước đầu hình thành kĩ năng sống cho trẻ mầm non, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức bước đầu hình thành kĩ năng sống cho trẻ mầm non
Tác giả: Ngô Thị Hợp, Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2006
19. Trần Lan Hương, Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thư (2014), Hướng dẫn các hoạt động phát triển tình cảm và quan hệ xã hội cho trẻ mầm non, Nxb giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn các hoạt động phát triển tình cảm và quan hệ xã hội cho trẻ mầm non
Tác giả: Trần Lan Hương, Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thư
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
20. Phạm Thị Hương (2005), Một số biện pháp hình thành khả năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi, Luận văn thạc sĩ Tâm lí học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp hình thành khả năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
Tác giả: Phạm Thị Hương
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thực trạng kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 4 - 5 tuổi ở - Rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh cho trẻ 4 – 5 tuổi
Bảng 2.1 Thực trạng kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 4 - 5 tuổi ở (Trang 37)
Bảng 2.2: Thực trạng về mức độ khai thác các nội dung rèn kĩ năng tự nhận - Rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh cho trẻ 4 – 5 tuổi
Bảng 2.2 Thực trạng về mức độ khai thác các nội dung rèn kĩ năng tự nhận (Trang 44)
Bảng 2.3. Thực trạng về biện pháp rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 - Rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh cho trẻ 4 – 5 tuổi
Bảng 2.3. Thực trạng về biện pháp rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 (Trang 46)
Bảng 3.1: Mức độ rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 2 nhóm - Rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh cho trẻ 4 – 5 tuổi
Bảng 3.1 Mức độ rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 2 nhóm (Trang 71)
Bảng 3.2: Mức độ rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 2 nhóm - Rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh cho trẻ 4 – 5 tuổi
Bảng 3.2 Mức độ rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ 2 nhóm (Trang 75)
Bảng 3.3: Mức độ rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ nhóm TN - Rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh cho trẻ 4 – 5 tuổi
Bảng 3.3 Mức độ rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân của trẻ nhóm TN (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w