Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng được hệ thống bài toán có nội dung chia hết một cách khoa học, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 4 và sử dụng chúng hợp lý sẽ giúp các em
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 7 tháng nghiên cứu và thực hiện đến nay đề tài khoá luận tốt nghiệp
của em đã hoàn thành Để hoàn thành được đề tài khoá luận tốt nghiệp này
phải kể đến công lao to lớn của các thầy, cô khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm
non – trường Đại học Hùng Vương Các thầy cô đã không quản khó khăn động
viên, giúp đỡ để em hoàn thành đề tài khoá luận tốt nghiệp này Qua đây em
xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học
Phù Lỗ - huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ Các thầy cô và các em học sinh đã
tạo mọi điều kiện để em tiến hành công việc điều tra, giảng dạy và thu thập số
liệu,
Đặc biệt, em xin dành những tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy
giáo Th.s Trần Ngọc Thuỷ Em xin cảm ơn thầy trong suốt thời gian qua đã
hướng dẫn, chỉ bảo em tận tình để em có thể hoàn thành tốt đề tài khoá luận
này Em chúc thầy luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành công hơn nữa trong sự
nghiệp của mình
Do điều kiện thời gian và trình độ hiểu biết của bản thân có hạn, nên đề tài
khoá luận của em không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài khoá
luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc chạy đua với sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội thì nhiệm vụ đặt ra
cho nền giáo dục nói chung và nền giáo dục tiểu học nói riêng là giáo dục cho
học sinh phát triển một cách toàn diện, hài hoà, đầy đủ về mọi măt tri thức, đạo
đức, thẩm mĩ và thể chất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
Tiểu học là bậc học nền tảng đặt nền móng vững chắc cho giáo dục Mỗi môn
học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban
đầu quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Mục tiêu đặt ra cho nền giáo
dục tiểu học đó là: Hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tụê, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ
bản để học sinh tiếp tục học lên Trung học cơ sở
Có thể thấy rằng, trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn
Toán có vai trò quan trọng góp phần đào tạo nên những con người phát triển
toàn diện Toán học có khả năng hình thành ở người học óc trừu tượng, năng lực
tư duy logic chính xác, rèn luyện cho học sinh các phương pháp tư duy khoa học
trong việc giải quyết các vấn đề, biết cách quan sát, phân tích, tổng hợp …đồng
thời hình thành ở các em những phẩm chất đáng quý như kiên trì, sáng tạo…
Hiện nay, trong dạy học toán ở tiểu học, giải toán chiếm vị trí quan trọng Các
bài toán được sử dụng để gợi động cơ tìm hiểu kiến thức mới; giải toán được sử
dụng để củng cố, luyện tập kiến thức; giải toán giúp nâng cao năng lực tư duy
của học sinh Khi học giải toán, học sinh thực hành các công việc của một người
làm toán Vì vậy, một yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với giáo viên tiểu học là
phải nắm chắc các bài toán cơ bản ở tiểu học để cung cấp cho học sinh những
kiến thức vững chắc làm nền tảng cho việc học các bậc học cao hơn Trong
chương trình toán học, có thể nói toán chia hết là mảng kiến thức toán vô cùng
quan trọng không chỉ ở chương trình toán tiểu học mà nó xuyên suốt trong các
bậc học sau
Trang 3Qua các bài toán về chia hết sẽ góp phần củng cố kiến thức về số học, phát
triển năng lực thực hành, tư duy logic, biết cách vận dụng lý thuyết vào giải
quyết bài tập cũng như các vấn đề trong cuộc sống cho học sinh Đồng thời rèn
luyện cho học sinh những đức tính, phẩm chất tốt như: cần cù, cẩn thận, kiên trì,
làm việc có kế hoạch…
Trong chương trình toán Tiểu học thì các dạng toán về chia hết là một trong
những dạng toán quan trọng có nội dung xuyên suốt từ lớp 2 cho đến lớp 5 Việc
dạy cho học sinh nắm vững những kiến thức về các dấu hiệu chia hết sẽ giúp các
em thực hành giải toán chính xác hơn, dễ dàng hơn Từ đó đạt hiệu quả cao trong
học tập và dễ dàng vận dụng vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống
Hiện nay, thực trạng dạy học trong hầu hết các trường Tiểu học cho thấy:
Trong quá trình dạy học không ít giáo viên còn lúng túng trong phương pháp tổ
chức cho học sinh khám phá kiến thức, nhất là kiến thức về chia hết Một số giáo
viên chưa thấy được vai trò của mình với tư cách là người thiết kế, điều khiển
quá trình dạy học Việc chuyển giao cho trò không phải là những tri thức có sẵn
mà là những tình huống để trò hoạt động Về phía học sinh, do những đặc điểm
tâm lý của học sinh tiểu học như: các em mới chuyển từ hoạt động vui chơi là
chủ đạo sang hoạt động học là chủ đạo, nhận thức còn chưa cao, tư duy còn
nhiều dấu vết của tư duy nguyên thuỷ, mang nhiều tính chủ quan và tính xúc
cảm; chú ý, ghi nhớ còn chưa sâu…Vì vậy mà việc tiếp cận với những kiến thức
của các em gặp nhiều khó khăn đặc biệt là những kiến thức khó Do đó, giáo
viên cần phải nắm vững những đặc điểm tâm lý của học sinh để đưa ra những
biện pháp giáo dục hiệu quả
Các bài toán chia hết là một phần kiến thức cơ bản nhưng khó và dễ nhầm lẫn
Trong quá trình dạy học không ít giáo viên chỉ tổ chức cho học sinh lĩnh hội các
kiến thức cơ bản là chủ yếu Quá trình học tập môn toán của học sinh về toán
chia hết còn hạn chế, nhất là việc nhận dạng toán chia hết, việc rèn luyện, thực
hành còn hạn chế khiến học sinh còn lúng túng khi áp dụng lý thuyết vào giải bài
Trang 4không cao Nên việc lựa chọn phương pháp giải một bài toán về chia hết là rất
quan trọng trong bộ môn toán ở tiểu học Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi
mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Rèn kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 4
thông qua hệ thống các bài toán về chia hết ” Chúng tôi chọn đề tài này để
nghiên cứu sâu hơn về dạng toán chia hết, từ đó tìm xây dựng một hệ thống bài
tập thích hợp để giúp cho việc giảng dạy và hướng dẫn học sinh giải toán tốt hơn
+ Xây dựng hệ thống bài toán về chia hết theo định hướng rèn kỹ năng giải
toán cho học sinh lớp 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Nghiên cứu thực tiễn việc học tập môn toán của học sinh tiểu học nói chung
và học sinh lớp 4 nói riêng
+ Nghiên cứu nội dung, chương trình, sách giáo khoa, các tài liệu khác về
môn toán lớp 4 lựa chọn xây dựng hệ thống và phân loại bài tập có nội dung liên
quan đến chia hết, cách sử dụng các dấu hiệu chia hết trong giải toán
3.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Xây dựng hệ thống lý luận và thực tiễn về vấn đề rèn kỹ năng giải toán cho
học sinh lớp 4 thông qua hệ thống bài tập về chia hết
+ Nghiên cứu nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học
các yếu tố chia hết ở tiểu học
+ Tìm hiểu thực trạng việc dạy học các yếu tố chia hết cho học sinh lớp 4 qua đó
Trang 55 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và năng lực của bản thân nên chúng tôi chỉ đi sâu vào
nghiên cứu các dạng toán chia hết ở khối lớp 4 tại trường Tiểu học Phù Lỗ - Phù
Ninh - Phú Thọ để từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá và kiến nghị của mình nhằm
nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy môn toán ở Tiểu học
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài toán có nội dung chia hết một cách khoa
học, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 4 và sử dụng chúng hợp lý
sẽ giúp các em rèn kỹ năng giải toán Từ đó hiệu quả học tập sẽ được nâng cao,
đảm bảo mục tiêu giáo dục đã đề ra
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết là phương pháp dựa trên cơ sở tìm hiểu,
thu thập những thành tựu lý luận đã làm cơ sở cho giả thuyết khoa học mà mình
đã đặt ra Cụ thể là đưa ra lý thuyết về chia hết, thế nào là chia hết, chia có dư,
các dạng toán, phương pháp giải toán…từ đó mới đưa ra các dạng bài tập và
cách giải
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp trò chuyện phỏng vấn
Tiến hành trò chuyện với giáo viên và học sinh xung quanh các vấn đề về
