1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 trường tiểu học giấy bãi bằng phù ninh phú thọ

83 845 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Pháp Dạy Học Tích Hợp Trong Dạy Học Môn Tiếng Việt Ở Lớp 3
Trường học Trường Tiểu Học Giấy Bãi Bằng
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại Đề Tài
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 717,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với các quốc

gia, dân tộc ở mọi thời đại Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, giáo dục

- đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu giúp các quốc gia trên thế giới tạo những bước tiến quan trọng Việc đưa ra nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy nền giáo dục quốc dân đã giúp các quốc gia tạo nên cơ sở vững chắc cho sự phát triển của kinh tế - xã hội Nhiều quốc gia đã đạt được những thành tựu to lớn nhờ sớm coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo như Nhật Bản với quan

điểm: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu; cần kết hợp hài hoà giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với những tri thức Phương Tây hiện đại”; hay Singapore với phương châm “Thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế”; cường quốc Mỹ cũng luôn chú trọng đến việc “Tập trung cho đầu tư giáo dục - đào tạo và thu hút nhân tài”;

một người bạn lớn của Việt Nam là Liên Xô trước đây cũng đă khẳng định

“Chính sách về con người là điểm bắt đầu và là điểm kết thúc của mọi chính sách kinh tế - xă hội” Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đă từng căn dặn thế hệ trẻ “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (Hồ Chí Minh

toàn tập, 1995, tập 4, trang 33) Lời dạy của Người chứa đựng toàn bộ giá trị chân lý của thời đại Để không bị tụt hậu, để xây dựng và phát triển thành công một đất nước độc lập tự do theo định hướng xã hội chủ nghĩa cần phải nhận thức rõ ràng và đúng đắn vị trí, vai trọng của giáo dục và đào tạo Để đáp ứng nhu cầu của con người và thời đại, giáo dục và đào tạo cần không ngừng thay đổi và phát triển nhằm bắt kịp với xu thế Đề án đổi mới giáo dục

sau năm 2015 đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Vấn đề phát

triển năng lực ở người học đòi hỏi người học cần tích lũy tri thức trong một

quá trình tham gia trải nghiệm phức hợp các hoạt động

Trang 2

Hiện nay phương thức dạy học vận dụng tổng hợp các kiến thức trong nhiều lĩnh vực truyền đạt đến người học theo một lôgic nhất định gọi là dạy học tích hợp Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống; thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống Trao đổi với Báo Giáo dục và Thời đại, Giáo sư Đinh Quang Báo - Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực - khẳng định vai trò của dạy học tích hợp và cho rằng đây chính là phương pháp tạo ra năng lực Đối với Giáo dục Tiểu học - bậc học trang bị cho học sinh những kiến thức cơ sở trọng yếu ban đầu, vấn đề tích hợp trong dạy học

đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định là một trong những giải pháp hiệu quả đối với việc đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành phát triển một cách đúng đắn, lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kĩ năng cơ bản cho người học Ngay trong nội dung một môn học,việc đưa người học vào tình huống vận dụng kiến thức, kĩ năng các phân môn để giải quyết sẽ hình thành tư duy sáng tạo, suy luận lôgic, có hệ thống cho người học

Bậc Giáo dục Tiểu học là bậc học vô cùng quan trọng Bậc học này tạo cho các em một nền móng kiến thức vững vàng trong nhiều lĩnh vực Do vậy, đặt ra yêu cầu cho người giáo viên không chỉ có chuyên môn sâu, kiến thức rộng

mà họ cần biết cách kết hợp các kiến thức cần truyền đạt một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo Như vậy, người giáo viên sẽ bao quát được kiến thức tổng thể đồng thời cung cấp cho học sinh những tri thức hữu dụng đồng thời cũng tạo cho các em những đối chiếu, so sánh, phát hiện mối liên hệ trong nhiều mảng kiến thức Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học" Rõ ràng, dạy học theo phương pháp tích hợp đem

lại những hiệu quả tốt cả về mặt khoa học và thực tiễn

Trang 3

Học sinh là chủ thể của hoạt động học Hình thức dạy học tích hợp sẽ giúp các em tiếp cận với nhiều kiến thức hơn, cho các em có cái nhìn bao quát hơn về môn học đồng thời nhận thấy mối quan hệ mật thiết của các mảng kiến thức trong cùng một môn học Các em sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận và thu nhận kiến thức Hơn thế, sự vận dụng kiến thức vào hoạt động thực hành

sẽ linh hoạt và hiệu quả hơn

Tiếng Việt là môn học vô cùng quan trọng trong dạy học bậc Tiểu học Bởi lẽ, nhờ môn học này học sinh được trang bị những kiến thức và kĩ năng căn bản nhất về Tiếng Việt như : nói, nghe, viết, đọc Môn Tiếng Việt được chia thành nhiều phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn với định hướng tổ chức dạy học tập trung vào các chủ đề của tuần học và luyện tập thành thục các ki năng cơ bản của tiếng mẹ đẻ Cách tổ chức này đã trải qua gần 20 năm thực hiện và bắt đầu bộc lộ những hạn chế Học sinh và nhu cầu học tập đã thay đổi, môi trường học tập và môi trường xã hội biến chuyển khiến cho các nội dung và phương pháp tổ chức học tập dần trở nên xơ cứng và thiếu năng động Dạy học tích hợp theo hướng tiếp cận năng lực đang được nêu lên như là một trên những giải pháp hữu ích làm thay đổi cách dạy và học hiện nay đồng thời giải quyết được phần nào những tồn tại ở trên Dạy học theo phương pháp tích hợp tạo điều kiện để học sinh có cái nhìn tổng quan về môn học, học sinh có khả năng vận dụng các phân môn trong bộ môn Tiếng Việt để thực hành một cách nhuần nhuyễn

Từ những yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tổng quát thành 4 lí do để triển khai đề tài sau:

Thực hiện đề tài "Phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 3 trường tiểu học Giấy Bãi Bằng - Phù Ninh - Phú Thọ", tôi

dựa trên các lí do cơ bản sau đây:

- Phương pháp dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt là một bước quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu giáo dục

Trang 4

- Xuất phát từ thực tiễn đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi việc tổ chức dạy học không ngừng sáng tạo nhằm hình thành tư suy tổng hợp cho học sinh

- Xuất phát từ nhu cầu đổi mới của giáo viên, nghiên cứu dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt giúp giáo viên tìm ra phương pháp dạy học mới khi nội dung dạy học vốn không mới

- Bản thân người nghiên cứu là một sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học

và sẽ là giáo viên Tiểu học sau này, tôi nhận thấy việc xây dựng phương pháp dạy học tích hợp là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc bồi dưỡng chuyên môn và phát triển những kĩ năng nghề nghiệp tương lai cho bản thân Với những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu:

" Phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 3 trường tiểu học Giấy Bãi Bằng - Phù Ninh - Phú Thọ "

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Đối với học sinh, việc được tiếp nhận tri thức thông qua phương pháp dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt giúp cho các em hình thành được kĩ năng tổng hợp kiến thức các phân môn và vận dụng các tri thức đó một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn

Trang 5

- Đối với các nhà quản lí giáo dục, việc vận dụng tích hợp vào quá trình giảng dạy như một phương pháp dạy học hay rộng hơn là một quan điểm dạy học giúp cho chất lượng giáo dục nói chung được nâng cao đáng kể

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Định hướng, phân tích phương pháp dạy học tích hợp làm cơ sở để thiết kế hoạt động dạy học cho học sinh trong nhà trường tiểu học

- Vận dụng có hiệu quả một số phương pháp dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt ở lớp 3

- Thiết kế hoạt động dạy học tích hợp nhằm nhận thấy tính ưu việt của phương pháp dạy học này

- Đánh giá được tính khả thi các phương pháp dạy học qua tổ chức thực nghiệm

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tôi xác định triển khai nghiên cứu các vấn đề sau sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn và thực trạng của việc vận dụng phương pháp dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học

- Nghiên cứu, vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 3

- Thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của các hoạt động dạy học sử dụng phương pháp dạy học tích hợp ở môn Tiếng Việt lớp 3 trường tiểu học Giấy Bãi Bằng - Phù Ninh - Phú Thọ

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Phương pháp dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt lớp 3 ở Tiểu học

5.2 Phạm vi nghiên cứu:

Bộ sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 3, 4 tập sách giáo khoa 1A, 1B,

2A, 2B chương trình VNEN (Dự án mô hình trường học mới Việt Nam) Ngoài ra, chúng tôi nghiên cứu thêm chương trình 2000 nhằm đối sánh với chương trình mới

Trang 6

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận (phân tích và tổng hợp lí thuyết)

Phân tích lí thuyết là thao tác phân tài liệu lí thuyết, các đề tài nghiên cứu, giáo trình tham khảo thành các đơn vị kiến thức rồi tổng hợp lại các kiến thức đó sao cho phù hợp

Thực hiện phương pháp phân tích và tổng hợp kiến thức giúp người nghiên cứu nắm vững bản chất của kiến thức và của vấn đề cần nghiên cứu, cho phép xây dựng các giả thuyết và tiến tới tạo thành các lí thuyết khoa học Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết được thực hiện chủ yếu ở chương 1 (cơ sở khoa học của dạy học tích hợp), để hình thành các luận điểm làm sáng tỏ hướng triển khai của đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện, hiện tượng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong những hoàn cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tượng đó