dạng toán chia hết Từ đó lấy ý kiến của giáo viên và học sinh về việc dạy học
các dạng toán chia hết
7.2.2 Phương pháp quan sát
Sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập thông tin thực tế về môn toán
đối với sự phát triển tâm lý học sinh để bổ sung thêm chính xác cho kết quả
nghiên cứu từ phương pháp điều tra
Cách tiến hành: Chúng tôi tiến hành dự giờ, quan sát thái độ, hành vi học tập,
Trang 6hành, thảo luận, kiểm tra
7.2.3 Phương pháp điều tra
Điều tra bằng các phiếu điều tra
Cách tiến hành:
+ Phát phiếu điều tra cho giáo viên và học sinh, yêu cầu học sinh ghi rõ họ
tên, lớp
+ Trực tiếp hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi
+ Yêu cầu giáo viên và học sinh có thái độ nghiêm túc, trả lời đầy đủ, chân
thành các câu hỏi
7.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi không thể tránh khỏi những sai sót và
bế tắc Vì vậy, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia sẽ phục vụ đắc lực cho quá
trình nghiên cứu
7.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Trong quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thiện đề tài cần phải có sự đúc kết
kinh nghiệm làm hành trang cho việc học tập cũng như công tác giảng dạy sau
này
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử vấn đề
Vấn đề rèn kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu học đã được nhiều tác giả, các
nhà khoa học giáo dục nghiên cứu và đề cập đến trong rất nhiều tài liệu và cũng
được áp dụng, thực hiện ở nhiều trường Tiểu học trên cả nước với những mức độ
khác nhau từ đơn giản đến phức tạp ở từng giai đoạn giáo dục
Trong “ Phương pháp dạy học đại cương môn toán ’’, tác giả Nguyễn Bá Kim,
Bùi Huy Ngọc cho rằng “ bài tập toán học có vai trò quan trọng trong môn toán,
điều căn bản là bài tập có vai trò giá mang hoạt động của học sinh Thông qua
giải bài tập, học sinh phải thực hiện những hoạt động nhất định bao gồm cả định
nghĩa, định lí, quy tắc hay phương pháp, những hoạt động toán học phức hợp,
những hoạt động tri tuệ phổ biến trong toán học…’’( tr.226 )
Việc rèn các kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu học thông qua hệ thống các
bài toán về chia hết cũng là một trong những phương pháp tích cực giúp học sinh
có được những kỹ năng tư duy, lý luận, logic trong việc giải toán Có thể nói
toán chia hết là trọng tâm của số học, những bài toán về chia hết hết sức phong
phú và đa dạng Nó không chỉ vận dụng những kiến thức cơ bản vào giải toán
mà còn phát triển tư duy cho học sinh Toán chia hết là dạng toán đòi hỏi học
sinh có sự tư duy cao Vì vậy, đã có rất nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu và xây
dựng những hệ thống bài tập về toán chia hết
Các bài viết của tác giả Bùi Huy Hiếu đã đưa ra một số dạng toán và một số
cách giải về dạng toán liên quan đến dấu hiệu chia hết rất hay Song, chúng tôi
thấy một số bài tác giả đưa ra cách giải như vậy thì chưa thực sự phù hợp với đối
tượng học sinh Tiểu học và nếu hướng dẫn học sinh giải như vậy thì các em sẽ
rất khó nắm bắt nên ít hiệu quả ( cách giải gần giống với cách giải của bậc
THCS )
Trang 8Hay một số tác giả như Trần Diên Hiển, Nguyễn Áng – Dương Quốc Ấn –
Hoàng Thị Phước Thảo cũng đã xây dựng được một số bài toán có liên quan đến
dấu hiệu chia hết nhưng còn ít và chưa đầy đủ Nói chung, hầu hết các tác giả có
nghiên cứu về toán chia hết trong chương trình toán tiểu học từ rất lâu Nhưng
việc nghiên cứu này chưa chuyên sâu về việc rèn luyện kỹ năng giải toán qua hệ
thống các bài tập về chia hết
Chính vì vậy, chúng tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu và xây dựng một
hệ thống bài tập về chia hết Qua đó giúp học sinh có được hệ thống kiến thức
vững chắc, phát triển tư duy, logic và cách lập luận chính xác, hợp lý trong giải
toán Từ đó nâng cao kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu học
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Cơ sở tâm lý học
Cùng với sự phát triển và thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội, quan niệm về
trẻ em ngày một khác đi Trước đây trẻ em được quan niệm là “người lớn thu
nhỏ lại thì ngày nay người ta quan niệm trẻ em hiện đại là sản phẩm của xã hội
hiện đại chưa hề có trong quá khứ” Trẻ em được đặt vào vị trí trung tâm của quá
trình giáo dục Vì vậy, dạy học phải xuất phát từ trẻ em và đi đến trẻ em
Tâm lý học hiện đại cho rằng :” muốn giáo dục trẻ em thì phải hiểu trẻ em và
ngược lại muốn hiểu trẻ em thì phải giáo dục trẻ” Đó là mối quan hệ biện chứng
giữa quá trình giáo dục trẻ và quá trình nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ
Như vậy, việc giáo viên nắm bắt và hiểu biết về đặc điểm tâm lý lứa tuổi
cũng như hoạt động học tập của trẻ đặc biệt là trẻ em lứa tuổi tiểu học chính là
cơ sở để giáo viên tìm ra được những phương pháp giáo dục trẻ tốt nhất, từ đó
thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình
1.2.1.1 Đặc điểm và cơ chế nhận thức của học sinh lớp 4
Ở lứa tuổi tiểu học bước đầu diễn ra sự phát triển toàn diện về các quá trình
nhận thức Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học chính là sự biểu hiện sinh
động nhất đánh dấu sự chuyển biến cả về lượng và về chất so với học sinh mẫu
Trang 9giáo Nhu cầu nhận thức phát triển như động cơ thôi thúc trẻ học tập, tìm hiểu,
khám phá thế giới xung quanh
Mặc dù trong những hoàn cảnh, điều kiện sống khác nhau nhưng trẻ đều có
khả năng phát triển về nhận thức nổi bật nhất là sự phát triển của tri giác, chú ý,
trí nhớ, tưởng tượng và tư duy
• Tri giác:
Ở lớp 4 tri giác phân tích được hình thành và phát triển mạnh Tri giác bắt
đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc
sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng
Vì vậy trong dạy học toán ở Tiểu học, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này
để hướng dẫn học sinh phương pháp quan sát thích hợp, quan sát có tổ chức từ
đó phát triển tri giác cho các em
• Chú ý:
Với học sinh lớp 4 khối lượng chú ý tăng lên, trẻ dần hình thành kỹ năng tổ
chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu
thế Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ
đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố
gắng hoàn thành công việc trong thời gian quy định
• Trí nhớ:
Trí nhớ của học sinh Tiểu học được phát triển theo hai hướng:
Một là: Tăng cường vai trò của ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ của từ lôgic so
với trí nhớ trực quan hình tượng
Hai là: Trẻ có khả năng điều khiển một cách có ý thức trí nhớ của mình như
điều khiển sự nhận lại và nhớ lại một cách có chủ định
Ở học sinh lớp 4, trí nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ từ ngữ lôgic được
tăng cường Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định do tính tích cực hoạt động
của học sinh quy định Vì vậy, trong quá trình dạy học người giáo viên phải có
nhiệm vụ giúp học sinh hạn chế ghi nhớ không chủ định, phát triển ghi nhớ có
Trang 10các em đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học, kích thích vào sự ghi
nhớ có ý nghĩa, học có mục đích, biết tạo các điểm tựa và dựa vào các điểm tựa
đó để ghi nhớ tốt hơn
• Tưởng tượng:
Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt
động học và các hoạt động khác của các em
Khả năng tưởng tượng tái tạo của học sinh lớp 4 từng bước được hoàn thiện
gắn liền với những hình tượng đã tri giác hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp
với những điều mô tả, sơ đồ, hình vẽ…Các biểu tượng của tưởng tượng dần trở
nên hiện thực hơn, phản ánh đúng đắn hơn nội dung các môn học
Như vậy, tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã mất dần, thoát khỏi ảnh
hưởng của những ấn tượng trực tiếp, tính hiện thực trong tưởng tượng của học
sinh gắn liền với sự phát triển tư duy và ngôn ngữ
Dựa vào sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 4, các nhà giáo dục phải tạo
điểu kiện phát triển tư duy và trí tưưỏng tượng cho các em bằng cách biến những
kiến thức khô khan thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu
hỏi có tính gợi mở để các em tự giải quyết vấn đề Từ đó các em có cơ hội phát
triển trí thông minh và óc sáng tạo trong quá trình học tập và trong cuộc sống