Việc sử dụng phương pháp quan sát giúp người nghiên cứu nhận xét, đánh giá tổng quan về thực tiễn vấn đề được nghiên cứu từ đó đưa ra những kết luận xác thực trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp quan sát được thực hiện trong cả quá trình nghiên cứu, đặc biệt ở chương 3 của đề tài

6.2.2 Phương pháp điều tra

Phương pháp điều tra nhằm khảo sát số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập các số liệu, hiện tượng để từ đó phát hiện các vấn đề giải quyết, xác định tính phổ biến, nguyên nhân chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo

Thực hiện dự giờ, điều tra, phỏng vấn, trao đổi với các giáo viên giỏi,

có kinh nghiệm dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học , lấy ý kiến đóng

Trang 7

góp qua phiếu điều tra Phương pháp điều tra được thực hiện ở chương 1 và chương 3 của đề tài

6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Đó là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa học bằng cách sử dụng trí tuệ của một đội ngũ chuyên gia

có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia sẽ giúp cho người nghiên cứu có được những đánh giá cụ thể về công trình nghiên cứu của mình.Thực hiện phương pháp lấy ý kiến chuyên gia bằng cách xin ý kiến giảng viên hướng dẫn, các giảng viên giảng dạy môn Văn ở trường Đại học Hùng Vương và một số giáo viên dạy giỏi môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

Phương pháp này được thực hiện trong quá trình nghiên cứu và ở giai đoạn cuối cùng khi đã hoàn thiện

6.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do người nghiên cứu tác động đến

Áp dụng những phương pháp dạy học tích hợp đã đề xuất vào môn Tiếng Việt lớp 3 nhằm kiểm nghiệm tính khả thi để hoàn thiện đề tài

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP 1.1 Cơ sở lí luận của phương pháp dạy học tích hợp

1.1.1 Đặc điểm của học sinh Tiểu học

1.1.1.1 Đặc điểm về tâm lí

Học sinh Tiểu học là trẻ em ở độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi, là thực thể hồn nhiên tiềm tàng khả năng phát triển trong đó bao gồm khả năng hiện thực và khả năng tiềm ẩn Là một thực thể ngây thơ, trong sáng nên bản tính của trẻ

em luôn được biểu hiện ra ngoài khô hề che giấu, không hề "đóng kịch" Do vậy nên nhiều nền giáo dục văn minh tiên tiến hướng tới việc gìn giữ và tôn trọng bản tính hồn nhiên của trẻ em

Trong mỗi trẻ lại tiềm tàng những khả năng phát triển nhất định ở những lĩnh vực nhất định do vậy nên gia đình và nhà trường nên chú ý khai thác những ưu thế của trẻ nhằm giáo dục trẻ phát triển một cách toàn diện.Trong quá trình nhận thức học sinh Tiểu học cũng mang những đặc diểm tâm lí riêng biệt.Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc phải sai lầm và có khi còn lẫn lộn Học sinh các lớp đầu cấp Tiểu học tri giác còn yếu nên thường thâu tóm sự vật về toàn bộ,

về đại thể để tri giác Do vậy trong quá trình dạy học cần chú ý phối hợp giữa giảng dạy và liên hệ thực tiễn nhằm giúp các em có cái nhìn chính xác, khách quan nhất về đối tượng

Các em học sinh Tiểu học thường có những xúc cảm nhất thời, khó kìm nén, nhanh hứng thú nhưng cũng nhanh chán Do vậy trong trình dạy học, người giáo viên cần linh hoạt hình thức tổ chức dạy học để tăng hứng thú học tập cho học sinh Ngoài ra việc tích hợp nội dung dạy học cũng giúp các em thích thú hơn trong tiết học, tránh lặp đi lặp lại nội dung gây nhàm chán và tăng khả năng tích lũy tri thức cho học sinh

Tư duy của trẻ là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể.Trong quá trình học tập cần sử dụng các

Trang 9

phương pháp nhằm tạo cho trẻ có sự phát triển về tư duy, từng bước chuyển

từ cấp độ nhận thức các sự vật và hiện tượng chỉ vẻ bề ngoài, các biểu hiện dễ nhận biết bằng cảm tính đến nhận thức được những dấu hiệu, bản chất của chúng Điều này có tác dụng hình thành ở học sinh khả năng thực hiện thao tác khái quát hóa đầu tiên, thao tác so sánh đầu tiên, tiến đến khả năng suy luận sơ đẳng

1.1.1.2 Đặc điểm về thể chất

Sự phát triển thể chất ở học sinh Tiểu học diễn ra những biến đổi cơ bản về hệ cơ xương, về hệ thần kinh làm cơ sở cho những biến đổi tâm lí, nhân cách ở lứa tuổi này Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu hệ thống tri thức về các môn học, trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường học đường và ngoài xã hội đồng thời học sinh Tiểu học lĩnh hội các chuẩn mực và quy tắc đạo đức của hành vi Những biến đổi cơ bản quan trọng trong sự phát triển tâm lí của học sinh Tiểu học cơ sở cho các em những bước ngoặt quan trọng trong quá trình tích lũy tri thức trong nhà trường và ngoài xã hội

1.1.1.3 Đặc điểm về ngôn ngữ

Đối với học sinh lứa tuổi Tiểu học vốn ngôn ngữ còn chưa phong phú,

đa dạng do vậy việc diễn đạt còn gặp nhiều khó khăn Các em chủ yếu tư duy, quan sát và đánh giá sự vật thông qua hình dạng bên ngoài nên việc tái hiện

sự vật còn hạn chế Trong quá trình dạy học trong trường Tiểu học cần rèn luyện cho trẻ khả năng tư duy ngôn ngữ, cách chọn lọc và sử dụng ngôn từ

Đó cũng là một trong những mục tiêu quan trọng trong dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học

1.1.2 Quan niệm về phương pháp dạy học tích hợp

- Khái niệm tích hợp:

Theo từ điển tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có ý nghĩa là sự thống nhất, hòa hợp, kết hợp”.[28]

Trang 10

Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.[15]

Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latinh (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp

các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy

Các ý kiến đưa ra đều hướng tới việc làm rõ khái niệm của tích hợp Trong

đó nhóm nghiên cứu chúng tôi đồng ý với quan điểm định nghĩa tích hợp của

từ điển Giáo dục học Đó sẽ là cơ sở lí luận cho chúng tôi tiến hành nghiên

cứu và thiết kế hoạt động dạy học trong nhà trường tiểu học

- Khái niệm dạy học tích hợp:

Theo từ điển giáo dục học : “(Dạy học) tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.[15]

Dạy học tích hợp được hiểu là những hoạt động dạy học mà giáo viên

tổ chức và hướng dẫn giúp huy động đồng thời kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh

Dạy học tích hợp không chỉ là sự kết hợp đơn thuần giữa lý thuyết và thực hành trong một tiết/buổi dạy Chúng ta cần phải hiểu rằng, phía sau quan điểm đó là một triết lý giáo dục, nó phản ánh mục tiêu của việc học Theo quan điểm truyền thống thì mục tiêu của dạy học là cung cấp một hệ thống các kiến thức hoặc kỹ năng riêng lẻ cho người học để sau đó người học muốn làm bất kì việc gì với những kiến thức và kỹ năng đó Còn theo quan điểm dạy học tích hợp thì mục tiêu của dạy học là hướng đến việc đào tạo ra những con người với những năng lực cụ thể để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo

Trang 11

Trong các ý kiến về khái niệm dạy học tích hợp tôi đồng quan điểm với khái niệm dạy học tích của từ điển giáo dục Tôi lấy đó làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu và tìm ra định hướng tìm hiểu về dạy học tích hợp một cách rõ ràng, đúng hướng và khách quan

Vì vậy, đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết Dạy học tích hợp là một xu hướng của lí luận dạy học và được nhiều nước trên thế giới thực hiện

1.1.2.1 Bản chất của phương pháp dạy học tích hợp

* Lấy người học làm trung tâm

Dạy học lấy người học làm trung tâm được xem là phương pháp đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục nhất là đối với giáo dục nghề nghiệp, có khả năng định hướng việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học, quá trình cá nhân hóa người học Dạy học lấy người học là trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, họ phải tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, người học không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, cụ thể và sinh động của nghề nghiệp rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá học

để hành, hành để học, tức là tự tìm kiếm kiến thức cho bản thân

Trong dạy học lấy người học làm trung tâm đòi hỏi người học tự thể hiện mình, phát triển năng lực làm việc nhóm, hợp tác với nhóm, với lớp Sự làm việc theo nhóm này sẽ đưa ra cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích các thành viên trong nhóm hăng hái tham gia vào giải quyết vấn đề

Sự hợp tác giữa người học với người học là hết sức quan trọng nhưng vẫn chỉ là ngoại lực, điều quan trọng nhất là cần phải phát huy nội lực là tính

tự chủ, chủ động nỗ lực tìm kiếm kiến thức của người học Còn người dạy chỉ

là người tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập, đạo diễn cho người học tự tìm kiếm kiến thức và phương thức tìm kiếm kiến thức bằng hành động của chính mình Người dạy phải dạy cái mà người học cần, các doanh nghiệp đang đòi hỏi để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có chất lượng cao cho nền