• Tư duy:
Ở giai đoạn này, tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển, tư duy trừu tượng đang
dần chiếm ưu thế hơn Học sinh tiếp thu tri thức các môn học bằng cách tiến
hành các thao tác tư duy với các kí hiệu
Học sinh xác lập mối quan hệ từ nguyên nhân đến kết quả tốt hơn từ kết quả
đến nguyên nhân Đặc điểm tư duy của học sinh không có ý nghĩa tuyệt đối mà
có ý nghĩa tương đối Trong quá trình học tập, tư duy của học sinh thay đổi rất
nhiều Sự phát triển của tư duy dẫn đến sự tổ chức lại một cách căn bản quá trình
nhận thức, biến chúng tiến hành một cách có chủ định
Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm
Trang 11được tâm lý của các em sẽ giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học sao
cho phù hợp đảm bảo tính vừa sức với các em
1.2.1.2 Hoạt động học của học sinh tiểu học
Khái niệm
Với học sinh tiểu học hoạt động học là hoạt động chủ đạo Theo nhà tâm lý
học D B Elconin thì “ hoạt động học là hoạt động có ý thức nhằm thay đổi bản
thân chủ thể của hoạt động học " Trong hoạt động này các phương thức chung
của việc thực hiện hoạt động được học sinh ý thức và phân biệt với kết quả của
hoạt động Như vậy, hoạt động học không chỉ được xem xét dưới góc độ nhờ đó
học sinh lĩnh hội được cái gì, bằng cách nào mà còn được xem xét sự biến đổi
của bản thân chủ thể hoạt động
Bản chất của hoạt động học
Đối tượng của hoạt động học là tri thức, khái niệm khoa học, kỹ năng, kỹ
xảo,… Đích của hoạt động học hướng tới là bằng hoạt động của mình học sinh
chiếm lĩnh tri thức, khái niệm, hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Hoạt động
học làm thay đổi chính bản thân chủ thể của hoạt động học Nó là hoạt động có
tính tự giác cao, được điều khiển một cách có ý thức nhằm lĩnh hội nền văn minh
nhân loại
Vì vậy nhiều giáo viên tiểu học không chỉ dạy tri thức khoa học, dạy kỹ năng
mà còn phải dạy học sinh cách chiếm lĩnh tri thức đó một cách có hiệu quả
Đồng thời việc hình thành hoạt động học phải được giáo viên ý thức và xem là
một trong những mục đích quan trọng của hoạt động dạy
Theo các nhà tâm lý học tiểu học, hoạt động học của học sinh Tiểu học
gồm các thành tố: nhiệm vụ học tập, hành động học tập, động cơ học tập và nhu
cầu học tập
Nhiệm vụ học tập: Để thực hiện được nhiệm vụ học tập học sinh phải tiến
hành các hoạt động học Hoạt động học gồm: hoạt động phân tích, hoạt động mô
Trang 12Động cơ học tập: Là những cái thôi thúc trẻ học tập, là yếu tố tâm lý tạo
động lực thúc đẩy học sinh tiến hành các hoạt động học tập tích cực
Nhu cầu học tập : Là lòng ham muốn , niềm hứng thú , say mê của học
sinh với việc học tập
Tóm lại hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh Tiểu học Trong
quá trình học tập của học sinh chỉ đạt được kết quả cao khi học sinh thực sự
tham gia vào hoạt động học Trong quá trình dạy học ở Tiểu học, giáo viên phải
tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động một cách tích cực, chủ động Để
làm được điều đó giáo viên cần có sự kết hợp đồng thời giữa nội dung dạy học,
phương pháp dạy học và cách tổ chưc dạy học
1.2.2 Sơ lược về Toán học và đặc điểm Toán học
Toán học là môn khoa học nghiên cứu về các số, cấu trúc, không gian và các
phép biến đổi Nói một cách khác , người ta cho rằng đó là môn học về “ hình và
số ’’ Theo quan điểm chính thống thì đó là môn học nghiên cứu về các cấu trúc
trừu tượng định nghĩa về các tiêu đề, bằng cách sử dụng lý luậnhọc logic và kí
hiệu toán học Do khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều khoa, toán học được
mệnh danh là “ ngôn ngữ trong vũ trụ”
Toán học là một ngành, một môn học đòi hỏi suy luận và trí thông minh cao
Nó chứa tất cả những gì thách thức đến bộ não của chúng ta Học toán hay
nghiên cứu toán học là vận dụng khả năng suy luận và trí óc thông minh của
chúng ta
Toán học là nền tảng cho tất cả các nghành khoa học tự nhiên khác Có thể
nói rằng “ không có toán học sẽ không có ngành khoa học nào cả”
Toán học chỉ dành cho những ai thông minh, biết kiên trì, biết tự lập, vì thế
toán học rèn luyện cho chúng ta những đức tính đó Nói đến toán học là nói đến
sự chính xác, gọn gàng, logíc…
1.2.2.1 Đặc điểm môn toán
Thứ nhất, tính trừu tượng cao độ và thực tiễn phổ dụng : Toán học là khoa
Trang 13quan mà người ta có thể trang bị cho một tập hợp bằng một hệ tiên đề
Sự trừu tượng hoá trong toán học diễn ra trên nhiều bình diện khác nhau Có
những khái niệm toán học là kết quả của sự trừu tượng hoá nhưng đối tượng vật
chất cụ thể, chẳng hạn khái niệm số tự nhiên, hình bình hành Nhưng cũng có
nhiều khái niệm là kết quả của sự trừu tượng đã đạt được trước đó, chẳng hạn
những khái niệm nhóm, vành, trường, không gian vectơ…
Thứ hai, tính logic và thực tiễn của toán học : Khi xây dựng toán học, người ta
dùng suy diễn logic, cụ thể là dùng phương pháp tiên đề Theo phương pháp đó,
xuất phát từ những khái niệm nguyên thuỷ và các tiền đề rồi dùng các quy tắc
logic để định nghĩa các khái niệm khác nhau và chứng minh các mệnh đề khác
Các giáo trình toán phổ thông mang tính logic, hệ thống, tri thức trước chuẩn
bị cho tri thức sau, tri thức sau dựa vào tri thức trước, tất cả như những mắt xích
liên kết với nhau một cách chặt chẽ
Toán học có thể xét theo hai phương diện Nếu chỉ trình bày những kết quả
toán học đã đạt được thì nó là khoa học suy diễn và nổi bật lên Nhưng nếu nhìn
toán học trong quá trình hình thành và phát triển, trong quá trình tìm tòi phát
minh thì trong phương pháp của nó vẫn có tìm tòi dự đoán, vẫn có “ thực nghiệm
” và “ quy nạp ”
Như vậy sự thống nhất giữa suy diễn và suy đoán là một đặc điểm tư duy
của toán học, phải chú ý cả hai phương diện đó mới có thể hướng dẫn học
sinh học toán
1.2.2.2 Vị trí và chức năng của bài tập toán học
Ở nhà trường phổ thông, dạy toán là dạy hoạt động toán học Đối với học sinh
có thể xem việc giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động toán học Các bài
toán ở trường phổ thông là một phương tiện rất có hiệu quả và không thể thay
thế được trong việc giúp học sinh nắm vững tri thức, phát triển tư duy, hình hành
kỹ năng, kỹ xảo, ứng dụng toán học vào thực tế Hoạt động của bài tập toán học
là điều kiện để thực hiện tốt mục đích dạy học toán ở nhà trường phổ thông Vì
Trang 14vậy, tổ chức có hiệu quả việc dạy giải bài tập toán học có vai trò quyết định đối
với chất lượng dạy học toán
Trong thực tiễn dạy học, bài tập toán học được sử dụng với những dụng ý
khác nhau Mỗi bài tập có thể dùng để tạo tiền đề xuất phát, để gợi động cơ, để
làm việc với nội dung mới, để củng cố hoặc kiểm tra…Tất nhiên, việc dạy giải
một bài tập cụ thể thường không nhằm vào một dụng ý đơn nhất nao đó mà
thường bao hàm những ý đồ nhiều mặt đã nêu
Mỗi bài tập toán cụ thể được đặt ra ở thời điểm nào đó của quá trình dạy học
đều chứa đựng một cách tường minh hay ẩn tàng những chức năng khác nhau
Những chức năng này đều hướng đến việc thực hiện các mục đích dạy học
Trong môn toán, các bài tập mang các chức năng sau:
- Với chức năng dạy học, bài tập nhằm hình thành củng cố cho học sinh
những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ở các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học
- Với chức năng giáo dục, bài tập nhằm hình thành cho học sinh thế giới quan
duy vật biện chứng, hứng thú học tập, niềm tin và nhân phẩm đạo đức của người
lao động mới
- Với chức năng kiểm tra, bài tập nhằm đánh giá mức độ, kết quả dạy và học,
đánh giá khả năng độc lập toán học và trình độ phát triển của học sinh
Trên thực tế các chức năng không bộc lộ một cách riêng lẻ và tách rời nhau
Khi nói đến chức năng này hay chức năng khác của một bài tập cụ thể tức là
hàm ý nói đến việc thực hiện chức năng ấy một cách tường minh và công khai
hiệu quả của việc dạy học toán ở trường phổ thông phần lớn phụ thuộc vào việc
khai thác và thực hiện một cách đầy đủ các chức năng có thể có của một bài tập
mà người viết sách giáo khoa đã có dụng ý chuẩn bị Người giáo viên chỉ có thể
khám phá và thực hiện được những dụng ý đó bằng năng lực sư phạm và thái độ
dạy học của mình
1.2.3 Vai trò, vị trí và tầm quan trọng của hoạt động giải toán trong dạy và
học toán ở tiểu học
Trang 15có vị trí đặc biệt quan trọng Trong giải toán học sinh phải tư duy một cách tích
cực, năng động và sáng tạo Vì vậy có thể coi giải toán là một trong những biểu
hiện năng động nhất trong hoạt động trí tuệ của học sinh
Qua hoạt động giải toán, học sinh biết vận dụng các khái niệm, quy tắc, công
thức đã được học trong sách giáo khoa để xử lý những tình huống đặt ra trong
toán học, trong các bộ môn khác và trong thực tiễn đời sống lao động sản xuất
Đồng thời thông qua hoạt động giải toán, giáo viên có thể phát hiện ưu điểm
cũng như những thiếu sót của học sinh về kiến thức, kĩ năng và tư duy để có biện
pháp kịp thời giúp đỡ các em phát huy hay khắc phục những điều đó Ngoài ra,
thông qua hoạt động giải toán học sinh tự rút ra những ưu điểm và hạn chế của
bản thân để có thể có cách khắc phục, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
toán Qua việc giải toán, học sinh rèn luyện được những đức tính và phong cách
làm việc khoa học như: ý chí khắc phục khó khăn, tính cẩn thận, sự tìm tòi sáng
tạo trong học tập, cụ thể chi tiết, làm việc có kế hoạch, xét đoán có căn cứ, làm
việc có kiểm tra, đánh giá thói quen suy nghĩ độc lập, linh hoạt, hạn chế sự áp
dụng theo khuôn mẫu, máy móc
Qua hoạt động giải toán học sinh có thể củng cố và rèn luyện kỹ năng về các
môn học khác như Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội….Môn toán và vai trò quan
trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục góp phần phát triển nhân
cách cho học sinh
Mục tiêu của việc dạy học toán ở Tiểu học
Kiến thức: Giúp học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học: các
số tự nhiên, phân số, số thập phân, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình
học và thống kê đơn giản
Kỹ năng: Hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải toán có nhiều
ứng dụng thiết thực trong đời sống.Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư
duy, khả năng suy luận hợp lý và cách diễn đạt chúng; cách phát hiện và giải
quyết những vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống
Trang 16Thái độ: Khuyến khích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán; góp phần
hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ
động, linh hoạt , sáng tạo
Mục tiêu dạy toán ở Tiểu học nhấn mạnh việc giúp học sinh những kiến
thức và kĩ năng cơ bản, thiết thực, có hệ thống nhưng chú ý hơn đến tính hoàn
chỉnh tương đối của các kiến thức và kĩ năng cơ bản đó Ngoài các mạch kiến
thức quen thuộc, ở Tiểu học có giới thiệu một số yếu tố thống kê có ý nghĩa thiết
Tính chất giao hoán, kết hợp của phép cộng, nhân Các quy tắc “Một số nhân
một tổng (hiệu)”, “Một tổng chia một số”, “Một số chia một tích”, “Một tích
chia một số”
- Dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9
- Tính giá trị biểu thức có đến 4 dấu phép tính Tính giá trị biểu thức chứa đến
3 chữ số dạng đơn giản
+ Phân số Các phép tính về phân số
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phân số; đọc, viết, so sánh các phân số,
phân số bằng nhau
Trang 17- Tính chất giao hoán, kết hợp của phép cộng, nhân các phân số
- Giới thiệu quy tắc nhân phân số với phân số, nhân phân số với số tự nhiên,
nhân một tổng hai phân số với một phân số
- Thực hành tính nhẩm về cộng, trừ hai phân số có cùng mẫu số, tử số của
tổng hoặc hiệu có không quá hai chữ số Tính nhẩm về nhân phân số với phân số
hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu số của tích có không quá hai chữ số
- Tính giá trị biểu thức có không quá ba dấu phép tính với các phân số đơn giản
+ Tỉ số
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số
- Giới thiệu các bài toán về tìm hai số biết tổng (hiệu) và tỉ số của chúng
- Tỉ lệ bản đồ
1.2.4.2 Đại lượng và đo đại lượng
- Bổ sung và hệ thống hoá các đơn vị đo khối lượng
- Bổ sung và hệ thống hoá các đơn vị đo thời gian
- Diện tích và một số đơn vị đo diện tích
- Thực hành đổi đơn vị đo đại lượng, làm tính với các số đo Thực hành đo,
tập làm tròn số đo và tập ước lượng các số đo
1.2.4.3 Yếu tố hình học
- Giới thiệu góc nhọn, tù, bẹt Vẽ các góc bằng thước thẳng hoặc êke Nhận
dạng góc trong các hình đã học
- Giới thiệu hai đường thẳng cắt nhau, vuông góc với nhau, song song với nhau
- Giới thiệu thêm về hình bình hành, hình thoi và diện tích hình bình hành,
hình thoi
- Thực hành vẽ hình bằng thước và êke, cắt ghép, gấp hình
1.2.4.4 Yếu tố thống kê
- Lập bảng số liệu và nhận xét bảng số liệu
- Giới thiệu biểu đồ Lập biểu đồ đơn giản Tập nhận xét trên biểu đồ
1.2.4.5 Giải toán có lời văn
Trang 18- Tìm số trung bình cộng của nhiều số
- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
- Tìm phân số của một số
- Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó
- Tính chu vi, diện tích của một số hình đã học
1.2.5 Cấu trúc của một bài toán
Cấu trúc của một bài toán là hệ thống các quan hệ toán học trong bài toán đó
Nói cách khác, nó là một hệ thống các điều kiện ở trong bài toán Khi xem xét
cấu trúc của bài toán ta chỉ quan tâm đến sự tồn tại của dữ liệu chứ không để ý
đến giá trị cụ thể của dữ kiện
Có hai cách thường dùng để mô tả cấu trúc của một bài toán là “ sử dụng
biểu thức chữ để ghi lại cách tìm ẩn số thông qua giá trị của các dữ kiện” hoặc “
sử dụng công thức chữ để ghi lại mối quan hệ giữa các ẩn số và dữ kiện”
1.2.6 Định hướng chung để hướng dẫn học sinh giải một bài toán hợp
Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp Vì vậy, việc hình
thành kỹ năng giải toán khó hơn nhiều so với kỹ xảo tính Công việc giải toán
đòi hỏi không chỉ nhờ mẫu rồi áp dụng mà phải nắm chắc khái niệm, quan hệ
toán học, nắm chắc ý nghĩa các phép tính và đòi hỏi khả năng độc lập suy luận
của học sinh, đòi hỏi học sinh biết làm tính thông thạo
•Các bước học sinh cần tiến hành khi giải toán
Bước 1: Tìm hiểu đầu bài
- Nghiên cứu kĩ đề bài:
Đọc kĩ đề toán và suy nghĩ về những dữ liệu đã cho,đặc biệt chú ý đến câu
hỏi của bài toán
- Thiết lập mối quan hệ giữa các só đã cho và phải tìm:
Cần tóm tắt được nội dung bài toán bằng ngôn ngữ và kí hiệu ngắn gọn để
ghi tóm tắt các điều kiện; hoặc minh hoạ các điều kiện bằng sơ đồ, hình vẽ
Bước 2: Lập kế hoạch giải toán
Trang 19tính gì Suy nghĩ xem từ các số đã cho và điều kiện của bài toán có thể biết gì, có
thể tính gì, phép tính đó có giúp trả lời câu hỏi của bài toán không? Trên cơ sở
đó, suy nghĩ để thiết lập trình tự giải bài toán
Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải
Thực hành giải các phép tính theo trình tự đã thiết lập để viết bài giải Sau
mỗi bước giải cần kiểm tra xem đã tính đúng chưa? Giải xong phải thử xem
đáp số tìm ra có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với điều kiện
của bài toán không
Bước 4: Nhìn lại bài toán
- Kiểm tra, rà soát lại công việc giải
- Tìm cách giải khác và so sánh các cách giải
- Suy nghĩ khai thác thêm đề bài
1.2.7 Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học toán chia hết ở
tiểu học
1.2.7.1 Vị trí, vai trò của toán chia hết
Để làm quen với số học thì việc đầu tiên chúng ta phải biết đến toán chia
hết Vì nó là một khái niệm cơ bản và cũng là trọng tâm của số học
Những bài toán về chia hết có thể nói là không thể thiếu trong số học nói riêng
và toán học nói chung Các tính chất của số tự nhiên có liên quan tới tính chia
hết như: Sự phân bố của các số nguyên tố được nghiên cứu trong ngành lí thuyết
số Các vấn đề liên quan đến sự đếm, chẳng hạn lý thuyết Ramsay được nghiên
cứu trong toán tổ hợp Trên thế giới có nhiều bài toán về chia hết rất hay và cũng
có những phương pháp chứng minh nó khá thú vị và bổ ích
Trong chương trình số học những bài toán về chia hết hết sức phong phú và
đa dạng Vì nó vận dụng những kiến thức cơ bản vào giải toán và còn phát triển
tư duy cho học sinh Khi gặp một bài toán chứng minh chia hết, học sinh sẽ gặp
khó khăn nếu không nắm vững kiến thức cơ bản và các dạng bài tập, cách làm
các dạng bài tập đó Như vậy làm thế nào để học sinh biết làm các bài toán về
Trang 20tế? Làm thế nào để học sinh cảm thấy có sự say mê, hào hứng khi giải các bài
toán về chia hết, nhất là các học sinh giỏi toán?