Trang 12

kinh tế- xã hội chứ không phải dạy cái mà người dạy có Quan hệ giữa người dạy và người học được thực hiện dựa trên cơ sở tin cậy và hợp tác với nhau Trong quá trình tìm kiếm kiến thức của người học có thể chưa chính xác, chưa khoa học, người học có thể căn cứ vào kết luận của người dạy để tự kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm về cách học của mình Nhận ra những sai sót và biết cách sửa sai đó chính là biết cách học Dạy học tích hợp biểu hiện cách tiếp cận lấy người học là trung tâm, đây là xu hướng chung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thống

* Định hướng đầu ra

Đặc điểm cơ bản nhất, có ý nghĩa trung tâm của đào tạo nghề theo năng lực thực hiện là định hướng chú ý vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo xem người học có thể làm được cái gì vào những công việc thực tiễn để đạt tiêu chuẩn đầu ra Như vậy, người học để làm được cái gì đó đòi hỏi có liên quan đến chương trình, còn để làm tốt công việc gì đó trong thực tiễn như mong đợi thì liên quan đến việc đánh giá kết quả học tập Người học đạt được những đòi hỏi đó còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi người Trong đào tạo, việc định hướng kết quả đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng trong quá trình đào tạo, cho phép người sử dụng sản phẩm đào tạo tin tưởng và sử dụng trong một thời gian dài, đồng thời còn góp phần tạo niềm tin cho khách hàng

Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của người học để vận dụng vào công việc tương lai nghề nghiệp sau này, đòi hỏi quá trình học tập phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ Từ những kết quả đầu

ra đi đến xác định vai trò của người có trách nhiệm tạo ra kết quả đầu ra này, một vai trò tập hợp các hành vi được mong đợi theo nhiệm vụ, công việc mà người đó sẽ thực hiện thật sự Do đó, đòi hỏi người dạy phải dạy được cả lý thuyết chuyên môn nghề nghiệp vừa phải hướng dẫn quy trình công nghệ, thao tác nghề nghiệp chuẩn xác, phổ biến được kinh nghiệm, nêu được các dạng sai lầm, hư hỏng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục, biết cách tổ chức hướng dẫn luyện tập

Trang 13

* Dạy và học các năng lực thực hiện

Dạy học tích hợp do định hướng kết quả đầu ra nên phải xác định được các năng lực mà người học cần nắm vững, sự nắm vững này được thể hiện ở các công việc nghề nghiệp theo tiêu chuẩn đặt ra và đã được xác định trong việc phân tích nghề khi xây dựng chương trình Xu thế hiện nay của các chương trình dạy nghề đều được xây dựng trên cơ sở tổ hợp các năng lực cần

có của người lao động trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh Phương pháp được dùng phổ biến để xây dựng chương trình là phương pháp phân tích nghề (DACUM) hoặc phân tích chức năng của từng nghề cụ thể Theo các phương pháp này, các chương trình đào tạo nghề thường được kết cấu theo các mô-đun năng lực thực hiện Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nội dung giảng dạy trong mô đun phải được xây dựng theo hướng “tiếp cận theo kỹ năng”

Dạy học tích hợp có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy

lý thuyết và dạy thực hành, qua đó ở người học hình thành một năng lực nào

đó hay kỹ năng hành nghề nhằm đáp ứng được mục tiêu của mô đun Dạy học phải làm cho người học có các năng lực tương ứng với chương trình Do đó, việc dạy kiến thức lý thuyết không phải ở mức độ hàn lâm mà chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự phát triển các năng lực thực hành ở mỗi người học Trong dạy học tích hợp, lý thuyết là hệ thống tri thức khoa học chuyên ngành về những vấn đề cơ bản, về những quy luật chung của lĩnh vực chuyên ngành đó Hơn nữa, việc dạy lý thuyết thuần túy sẽ dẫn đến tình trạng lý thuyết suông, kiến thức sách vở không mang lại lợi ích thực tiễn Do đó, cần gắn lý thuyết với thực hành trong quá trình dạy học Thực hành là hình thức luyện tập để trau dồi kỹ năng, kỹ xảo hoạt động giúp cho người học hiểu rõ và nắm vững kiến thức lý thuyết Đây là khâu cơ bản để thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Thực hành phải có đủ phương tiện, kế hoạch, quy trình luyện tập gắn ngay với vấn đề lý thuyết vừa học Để hình thành cho người học một kỹ năng thì cần phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động hợp lý các nguồn nội lực (kiến thức, khả năng thực hiện và thái độ) và ngoại lực (tất cả những gì có thể huy động được nằm ngoài

Trang 14

cá nhân) Như vậy, người dạy phải định hướng, giúp đỡ, tổ chức, điều chỉnh

và động viên hoạt động của người học Sự định hướng của người dạy góp phần tạo ra môi trường sư phạm bao gồm các yếu tố cần có đối với sự phát triển của người học mà mục tiêu bài học đặt ra và cách giải quyết chúng Người dạy vừa có sự trợ giúp vừa có sự định hướng để giảm bớt những sai lầm cho người học ở phần thực hành; đồng thời kích thích, hướng dẫn, động viên người học nảy sinh nhu cầu, động cơ hứng thú để tạo ra kết quả mới, tức

là chuyển hóa những kinh nghiệm đó thành sản phẩm của bản thân

Trong dạy học tích hợp, người học được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn, và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng Từ đó, người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp thực hành Như vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành

Hoạt động nào cũng cần có kiểm soát, trong dạy học cũng vậy, người dạy cũng cần có sự kiểm soát, củng cố những nhận thức đúng, uốn nắn những nhận thức chưa đúng.Việc kiểm soát sự thực hiện qua thông tin, tự đánh giá, điều chỉnh.Việc đánh giá và xác định các năng lực phải theo các quan điểm là người học phải thực hành được các công việc giống như người công nhân thực hiện trong thực tế Việc đánh giá riêng từng người khi họ hoàn thành công việc, đánh giá không phải là đem so sánh người học này với người học khác mà đánh giá dựa trên tiêu chuẩn nghề

1.1.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp là một trong những phương pháp dạy học phát huy khả năng học tập tích cực của học sinh Học sinh cần huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống; thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới;

Trang 15

phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống

Có những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích hợp đó là:

- Việc thiết lập các mối quan hệ theo một logic nhất định những kiến thức, kĩ năng khác nhau để thực hiện một hoạt động phức hợp

- Lựa chọn thông tin, kiến thức, kĩ năng cần cho học sinh thực hiện được các hoạt động thiết thực trong các tình huống học tập, đời sống hàng ngày, làm cho học sinh hòa nhập vào thế giới cuộc sống; làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt

- Nhà trường không đặt ưu tiên truyền đạt kiến thức, thông tin đơn lẻ, mà phải hình thành ở học sinh năng lực tìm kiếm, quản lí, tổ chức sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong tình huống có ý nghĩa

- Cùng với đó, khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kĩ năng rời rạc làm cho con người trở nên"mù chữ chức năng", nghĩa là

có thể được nhồi nhét nhiều thông tin, nhưng không dùng được

Như vậy, dạy học tích hợp là cách giảm tải kiến thức không thực sự

có giá trị sử dụng, để có điều kiện tăng tải kiến thức có ích Để lựa chọn nội dung kiến thức đưa vào chương trình các môn học, trước hết phải trả lời kiến thức nào cần và có thể làm cho học sinh biết huy động vào các tình huống có ý nghĩa Nhờ vậy mà học sinh được bổ sung tri thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau

1.1.2.3 So sánh phương pháp dạy học tích cực và phương pháp dạy học tích hợp

Trang 16

* Khác nhau

- Phương pháp dạy học tích cực thiên về tổ chức hoạt động dạy học, thiết kế kế hoạch tiết học sao cho sinh động, lôi cuốn hứng thú của học sinh Phương pháp dạy học tích hợp thiên về xây dựng kế hoạch bài học sao cho kết hợp nhiều mảng kiến thức nhằm đáp ứng nhu cầu khám phá tri thức của học sinh

- Phương pháp dạy học tích cực chú trọng rèn luyện kĩ năng tự học Phương pháp dạy học tích hợp chú trọng khả năng vận dụng, tổng hợp tri thức

và vận dụng một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn

- Phương pháp dạy học tích cực chú trọng hơn về việc khơi dậy hứng thú học tập của học sinh Phương pháp dạy học tích hợp chú trọng đến việc cung cấp nguồn tri thức phong phú, đa dạng

1.1.3 Phương pháp dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt lớp 3

1.1.3.1 Vị trí, vai trò của dạy học tiếng Việt ở Tiểu học

Tiếng Việt có vị trí hết sức quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con

người Có ngôn ngữ mới có khả năng giao tiếp và tư duy Theo Lênin: “ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” Ngôn ngữ là

phương tiện biểu hiện tình cảm, tâm trạng, chức năng quan trọng của ngôn ngữ

đã quy định sự cần thiết nghiên cứu sâu sắc tiếng mẹ đẻ trong nhà trường

Tiếng mẹ đẻ đóng vai trò to lớn trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng của con người và trong việc thực hiện nhiệm vụ của hệ thống giáo dục quốc dân Nắm ngôn ngữ, lời nói là điều kiện thiết yếu của việc hình thành tính tích cực xã hội của nhân cách Không có một phạm vi hoạt động xã hội nào

mà không đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về tiếng mẹ đẻ Năng lực ngôn ngữ của một người nào đó là tấm gương phản chiếu trình độ nuôi dưỡng tâm hồn của anh ta Chính vì vậy, tiếng mẹ đẻ là môn học trung tâm ở trường Tiểu học Trong nhà trường phổ thông, tiếng Việt vừa là đối tượng nghiên cứu vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác Bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là điều kiện và phương tiện cần thiết để học sinh rèn luyện và học tập Nói cách khác trẻ em muốn nắm kĩ năng học tập, trước hết cần nghiên

Trang 17

cứư tiếng mẹ đẻ của mình, chìa khoá của nhận thức, của học vấn, của sự phát triển trí tuệ đúng đắn Thiếu ngôn ngữ, con người không thể tham gia vào cuộc sông xã hội hiện đại, vào sản xuất hiện đại, vào sự phát triển văn hoá, nghệ thuật

Như vậy, sở dĩ môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt giữa các môn học khác trong nhà trường là vì, một mặt về ngôn ngữ như là một phương tiện thông báo, về những đặc điểm của tiếng mẹ đẻ - hệ thống âm thanh, cấu tạo

từ, cấu trúc ngữ pháp, khả năng biểu cảm của ngôn ngữ …Mặt khác, những kĩ năng, kĩ xảo mà nó hình thành trong giờ học tiếng mẹ đẻ là những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống của người học sinh

1.1.3.2 Mục tiêu môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

Mục tiêu của môn Tiếng Việt Tiểu học được nêu rõ:

Về kĩ năng: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng

Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn trực tiếp với việc học Tiếng Việt nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng tiếng Việt

để học tập ở tiểu học và các bậc học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản: phân tích, tổng hợp, phán đoán…

Về kiến thức: Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con

người, về văn hoá và văn học của Việt Nam và nước ngoài

Về thái độ: Góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp , cái thiện, lẽ phải…,

hình thành lòng yêu mến, thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Từ

đó góp phần hình thành nhân cách của người Việt Nam: có tri thức, có lối sống lành mạnh và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này

1.1.3.3 Cấu trúc chương trình dạy học tích hợp (đối sánh giữa chương trình 2000 và chương trình VNEN)

Mục tiêu môn Tiếng Việt ở lớp 3

Trang 18

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) đề học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi

- Thông qua việc dạy - học môn Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết về tự nhiên, xã hội, con người

- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam

 Tới trường (Trường học)

 Cộng đồng (Sống với những người xung quanh)

Trang 19

Như vậy, so với lớp 2 nội dung các chủ điểm ở lớp 3 đã được mở rộng

và nâng cao hơn đòi hỏi độ khái quát và tổng hợp kiến thức của học sinh nhiều hơn

1.1.3.4 Tổ chức quy trình dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt lớp 3 Quy trình xây dựng bài học tích hợp

Bước 1: Lựa chọn nội dung tích hợp

- Giáo viên cần rà soát, đối sánh chuẩn kiến thức, kĩ năng, chương trình các môn học để tìm kiếm và chọn lọc các bài học, các nội dung học vấn có liên quan, từ đó xây dựng thành bài học tích hợp

- Đòi hỏi người giáo viên vừa phải am tường về chuyên môn phải có ít nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp

- Giáo viên cần liên kết các bài học, các nội dung đã được chọn lựa để tích hợp các sự kiện, hiện tượng trong thực tiễn cuộc sống xung quanh học sinh, từ đó hình thành nên ý tưởng trung tâm về bài học tích hợp

Bước 2: Xác định mục tiêu dạy học

Giáo viên cần xuất phát từ các nội dung được chọn lựa để tích hợp và

từ ý tưởng trung tâm để thiết kế kê hoạch bài học tích hợp Những mục tiêu cần được bao quát nhiều lĩnh vực học tập, nhiều môn khoa học khác nhau Cần chú trọng các mục tiêu hình thành và phát triển kĩ năng sống, năng lực hoạt động xã hội cho học sinh

Khi thiết kế mục tiêu cho bài học tích hợp, giáo viên cần lưu ý:

- Không nên đưa quá nhiều mục tiêu về kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau mà cần chắt lọc các mục tiêu trọng tâm nhất

- Nên thể hiện rõ nội dung đặc thù của bài học và mục tiêu tích hợp trong bài học

- Tập trung vào các mục tiêu phát triển năng lực cho người học, nhất là các mục tiêu về kĩ năng sống, năng lực xã hội

Bước 3: Xác định mục tiêu của bài học/chuyên đề tích hợp, bao gồm:

- Kiến thức

- Kĩ năng

Trang 20

- Thái độ

- Định hướng năng lực

Bước 4: Dự kiến thời lượng (số tiết) và thời điểm dạy học

- Xác định thời lượng cho bài học tích hợp là việc rất cần thiết Bởi lẽ,

dự kiến thời lượng cho hoạt động học tập của học sinh một cách phù hợp cũng có nghĩa là giáo viên đã lượng hóa được các hoạt động tương ứng với khả năng thực hiện của học sinh

- Trong thực tiễn triển khai hoạt động, không nên gò bó thời lượng dự kiến một cách cứng nhắc mà cần linh hoạt điều chỉnh thời lượng này cho phù hợp với điều kiện thực tế

Việc dự kiến thời lượng của bài học cần căn cứ vào những yếu tố sau:

- Năng lực thực tế của học sinh

- Mục tiêu và nội dung bài học tích hợp

- Điều kiện dạy học thực tế

- Cũng cần xác định thời điểm thực hiện bài học tích hợp

Bước 5: Xây dựng nội dung bài học tích hợp

- Hướng dẫn học sinh làm quen dần với việc chuẩn bị tài liệu, nghiên cứu bài học, sưu tầm và xử lí thông tin liên quan đến bài học

- Hình thành cho học sinh một số kĩ năng nghiên cứu ban đầu như: dự đoán, phỏng vấn, quan sát, phân tích, để việc chuẩn bị ngày càng tốt hơn

- Kết hợp với gia đình học sinh để trợ giúp tốt nhất cho hoạt động chuẩn bị của các em

- Cùng học sinh dành ra một khoảng thời gian để nghiên cứu trước mỗi bài học tích hợp

Bước 6: Xây dựng kế hoạch bài học tích hợp

Để thiết kế được các hoạt động học tập thú vị và hiệu quả, giáo viên phải kết hợp được nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, kết hợp tri thức, kĩ năng chuyên môn với vốn sống phong phú, biết “hoạt động hóa” các mục tiêu và nội dung dạy học

Khi thiết kế hoạt động học tập cho học sinh, giáo viên cần chú ý:

Trang 21

- “Trung thành” với mục tiêu dạy học đã xác định

- Bao quát những đặc điểm chung về sự phát triển lứa tuổi của học sinh, đồng thời chú ý tới đặc điểm riêng về tư duy, ngôn ngữ, kinh nghiệm sống của các em

- Đưa vào bài học những thông tin cốt lõi của môn học, đồng thời chú ý mối liên hệ giữa những mảng kiến thức liên quan đến nhau

- Chỉ dẫn cụ thể cho học sinh về phương thức và hoạt động, cách đánh giá hoạt động học tập hay sản phẩm của quá trình hoạt động

Hình thức tổ chức dạy học tích hợp

* Tích hợp trong nội bộ môn học (Intradisciplinary Approach)

Với tích hợp trong nội bộ môn học, các môn, các phần được học riêng Tích hợp được thực hiện thông qua việc loại bỏ những nội dung trùng lặp và khai thác sự hỗ trợ giữa các phân môn, giữa các phần trong môn học Trong môn học, tích hợp là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm trí trong một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức, kĩ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian cho người học Có thể tích hợp theo chiều ngang hoặc chiều dọc

Tích hợp chiều ngang là tích hợp các mảng kiến thức, kĩ năng trong môn học theo nguyên tắc đồng quy: tích hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc mạch/phân môn này với kiến thức, kĩ năng thuộc mạch/phân môn khác

Tích hợp chiều dọc là tích hợp môn đơn vị kiến thức, kĩ năng mới với những kiến thức, kĩ năng trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc) Cụ thể là: kiến thức, kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớp học dưới, cấp học dưới

* Tích hợp đa môn (Multidisciplinary Integration)

Tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học Trong tích hợp

đa môn, một đề tài có thể nghiên cứu theo nhiều môn học khác nhau, các môn liên quan với nhau có chung một định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi môn có một chương trình riêng Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức các “chuẩn” nhiều môn học xoay quanh một chủ đề/ đề

Trang 22

tài/ dự án, tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp những kiến thức của các môn học có liên quan

* Tích hợp liên môn (Interdisciplinary Integratine)

Tích hợp liên môn là phương án, trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học với hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt qua nhiều lớp học

* Tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration)

Trong cách tiếp cận tích hợp xuyên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề và quan tâm của người học Với tích hợp xuyên môn, học sinh có thể học và hình thành kiến thức, kĩ năng ở nhiều thời điểm và thời gian khác nhau, theo sự lựa chọn của người dạy hoặc người học Qua tích hợp xuyên môn, học sinh phát triển các kĩ năng sống khi họ áp dụng các kĩ năng môn học và liên môn vào ngữ cảnh thực tế của cuộc sống Hai phương pháp thường được sử dụng trong tích hợp xuyên môn là học theo

dự án (project-based learning) và thương lượng chương trình học (negotiating the curriculum)

Học theo dự án là phương pháp học tập trong đó giáo viên giao một

“dự án” cho người học, người học cần hợp tác với nhau để cùng thiết kế một chương trình hoạt động, cùng hoạt động và cùng đánh giá kết quả hoạt động Học theo dự án giúp người học làm chủ các hoạt động học tập của mình và phát triển kĩ năng lập chương trình, tự nhận thức, thương lượng, giải quyết vấn đề,