Trong quá trình hướng dẫn học sinh giải toán, giáo viên phải truyền thụ cho
học sinh những tri thức, phương pháp để học sinh biết cách học, biết cách suy
luận, vận dụng cái đã biết để tìm những kiến thức mới có tính chất thuật toán
Đặc biệt, khi hướng dẫn giải toán giáo viên cần coi trọng phương pháp có tính
chất tìm đoán và ngầm thực hiện cho các bước giải Học sinh cần được rèn luyện
các thao tác tư duy, phân tích tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự,
quy lạ về quen
Toán chia hết là một trong số các dạng toán quan trọng trong chương trình
toán Nó có mặt nhiều trong các lần kiểm tra định kì, thi học kì, thi học sinh giỏi,
thi vào trường chuyên, lớp chất lượng cao…Điều này còn được thể hiện ở chỗ
lượng bài tập trong sách giáo khoa, trong sách bài tập khá nhiều và phương pháp
dạy toán chia hết được đề cập từ lớp 3 và xuyên suốt cả chương trình toán trung
học cơ sở Ở mỗi khối học yêu cầu về mặt kiến thức khác nhau và mức độ yêu
cầu cũng khác nhau Nhưng kiến thức đòi hỏi sự kế thừa, cái này là cơ sở của cái
kia, chúng bổ trợ cho nhau Có thể nói rằng dạng toán chia hết luôn là dạng toán
khó đối với học sinh và không ít học sinh cảm thấy sợ khi học dạng toán này
Chính vì thế yêu cầu người học phải nắm vững được kiến thức cơ bản, được cụ
thể hoá trong từng bài toán và tóm tắt trong từng chương của sách giáo khoa
từng khối lớp Biết vận dụng linh hoạt các phương pháp để giải quyết tốt được
bài tập dạng này
1.2.7.2 Một số phương pháp dạy học toán chia hết
-Phương pháp 1: Sử dụng dấu hiệu chia hết
Giải
Ta thấy 45 = 5 x 9 mà (5 ; 9) = 1
để a56b 45 a56b 5 và 9
Trang 21Vậy tích của 2 số nguyên liên tiếp luôn chia hết cho 2
- Phương pháp 3: Xét tập hợp số dư trong phép chia
Trang 22(m – 1), m là 2 số nguyên liên tiếp nên (m – 1)m 2
(m – 1), m, (m + 1) là 3 số nguyên liên tiếp nên (m – 1)m(m + 1) 3
Trang 23- Phương pháp 8: Sử dụng nguyên lý Dirichlet
Ví dụ: CMR: Trong n + 1 số nguyên bất kỳ có 2 số có hiệu chia hết cho n
Vậy trong n +1 số nguyên bất kỳ có 2 số có hiệu chia hết cho n
Nếu không có 1 tổng nào trong các tổng trên chia hết cho n như vậy số dư khi
chia mỗi tổng trên cho n ta được n số dư là 1; 2; …; n - 1
Vậy theo nguyên lý Đirichlet sẽ tồn tại ít nhất 2 số mà khi chia cho n có cùng
số dư hiệu của 2 số này chia hết cho n (ĐPCM)
Trang 24Vì 3 là số nguyên tố 2 3
1 3
n n
- Định nghĩa: Chon hai số tự nhiên a, b; b ≠ 0 Nếu có số tự nhiên q sao cho
a = b.q thì ta nói a chia hết cho b Số q gọi là thương của a và b, và ký hiệu là:
q = a : b hay q = a
b Quy tắc tìm thương của hai số được gọi là phép chia
- Tính chất
+ Số 0 chia hết cho mọi số tự nhiên khác 0
+ Mọi số tự nhiên đều chia hết cho 1
+ Nếu a1, a2,… an là những số tự nhiên chia hết cho b thì
a1x1 + a1x2 +… + anxn cũng chia hết cho b với x1… xn là những số tự nhiên
tuỳ ý
• Phép chia có dư
- Định lí: Với mọi cặp số tự nhiên a, b trong đó b # 0 bao giờ cũng tồn tại duy
nhất cặp số tự nhiên q và r sao cho:
a = bq + r 0 ≤ r < b
- Định nghĩa: Số q và r thoả mãn đẳng thức
a = bq + r 0≤ r < b
Được gọi tương ứng là thương và dư trong phép chia của a cho b Việc tìm q
và r gọi là thực hiện phép chia có dư của a cho b ( khi r = 0 thì phép chia có dư
trở thành phép chia hết Như vậy phép chia hết là một trường hợp đặc biệt của
phép chia có dư)
• Đồng dư thức
- Định nghĩa: Cho m là số tự nhiên dương
Trang 25Nếu hai số tự nhiên a, b cho cùng số dư khi chia cho m thì ta nói a đồng dư với b
theo modun m
Kí hiệu: a b (mod m)
- Các tính chất
1 Với a a a (mod m)
2 Nếu a b ( mod m) b a (mod m)
3 Nếu a b (mod m), b c (mod m) a c (mod m)
4 Nếu a b (mod m) và c d (mod m) a+c b+d (mod m)
5 Nếu a b (mod) và c d (mod m) ac bd (mod m)
6 Nếu a b (mod m), d Uc (a, b) và (d, m) =1
d
b d
d
m
)
• Các dấu hiệu chia hết
* Dấu hiệu chia hết cho 2 và 5
Một số chia hết cho 2 ( hoặc 5 ) khi và chỉ khi chữ số hàng đơn vị của nó chia
Vì 10 chia hết cho 2 và 5 nên điều kiện cần và đủ để a chia hết cho 2 (hoặc
5 ) là a0 chia hết cho 2 (hoặc 5) Từ đó suy ra dấu hiệu trên
Trang 26* Dấu hiệu chia hết cho 4 và 25
Một số chia hết cho 4 (hoặc 25) khi và chỉ khi số tạo bởi hai chữ số cuối
cùng của nó chia hết cho 4 (hoặc 25)
Chứng minh:
Thật vậy, số tự nhiên a = anan-1…a1a0 được viết thành
a = an10n + an-110n-1 + … + a2102 + a110 + a0
a = 102(an10n-2 + … + a2) + a110 + a0
Vì 100 chia hết cho 4 và 25 nên a chia hết cho 4 (hoặc 25) khi và chỉ khi a110 +
a0 chia hết cho 4 (hoặc 25) nghĩa là khi và chỉ khi a1a0 chia hết cho 4 (hoặc 25)
* Dấu hiệu chia hết cho 3 và 9
Một số chia hết cho 3 (hoặc 9) khi và chỉ khi tổng các chữ số của nó chia hết
Suy ra a : 3 (hoặc 9) dư an + an-1 + … + a1 + a0
Vì vậy, a chia hết cho 3 (hoặc 9) khi và chỉ khi an + an-1 +… + a1 + a0 chia
hết cho 3 (hoặc 9)
* Dấu hiệu chia hết cho 8
Một số chia hết cho 8 khi và chỉ khi số tạo bởi ba chữ số cuối chia hết cho 8
Chứng minh:
Ta có số tự nhiên a = anan-1…a1a0 được viết thành
Trang 27a = an10n + an-110n-1 +… + a2102 + a110 + a0
a = 103 ( an10n-3 + ….+ a3 ) + a2100+ a110 + a0
Vì 1000 chia hết cho 8 nên a chia hết cho 8 khi và chỉ khi a2100 + a110 +
a0 chia hết cho 8 nghĩa là khi và chỉ khi a2a1a0 chia hết cho 8
* Dấu hiệu chia hết cho 11
Một số chia hết cho 11 khi và chỉ khi tổng các chữ số hàng chẵn trừ tổng các
chữ số hàng lẻ được hiệu chia hết cho 11
Như vậy 10n = 11q +1 nếu n chẵn và 10n = 11q – 1 nếu n lẻ