Thương lượng chương trình học là phương pháp học tập trong đó có

sự “thỏa thuận” giữa người dạy và người học, người học có quyền lựa chọn chương trình phù hợp với trình độ và sở thích của họ, thậm chí họ có quyền tham gia vào quá trình thiết kế chương trình dạy học Thương lượng chương trình học giúp người học tự tin và hứng thú hơn trong học tập, giúp người dạy chọn nội dung, học liệu và phương pháp giảng dạy phù hợp người học, giúp người quản lí thấy được chất lượng và hiệu quả của hoạt động đào tạo

Trang 23

1.1.3.5 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học tích hợp

Về ưu điểm

Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp trước hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm vào việc phát triển năng lực người học Tức là người học có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống, giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra một cách chủ động, độc lập, sáng tạo Như vậy, dạy học tích hợp giúp học sinh tích cực học tập và linh hoạt vận dụng các kiến thức lí thuyết vào thực hành

Dạy học theo quan điểm tích hợp tạo điều kiện để phát triển tri thức, kĩ năng tốt Theo quan điểm tích hợp, các quá trình học tập không tách rời cuộc sống hằng ngày mà được tiến hành trong mối liên hệ với các tình huống cụ thể Xu hướng tích hợp nhằm rèn luyện tư duy tổng hợp cho học sinh Đó cũng là con đường hình thành cho học sinh một cách nhìn nhận, khái quát vấn

đề tổng hợp nhất, giúp họ thấy được các kiến thức lĩnh hội được có quan hệ hữu cơ với nhau Từ đó tư duy của học sinh sẽ được nâng lên một bước phát triển mới Mối liên hệ giữa các kiến thức trong môn tích hợp là điều kiện đảm bảo cho học sinh có khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực đã có để giải quyết có hiệu quả những tình huống có vấn đề mới xuất hiện, những khó khăn mà các em bất ngờ gặp trong cuộc sống

Ngược lại, việc dạy học theo hướng biệt lập các môn học, các bộ phận của môn học rất dễ dẫn đến tư duy học sinh theo kiểu khép kín, nhìn nhận vấn

đề theo một chiều nhất định, không đặt các vấn đề có liên quan trong một chỉnh thể thống nhất

Môn học tích hợp cũng xác định rõ mục tiêu dạy học, phân biệt được những cái quan trọng và những cái ít quan trọng hơn bởi trong quá trình dạy học thì không phải tất cả các nhiệm vụ học tập đều được đặt ngang hàng với nhau Có một số quá trình dạy học là quan trọng vì chúng có ích, rất gần và thiết thực cho cuộc sống hằng ngày, ngoài ra chúng còn là cơ sở của những giai đoạn học tập tiếp theo Dạy học tích hợp cũng nhấn mạnh đến việc dành

Trang 24

thời gian cho quá trình học tập mang tính nâng cao Điều này giúp học sinh có năng lực có điều kiện phát huy hết khả năng của mình

Việc dạy học tích hợp giúp tránh trùng lặp kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã được học, từ đó tránh được sự nhàm chán, ngược lại còn tạo ra hứng thú và nhu cầu học tập của học sinh, đây cũng chính là việc tạo ra động cơ học tập cho học sinh

Dạy học tích hợp còn xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học nhằm đảm bảo cho mỗi học sinh có khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết nhanh, linh hoạt các tình huống mới xuất hiện

Các kiến thức tích hợp thường gắn với kinh nghiệm sống của học sinh,

do đó sự phát triển các khái niệm khoa học không cô lập mà phát triển tuần tự phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý học sinh Ở những môn học tích hợp học sinh còn có điều kiện để phát triển những kĩ năng xuyên môn

Về nhược điểm

Tuy có những ưu điểm vượt trội như trên song dạy học tích hợp cũng

có một vài nhược điểm mà chủ yếu là do nó còn mới mẻ, gây ra khó khăn trong việc ứng dụng vào dạy học cũng như việc hiểu không đầy đủ về xu hướng dạy học này Cụ thể như sau:

Khi tiến hành dạy học tích hợp thì người thiết kế kế hoạch giảng dạy, phải có suy nghĩ về chương trình, về SGK một cách đầy đủ, phải có cái nhìn tổng hợp để tích hợp đúng mức nội dung, kĩ năng, có hiểu biết về cách đánh giá kết quả học tập của học sinh

Đội ngũ giáo viên còn chưa được chuẩn bị đầy đủ về cả lí thuyết và kĩ năng giảng dạy, do đó cần tác động vào việc đào tạo giáo viên để họ có thể đáp ứng các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra

Ngoài ra, vẫn còn có nhiều những ý kiến khác nhau về việc giảng dạy theo quan điểm tích hợp, có ý kiến cho rằng kiến thức và kĩ năng bộ môn không được sâu sắc như khi học các môn riêng rẽ

Trang 25

1.2 Cơ sở thực tiễn của phương pháp dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3

1.2.1 Nội dung khảo sát

Trong các môn học ở tiểu học, môn Tiếng Việt có vị trí hết sức quan trọng bởi vì các tri thức của bộ môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những tri thức về nghe, nói, đọc, viết có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thực tiễn Không chỉ vậy, môn học này còn giúp hình thành cho học sinh những kĩ năng

sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, mở rộng vốn từ ngữ đồng thời bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp với gia đình, nhà trường và đất nước

Để khảo sát thực trạng về việc thiết kế kế hoạch dạy học tích hợp trong

môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học, chúng tôi đã tiến hành thăm dò ý kiến của 25 Giáo viên dạy Tiếng Việt ở một số trường Tiểu học trên địa bàn huyện Phù Ninh như: Trường Tiểu học Giấy Bãi Bằng (Dạy học theo chương trình VNEN), trường Tiểu học Phù Lỗ (Dạy học theo chương trình VNEN), trường Tiểu học Phù Ninh (Dạy theo chương trình 2000) Việc khảo sát tập trung vào các vấn đề chính sau:

- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về dạy học tích hợp và tác dụng, tầm quan trọng của việc dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt

- Cách thức tổ chức dạy học tích hợp môn Tiếng Việt giáo viên đã làm

- Vấn đề lập kế hoạch bài học của giáo viên theo quan điểm tích hợp

- Khảo sát khó khăn của giáo viên khi lập kế hoạch dạy học tích hợp Trong đó chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến kĩ càng đối với các giáo viên dạy môn Tiếng Việt ở lớp 3 của các trường tiểu học trên Chúng tôi tiến hành dùng phiếu điều tra giáo dục đối với giáo viên dạy bộ môn Tiếng Việt và phiếu điều tra học sinh lớp 3A7 (trường Tiểu học Giấy Bãi Bằng), lớp 3B (trường Tiểu học Phù Lỗ) và học sinh lớp 3C (trường Tiểu học Phù Ninh) Việc khảo sát tiến hành khách quan nhằm thu được kết quả chính xác nhất làm cơ sở cho những nghiên cứu của đề tài

1.2.2 Kết quả khảo sát

Từ kết quả thăm dò chúng tôi nhận thấy:

Trang 26

- Về vấn đề nhận thức của giáo viên về dạy học tích hợp và tác dụng, tầm quan trọng của việc dạy học tích hợp: Đa số giáo viên được khảo sát (86,5%) đã có hiểu biết về dạy học tích hợp, về cơ sở khoa học của dạy học tích hợp Số giáo viên này cũng đã nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của dạy học tích hợp trong phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn cho học sinh

- Về cách thức tổ chức dạy học tích hợp giáo viên đã làm: Nhiều giáo viên được khảo sát (75%) trả lời việc tích hợp trong môn Tiếng Việt cũng có sử dụng nhưng ít thường chỉ có ở những tiết ôn tập, hoạt động ngoại khóa và chủ yếu theo kiểu lồng ghép

- Về việc lập kế hoạch bài học dạy môn Tiếng Việt của giáo viên theo quan điểm tích hợp: Hầu hết giáo viên được khảo sát (70%) trả lời chưa bao giờ xây dựng kế hoạch bài học trong môn Tiếng Việt theo quan điểm tích hợp Số giáo viên này vẫn sử dụng kế hoạch bài học môn Tiếng Việt truyền thống

- Về những khó khăn của giáo viên khi lập kế hoạch dạy học tích hợp: Đối với những giáo viên đã xây dựng kế hoạch bài học tích hợp thì giáo viên gặp những khó khăn như: việc đưa kiến thức tích hợp vào hoạt động dạy học dễ dẫn tới quá tải trong giờ học, khó khăn trong đổi mới tổ chức dạy học, đổi mới kỹ thuật dạy học, đổi mới phương pháp dạy học,

Như vậy, ta thấy hầu hết các giáo viên cũng đã nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của dạy học tích hợp trong phát triển năng lực phối kết hợp kiến thức giải quyết vấn đề trong thực tiễn cho học sinh Việc dạy học tích hợp ít sử dụng thường chỉ có ở những tiết luyện tập và hoạt động ngoại khóa, cho nên học sinh chưa đạt được một số năng lực cần thiết, chưa gây được húng thú học tập cho học sinh, chưa làm cho quá trình học tập gắn với cuộc sống Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch bài học theo quan điểm tích hợp giáo viên còn gặp phải nhiều khó khăn

Trang 27

1.2.3 Đánh giá thực trạng khảo sát

Việc thiết kế kế hoạch dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt ở lớp 3 ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Phù Ninh đã được giáo viên tiếp cận nhưng ở mức độ thấp Phần lớn giáo viên lựa chọn mức độ tích hợp “liên môn” hoặc tích hợp “nội môn” Việc tổ chức dạy hoc tích hợp còn chưa triệt

để, giáo viên xây dựng kế hoạch bài học vẫn còn sơ sài

Trang 28

Phương pháp dạy học theo hướng tích hợp là lồng ghép nội dung tích hợp vào các bài dạy, tùy vào từng nội dung môn học mà lồng ghép tích hợp ở các mức độ như liên hệ, lồng ghép bộ phận, toàn phần, mà từ đó giáo dục và rèn kĩ năng sống, giá trị sống cho học sinh Việc áp dụng dạy học tích hợp gắn với mục tiêu, tinh thần cơ bản của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học giúp người giáo viên khai thác tối đa và phát triển những phẩm chất, năng lực của học sinh với những kĩ năng cần thiết trong học tập và cuộc sống

Vấn đề thiết kế kế hoạch bài học theo quan điểm tích hợp ở trường Tiểu học đã được giáo viên tiếp nhận Tuy nhiên, việc xây dựng kế hoạch bài học tích hợp vẫn còn nhiều hạn chế, việc tổ chức dạy học tích hợp còn gặp nhiều khó khăn

Trang 29

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP TRONG

MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 3

2.1 Cơ sở xây dựng phương pháp dạy học tích hợp

2.1.1 Dựa trên nguyên tắc xây dựng phương pháp dạy học tích hợp

2.1.1.1 Đảm bảo tính khoa học và tiếp cận những thành tựu của khoa học

kĩ thuật, đông thời vừa sức với học sinh

Xã hội hiện đại là một xã hội đầy biến động, phát triển nhanh chóng, luôn luôn thay đổi Việc xây dựng bài học dựa trên chủ đề tích hợp đòi hỏi phải đảm bảo tính khoa học, tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học,

kĩ thuật nhưng phải phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh cũng như kế hoạch bài học

Để làm được điều này, các bài học dựa trên chủ đề tích hợp cần phải tinh giản những kiến thức hàn lâm, tăng cường những kiến thức thực tiễn, tạo điều kiện để học sinh trải nghiệm và khám phá tri thức từ đó hình thành những kĩ năng cần thiết

2.1.1.2 Tăng tính hành dụng, tính thực tiễn, quan tâm tới những vấn đề mang tính xã hội tại địa phương

Mọi khoa học đều là kết quả nhận thức của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn Vì thế, những nội dung bài học dựa trên nội dung tích hợp lựa chọn cần tăng cường tính hành dụng, tính thực tiễn nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng tri thức vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức

độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, góp phần đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống

Cần quan tâm đến những vấn đề xã hội tại địa phương nhằm giúp học sinh có những hiểu biết nhất định về nơi các em đang sinh sống, từ đó chuẩn

bị cho học sinh tâm thế sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương

2.1.1.3 Phù hợp chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng của các môn học tích hợp; đảm bảo mối quan hệ giữa các bài học tích hợp

Trang 30

* Phù hợp chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng của các môn học tích hợp Xây dựng bài học tích hợp không phải là việc xếp gộp, đặt kề các bài học, các nội dung cạnh nhau trong chương trình một cách cơ học, mà thường chọn lựa và lồng ghép những nội dung có liên quan giữa các bài để tạo thành một nội dung dạy học mới Vì thế, việc xây dựng bài học tích hợp chính là việc xây dựng bài học tích hợp chính là việc cấu trúc lại toàn bộ các nội dung dạy học từ một môn hay nhiều môn học khác nhau nhưng có mối liên hệ nhất định để tạo thành một bài học mới (với các mục tiêu mới,hoạt động mới,phương pháp,hình thức tổ chức dạy học mới ) Quá trình tái cấu trúc nội dung dạy học này nếu không được giám sát chặt chẽ bởi chuẩn kiến thức, kĩ năng của các môn học thì dễ dẫn đến tình trạng sa đà vào những nội dung không trọng tâm, hoặc xa rời mục tiêu giáo dục

Hơn nữa, chuẩn kiến thức và kĩ năng của môn học có tính khái quát cao Ở đó, chỉ mô tả những yêu cầu hay các đích trọng tâm mà học sinh cần đạt được về một lĩnh vực khoa học hay lĩnh vực giáo dục ở độ tuổi nhất định.Chính vì thế, sự liên quan giữa các môn học ở bình diện này sẽ bộc lộ rõ nhất, nó giúp cho người thiết kế bài học dễ tìm ra mục đích chung cho từng bài học hoặc điểm tương đồng giữa các nội dung học từ đó tích hợp thành bài học mới

* Đảm bảo mối liên hê giữa các bài học tích hợp

Để tích hợp được các bài học thuộc một môn học hay thuộc nhiều môn học khác nhau thì cần tôn trọng và khai thác mối liên hệ giữa các bài học ấy Mối liên hệ này có thể được bộc lộ một cách tường minh hoặc chỉ thể hiện ở một vài khía cạnh Mức độ liên quan đến mục tiêu hay nội dung các bai học nhiều hay ít sẽ quyết định mục tiêu tích hợp sâu hay nông giữa các bài học đó

* Lựa chọn bài học trong một môn học nhất định để làm " xương sống" của bài học tích hợp

Khi xây dựng bài học tích hợp, cần lựa chọn môt bài học cụ thể thuộc môn học nào đó làm trung tâm Các ý tưởng để thiết kế các bài học tích hợp

Trang 31

không nằm hoàn toàn trong một môn học mà mang đậm tính chất của một vấn

đề có tính chất xã hội hay các vấn đề khác không có nhiều liên hệ tới môn học

cụ thể Khi thiết kế bài hoc tích hợp loại này, giáo viên tìm ý tưởng từ chính những sự kiện hay một hiện tượng xung quanh thế giới thực của học sinh

2.1.2 Dựa trên đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học

Tri giác của học sinh thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn

để phát triển Vì vậy, giáo viên Tiểu học có vai trò rất lớn, giáo viên cần tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của học sinh để tri giác một đối tượng nào

đó nhằm phát hiện ra bản chất của sự vật và hiện tượng

Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, dựa

vào đặc điểm bên ngoài với những thao tác cụ thể Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát Việc học Tiếng Việt sẽ giúp các em phát triển tư suy ngôn ngữ Đối với học sinh lớp 3, các em đã dần quen với quá trình rèn luyện tại trường tiểu học, việc phát triển tư duy có điều kiện và tiềm năng thực hiện tốt hơn lớp đầu cấp bởi khả năng hành động hướng đích của các em tốt hơn và tính khái quát trong tư duy của học sinh đạt được ở mức độ cao hơn Trí tưởng tượng, sự chú ý, ghi nhớ của học sinh lớp 3 bước đầu đã giảm tính tản mạn, đạt được sự bền vững tốt hơn so với lớp đầu cấp Tưởng tượng tái tạo từng bước hoàn thiện Nhu cầu nhận thức của các em đã phát triển khá rõ nét: không chỉ thiên về từ nhu cầu tìm hiểu những sự vật hiện tượng riêng lẻ mà thiên nhiều hơn tới nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật và các mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật hiện tượng, phát triển trí tuệ

Như vậy, đặc điểm và nhu cầu nhận thức, nhu cầu và trách nhiệm bản thân

về thực hiện nhiệm vụ học tập, đánh giá của học sinh lớp cuối cấp cho thấy: khả năng thực hiện việc tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng với các hình thức khác nhau của học sinh phù hợp và có điều kiện thuận lợi hơn trước Bởi thế, việc rèn luyện phương pháp học tập, phát triển năng lực, sở trường, học sinh có thể thực hiện một cách hiệu quả theo mục tiêu giáo dục nếu có những tác động khoa học đúng hướng đối với vấn đề kiểm tra, đánh giá đối với học sinh

Trang 32

Tri giác của học sinh thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn

để phát triển Đây chính là một yêu cầu quan trọng trong dạy học tích hơp Các bài học tích hợp đòi hỏi phải gắn hoạt động học tập trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống, làm cho học sinh có nhu cầu học tập để giải đáp những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của bản thân và cộng đồng

Trí tưởng tượng, sự chú ý, ghi nhớ của học sinh các lớp cuối cấp tiểu học

đã giảm tính tản mạn, đạt được sự bền vững tốt hơn so với lớp đầu cấp Tưởng tượng tái tạo từng bước hoàn thiện Điều đó giúp cho việc ghi nhớ, phối hợp những kiến thức, kĩ năng trên nhiều lĩnh vực khác nhau của học sinh để giải quyết vấn đề mới mẻ mà bài học nêu ra

Các bài dạy tích hợp góp phần làm cho hoạt động dạy gắn liền với thực tiễn cuộc sống, đưa ra những tình huống mới mẻ, đa dạng của cuộc sống hiện đại, làm cho học sinh có nhu cầu học tập, biết vận dụng kiến thức nhiều mặt có liên quan để giải đáp được những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của bản thân

- Dạy học lồng ghép nội dung chủ đề Tiếng Việt theo tuần với nội dung

tự nhiên - xã hội, lịch sử - địa lí, đạo đức, nhằm tăng tính tích cực học tập cho học sinh đồng thời tạo tính sinh động, hấp dẫn cho các tiết học