Nhờ vậy số tự nhiên a = cncn-1…c1c0 có thể viết thành:
1.2.7.4 Lý thuyết toán chia hết ở Tiểu học
a Dấu hiệu chia hết cho 2
Các số có chữ số tận cùng là 0; 2; 4; 6; 8 thì chia hết cho 2
Chú ý: Các số có chữ số tận cùng là 1; 3; 5; 7; 9 thì không chia hết cho 2
b Dấu hiệu chia hết cho 3
Các số có tổng các chữ số chia hết cho 3 thì chia hết cho 3
Chú ý: Các số có tổng các chữ số không chia hết cho 3 thì không chia hết cho 3
Trang 28c Dấu hiệu chia hết cho 5
Các số có chữ số tận cùng là 0 hoặc 5 thì chia hết cho 5
Chú ý: Các số không có chữ số tận cùng là 0 hoặc 5 thì không chia hết cho 5
d Dấu hiệu chia hết cho 9
Các số có tổng các chữ số chia hết cho 9 thì chia hết cho 9
Chú ý: Các số có tổng các chữ số không chia hết cho 9 thì không chia hết cho 9
Bên cạnh các dấu hiệu chia hết cơ bản ở trên mà học sinh được học trong
chương trình toán tiểu học còn có một số dấu hiệu chia hết được mở rộng trong
chương trình toán nâng cao như:
e Dấu hiệu chia hết cho 4 ( hoặc 25)
Các số có số tạo bởi 2 chữ số tận cùng chia hết cho 4 ( hoặc 25) thì chia hết
cho 4 (hoặc 25)
f Dấu hiệu chia hết cho 8 ( hoặc 125)
Các số có số tạo bới 3 chữ số tận cùng chia hết cho 8 ( hoặc 125) thì chia hết
cho 8 ( hoặc 125)
g Dấu hiệu chia hết cho 11
Các số có tổng các chữ số hàng chẵn trừ tổng các chữ số hàng lẻ được hiệu
chia hết cho 11 thì chia hết cho 11
* Một số dấu hiệu chia hết mở rộng
1 Dấu hiệu chia hết cho 7
Số tạo bởi các chữ số đứng trước hàng đơn vị trừ đi 2 lần số ở hàng đơn vị
chia hết cho 7 thì số đó chia hết cho 7
Ví dụ: số 623
Ta có: 62 - (3 x 2) = 56, mà 56 : 7=8 (56 chia hết cho 7) nên suy ra số 623
chia hết cho 7
2 Dấu hiệu chia hết cho 13
Lấy số hàng đơn vị nhân 4 rồi cộng với số tạo bởi các chữ số còn lại nếu tổng
chia hết cho 13 thì số đó chia hết cho 13
Trang 29Ta có: 236 + (6 x 4) = 260 mà 260: 13 = 20, tiếp tục 26 + (0 x 4) = 26
Mà 26 : 13 = 2 (26 chia hết cho 13) nên 2366 chia hết cho 13
3 Dấu hiệu cia hết cho 17
Lấy các số đứng trước số ở hàng đơn vị trừ đi 5 lần số hàng đơn vị, nếu hiệu
đó chia hết cho 17 thì nó chia hết cho 17
Ví dụ: số 561
Ta có: 56 – (1 x 5) = 51, mà 51 : 17 = 3 (51 chia hết cho 17) nên 561 chia hết
cho 17
Hoặc số 9537,ta có: 953 - 7 x 5 = 918 sau đó tiếp tục lấy 91 – (8 x 5) = 51, mà
51 : 17 =3 (51 chia hết cho 17) nên 9537 chia hết cho 17
đó chia hết cho 17 thì nó chia hết cho 17
4 Dấu hiệu chia hết cho 19
Lấy các số đứng trước số ở hàng đơn vị cộng với 2 lần số hàng đơn vị,
nếu tổng đó chia hết cho 19 thì nó chia hết cho 19
Ví dụ: số 4579
Ta có: 457 + (9 x 2) = 475 tiếp tục lấy 47 + (5 x 2) = 57, mà 57 : 19 = 3 (57
chia hết cho 19) nên 4579 chia hết cho 19
5 Dấu hiệu chia hết cho 23
Lấy các số đứng trước số ở hàng đơn vị cộng với 7 lần số ở hàng đơn vị, nếu
tổng đó chia hết cho 23 thì số đó chia hết cho 23
Ví dụ: số 1265
Ta có: 126 + (5 x 7) = 161 tiếp tục 16 + (1 x 7) = 23 mà 23 : 23 = 1 (23 chia
hết cho 23) nên 1265 chia hết cho 23
6 Dấu hiệu chia hết cho 29
Ta lấy số hàng đơn vị nhân 3 rồi lấy kết quả cộng với số tạo bởi các số liền
trước, nếu tổng chia hết cho 29 thì nó chia hết cho 29
Ví dụ: số 435
Ta có: 43 + (5 x 3) = 58, tiếp tục 5 + (8 x 3) = 29,mà 29 : 29 = 1 (29 chia hết
Trang 307 Dấu hiệu chia hết cho 31
Lấy số tạo bởi các số liền trước hàng đơn vị trừ đi số hàng đơn vị nhân 3, nếu
hiệu chia hết cho 31 thì nó chia hết cho 31
Ví dụ: số 1736
Ta có: 173 – (6 x 3) =155, tiếp tục 15 – (5 x 3) = 0, mà 0 : 31 = 0 (0 chia hết
cho 31) nên số 1736 chia hết cho 31
8 Dấu hiệu chia hết cho 37
Lấy số tạo bởi các số liền trước hàng đơn vị trừ đi số hàng đơn vị nhân 11,
nếu hiệu chia hết cho 37 thì nó chia hết cho 37
Ví dụ: số 1554
Ta có: 155 – (4 x 11) = 111, tiếp tục 11 – (1 x 11) = 0, mà 0 : 37 = 0 ( 0 chia
hết cho 37) nên 1554 chia hết cho 37
9 Dấu hiệu chia hết cho 41
Lấy số tạo bởi các số liền trước hàng đơn vị trừ đi số hàng đơn vị nhân 4, nếu
hiệu chia hết cho 41 thì nó chia hết cho 41
Ví dụ: số 451
Ta có: 45 – (1 x 4) = 41, mà 41 : 41 = 1 (41 chia hết cho 41) nên số 451 chia
hết cho 41
10 Dấu hiệu chia hết cho 43
Ta lấy số hàng đơn vị nhân 13 rồi lấy kết quả cộng với số tạo bởi các số liền
trước, nếu tổng chia hết cho 43 thì nó chia hết cho 43
Ví dụ: số 645
Ta có: 64 + (5 x 13) = 129, mà 129 : 43 = 3 ( 129 chia hết cho 43) nên 645
chia hết cho 43
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Thực trạng việc dạy học các dạng toán chia hết và việc rèn kỹ năng
giải toán cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Phù Lỗ - Phù Ninh – Phú Thọ
1.3.1.1 Mục đích điều tra
Trang 31giải toán cho học sinh lớp 4
1.3.1.2 Đối tượng điều tra
Giáo viên đang giảng dạy bộ môn Toán tại trường Tiểu học Phù Lỗ - Phù
Ninh – Phú Thọ
1.3.1.3 Nội dung điều tra
- Đối với giáo viên chúng tôi tiến hành điều tra các vấn đề sau:
• Quan niệm của giáo viên về số lượng các bài tập có nội dung chia hết trong
sách giáo khoa ở Tiểu học giúp rèn kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu học
• Tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu học thông
qua hệ thống các bài toán về chia hết
• Nhận thức của giáo viên về mức độ rèn kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu
học thông qua hệ thống bài tập về chia hết
- Đối với học sinh:
• Nhận thức của học sinh về mức độ khó của toán chia hết
• Đánh giá của học sinh về mức độ khó của các dạng toán chia hết
1.3.1.4 Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên
- Phương pháp phỏng vấn - toạ đàm
- Phương pháp thống kê toán học
1.3.1.5 Phân tích kết quả điều tra
Sau khi nghiên cứu lí luận liên quan tới đề tài, chúng tôi đã tiến hành quan sát,
đàm thoại và phát phiếu điều tra tới các giáo viên và học sinh của trường Tiểu học
Phù Lỗ - Phù Ninh – Phú Thọ Chúng tôi đã tiến hành phát ra 30 phiếu dành cho
giáo viên và 60 phiếu điều tra dành cho học sinh, thu lại toàn bộ số phiếu này
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp thống kê và thu được kết quả như sau:
Trang 32
Bảng 1: Quan niệm của giáo viên về số lượng các bài tập có nội dung chia
hết trong sách giáo khoa ở Tiểu học giúp rèn kỹ năng giải toán cho học sinh
Tiểu học
STT
Số lượng bài tập có nội dung chia hết trong
SGK ở Tiểu học giúp rèn luyện và phát triển kỹ
năng giải toán cho học sinh
Số lượng
ý kiến
Tỷ lệ ( % )
Bảng 2: Tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu
học thông qua hệ thống các bài toán về chia hết
STT
Tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng giải toán
cho học sinh thông qua hệ thống các bài toán về
chia hết
Số lượng
ý kiến
Tỷ lệ ( % )
Bảng 3: Nhận thức của giáo viên về mức độ rèn kỹ năng giải toán cho học
sinh Tiểu học thông qua hệ thống bài tập về chia hết
STT Mức độ rèn luyện và phát triển kỹ năng giải toán
cho học sinh thông qua hệ thống bài tập về chia hết
Số lượng
ý kiến
Tỷ lệ ( % )
Trang 33Bảng 4: Nhận thức của học sinh về mức độ khó của toán chia hết
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực trạng dạy học
các bài toán về chia hết trong việc rèn các kỹ năng giải toán cho học sinh Tiểu
học trường Tiểu học Phù Lỗ Căn cứ vào kết quả điều tra khảo sát ta thấy chất
lượng học tập của học sinh trường Tiểu học Phù Lỗ vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng
mục tiêu, vẫn còn nhiều học sinh chưa nắm vững được các kỹ năng giải toán
Điều này do một số nguyên nhân sau:
- Do đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh còn hạn chế và kiến
thức về toán chia hết khá là khó
- Do tiếp cận việc đổi mới nội dung và chương trình dạy học toán chia hết nên
không ít giáo viên còn lúng túng trong phương pháp tổ chức cho học sinh khám
phá kiến thức nên chưa phát huy được tối đa tính tích cực của học sinh
- Khi dạy các bài toán về chia hết giáo viên chủ yếu quan tâm đến việc hình
thành các định nghĩa chia hết mà chưa chú ý đến việc rèn luyện và phát triển các
kỹ năng giải toán cho học sinh
Trang 34- Các em tiếp thu các kiến thức về toán chia hết còn chậm, thụ động, lệ thuộc
nhiều vào giáo viên
Từ kết quả trên có thể thấy rằng việc triển khai thực hiện đề tài là có tính khả
thi và đạt hiệu quả trong việc rèn kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 4
Trang 35CHƯƠNG 2 RÈN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH THÔNG QUA HỆ
THỐNG CÁC BÀI TOÁN VỀ CHIA HẾT 2.1 Kỹ năng và kỹ năng giải toán
2.1.1 Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong lĩnh
vực nào đó rồi vận dụng vào thực tế để giải quyết các tình huống hoặc công việc
nào đó phát sinh trong cuộc sống
Trong giáo dục, kỹ năng là tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp
ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hoá
Kỹ năng được chia làm 2 loại là: kỹ năng tâm lí xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩh
hội và tư duy với nhiều yếu tố như: sự nhận thức, sự tư duy, sáng tạo, giải quyết
vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với tình huống căng
thẳng và cảm xúc biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định
giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết
• Nguồn gốc hình thành kỹ năng
Nguồn gốc hình thành kỹ năng được lí giải từ 2 lý thuyết về phản xạ có điều
kiện (được hình thành trong thực tiễn cá nhân) và phản xạ không điều kiện ( là
những phản xạ bẩm sinh mà cá nhân sinh ra đã có sẵn) Trong đó, kỹ năng cá
nhân gần như thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện nghĩa là kỹ năng được
hình thành từ khi một cá nhân sỉnh ra, trưởng thành và tham gia hoạt động tthực
tế cuộc sống
• Làm thế nào để có kỹ năng?
Bản thân chúng ta sinh ra chưa có kỹ năng về một khía cạnh nào ( trừ kỹ năng
bẩm sinh) nhất là kỹ năng công việc, đó là lí do hinh thành hệ thống đào tạo
nghề nghiệp hiện có ở bất kì quốc gia nào
Như vậy, đa số kỹ năng mà chúng ta có được và hữu ích với cuộc sống của
chúng ta là xuất phát từ việc chúng ta được đào tạo Và như thế, nền tảng sự
Trang 36thành công của chúng ta trong cuộc sống là 98% do đào tạo và tự đào tạo rèn kỹ
năng, chỉ có 2% là kỹ năng bẩm sinh tham gia vào sự thành công của chúng ta
Từ đó ta nhận thấy rằng, kỹ năng trong toán học cũng như trong cuộc sống nó
rất cần sự giáo dục, sự rèn luyện của bản thân Đó chính là mấu chốt của sự
thành công
• Vì sao cần phải có kỹ năng
Khi tham gia vào bất kí nghề nghiệp nào phục vụ cho cuọc sống của chúng ta
đều đòi hỏi ta phải thoả mãn những kỹ năng tương ứng
VD: Nghề tư vấn thì tương ứng là nhà tư vấn phải có những kỹ năng tư vấn,
nghề luật sư thì phải có kỹ năng hành nghề luật sư Như vậy bất kỳ hoạt động
hay nghề nghiệp nào mà chúng ta tham gia chúng ta đều phải đáp ứng những kỹ
năng mà hoạt động hay nghề nghiệp đó đòi hỏi nếu không chúng ta không thể
tham gia vào cuộc chơi
Có những loại kỹ năng nào ?
Có người đã phân loại kỹ năng thành hai loại kỹ năng cơ bản là kỹ năng cứng
và kỹ năng mềm :
Kỹ năng cứng là kỹ năng mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà trường
hoặc tự học, đây là kỹ năng có tính nền tảng
Kỹ năng mềm là chúng ta có được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế
nghề nghiệp, kỹ năng mềm là loại kỹ năng cực kỳ phong phú và không kém
phần quan trọng như kỹ năng cứng Kỹ năng mếm có thể là kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng thuyết trình kỹ năng đàm phán…
Để thành công trong cuộc sống ta phải thoả mãn cả kỹ năng cứng và kỹ năng
mềm; phải vận dụng linh hoạt và phù hợp hai loại kỹ năng cơ bản này vào trong
cuộc sống và trong công việc
2.1.2 Kỹ năng giải toán
Trong chương trình toán Tiểu học, việc giải các bài toán chiếm một vị trí rất
quan trọng Được thể hiện qua các khái niệm toán học, các quy tắc toán học đều
Trang 37dụng các kiến thức , rèn luyện kỹ năng tính toán Đồng thời qua việc giải toán
cho học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu
của các em về kiến thức kỹ năng và tư duy để từ đó giúp học sinh phát huy được
tính chủ động, sáng tạo trong học tập Hướng dẫn học sinh tìm ra được lời giải
đúng và hay là rất khó Hoạt động giải toán là hoạt động phức tạp bao gồm nhiều
thành tố tham gia mà lâu nay đã được các nhà nghiên cứu và chỉ rõ ra bốn giai
đoạn như sau:
*Giai đoạn 1: quan sát tiếp thu
Giáo viên giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản tối thiểu cần thiết
- Giáo viên cần kế hợp vừa giảng vừa luyện phân tích chi tiết, cụ thể giúp học
sinh hiểu khái niệm không hình thức
- Đồng thời với cấp kiến thức mới là củng cố khăc sâu thông qua ví dụ và
phản ví dụ Chú ý phân ích các sai lầm thường gặp
- Tổng kết tri thức và phản tri thức, phương pháp có trong bài
Đây là giai đoạn khó khăn nhất, giai đoạn làm quen tiến tới hiểu kiến thức
mới, đồng thời là giai đoạn quan trọng nhất, giai đoạn cung cấp kiến thức chuẩn
cho học sinh Kinh nghiệm cho thấy khi hoàn tốt giai đoạn này học sinh sẽ tiếp
thu tốt hơn ở các giai đoạn sau
*Giai đoạn 2: Làm theo hướng dẫn
Giáo viên cho ví dụ tương tự học sinh bước đầu làm theo hướng dẫn, chỉ đạo
của giáo viên
Học sinh bước đầu vận dụng hiểu biết của mình vào giải toán, giai đoạn này
thường vẫn còn lúng túng và sai lầm, học sinh chưa thuộc chưa hiểu sâu sắc
Tuy nhiên, giai đoạn 2 vẫn có tác dụng gợi động cơ cho giai đoạn 3
*Giai doạn 3: Giáo viên ra một bài tập khác, học sinh tự làm theo mẫu mà
giáo viên đã đưa ra ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2
Giáo viên tạm thời đứng ngoài cuộc Ở giai đoạn này, học sinh độc lập tham
gia Học sinh nào hiểu bài thì có thể hoàn thành được bài tập, học sinh nào chưa
Trang 38mức độ hiểu bài của học sinh Giáo viên thường vận dụng giai đoạn này khi ra
bài tập về nhà
*Giai đoạn 4: Độc lập làm bài tập
Giáo viên nên giao cho học sinh:
- Hoặc là một bài tập tương tự khác để học sinh làm ngay tại lớp
- Hoặc là đề thi của năm học trước nhằm kích thích học tập bộ môn
Để có thể dạy học theo 4 giai đoạn như trên đòi hỏi giáo viên phải:
- Hiểu sâu sắc kiến thức và các tri thức phương pháp
- Trong soạn bài, giáo viên cần chuẩn bị cả bốn dạng bài tập cho bốn giai
đoạn, bên cạnh đó còn phải biết phân bậc bài tập cho từng đối tượng học sinh
trong lớp
- Phải biết điều hành các đối tượng học sinh trong lớp cùng hoạt động bằng
cách giao cho mỗi loại đối tượng một dạng bài tập phù hợp với nhận thức của
học sinh, có như thế giờ học mới sinh động và lôi cuốn
2.2 Rèn kỹ năng giải toán
2.2.1 Rèn kỹ năng nhận thức
Nhóm kỹ năng nhận thức trong môn toán bao gồm kỹ năng nắm vững khái
niệm, định lý, quy tắc và dự đoán, suy đoán
2.2.1.1 Kỹ năng nắm vững khái niệm
Rèn luyện cho học sinh hiểu được các dấu hiệu đặc trưng của một khái niệm,
từ đó biết nhận dạng một khái niệm, tức là biết phát hiện xem một đối tượng cho
trước có thuộc phạm vi khái niệm nào đó không, đồng thời biết thể hiện khái
niệm, nghĩa là biết tạo ra một đối tượng thuộc phạm vi một khái niệm cho trước
Trên cơ sở đó, học sinh có thể hiểu được quan hệ giữa các khái niệm Chẳng hạn
hiểu được “hình hộp chữ nhật” và “hình lăng trụ đứng” có đáy là hình chữ nhật
là như nhau
2.2.1.2 Kỹ năng nắm vững định lý
Nắm vững một định lý là phân biệt được phần giả thiết và phần ký hiệu của
Trang 39lôgic giữa các định lý
2.2.1.3 Kỹ năng vận dụng các quy tắc
Một khía cạnh khác của kỹ năng nhận thức trong môn toán là kỹ năng áp dụng
thành thạo mỗi quy tắc Trong đó yêu cầu vận dụng linh hoạt tránh máy móc
Chặng hạn quy tắc “chia một tổng cho một số”, ta phải vận dụng một cách linh
hoạt nếu các số hạng của tổng đều chia hết cho số chia thì ta mới vận dụng quy
tắc để tìm kết quả
Giáo viên cần chú ý lựa chọn, kết thúc những ví dụ, những bài tập có cách
giải quyết linh hoạt, đơn giản hơn là áp dụng quy tắc tổng quát nhằm khắc phục
tinh ý của tư duy và rèn luyện tính linh hoạt của trí tuệ
Mặt khác, cũng cần chú ý luyện tập cho học sinh không thực hiện phép tương tự,
mà cách không kiểm tra khi chuyển từ loại đối tượng này sang loại đối tượng khác
2.2.1.4 Kỹ năng dự đoán và suy đoán
Để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm tòi, dự đoán được những tính chất,
những quy luật của hiện thực khách quan, tự mình phát hiện và phát biểu vấn đề,
cần phải luyện tập cho học sinh kỹ năng dự đoán và suy đoán (quan sát, so sánh,
đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự…)
2.2.2 Rèn kỹ năng thực hành
Kỹ năng thực hành trong môn Toán bao gồm kỹ năng vận dụng tri thức vào
hoạt động giải toán, kỹ năng toán học hoá tình huống thực tiễn
2.2.2.1.Hoạt động giải toán
Hoạt động giải toán có thể xem là hình thức chủ yếu của hoạt động Toán học
của học sinh Nó là điều kiện để thực hiện tốt các mục đích của việc dạy học
môn Toán ở trường phổ thông Kỹ năng vận dụng tri thức một cách có hiệu quả
và hoạt động giải toán của học sinh được huấn luyện trong quá trình học, tìm tòi
lời giải của bài toán Quá trình này thường được tiến hành theo 4 bước: Tìm hiểu
nội dung bài toán, xây dựng chương trình giải, giới thiệu chương trình giải, kiểm
tra và nghiên cứu lời giải tìm được
Trang 40Trong hoạt động giải toán, cần chú ý rèn luyện cho học sinh kỹ năng chuyển
từ tư duy thuận sang tư duy nghịch, đó là điều kiện quan trọng để nắm vững và
vận dụng kiến thức, một thành phần của tư duy toán học
Trong dạy học cần chú ý rèn luyện cho học sinh kỹ năng biến đổi xuôi chiều
và ngược chiều song song với nhau, giúp cho việc hình thành các liên tưởng
ngược diễn ra đồng thời với việc hình thành liên tưởng thuận
2.2.2.2 Kỹ năng toán học hoá tình huống thực tiễn
Tình huống thực tiễn được cho trong bài toán học nảy sinh từ thực tế đời sống
nhằm tạo điều kiện cho học sinh biết vận dụng kiến thức toán học trong nhà
trường vào cuộc sống góp phần gây hứng thú học tập, giúp học sinh nắm được
thực chất nội dung vấn đề và tránh hiểu các sự kiện toán học một cách hiện thực
Để rèn luyện cho học sinh kỹ năng toán học hoá tình huống thực tiễn, cần chú
ý lựa chọn các bài toán có nội dung thực tế của khoa học, kĩ thuật, của các môn
học khác và nhất là thực tế đời sống thường ngày quen thuộc với học sinh
Đồng thời nên phát triển một số bài toán dưới dạng thuần tuý toán học mà
dưới dạng một vấn đề thực tế phải giải quyết
Để tạo điều kiện vận dụng tri thức vào thực tế, còn phải có những kỹ năng
thực hành cần thiết Đó là các kỹ năng tính toán, vẽ hình, đo đạc
Trong hoạt động thực tế, ở bất kì lĩnh vực nào cũng đòi hỏi kỹ năng tính toán
đúng, nhanh, hợp lý, cùng với các đức tính cẩn thận, chu đáo, kiên nhẫn…Để rèn
luyện cho học sinh những kỹ năng này, cần tránh tình trạng ít ra bài tập đòi hỏi
tính toán, cũng như hành vi dạy giải bài tập chỉ dừng lại ở “ phương hướng ” mà
ngại làm những phép tính cụ thể để đi đến kết quả cuối cùng
Giáo viên cần thường xuyên khuyến khích học sinh tìm tòi cách tính toán khác
nhau và biết chọn phương án hợp lý nhất Chẳng hạn, tăng cường khả năng tính
nhẩm, rèn luyện kỹ năng tính ước chừng khi học sinh sử dụng máy tính điện tử
Cần phải luyện tập cho học sinh thói quen vẽ hình cẩn thận, chính xác theo
đúng quy ước và phối hợp với lý thuyết biểu diễn hình học, tránh vẽ ẩu, tuỳ tiện