- Dự kiến thời gian giảng dạy: 1 tiết/tuần ( các tiết ôn tập, luyện tập tổng hợp kiến thức)

Trang 33

Dạy học theo chủ đề là phương pháp giáo viên dựa trên một chủ đề nhất định trong môn học để tổ chức hoạt động cho học sinh Việc dạy học theo chủ đề giúp học sinh tăng cường khả năng tìm tòi, khám phá tri thức xoay quanh chủ đề đã cho Nhờ vậy học sinh có thể tích lũy tri thức ở nhiều khía cạnh và vấn đề đặt ra được nhìn nhận một cách toàn diện nhất

Bước 2: Xác định những nội dung liên quan giữa các đơn vị bài học, cấu trúc lại chương trình

Ở những bài học cùng chủ đề, từ yêu cầu kiến thức (theo chuẩn), giáo viên cần xác định giữa các tiết đó liên quan ở những nội dung cụ thể nào Khi dạy ở tiết trước, giáo viên định hình những nội dung nào để học sinh chuẩn bị cho những tiết sau Khi thực hiện dạy những tiết sau, giáo viên cho học sinh vận dụng những gì từ tiết trước để học sinh tìm hiểu cho bài mới Và từ bài dạy tiết sau, các em sẽ hệ thống, củng cố lại được kiến thức nào đã được nắm bắt từ những tiết trước Tất cả những nội dung này được thể hiện cụ thể ở hệ thống câu hỏi, những vấn đề đặt ra cho học sinh thực hiện trong nội dung chuẩn bị ở nhà, trong tiết học

Bước 3: Định hướng thời lượng cho kiến thức sẽ thực hiện

Nếu chỉ dừng lại ở nội dung (mối liên quan giữa những bài học mà ta soạn theo chủ đề) thì chưa đủ Bởi nếu ta không dạy theo hướng này thì bản thân những bài ấy đã có mối liên quan vì chương trình đang dạy học hiện nay được cấu trúc theo hướng đồng tâm - một số bài, thể loại,… được lặp lại, nâng cao Dù ít hay nhiều thầy cô đều thực hiện tích hợp kiến thức giữa các

Trang 34

bài có cùng chủ đề đó (Nhưng đôi lúc chúng ta thực hiện thiếu chủ động, mang tính tự phát)

Bước 4: Soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạy học, phương tiện dạy học Đây là bước quan trọng và vô cùng cần thiết Bởi lẽ giáo viên cần phải

dự kiến hướng thiết kế các hoạt động, vận dụng các phương tiện dạy học: kênh hình, kênh chữ, công nghệ thông tin nhằm giúp bài dạy tích hợp chủ đề đạt được mục tiêu và có hiệu quả sư phạm cao

Bước 5: Tổ chức kiểm tra đánh giá (Theo tài liệu, tổ chưa thực hiện hoạt động này Mong nhận được ý kiến góp ý của các trường, ý kiến chỉ đạo của tổ nghiệp vụ)

Dạy học chủ đề là mô hình dạy học có nhiều ưu điểm, vừa góp phần thực hiện được mục tiêu giáo dục – đào tạo những con người tích cực, năng động, vừa thực hiện được chủ trương giảm tải, tránh được sự trùng lặp gây nhàm chán cho người học, giúp học sinh có khả năng tổng hợp lượng kiến thức đã học, đảm bảo được thời gian tổ chức dạy học của giáo viên Việc dạy học theo chủ đề giúp tăng hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em khám phá tri thức theo năng lực và sở thích của bản thân Đồng thời các em sẽ có cái nhìn toàn diện về vấn đề, tránh việc xuôi chiều, phiến diện

Ví dụ: Trong chủ đề tuần 30 về Bạn bè năm châu giáo viên có thể xây

dựng kế hoạch dạy học tích hợp Kiến thức chính truyền đạt tới học sinh đó là nói về bạn bè năm châu ( các quốc gia trên thế giới ) khơi gợi niềm ham thích tìm hiểu, khám phá trong đó ta có thể lồng ghép tri thức về viết tên nước ngoài, cách đọc tên nước ngoài Đồng thời bổ sung tri thức về nét đẹp, phong tục riêng của các nước trên thế giới Dạy học theo góc và vận dụng phương pháp thảo luận nhóm phát huy được hiệu quả của hoạt động dạy học theo chủ

đề, với mỗi chủ đề học sinh có thể tham gia tìm hiểu thông tin ở các góc trong không gian lớp sẽ giúp cho bài học được khắc sâu thêm

Trang 35

Dự kiến thiết kế lớp học:

Trích đoạn thiết kế bài học tuần 30 chủ đề "Bạn bè năm châu":

Hoạt động 1: Nêu chủ đề bài học và

giới thiệu các nội dung tìm hiểu trong

chủ đề

- Chủ đề trong bài học hôm nay: "Bạn

bè năm châu"

- Giáo viên đặt câu hỏi: Em biết

những châu lục nào trên thế giới?

- Để hiểu hơn về các châu lục, con

người và nét văn hóa nơi đây cả lớp

tiến hành quan sát và ghi chép thông

qua kênh chữ, kênh hình được bố trí

tại các góc lớp học

- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm,

phân công nhóm trưởng và thư kí

(nhóm trưởng phân công công việc

cho thành viên và tổng hợp ý kiến

- Học sinh lắng nghe

- Châu Á, Châu Âu, Châu Mĩ, Châu Phi, Châu Đại Dương

- Học sinh tiến hành

Bản đồ các quốc gia trên

thế giới - Quả địa cầu

 HS quan sát về nhận

biết vị trí các châu lục

 HS ghi chép tên

Băng hình về những hoạt động sinh hoạt hay nét văn hóa đặc trưng của mỗi châu lục

Trang 36

chung; thư kí ghi chép)

- Giáo viên phát giấy khổ lớn Cả

nhóm làm việc theo hình thức "khăn

trải bàn" và tổng hợp ý kiến

- 4 nhóm thảo luận và tìm thông tin

về các vấn đề sau:

+ Nêu một số quốc gia ở mỗi châu lục

+ Đặc điểm thiên nhiên và con người

+ Nét văn hóa đặc trưng ở châu lục đó

=> Tích hợp với bộ môn địa lí (địa lí

+ Thể lệ trò chơi như sau: Với những

kiến thức em vừa được xem và những

hiểu biết của bản than, hãy đóng vai

là một hướng dẫn viên du lịch để giới

thiệu với mọi người về một châu lục

- Giáo viên nhận xét về cách trình

bày, nội dung thuyết trình giới thiệu

về châu lục của học sinh

- Học sinh tiến hành thảo luận theo nhóm và đưa ra ý kiến của cá nhân

- Đại diện nhóm lên trình bày kết quả của nhóm

Trang 37

Như vậy, thông qua hoạt động dạy học tích hợp chủ đề, học sinh được cung cấp những tri thức về nhiều lĩnh vực xoay quanh chủ đề của bài

học Qua bài học về chủ đề Bạn bè năm châu có thể bổ sung tri thức về

Tiếng Việt (cách đọc và viết đúng những tên riêng nước ngoài) và Địa lí(tên các châu lục trên thế giới và những đặc điểm riêng của châu lục đó về thiên nhiên cũng như con người) Ngoài ra, tiết học còn rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm việc nhóm, trình bày và bày tỏ ý kiến cho học sinh Mỗi tiết dạy tích hợp không chỉ cung cấp them cho các em về mặt tri thức mà còn góp phần rèn them về mặt kĩ năng và thái độ học tập Nhờ đó, mục tiêu bài học đạt hiệu quả rõ rệt

2.2.1.2 Dạy học tình huống

Trong một xã hội phát triển nhanh, cạnh tranh gay gắt, trong một xã hội chỉ dành chỗ tốt đẹp hơn cho những cá thể, tập thể có sự sáng tạo, thì phát hiện sớm và giải quyết những tình huống nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành đạt của cá nhân (và do đó là của tập thể) trong cuộc sống.Vì vậy, việc tâp dượt cho người học khả năng biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những tình huống là mục tiêu quan trọng của giáo dục

Nét đặc trưng chủ yếu của dạy học tình huống là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh nhận ra tình huống giáo viên cố ý tạo ra trong quá trình dạy học từ đó có phương án giải quyết cho phù hợp Sau khi giải quyết được học sinh sẽ thu nhận được những kiến thức mới, kĩ năng mới và thái độ tích cực

Yêu cầu của tình huống được thiết kế:

+ Tình huống phải chứa đựng thông tin đầy đủ, buộc người học phải sử dụng thông tin trong tình huống để giải quyết vấn đề

+ Tình huống đưa ra phải thể hiện những thách thức thực sự đối với người học, phải tạo ra khả năng để người học đưa ra nhiều giải pháp, để thu hút sự chú ý, kích thích tư duy về tình huống phải "có vấn đề"

+ Nội dung tình huống phải phù hợp với trình độ của người học Khi viết hoặc lựa chọn tình huống cần lưu ý tới trình độ và kinh nghiệm của người

Trang 38

học Không nên đưa ra tình huống phức tạp, cao hơn khả năng của người học

và ngược lại Điều này có thể làm cho người học nản lòng và không muốn tham gia học tập

Quy trình dạy học tình huống :

* Đưa ra tình huống

Đây là khâu quan trọng nhất Nhận ra mình phải giải quyết vấn đề gì coi như đã đi được nửa con đường Thao tác của người dạy gồm các bước:

- Tạo ra tình huống có vấn đề

- Nhận dạng vấn đề nảy sinh Nhận ra mâu thuẫn trong vấn đề này sinh

- Phát biểu rõ ràng những vấn đề cần giải quyết

* Giải quyết tình huống đặt ra:

- Đề xuất các phương án giải quyết Lựa chọn phương án

- Lập kế hoạch giải quyết

- Thực hiện kế hoạch giải quyết

* Kết luận về phương án giải quyết

- Thảo luận và đánh giá kết quả

- Khẳng định hay bác bỏ cách giải quyết

- Phát biểu kết luận

- Đề xuất vấn đề mới

Phương pháp dạy học tình huống được chia làm 4 mức độ:

* Mức 1: Người dạy đưa ra tình huống, nêu cách giải quyết Người học nêu cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của người dạy Người dạy đánh giá kết quả làm việc của học sinh

* Mức 2: Người dạy đặt vấn đề, gợi ý cho người học nêu cách giải quyết vấn đề Người học thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của người dạy khi cần Người học và người dạy cùng tham gia đánh giá

* Mức 3: Người dạy cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Người học phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các cahs giải quyết vấn đề Người học tự thực hiện cách giải quyết vấn đề Người dạy đánh giá kết quả học tập của học sinh

Trang 39

* Mức 4: Người đọc tự phát hiện tình huống có vấn đề, tự phát biểu được bài toán cần giải quyết, tự tìm ra cách giải quyết vấn đề, tự đánh giá việc giải quyết vấn đề Người dạy chỉ có ý kiến bổ sung

Các mức độ học sinh tham gia phát hiện và giải quyết vấn đề:

Mức Đặt vấn đề Nêu giả thuyết Lập kế hoạch Giải quyết

vấn đề Kết luận

1 Giáo viên Giáo viên Giáo viên Giáo viên Giáo viên

2 Giáo viên Giáo viên Giáo viên Giáo viên Giáo viên

&Học sinh

3 Giáo viên &

Học sinh

Giáo viên &

Học sinh Học sinh Học sinh

- Nêu câu hỏi Có thể thực hiện theo hai cách:

Câu hỏi mở: Yêu cầu người học tự đề ra biện pháp để giải quyết tình huống, giúp cho người học được chủ động hơn

Giáo viên cần dự kiến trước các biện pháp mà người học sẽ đề ra để có thể hướng dẫn thảo luận hoặc giải đáp với các biện pháp chưa đúng, chưa hợp lý Câu hỏi đóng: Đề ra sẵn một số biện pháp để người học chọn ra biện pháp đúng, thích hợp nhất sau khi đã nghiên cứu, suy nghĩ trên các dữ kiện của tình huống đã cho

Câu hỏi đóng thường được trình bày theo hai dạng:

- Đề ra các biện pháp và học sinh chọn 1 trong các biện pháp đó

- Câu hỏi đúng/sai

Dẫn dắt học sinh thảo luận (tổ, nhóm học tập)

Trang 40

Tổng kết (theo mục tiêu học tập)

Dạy học tình huống tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề Phương pháp dạy học này góp phần quan trọng trong việc phát triển năng lực cơ bản của người học đó là năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay găt thì phát hiện sớm và giải quyết những vấn đề được nảy sinh và trong thực tiễn đó là năng lực đảm bảo sự thành đạt trong cuộc sống

ở bất kì lĩnh vực nào

Kĩ năng và kiến thức được hình thành ở học sinh một cách sâu sắc và vững vàng Nhưng quan trọng hơn học sinh biết cách chủ động chiểm lĩnh kiến thức và đánh giá kết quả học tập của bản thân và người khác Thông qua

đó những năng lực cơ bản được hình thành trong đó có năng lực vận dụng tri thức và giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và sáng tạo

Ví dụ: Trong tuần 25, phần hoạt động cơ bản Em kể về ngày hội

- Tình huống đặt ra ở đây học sinh tìm hiểu và kể về một lễ hội mà em biết

- Giải quyết vấn đề bằng cách trình bày hiểu biết về một lễ hội thông qua gợi ý của giáo viên và những hiểu biết của bản thân

Trích đoạn thiết kế bài học:

- Giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu

và sưu tầm tư liệu về lễ hội

- Giáo viên chuẩn bị tranh, ảnh về

một số lễ hội dán ở các góc học tập

trong lớp để học sinh quan sát và tìm

hiểu

- Nếu giới thiệu về một lễ hội em có

thể giới thiệu những đặc điểm nào?

- Học sinh quan sát tranh và ghi chép lại các tài liệu để giới thiệu cho cả lớp

về lễ hội

- Thời gian, địa điểm, hoạt động của con người tại lễ hội đó, diễn biến tổ chức lễ hội

- Các học sinh bổ sung ý kiến cho nhau

Ngày đăng: 26/06/2022, 10:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[2]. Bộ Giáo dục đào tạo, dự án Việt - Bỉ (2010), Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Bộ Giáo dục đào tạo, dự án Việt - Bỉ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
[3]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Tài liệu hướng dẫn giáo viên môn Tiếng Việt lớp 2,3,4, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn giáo viên môn Tiếng Việt lớp 2,3,4
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Tiểu học (2014), Hướng dẫn học Tiếng Việt 3 (Sách thử nghiệm, Dự án Mô hình Trường học mới Việt Nam) tập 1A, 1B, 2A, 2B, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn học Tiếng Việt 3 (Sách thử nghiệm, Dự án Mô hình Trường học mới Việt Nam) tập 1A, 1B, 2A, 2B
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2014
[5]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, ban hành Quyết định số 404/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2015
[6]. Hoàng Hòa Bình (2014), Em làm bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 tập 1, 2, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Em làm bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 tập 1, 2
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
[7]. Nguyễn Văn Cường (2016), Lí luận dạy học hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2016
[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam (Nhiều tác giả) (2014), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khoá XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khoá XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam (Nhiều tác giả)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
[9]. Vũ Cao Đàm (2007), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[10]. Nguyễn Thị Hạnh (2008), Một số vấn đề về đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt ở Tiểu học,NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2008
[12]. Phó Đức Hòa (2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục Tiểu học
Tác giả: Phó Đức Hòa
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2011
[13]. Phó Đức Hòa (2012), Đánh giá trong Giáo dục Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong Giáo dục Tiểu học
Tác giả: Phó Đức Hòa
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2012
[14]. Trần Bá Hoành (2003), Dạy học lấy người học làm trung tâm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lấy người học làm trung tâm
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
[15]. Đặng Vũ Hoạt (2014), Giáo dục Tiểu học I, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Tiểu học I
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2014
[16]. Nguyễn Văn Huệ (2015), Giáo trình tâm lí học Tiểu học, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Văn Huệ
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2015
[17]. Nguyễn Văn Khôi (2013), Phát triển chương trình Giáo dục, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển chương trình Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2013
[18]. Lê Phương Nga (2011), Hoạt động giáo tiếp với dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo tiếp với dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2011
[19]. Lê Phương Nga (2011), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I,II, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I,II
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2011
[20]. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, NXB ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2005
[21]. Phan Thị Tình, Đinh Thị Thu Huyền, Trịnh Thị Phương Thảo, Lê Thị Tuyết Trinh, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Nguyễn Xuân Huy, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Hữu Hợp (2016), Vở ôn tập hè, lớp 1, Toán, Tiếng Việt, Giáo dục lối sống, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vở ôn tập hè, lớp 1, Toán, Tiếng Việt, Giáo dục lối sống
Tác giả: Phan Thị Tình, Đinh Thị Thu Huyền, Trịnh Thị Phương Thảo, Lê Thị Tuyết Trinh, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Nguyễn Xuân Huy, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Hữu Hợp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2016

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh về con người ở - Phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 trường tiểu học giấy bãi bằng   phù ninh   phú thọ
nh ảnh về con người ở (Trang 35)
Hình  thức  dạy  học  hợp  tác  nhấn  mạnh  vai  trò  của  chủ  thể  người  học  trong quá trình học tập.Trong dạy học hợp tác, giáo viên tổ chức cho học sinh - Phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 trường tiểu học giấy bãi bằng   phù ninh   phú thọ
nh thức dạy học hợp tác nhấn mạnh vai trò của chủ thể người học trong quá trình học tập.Trong dạy học hợp tác, giáo viên tổ chức cho học sinh (Trang 41)
Hình thức hoạt động theo kĩ thuật khăn trải bàn được tiến hành như sau: - Phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 trường tiểu học giấy bãi bằng   phù ninh   phú thọ
Hình th ức hoạt động theo kĩ thuật khăn trải bàn được tiến hành như sau: (Trang 59)
Hình  ảnh  so  sánh  trong  chủ  đề  tình - Phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 trường tiểu học giấy bãi bằng   phù ninh   phú thọ
nh ảnh so sánh trong chủ đề tình (Trang 64)
Bảng 3.1. Bảng thống kê kết quả kiểm tra đầu vào của lớp thực nghiệm và lớp  đối chứng - Phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 trường tiểu học giấy bãi bằng   phù ninh   phú thọ
Bảng 3.1. Bảng thống kê kết quả kiểm tra đầu vào của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Trang 71)
Bảng 3.3. Bảng so sánh kết quả đầu ra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng - Phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 trường tiểu học giấy bãi bằng   phù ninh   phú thọ
Bảng 3.3. Bảng so sánh kết quả đầu ra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm