Nguyên nhân thực trạng dạy học trong phân môn Tập đọc cho HS CPTTT học tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ...56 Tiểu kết chương 3...58 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐIỀU
Trang 1MỤC LỤC
Nội dung Số trang Mục lục
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
PHẦNMỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 mục đích nghiên cứu 3
3 nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 khách thể và đối tượng của đề tài 3
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
6 giả thuyết của đề tài 4
7 phương pháp nghiên cứu đề tài 4
7.1 phương pháp nghiên cứu lí luận .4
7.2 các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
8 Cấu trúc đề tài 7
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 8
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 8
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 10
1.2.1 Khái niệm trẻ CPTTT 10
1.2.2 Khái niệm phương pháp điều chỉnh 13
1.2.3 Khái niệm dạy học 13
1.2.4 Hoạt động dạy học 13
1.2.5 Khái niệm đọc 14
1.3 Một số vấn đề liên quan đến trẻ chậm phát triển trí tuệ 15
1.3.1 Phân loại trẻ khuyết tật chậm phát triển trí tuệ (CPTTT) 15
1.3.2 Những nguyên nhân gây CPTTT 17
Trang 21.3.3 Đặc trưng trẻ chậm phát triển trí tuệ ở Tiểu học 18
1.4 Một số vấn đề lí luận về giáo dục cho trẻ CPTTT ở Tiểu học 21
1.4.1 Mục tiêu giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ 21
1.4.2 Nội dung giáo dục 22
1.5 Điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ Chậm phát triển trí tuệ 22
1.5.1 Vị trí phân môn Tập đọc ở Tiểu học 22
1.5.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc Tiếng Việt ở Tiểu học 23
1.5.3 Một số phương pháp dạy học Tập đọc ở Tiểu học 24
1.5.4 Biện pháp dạy học trong phân môn Tập đọc 25
1.5.5 Các hình thức hoạt động dạy học Tập đọc 26
1.5.6 Mục đích điều chỉnh họat động dạy học Tập đọc cho trẻ CPTTT 31
1.5.7 Phương pháp điều chỉnh trong dạy học trẻ CPTTT 33
1.5.8 Các hình thức điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT 33
1.5.9 Ý nghĩa của việc điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT 34
Tiểu kết chương 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẬP ĐỌC CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC PHONG CHÂU - THỊ XÃ PHÚ THỌ 36
2.1 Khái quát quá trình khảo sát 36
2.2 Sơ lược về tiến trình nghiên cứu thực trạng của đề tài 37
2.2.1 Qúa trình khảo sát 37
2.2.2 Mục đích nghiên cứu 37
2.2.3 Các phương pháp khảo sát 37
2.2.4 Phân tích kết quả khảo sát 38
2.3 Đánh giá chung 54
Trang 3đọc cho trẻ CPTTT tại trường Tiểu học Phong Châu 54
2.3.2 Những thuận lợi của HS CPTTT khi học phân môn Tập đọc 55
2.3.3 Nguyên nhân thực trạng dạy học trong phân môn Tập đọc cho HS CPTTT học tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ 56
Tiểu kết chương 3 58
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 Đề xuất một số phương pháp điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ cpttt 59
3.2 Thử nghiệm tính phù hợp và khả thi của các biện pháp .65
3.2.1 Mục đích thử nghiệm 65
3.2.2 Nội dung thử nghiệm 66
3.2.3 Nhiệm vụ thử nghiệm 66
3.2.4 Đối tượng thử nghiệm 67
3.2.5 Quy trình tổ chức thử nghiệm 67
3.3 Tổ chức thử nghiệm 68
3.3.1 Thông tin chung về nhu cầu, khả năng, hạn chế của trẻ CPTTT 68
3.3.2 Thiết kế bài giảng thử nghiệm 71
3.4 Đánh giá kết quả thử nghiệm 91
3.4.1 Các tiêu chí đánh giá kết quả học Tập đọc của trẻ 91
3.4.2 Kết quả học tập của trẻ CPTTT khi tham gia các bài học có sử dụng các biện pháp điều chỉnh trong hoạt động dạy học 92
Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
PHỤ LỤC
Trang 5Trong quá trình học tập, trẻ khuyết tật nói chung và trẻ CPTTT nói riêng
dù học trong bất kỳ môn học nào cũng chậm hơn và khó khăn hơn so với trẻ bình thường Một mặt, do sự khiếm khuyết của cơ thể trẻ CPTTT Mặt khác, giáo viên(GV) giảng dạy vẫn còn thiếu kinh nghiệm khi thiết kế và thực hiện bài giảng Đa số GV chưa biết cách điều chỉnh mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học hợp lý dẫn đến công tác giáo dục trẻ CPTTT còn gặp nhiều hạn chế Từ đây, yêu cầu chúng ta phải có những điều chỉnh về hoạt động dạy học không chỉ trong các môn học nói chung mà ngay cả trong phân môn Tập Đọc Tiếng Việt nói riêng Nếu điều chỉnh hợp lý hoạt động dạy - học phù hợp với nhu cầu và khả năng nhận thức của trẻ CPTTT thì sẽ giúp các em tiếp thu và lĩnh hội được kiến thức môn học từ đó phát triển khả năng tư duy, giao tiếp và hoà nhập với cuộc sống một cách dễ dàng hơn
Yếu tố quyết định đến chất lượng học tập của học sinh Tiểu học khi học môn Tiếng Việt là những kiến thức và kĩ năng của phân môn Tập đọc Có thể nói, dạy môn Tiếng Việt trong đó dạy học Tập đọc cho học sinh CPTTT là điều kiện không thể thiếu nhằm tăng cường khả năng phục hồi trí tuệ cho trẻ Do vậy, vấn đề điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT ở bậc Tiểu học là một vấn đề vô cùng quan trọng, có tính thiết thực góp phần nâng
Trang 6cao chất lượng giáo dục, đào tạo một cách đồng bộ và mang tính chiến lược lâu dài
Tại trường tiểu học phong châu - thị xã phú thọ - tỉnh phú thọ là một ngôi trường có rất nhiều hoạt động và đạt được nhiều thành tích trong công tác dạy học nói chung và dạy trẻ khuyết tật nói riêng Trung bình mỗi năm trường
có khoảng 20 - 25 học sinh(HS) khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập, chiếm 3.9% - 4.0% số học sinh cả trường Trong đó chủ yếu là trẻ khuyết tật CPTTT Các em được tham gia học tập, chung sống hoà nhập với học sinh bình thường tuy được sự chỉ bảo dạy dỗ, tận tình của các thầy cô và gia đình nhưng các em gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, tư duy và giao tiếp ngay trong phân môn Tập đọc khả năng tham gia các hoạt động học tập là rất thấp so với HS bình thường bởi vậy, theo nghiên cứu ban đầu cho thấy chất lượng học tập môn tập đọc là không cao muốn khắc phục những hạn chế này, cần phải có những điều chỉnh trong hoạt động dạy học Tập đọc phù hợp với nhu cầu và khả năng của trẻ CPTTT Hiện nay, không ít các công trình nghiên cứu khoa học về các vấn đề liên quan đến trẻ khuyết tật bậc Tiểu học nhưng vấn đề điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT thì vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập một cách có hệ thống và toàn diện
Bản thân chủ thể đề tài nghiên cứu đã từng được tiếp xúc với các em học sinh khuyết tật CPTTT, được tham gia các tiết dạy Tập đọc cùng các giáo viên trường tiểu học phong châu - Thị xã Phú Thọ và trực tiếp quan sát những hoạt động dạy học trong phân môn này của GV và trẻ CPTTT Nhận thấy những khiếm khuyết mà các em mắc phải và những nỗi lo lắng, trăn trở của GV Chúng tôi thiết nghĩ: cần tìm ra phương pháp điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT
Tiến hành nghiên cứu về một số phương pháp điều chỉnh hoạt động dạy học phân môn Tập đọc trẻ khuyết tật CPTTT chúng tôi có thể hiểu hơn về thực tế
Trang 7giáo dục hiện nay và tích luỹ kinh nghiệm quý báu cho nghề nghiệp của mình sau này
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Một số phương pháp điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho học sinh Chậm phát triển trí tuệ tại trường tiểu phong châu - thị xã phú thọ”, nhằm nâng cao
khả năng đọc tiếng việt của học sinh khuyết tật CPTTT trường tiểu học phong châu nói riêng và các trường tiểu học trên địa bàn Thị xã phú thọ nói chung
2 mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về các hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc Tiếng Việt cho trẻ CPTTT tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc một cách hiệu quả, phù hợp với khả năng, nhu cầu của trẻ khuyết tật CPTTT, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
3 nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 tìm hiểu các vấn đề cơ sở lí luận về sự điều chỉnh hoạt động dạy học trong
phân môn Tập đọc cho học sinh CPTTT ở Tiểu học
3.2 Đánh giá thực trạng tổ chức các hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT ở Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ
3.3 Đề xuất một số phương pháp điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc và tổ chức thử ngiệm
3.4 Rút ra một số kết luận và kiến nghị
4 khách thể và đối tượng của đề tài
- khách thể nghiên cứu: Các hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc tiếng việt cho học sinh CPTTT tại trường tiểu học phong châu - thị xã phú thọ
Trang 85 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Giới hạn về phạm vi và khách thể nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu trên
3 HS thuộc đối tượng khuyết tật CPTTT mức độ nhẹ đang học tại lớp 3B, 4A, 5B, trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ
- Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu về một số phương pháp điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho học sinh CPTTT tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ Chúng tôi tiến hành dạy thử nghiệm 3 bài Tập đọc ở 3 lớp: 3B, 4A, 5B tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ
6 giả thuyết của đề tài
Hiện nay, việc điều chỉnh hoạt động dạy học các môn học nói chung và phân môn Tập đọc Tiếng Việt nói riêng là một vấn đề rất quan trọng Tuy nhiên,
sự điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc Tiếng Việt cho học sinh khuyết tật CPTTT học hòa nhập tại các trường Tiểu học còn nhiều hạn chế bởi vậy, việc nghiên cứu và nắm rõ thực trạng tổ chức các hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cũng như đề xuất những giải pháp dạy học hiệu quả cho trẻ CPTTT khi học phân môn Tập đọc là vấn đề cấp thiết Nếu thực hiện điều chỉnh đúng, phù hợp với nhu cầu và khả năng nhận thức của học sinh thì sẽ góp phần phát huy khả năng học tập cũng như phát triển nhân cách cho trẻ Tiểu
học trong đó có trẻ tật chậm trí tuệ
7 phương pháp nghiên cứu đề tài
7.1 phương pháp nghiên cứu lí luận
phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài của tác giả trong và ngoài nước Làm sáng tỏ các thuật ngữ liên quan đến đề tài Xây dựng cơ sở khoa học về mặt lí luận cho đề tài
7.2 các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 9- Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức hoạt động dạy học Tập đọc cho học sinh khuyết tật CPTTT tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ
- Trao đổi với các thầy cô giáo chuyên môn về nội dung, phương pháp
điều chỉnh hoạt động dạy học Tập đọc Những ưu điểm và nhược điểm của
những phương pháp đã vận dụng; khó khăn của GV và học sinh CPTTT khi thực hiện những phương pháp điều chỉnh hoạt động dạy học Tập đọc
- Dự giờ 1 số tiết dạy Tập đọc ở các lớp học có trẻ tật trí tuệ tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ Đánh giá kết quả giảng dạy của GV đồng thời tìm hiểu đặc điểm tâm lý, khả năng cũng như nhu cầu của trẻ CPTTT
- phương pháp điều tra
Điều tra số liệu liên quan đến học sinh CPTTT và số liệu của thực trạng vận dụng các yếu tố liên quan đến hoạt động dạy học Tập đọc cho trẻ CPTTT tại trường tiểu học phong châu - Thị xã phú thọ
- phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về lĩnh vực điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho học sinh CPTTT Đồng thời nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập của học sinh CPTTT và những học sinh khác
- phương pháp trắc nghiệm (test)
Test là một dạng bài tập trắc nghiệm khả năng của trẻ theo từng mặt hoặc tổng thể Với phương pháp có thể kiểm tra trình độ và khả năng nhận thức của trẻ CPTTT Ngoài ra sử dụng phương pháp trắc nghiệm bằng phiếu nhằm trao đổi với giáo viên, phụ huynh về những hiếu biết, quan điểm về trường hợp khuyết tật CPTTT mà con mình gặp phải
- phương pháp nghiên cứu hồ sơ
Là phương pháp nghiên cứu hồ sơ y tế, hồ sơ nhà trường, sở liên lạc giữa nhà trường và gia đình để tìm hiểu nguyên nhân, quá trình phát triển của trẻ và kết quả học tập cũng như những kĩ năng mà trẻ đã học được trong quá trình giáo dục
Trang 10- Phương pháp quan sát
Phương pháp này bao gồm quan sát có chủ định và không có chủ định nhằm thu thập thông tin về các biểu hiện hành vi, những khó khăn khi học tập cụ thể là khó khăn trong quá trình tiếp nhận kiến thức cũng như kĩ năng học Tập đọc Tiếng Việt của trẻ CPTTT
- Phương pháp đàm thoại/phỏng vấn
Hình thức đàm thoại chính là hoạt động đưa ra những câu hỏi liên quan đến vấn đề nghiên cứu với những đối tượng liên quan mà bằng phương pháp quan sát không thấy hết được
- Phương pháp thử nghiệm
Tiến hành thử nghiệm 1 số phương pháp điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho học sinh CPTTT học tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ thông qua các bài giảng Tập đọc cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục
Nghiên cứu kế hoạch dạy học của phân môn Tập đọc Tiếng Việt của giáo viên giảng dạy ở lớp học có học sinh CPTTT ở các lớp có trẻ CPTTT theo học tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ
- Phương pháp xử lý số liệu
Tổng hợp số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc của đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm:
- Phần mở đầu
- Nội dung nghiên cứu:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
+ Chương 2: Thực trạng tổ chức các hoạt động dạy học phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT
+ Chương 3: Đề xuất một số biện pháp điều chỉnh hoạt động dạy học và
tổ chức thử nghiệm sư phạm
Trang 11NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu
- Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc điều chỉnh nội dung cũng như điều chỉnh về hoạt động dạy học cho học sinh Tiểu học Vào thế
kỉ XX có các công trình nghiên cứu của các rác giả người Mỹ như Eggen và Kauchak, R.R.Singh, Donal P Kauchk và Paul D Eggen, không chỉ đề cập đến điều chỉnh nội dung dạy học mà còn đề cập đến sự điều chỉnh trong các yếu
tố khác trong quá trình giảng dạy cho cả học sinh bình thường và học sinh khuyết tật
- Nhà giá dục Mỹ, Richard villa đã có những nghiên cứu về điều chỉnh về điều chỉnh thích ứng theo cách tiếp cận tổng thể nội dung chương trình, một bài học Chính những nghiên cứu này đã đem lại cách nhìn mới về sự cần thiết phải điều chỉnh các vấn đề trong giáo dục và dạy học
- Năm 1993, trung giáo dục khuyết tật, viện khoa học giáo dục đã xuất bản 3 cuốn sách:
+ Giáo dục trẻ khuyết tật tại gia đình.[20]
+ Hỏi đáp về giáo dục trẻ khuyết tật.[18]
+ Giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ.[21]
Cả 3 cuốn sách đều đề cập đến đặc điểm tâm sinh lí, nội dung và phương pháp giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ CPTTT nói riêng
- Năm 2002, Trần Lệ Thu tại trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã biên
soạn thành công cuốn giáo trình: Đại cương giáo dục trẻ Chậm phát triển trí tuệ[17] trình bày tương đối đầy đủ về các vấn đề giáo dục trẻ chậm phát triển trí
tuệ tại gia đình và trường học
- Năm 2002, Nguyễn Kim Hoa cùng các cộng sự đã nghiên cứu về khái niệm và quá trình hình thành khái niệm cho học sinh khuyết tật CPTTT với đề
tài: Tìm hiểu mức độ lĩnh hội khái niệm hình học của trẻ Chậm phát triển trí tuệ học lớp 1 hòa nhập
Trang 12- Tháng 10/ 2006, Bộ giáo dục và Đào tạo đã xuất bản cuốn sách: Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học[2]
Dự án phát triển GV Tiểu học là một dự án nhằm góp phần đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng GV Tiểu học Dự án đã tổ chức biên soạn nhiều tài liệu liên quan đến nội dung, phương pháp trong giáo dục bậc Tiểu học Trong đó,
dự án đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật và
biên soạn tài liệu Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học là tài liệu phục
vụ cho GV dạy ở bậc Tiểu học về phương pháp giáo dục dạy học hòa nhập cho
HS khuyết tật theo chương trình, sách giáo khoa mới
Cuốn sách Giáo dục hòa nhập trẻ chậm phát triển trí tuệ có nội dung nghiên cứu tập trung vào các vấn đề giáo dục trẻ CPTTT khi tham gia học hòa
nhập Đây là một trong những nghiên cứu khoa học có đóng góp rất quan trọng trong việc cung cấp những thông tin về khái niệm, kĩ thuật dạy cũng như cách đánh giá trẻ CPTTT Các vấn đề nghiên cứu được tác giả đề tài chia ra thành 3 chủ đề:
+ Chủ đề 1: Khái niệm trẻ chậm phát triển trí tuệ: Với chủ đề này tác giả
cung cấp những thông tin liên quan đến khái niệm, nguyên nhân, đặc điểm, phương pháp nhận biết khả năng và nhu cầu của trẻ chậm phát triển trí tuệ.[2;
trang 170]
+ Chủ đề 2: Kĩ thuật dạy hòa nhập trẻ chậm phát triển trí tuệ: Với chủ
đề này người viết đề cập đến vấn đề điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ CPTTT; hướng dẫn trẻ thực hiện nhiệm vụ và nắm bắt khái niệm; cách quản lí hành vi trẻ CPTTT trong lớp học hòa nhập.[2; trang 187]
+ Chủ đề 3: Đánh giá kết quả giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ: Tài
liệu đã nghiên cứu những vấn đề chung về giáo dục hòa nhập trẻ CPTTT Tuy nhiên, việc dạy học hòa nhập hay điều chỉnh hoạt động dạy học sao cho phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ CPTTT trong từng môn học như môn Toán,
Trang 13tiết, cụ thể Mọi thông tin trong tài liệu chỉ nhằm định hướng để giúp GV nắm bắt được những vấn đề chung trong dạy học hào nhập cho trẻ CPTTT.[2; trang 215]
- Năm 2008, có luận án Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hải: Điều chỉnh nội dung dạy học một số môn học cho học sinh chậm phát triển trí tuệ học hòa nhập ở lớp 1[13] đã nghiên cứu và triển khai thực hiện phương pháp điều chỉnh nội
dung dạy học môn Toán, Tự nhiên và xã hội cho họ sinh CPTTT học hòa nhập lớp 1 ở một số cơ sở
- Trong những năm gần đây, Viện chiến lược và chương trình giáo dục,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các kháo tập huấn, biện soạn và xuất bản một số tài liệu bồi dưỡng giáo viên về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học, trong đó đề cập đến vấn đề điều chỉnh nội dung dạy học cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ CPTTT nói riêng học hòa nhập Tuy nhiên, các tài liệu mới chỉ dừng lại ở mức độ tập huấn, nội dung mang tính chất đại cương
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Khái niệm trẻ CPTTT
Trên thực tế có những tên gọi khác nhau để chỉ chung về trẻ CPTTT như tên gọi chậm phát triển trí tuệ hay chậm phát triển tinh thần, ngu đần, thiểu năng trí tuệ hay khuyết tật tinh thần Từ trên việc xác định khái niệm về trẻ CPTTT cũng cần xuất phát từ nhiều cơ sở lí luận, thực tiễn khác nhau, nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu riêng Chúng tôi tiến hành tìm hiểu về khái niệm trẻ CPTTT theo hướng như sau:
- Thứ nhất, chúng tôi tìm hiểu một số khái niệm cổ truyền về chậm
phát triển trí tuệ bao gồm: Khái niệm theo trí thông minh, khái niệm theo nguyên nhân tật CPTTT, khái niệm theo hành vi xã hội
+ Khái niệm theo trí thông minh: Năm 1905, A.Binet và T.Simon đã công
bố trắc nghiệm trí tuệ nhằm phân biệt trẻ học kém bình thường và học kém do bị tật chậm phát triển trí tuệ Theo họ những trẻ có chỉ số IQ - Chỉ số thông minh
dưới 70 là trẻ chậm phát triển trí tuệ
Trang 14+ Khái niệm theo hành vi xã hội: Dựa vào mức độ thích nghi của trẻ trong cuộc sống Năm 1954 Benda đã đưa ra một định nghĩa như sau: "Một người CPTTT là người không có khả năng điều khiển bản thân và xử lý các vấn đề của riêng mình, hoặc phải được dạy mới biết làm, họ có nhu cầu về sự giám sát, kiểm soát và chăm sóc cho sức khoẻ của bản thân mình và cần đến sự chăm sóc của cộng đồng" Nhận định này cho rằng người CPTTT là người trong quá trình
phát triển và trưởng thành không có khả năng đạt được cuộc sống độc lập
+ Khái niệm theo nguyên nhân của tật chậm phát triển trí tuệ: Dựa trên
những xem xét có tính chất lý luận để tìm hiểu nguyên nhân hoặc tính chất cơ
bản của loại khuyết tật này Theo định nghĩa của Luria (1966) thì: " Trẻ CPTTT
là những trẻ mắc phải bệnh về não rất nặng từ khi còn trong bào thai hoặc trong những năm tháng đầu đời Bệnh này cản trở sự phát triển của não, do vậy
nó gây ra những phát triển không bình thường về tinh thần Trẻ CPTTT dễ dàng được nhận ra do khả năng lĩnh hội ý tưởng và khả năng tiếp nhận thực tế bị hạn chế "[15; trang 57]
- Thứ hai, khái niệm theo bảng phân loại DSM-IV.[2;trang171]
Tiêu chí chẩn đoán CPTTT theo bảng phân loại DSM-IV:
A Chức năng trí tuệ dưới mức độ trung bình: là chỉ số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân (đối với trẻ nhỏ, người ta dựa vào các đánh giá lâm sàng để xác định)
B Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội/liên cá nhân,
sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng,kỹ năng học đường chức năng, làm việc, giải trí, sức khoẻ và độ an toàn
C Tật xuất hiện trước 18 tuổi
DSM-IV, 1994
Trang 15- Thứ ba, khái niệm theo bảng phân loại AARM.[2;trang171]
Tiêu chí chuẩn đoán tật CPTTT theo bảng phân loại AARM:
CPTTT là những hạn chế lớn về khả năng thực hiện chức năng Đặc điểm của tật là:
• Hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình
• Hạn chế về hai hoặc nhiều hơn những kỹ năng thích ứng như: kỹ năng giao tiếp/liên cá nhân, tự phục vụ, sống tại gia đình, sử dụng các tiện ích tại cộng đồng, tự định hướng, sức khoẻ, an toàn, kỹ năng học đường chức năng, giải trí, lao động
• Tật CPTTT xuất hiện từ trước 18 tuổi
Theo Luckasson và các đồng nghiệp, 1992
- Theo nhiều tài liệu cho đến nay, định nghĩa về CPTTT được sử dụng rộng rãi nhất theo bảng phân loại do AARM - định nghĩa được thông qua bởi Hội CPTTT của Mỹ (American Assosiation of Mental Retardation) trẻ CPTTT
có 3 tiêu chí cơ bản: chức năng trí tuệ dười mức trung bình; hạn chế ít nhất 2 lĩnh vực thích ứng và hiện tượng này xuất hiện trước 18 tuổi.[2; trang 172]
- Theo tài liệu Nội dung và phương pháp giáo dục trẻ khuyết tật [22;trang
69] Ở Việt Nam cũng sử dụng khái niệm của DSM - IV và của AARM Tuy nhiên để tiện cho việc phân loại và chăm sóc giáo dục thì sử dụng một số khái niệm CPTTT như sau:
+ CPTTT xuất hiện khi nhỏ hoặc khi mới sinh
+ Khi trưởng thành vẫn giảm các khả năng như cũ
+ Đi học thường học khó hoặc kém
Ta cần biết trẻ CPTTT về hiện tượng dễ bị nhầm với các trẻ em học kém, trẻ bị ốm yếu lâu không tới lớp học tập, hoạt động nhận thức không được rèn luyện và phát triển nên trẻ học kém
Từ những quan điểm về khái niệm trẻ CPTTT chúng tôi cho rằng: Trẻ CPTTT là trẻ do những nguyên nhân khác nhau mà có hạn chế về các chức
Trang 16năng cơ bản hiện tại với những đặc điểm về chức năng trí tuệ dưới mức trung bình; hạn chế ít nhất 2 lĩnh vực hành vi thích ứng như: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, các kĩ năng xã hội, sử dụng các phương tiện trong cộng đồng,
tự định hướng, sức khoẻ và an toàn, kĩ năng học đường, giải trí, làm việc; hiện tượng chậm phát triển trí tuệ xuất hiện trước 18 tuổi
Tuy nhiên, hiểu một cách khái quát về khái niệm CPTTT như đã nêu ở trên là chưa đủ mà còn phải nghiên cứu kĩ về các đặc điểm tâm sinh lí của đối tượng này một cách sâu sắc để định ra nội dung và phương pháp giáo dục cho sát hợp và hiệu quả
1.2.2 Khái niệm phương pháp điều chỉnh
"Phương" tức là hướng, "pháp" là phép Phương pháp nghĩa là lề lối và cách thức phải theo để tiến hành công tác với kết quả cao nhất Phương pháp chính là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học.[26; trang 89]
Điều chỉnh là sự thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện
và hình thức dạy nhằm giúp trẻ phát triển tốt nhất trên cơ sở năng lực của cá nhân.[2; trang 188]
Phương pháp điều chỉnh chính là cách thức, con đường thay đổi về mục
tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức dạy và hoc nhằm giúp trẻ phát triển tốt nhất phù hợp với năng lực và nhu cầu của cá nhân.[2;trang 188]
1.2.3 Khái niệm dạy học
Theo từ điển Tiếng Việt: Dạy học là dạy để nâng cao trình độ văn hóa
và phẩm chất đạo đức nhất định.[26; trang 22]
Theo cuốn sách Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học: Dạy học là một quá trình gồm các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kĩ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại
Trang 17đã đạt được để trên cơ sở có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt
ra trong cuộc sống của mỗi người học.[9; trang 19]
Tuy nhiên ta có thể định nghĩa khái niệm dạy học một cách đơn giản như sau: Dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của GV, người học tự giác, chủ động, biết tự điều khiển nhận thức của mình để hoàn thành
nhiệm vụ học tập Dạy học là quá trình tổ chức và điều khiển hoạt động của
GV nhằm giúp HS chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng và hình thành nhân cách của chính học sinh
1.2.4 Hoạt động dạy học
Qúa trình dạy học phải coi hoạt động dạy học là bản chất của mình có nghĩa là dạy học chính là quá trình tổ chức các hoạt động khác nhau để HS được hoạt động và lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo.[15; trang 5] Dạy học
phải thông qua hoạt động và bằng chính hoạt động Không có hoạt động, không
có quá trình truyền đạt kiến thức môn học cho HS của GV và ngược lại không
có quá trình tiếp thu kiến thức môn học của HS đồng thời sẽ không thực hiện
được mục tiêu giáo dục Do đó, hoạt động dạy học chính là bản chất của quá trình dạy học để tạo ra sự phát triển tâm lí và nhân cách cho HS [15; trang 7]
Mục đích của hoạt động dạy học là tổ chức điều khiển quá trình dạy học,
giúp HS lĩnh hội nền văn hóa nhân loại biến nó thành tri thức của mình để hình thành nhân cách và trở thành người lao động sáng tạo
Hoạt động dạy học đó chính là hành động và thao tác dạy học gồm nhiều
mặt: xây dựng và thiết kế bài dạy, tổ chức nhận thức, kích thích động cơ học tập, đánh giá, kiểm tra Hoạt động của người thầy giữ vai trò của người tổ chức, điều khiển còn hoạt động của người trò giữ vai trò là người chủ động, tích cực lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Như vậy, hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS:
Trang 18Hoạt động dạy chính là quá trình GV tiến hành xây dựng và thiết kế bài
dạy, tổ chức nhận thức, kích thích động cơ, kiểm tra, đánh giá việc học tập của
HS từ đó giáo dục ý thức và thái độ đúng đắn cho HS.[9; trang 29]
Hoạt động học chính là quá trình HS nhận thức và rèn luyện để tiếp thu
và hình thành hệ thống tri thức và kĩ năng thực hành từ đó hình thành nhân cách người học [9; trang 29]
1.2.5 Khái niệm đọc
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc
thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các
đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm).[15; trang 3]
Trong dạy Tập đọc cho trẻ CPTTT, GV sẽ dạy trẻ đọc thành tiếng, đọc hiểu, đọc diễn cảm đây cũng chính là 3 phần cơ bản trong một bài Tập đọc
1.3 Một số vấn đề liên quan đến trẻ chậm phát triển trí tuệ
1.3.1 Phân loại trẻ khuyết tật chậm phát triển trí tuệ (CPTTT)
Để phân loại trẻ khuyết tật CPTTT ta cần dựa vào nhiều tiêu chí biểu hiện khác nhau của trẻ Nói đúng hơn là dựa vào tình trạng bệnh lí dẫn đến sự khác nhau về nhận thức của trẻ CPTTT Vì vậy trong sự phân chia các mức độ tật có nhiều quan điểm khác nhau
- Trước hết, theo quan điểm Dựa trên những lí do thực tế và hoàn cảnh[1; trang 94] thì chia nhóm trẻ này thành 2 loại:
Trang 19+ Sử dụng trí thông minh làm tiêu chí để phân loại mức độ CPTTT[1;
trang 97] Bảng phân loại DSM-VI đã chia làm 4 mức độ chậm phát triển trí tuệ như sau: nhẹ, trung bình, nặng và rất nặng/nghiêm trọng Ta có bảng phân loại dựa trên chỉ số IQ sau đây:
và giúp đỡ thường xuyên
- Sử dụng tiêu chí thích ứng xã hội[1; trang 100]: Theo bảng phân loại
AARM của Hội CPTTT của Mỹ phân loại trẻ CPTTT tương ứng với các mức độ
hỗ trợ: Sau khi xác định một người là CPTTT và bị hạn chế về kỹ năng thích nghi, thì cần tiến hành đánh giá xem người đó cần hỗ trợ cái gì Định nghĩa của
AAMR sử dụng tiêu chí thích nghi về mặt xã hội làm cơ sở để phân loại 4 mức
độ hỗ trợ:
+ Hỗ trợ không thường xuyên: hỗ trợ dựa trên nhu cầu Hình thức hỗ trợ
này có đặc điểm là không liên tục, một người không phải lúc nào cũng cần được
Trang 20hỗ trợ hoặc chỉ cần sự hỗ trợ ngắn hạn trong suốt cuộc đời Hỗ trợ không thường xuyên có thể ở mức độ cao hoặc thấp
+ Hỗ trợ có giới hạn : Mức độ hỗ trợ tuỳ theo thời điểm, hạn chế về thời
hạn nhưng không giống với hình thức hỗ trợ không thường xuyên, hình thức hỗ
trợ này cần ít nhân viên hơn, và kinh phí thấp hơn
+ Hỗ trợ mở rộng : Hỗ trợ diễn ra đều đặn ví dụ như là hỗ trợ hàng ngày
tại những môi trường nhất định có thể là ở nhà hoặc tại nơi làm việc và không hạn chế về thời gian
+ Hỗ trợ toàn diện : Hỗ trợ thường xuyên và ở mức độ cao; hỗ trợ trong
nhiều môi trường; và trong suốt cuộc đời Hỗ trợ toàn diện đòi hỏi sự tham gia của nhiều người, hình thức hỗ trợ này mang tính chất xâm nhập nhiều hơn so với
hỗ trợ mở rộng và hạn chế hoặc hỗ trợ hạn chế về thời gian
Tóm lại, trong quá trình phân loại trẻ khuyết tật CPTTT ta cần đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá và phân loại trẻ một cách cụ thể, thống nhất Điều này rất quan trọng trong việc xây dựng những kế hoạch điều trị, hỗ trợ, giáo dục một cách sát hợp, hiệu quả, tạo điều kiện phát triển cho các em
1.3.2 Những nguyên nhân gây CPTTT
Nguyên nhân dẫn đến trẻ CPTTT thường do các yếu tố xảy ra trước khi sinh,
trong khi sinh, sau khi sinh và các yếu tố môi trường Theo cuốn sách Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở Tiểu học[2; trang172] có nhứng nguyên nhân gây tật trí
tuệ như sau:
- Thứ nhất trước khi sinh:
+ Do gen (có nguyên nhân từ trước): Lỗi nhiễm sắc thể: hội chứng đao,
Cri-du-chat, Turner Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây CPTTT Với những đứa trẻ mắc phải hội chứng này, người ta còn có thể quan sát được nhiều rối loạn bên ngoài chỉ bằng mắt thường Lỗi gen: Hội chứng PKU, san filippo, chứng xơ cứng dạng củ, gẫy nhiễm sắc thể, Rett, William Beuren, Angelman, Prader Willy Rối loạn do nhiều yếu tố: nứt đốt sộng, quái tượng
Trang 21+ Do các yếu tố ngoại sinh: Do lây nhiễm, do nhiễm độc, suy dinh dưỡng
- Thứ 2 trong khi sinh: Thiếu ô - xi; Tổn thương não do mẹ đẻ khó hoặc
do dùng phóc-sép (một dụng cụ y tế dùng để kéo đầu trẻ), viêm nhiễm
- Thứ 3 sau khi sinh: Viêm màng não gây ra do bệnh sởi, ho gà, quai bị,
thuỷ đậu, và viêm phổi (có thể gây ra bệnh tràn dịch màng não sau này) Trong
số những loại bệnh này, có thể ngăn chặn bằng vắc xin Đôi khi, việc dùng vắc
xin có thể gây viêm màng não Tổn thương não do trấn thương đầu nặng,
hoặc do ngạt Tổn thương do khối u; hoặc do các hoạt động chỉnh trị như: phẫu
thuật, chỉnh trị bằng tia phóng xạ hoặc dùng hoá chất, chảy máu Suy dinh dưỡng, bị lạm dụng, kích thích dưới ngưỡng hoặc bị bỏ rơi
- Thứ 4, các nguyên nhân môi trường: Không được chăm sóc đầy đủ về y
tế và thể chất Thiếu thốn về tâm lý xã hội Sử dụng ngôn ngữ một cách rất hạn chế trong gia đình Việc nuôi dưỡng đứa trẻ nói chung theo cách là cuộc sống của nó do người khác định đoạt Ít có cơ hội đến trường
Theo tài liệu ngiên cứu cho biết: "CPTTT do nhiều nguyên nhân khác nhau Mặc dù khoa học thời nay rất phát triển nhưng cũng mới chỉ biết được nguyên nhân 60% trường hợp, số còn lại khoảng 40% chưa xác định được Nhiều công trình nghiên cứu của các ngành sinh lí học, tâm lí học, giáo dục học, xã hội học cho thấy có rất nhiều nguyên nhân gây nên CPTTT" [1; trang
172]
1.3.3 Đặc trưng trẻ chậm phát triển trí tuệ ở Tiểu học
1.3.3.1 Đặc trưng về cảm giác, tri giác
- Ở những trẻ mà hệ thống thần kinh trung ương bị tổn thất những cảm giác và tri giác hình thành một cách hết sức chậm trễ mang nhiều đặc tính của khuyết tật Khả năng tiếp thu chậm trễ và hạn chế là đặc điểm đặc trưng đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ có ảnh hưởng lớn lao đến toàn bộ quá trình phát triển
tâm lý tiếp theo của chúng
- Cảm giác, tri giác trẻ CPTTT thường có 3 biểu hiện sau:
Chậm chạp, ít linh hoạt
Trang 22Phân biệt màu sắc, dấu hiệu, chi tiết sự vật kém và thiếu chính xác
Thiếu tính tích cực trong quan sát dễ nhầm lẫn, quan sát sự vật đại khái, qua loa, khó hiểu nội dung, thiếu chính xác, phân biệt âm thanh kém Cảm giác xúc giác trẻ CPTTT kém, phối hợp các thao tác vụng về.[2, trang174]
- Do đặc điểm trên, trẻ CPTTT gặp nhiều khó khăn trong học đọc, học nói, học viết, học quan sát, nhận xét, phân biệt đối tượng xung quanh dẫn đến kết quả học tập thấp
1.3.3.2 Đặc trưng sự chú ý
- Trẻ CPTTT thường khó có thể tập chung trong thời gian dài, dễ bị phân tán Khó tập chung cao vào các chi tiết; Kém bền vững, thường xuyên chuyển hoạt động từ hoàn thành đến chua hoàn thành sang hoạt động khác Luôn bị phân tán, khó tuân theo chỉ dẫn, khó kiễn nhẫn đợi đến lượt khó kìm chế phản ứng Đỉnh cao chú ý và thời gian chú ý của trẻ CPTTT kém hơn nhiều so với trẻ bình thường Nguyên nhân là do quá trình hứng phấn và ức chế ở trẻ không cân bằng, lệch pha Nghĩa là có khi hưng phấn quá gia tăng, có khi bị kìm hãm ức chế làm cho trẻ chóng mệt mỏi và giảm đáng kể khả năng chú ý.[2; trang 174]
1.3.3.3 Đặc trưng về tư duy
- Tư duy là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới khách quan Tư duy là nhận thức khái quát và giao tiếp bằng từ đối với hiện thực Nhờ có tư duy
mà trẻ có được khả năng thực hiện hành động để đạt được mục tiêu nào đó
+ Theo tài liệu: " Tư duy của trẻ CPTTT chủ yếu là hình thức tư duy cụ thể, vì vậy trẻ gặp khó khăn trong viêc thực hiện nhiệm vụ và nắm bắt khái niệm".[2; trang 174] Do đó, trẻ khó nhận biết các khái niệm, chỉ dừng lại ở trên
những ảnh hưởng của những hình ảnh trực quan đơn lẻ, không hiểu được cái chung, cái kín đáo sau chúng
+ Tư duy của trẻ CPTTT là sự nhận thức gián tiếp Nhận thức gián tiếp là
là chỉ sự nhận thức một vật thể thông qua một vật thể khác Khi so sánh một vật
phẩm mà trẻ tự làm với một vật phẩm mà ta đưa cho nó Theo Petrova cho rằng
Trang 23chất lượng, kém phát triển ngôn ngữ, hoạt động nhận thức rất hạn chế.[2; trang
174]
+ Tư duy thường thể hiện tính không liên tục, khi mới bắt đầu thực hiện
nhiệm vụ thì làm đúng, nhưng càng về sau càng sai só, còn chóng mệt mỏi, chú
ý kém Nguyên nhân do tầm vận động không đều (nhanh hoặc chậm không đều) làm cho trẻ không tập trung chú ý và giảm mức quan tâm / thích thú đối với các hoạt động thường ngày
+ Tư duy trẻ CPTTT mang tính logic kém
+Tư duy trẻ CPTTT thường biểu hiện tính phê phán, nhận xét
1.3.3.4 Đặc trưng về trí nhớ
- Theo X.L.Zamsky cho rằng những trẻ CPTTT hiểu được những cái mới
rất chậm chạp[1; trang173], chỉ sau khi lặp đi lặp lại nhiều lần khái niệm đó chúng quên rất nhanh những cái vừa tiếp thu được và không biết sử dụng đúng lúc những tri thức, kĩ năng đã được hình thành qua thực tiễn Tính chất chậm chễ và không bền vững của quá trình ghi nhớ chỉ sau khi học chúng cũng không
nắm được những môn học
- Theo L.S Vưgotshy chỉ ra rằng hạt nhân của trí nhớ ở những trẻ CPTTT
là sự chậm chạp của việc lĩnh hội cái mới không vững chắc, không bảo quản, không chính xác khi phải nhớ lại kiến thức đã tiếp thu Ghi nhớ dấu hiệu bên ngoài của sự vật tốt hơn bên trong, khó nhớ những gì có tính khái quát, trìu tượng, quan hệ logic
- Có khả năng ghi nhớ máy móc, khó ghi nhớ ý nghĩa Trẻ có thể nhắc lại
từng từ, từng câu riêng biệt trong từng đoạn/câu chuyện nhưng khó có thể tóm tắt ý nghĩa hay ý chính của đoạn/cốt chuyện
1.3.3.5 Đặc trưng về sự phát triển ngôn ngữ
- Trong tâm lý học đại cương người ta thường xem ngôn ngữ như một công cụ của tư duy và là một phương tiện giao tiếp
- Học sinh CPTTT có vốn ngôn ngữ rất nghèo nàn, từ tích cực ít, từ thụ động nhiều, trẻ phát âm không đúng Về ngữ pháp thì nói sai ngữ pháp nhiều, ít
Trang 24sử dụng tính từ, động từ, thường sử dụng câu đơn, không nắm được quy tắc ngữ pháp Không chỉ vậy, trẻ còn có biểu hiện khác như trẻ nói được nhưng
không hiểu được, nhớ từ mới lâu và chậm.[2; trang 176]
- Trẻ CPTTT xuất hiện những từ riêng lẻ vào lúc 2-3 tuổi Còn các câu đơn giản ít từ và sai ngữ pháp xuất hiện lúc 5-6 tuổi Ở tuổi đến trường trẻ thể
hiện rất rõ về tình trạng kém ngôn ngữ (vốn từ nghèo, sai ngữ pháp, ngôn ngữ biểu cảm.[1; trang 173]
1.3.3.6 Đặc điểm về hành vi
- Hành vi của trẻ CPTTT thường có những biểu hiện hành vi bất thường Gồm 2 loại:
+ Thứ nhất là hành vi hướng ngoại: là hành vi được biểu hiện qua xu
hướng bên ngoài Những hành vi này thường gây rất nhiều phiền nhiễu cho giáo viên và những người xung quanh dẫn đến rối loạn tăng động/ giảm tập trung, có những hành vi sai trái
+ Thứ hai, hành vi hướng nội: là hành vi được biểu hiện theo xu hướng
vào bên trong Những hành vi này thường không gây phiền nhiễu cho giáo viên
và những người xung quanh như trầm cảm, thu mình lại, lầm lì, rầu rĩ trẻ ngồi học rất trật tự nhưng không hiểu gì
- Hành vi bất thường của trẻ CPTTT gồm 8 thang hội chứng: Thu mình lại; phàn nàn về sức khoẻ; lo lắng, âu sầu; ý ngĩ, chú ý/ tập trung; hành vi sai trái; hành vi thái quá/hung hãn; các hành vi khác.[2; trang 176]
- Như vậy, với những đặc trưng cơ bản về cảm giác, tri giác, chú ý, tư duy, trí nhớ, hành vi, ngôn ngữ của trẻ CPTTT được nêu ở trên ta nhận thấy rằng, ở trẻ CPTTT thì các em rất cần được sống và học tập trong một môi trường giáo dục phù hợp, có sự chăm sóc và bảo vệ của toàn xã hội Chỉ có như vậy, các em mới có thể khôi phục khả năng và hạn chế những khiếm khuyết của bản thân
1.4 Một số vấn đề lí luận về giáo dục cho trẻ CPTTT ở Tiểu học
Trang 25- Mục tiêu giáo dục trẻ CPTTT gồm mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn.[22, trang 56]
+ Mục tiêu ngắn hạn là đặt ra những vấn đề nhỏ và thực hiện trong thời gian ngắn Nội dung của mục tiêu này có thể là để giáo dục hành vi hoặc để hình thành kĩ năng nào đó trong học tập hay lao động tự phục vụ Ví dụ đối với trẻ có khó khăn về học trong một tuần hoặc một tháng cần phải đạt được: ngồi đúng vị trí, không quấy rối xung quanh Càng xây dựng biện pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu đó
+ Mục tiêu dài hạn là những mục tiêu lớn được thực hiện trong thời gian dài Ví dụ như, sau một thời kì trẻ cần phải viết và đọc đúng các âm vị Tiếng Việt Muốn làm được điều đó phải xây dựng kế hoạch học trường, kế hoạch ở nhà cho trẻ, tổ chức nhóm học tập và có sự giúp đỡ của các bạn cùng lớp
- Như vậy, trong bất cứ mặt giáo dục nào, đối với từng trẻ đặc biệt là với trẻ CPTTT đều phải đặt ra mục tiêu cụ thể khác nhau và cần tìm ra giải pháp thích hợp để thực hiện từng mục tiêu một
1.4.2 Nội dung giáo dục
- Do đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ CPTTT có nhiều đặc điểm riêng biệt so vói trẻ bình thường nên nội dung giáo dục cần thông qua các hoạt động rèn luyện hành vi, học tập, vui chơi, lao động của trẻ Nội dung giáo dục phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Nội dung dạy học phải thực hiện đảm bảo mục tiêu và đáp ứng nhu cầu cho từng em
+ Nội dung phải đơn giản, cụ thể, gần gũi, với cuộc sống của trẻ Khi giải thích cho trẻ phải thật đơn giản, sử dụng thật ít từ, nói năng chậm dãi và dễ hiểu,
rõ ràng, chỉ cho trẻ từng bước nhỏ để thực hiện nhiệm vụ đê ra
+ Trẻ CPTTT khi phải học lâu dễ phân tán tưu tưởng, chóng mệt mỏi, nên lượng kiến thức dạy cho các em phải giảm bớt so với trẻ bình thường, công việc hướng dẫn cho trẻ thực hiện phải đơn giản để trẻ có thể tiếp thu được
Trang 26+ Sau đây là một số nội dung cụ thể thông qua hoạt động giáo dục hành
vi, dạy văn hoá và giáo dục lao động.[22; trang 57]
- Tất cả những nội dung cơ bản về giáo dục trẻ CPTTT đã nêu ở trên có thể tiến hành giáo dục ở những môi trường giáo dục khác nhau Tuy nhiên mỗi môi trường có những đặc điểm nội dung, phương pháp riêng, do đó chúng ta phải lựa chọn và áp dụng cho phù hợp thì hiệu quả giáo dục sẽ được cao hơn
1.5 Điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ Chậm
phát triển trí tuệ
1.5.1 Vị trí phân môn Tập đọc ở Tiểu học
- Theo M.R.lowvop - Cẩm nang dạy học tiếng Nga: "Đọc là một dạng ngôn ngữ là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó ứng với các hình thức đọc thành tiếng, là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh."[14; trang 7]
- Đọc không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm 2 phần chữ viết và phát
âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự đánh vần lên thành tiếng theo đúng như các
kí hiệu chữ viết mà là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu khái niệm đọc một cách đầy đủ Nhiều chỗ, người ta chỉ nói đến đọc như một bộ mã chữ - âm, còn việc chuyển từ âm sang nghĩa đã không được chú ý
thời lượng chủ yếu của bậc học Nó góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học, phải đảm bảo cho học sinh có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết Muốn nói hay viết giỏi thì trước tiên phải đọc thành thạo Tập đọc là môn học công cụ, là phương tiện quan trọng nhất, là chìa khóa cho học sinh học tốt các môn khoa học khác
- Dạy Tập đọc làm cho học sinh hiểu cái hay cái đẹp, cái đúng, cái tinh
tế, phức tạp và đa nghĩa của từ ngữ Học Tập đọc chính là học cách nói, cách viết khoa học, chính xác nghệ thuật và trong sáng góp phần phát triển tư duy, khả năng diễn đạt cho học sinh
Trang 27Như vậy, học Tập đọc Tiếng Việt có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với trẻ khuyết tật CPTTT
1.5.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc Tiếng Việt ở Tiểu học
- Những điều vừa nêu trên khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh Nhiệm vụ của việc dạy Tập đọc cho học sinh Tiểu học như sau:
+ Thứ nhất, Tập đọc là một phân môn thực hành:
Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất
lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức
(thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này được hình thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác Vì vậy trong dạy đọc, không thể xem nhẹ yếu tố nào.[9; trang 86]
- Thứ hai, nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách: Hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách
cho học sinh Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích thú đọc và thấy được khả năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, thấy được đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.[9; trang 86]
- Những nhiệm vụ khác: Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội
dung được đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách,
phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ:
+ Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh;
+ Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh;
+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh.[9; trang 87]
Trang 281.5.3 Một số phương pháp dạy học Tập đọc ở Tiểu học
1.5.3.1 Phương pháp phân tích mẫu
- Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phân tích các vật liệu mẫu (văn bản) để hình thành các kiến thức văn học, các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ
Từ những hiện tượng chứa đựng trong văn bản GV giúp HS phân tích theo các nhiệm vụ đã nêu trong SGK để các em hiểu bài Để HS phân tích mẫu được dễ dàng, GV có thể tách các câu hỏi các công việc nêu trong SGK thành những câu hỏi và nhiệm vụ nhỏ hơn.[9; trang 43]
- Về hình thức tổ chức, tùy thuộc từng bài, từng nhiệm vụ cụ thể GV có thể cho HS làm việc độc lập, làm việc theo nhóm sau đó báo cáo kết quả trước lớp
1.5.3.2 Phương pháp trực quan
PP trực quan là PPDH trong đó GV sử dụng các phương tiện trực quan nhằm giúp cho HS có biểu hiện đúng về sự vật và thu nhận kiến thức, kĩ năng
theo một mục tiêu bài học một cách thuận lợi.[9; trang 44]
- GV hướng dẫn HS quan sát các tranh minh họa trong bài Tập đọc hoặc các tranh ảnh sưu tầm, các đồ dùng trực quan khác liên quan đến bài Tập đọc giúp các em hiểu trêm về một số chi tiết, tình huống và nhân vật trong bài
1.5.3.3 Phương pháp thực hành giao tiếp
- GV tổ chức các hoạt động trong giờ học sao cho học sinh trong lớp đều được đọc (đọc thành tiếng, đọc trơn, đọc thầm, đọc đồng thanh, đọc cá nhân, đọc theo nhóm ), được trao đổi nhận thức riêng của mình về cảm nhận bài học với thầy cô và bạn bè.[9; trang 44]
1.5.3.4 Phương pháp cá thể hóa sản phẩm cuả học sinh
- GV chú ý đến từng HS, tôn trọng những phát hiện và ý kiến riêng của từng em; thận trọng khi đánh giá HS, tạo điều kiện để HS tự phát hiện và tự sửa lỗi diễn đạt.[9; trang 44]
1.5.3.5 Phương pháp cùng tham gia
Trang 29- GV tổ chức cho HS cùng cộng tác thực hiện các nhiệm vụ học tập, cùng tham gia các trò chơi luyện đọc nhằm hình thành kiến thức và kĩ năng làm việc với cộng đồng Các hình thức để thực hiện PP cùng tham gia hiệu quả nhất là luyện đọc và trao đổi theo nhóm, đóng vai, thi đua [9; trang 44]
1.5.4 Biện pháp dạy học trong phân môn Tập đọc
Trong giờ học Tập đọc để phát huy khả năng học tập, chủ động lĩnh hội kiến thức môn học, cần tổ chức hoạt động của HS thông qua các biện pháp luyện đọc sau đây:
- Đọc thành tiếng: GV cho luyện đọc thành tiếng bằng hình thức hoạt động
+ Các hình thức luyên đọc thành tiếng: từng HS đọc, từng cặp HS đọc, cả nhóm, đọc đồng thanh, một nhóm HS đọc phân vai
+ GV cần chú ý lắng nghe để phát hiện lối sai trong phát âm và giúp HS sửa lỗi Khuyến khích trẻ trao đổi, thảo luận, nhận xét nhằm giúp HS biết rút kinh
nghiệm để đọc tôt hơn.[15; trang 25]
- Đọc - hiểu: GV tổ chức các hình thức học tập phong phú
+ Để có thể tổ chức dạy phần đọc hiểu hiệu quả cần sử dụng các phương
pháp thuộc hai hệ phương pháp (Hệ phương pháp dạy của thầy và hệ phương
pháp dạy của trò) Trong đó, coi các các phương pháp dạy của thầy là yếu tố
"Gốc" bởi vì phương pháp tác động của thầy sẽ dẫn đến việc chọn và sử dụng
phương pháp học của trò, hoạt động của thầy mang lại kết quả học tập của HS
+ Trong hoạt động dạy đọc hiểu GV cần tổ chức và hướng dẫn HS theo các
phương pháp mang tính hoạt động: thảo luận, giải quyết vấn đề, đóng vai, làm
Trang 30theo mẫu, dùng SGK Phương tiện GV cần sử dụng trong phần này là hệ thống
và các tổ hợp bài khóa, hệ thống bài tập đọc hiểu
+ SGK thường nêu các câu hỏi giúp HS tái hiện nội dung bài học (câu hỏi tái
hiện), sau mới đặt câu hỏi cho HS để giúp các em hiểu sâu hơn những tầng ý nghĩa của bài, tính cách nhân vật, thái độ cuả tác giả (câu hỏi suy luận) Dựa vào
hệ thống câu hỏi và bài tập trong SGK, GV có thể tổ chức cho HS trả lời câu hỏi, trao đổi, thảo luận, báo cáo kết quả sao cho mỗi em có thể tự nắm được bài.[15; trang 26]
- Đọc diễn cảm: Để tổ chức hoạt động đọc diễn cảm GV cần hướng dẫn HS
cách đọc diễn cảm đoạn thơ hoặc đoạn văn; Tổ chức cho HS hoạt động cả lớp
sau đó cho các em thi đọc diễn cảm.[15; trang 26]
1.5.5 Các hình thức hoạt động dạy học Tập đọc cho học sinh CPTTT
1.5.5.2 Hình thức hoạt động hợp tác nhóm
- Học hợp tác nhóm là hình thức tổ chức học tập của HS theo nhóm nhỏ trên lớp, trong đó nhấn mạnh đến các kĩ năng hợp tác mang tính xã hội mà HS cần
có, để đảm bảo sự hợp tác trong học tập.[1; trang 109]
Học hợp tác nhóm dựa vào tính độc lập tích cực các thành viên trong nhóm Mục tiêu học tập được cấu trúc sao cho mọi thành viên cần phải quan tâm tới kết quả chung toàn nhóm cũng như mỗi cá nhân
- Mục đích: Tổ chức học hợp tác nhằm nhằm tạo điều kiện cho trẻ CPTTT
được tham gia vào các hoạt động học tập, tạo cơ hội trình bày ý kiến của mình, rèn luyện một số kĩ năng sống, kĩ năng xã hội, quan hệ bạn bè, tính mạnh dạn, ý
Trang 31thức trách nhiệm trong tập thể nhóm, chia sẻ kinh nghiệm với nhau Học hợp tác nhóm tăng cường tình yêu thương yêu lẫn nhau giữa HS trong lớp học hòa nhập
- Tổ chức hoạt động nhóm trong giờ học GV cần chú ý:
+ Dựa trên mục tiêu bài dạy Từ đó, đưa ra các quyết định số lượng thành viên trong nhóm; lựa chọn các thành viên vào một nhóm; Tổ chức lớp học sao cho các thành viên trong nhóm đều phải nhìn thấy nhau trong nhóm
+ Tiến hành phân công nhiệm vụ trong nhóm: Các thành viên trong nhóm cần có nhiệm vụ, vai trò rõ ràng Sau mỗi hoạt động nhóm, các thành viên thay đổi vai trò cho nhau, tránh biểu hiện mỗi thành viên đóng vai trò quá lâu
Điều khiển nhóm: GV hướng dẫn các thành viên tham gia vào hoạt động, giải thích rỗ nhiệm vụ hoạt động từng nhóm, tóm tắt, kiểm tra xem các thành viên đã thống nhất vấn đề chưa
Thư kí: Ghi chép mọi ý kiến, biên tập, tóm tắt các ý kiến
Báo cáo: Thay mặt nhóm báo cáo kết quả
Khuyến khích: Động viên mọi thành viên tham gia, nhắc nhở mọi thành viên tham gia, bảo đảm mọi thành viên trong nhóm đều được tham gia đóng góp, xây dựng ý kiến
Theo dõi: đánh giá sự tham gia của mọi thành viên
Theo dõi thời gian: theo dõi và thông báo thời gian cho hoạt động nhóm, cùng các thành viên trong nhóm phân phối thời gian thích hợp cho từng vấn đề
- Tiến hành hoạt động học hợp tác nhóm như sau:
+ Trước hết GV cần giải thích nhiệm vụ: Cần nêu chính xác, rõ ràng về nhiệm vụ cần hoạt động của HS Giải thích những khái niệm cần thiết và hướng dẫn trình tự HS thực hiện nhiệm vụ Đưa ra các câu hỏi nhằm kiểm tra trẻ xem
đã hiểu nhiệm vụ chưa trước khi cho HS tiến hành công việc
+ Nâng cao sự phụ thuộc tích cực tổ chức hợp tác chặt chẽ: Thông báo cho trẻ mục tiêu chung của cả nhóm và trẻ cần hợp tác chặt chẽ với nhau Trong hợp tác nhóm, mọi trẻ cần hiểu rằng chúng cần phải hợp tác với nhau để hoàn thành nhiệm vụ và phải chắc chắn rằng mọi thành viên cùng hoàn thành nhiệm vụ có
Trang 32hiệu quả GV chú ý khen thưởng cho cả nhóm để khuyến khích tăng cường tính tích cực hợp tác nhóm và trách nhiệm của mỗi cá nhân
+ Xây dựng ý thức trách nhiệm của từng thành viên
+ Nâng cao hợp tác giữa các nhóm: GV có thể cho điểm thưởng cho cả lớp khi tất các nhóm đều hoàn thành tốt nhiệm vụ Hoặc cũng có thể một nhóm nào
đó đã hoàn thành nhiệm vụ có thể giúp đỡ các nhóm còn lại
+ Giải thích các tiêu chí thành công: Đánh giá sự thành công của trẻ dựa vào các tiêu chí nhất định Các tiêu chí xây dụng phải phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ để các em có cơ hội hoàn thành nhiệm vụ
+ Sử dụng các kĩ năng giao tiếp và kĩ năng xã hội: HS phải thể hiện các kĩ năng hoạt động nhóm Đó là các kĩ năng như: tham gia ngay vào hoạt động, không rời khỏi nhóm Kĩ năng xã hội như biết chờ đợi đến lượt mình, tóm tắt và
xử lý số liệu
+ Theo dõi và can thiệp: Trong lúc trẻ hoạt động nhóm GV cần đi xung quanh đến gần các nhóm quan sát; nếu nhiều HS gặp khó khăn thì GV có thể gợi
ý những cách thức thảo luận hiệu quả hơn
+ Đánh giá và kết luận: Đánh giá kết quả học hợp tác nhóm dựa vào mức độ hành thành bài học mà trẻ được giao Tạo cơ hội cho trẻ tự đánh giá quá trình thạm gia hoạt động nhóm, đánh giá về kết quả của mình đạt được Đồng thời sau mỗi hoạt động nhóm GV cần rút kinh nghiệm cho HS trong quá trình thảo luận nhóm
- Tóm lại, dạy học theo phương thức hợp tác nhóm là GV tổ chức cho HS đối diện nhau trong trong học tập, cùng trao đổi, cùng chia sẻ, tìm tòi những kinh nghiệm, những kiến thức hay giải quyết nhiệm vụ được giao Trong khi đó,
GV bao quát, theo dõi hoạt động của HS và sẵn sàng làm cố vấn, trọng tài hay
hỗ trợc các nhóm khi cần thiết
1.5.5.3 Hình thức dạy học cá nhân
Đây là hình thức mang lại nhiều hiệu quả trong việc dạy học cho trẻ
Trang 33- Mục đích: nhằm hạn chế tối đa sự sao nhãng học hành của HS đồng thời
giúp GV kiểm soát được các tác nhân kích thích
- Hình thức này nhằm tạo điều kiện cho HS CPTTT tiến bộ theo trình độ riêng của mình Các em sẽ tự mình hoàn chỉnh công việc được giao, có thể với
một mục tiêu riêng không liên quan đến trẻ khác Mục tiêu riêng được biện sọan theo từng ngày, và sự nỗ lực của các em được đánh giá bằng những chỉ số riêng Mỗi trẻ có một mục tiêu riêng, một bộ tài liệu riêng và một khối công việc riêng theo đúng khả năng của trẻ Tuy nhiên trong một vài trường hợp phương pháp này lại làm cho HS CPTTT giảm đi động cơ và sự nỗ lực học tập của mình
- Mục đích: Làm thay đổi hình thức học tập, tạo bầu không khí trong lớp
học tập trở nên dễ chịu, thoái mái hơn HS tiếp thu kiến thức tự giác HS vui hơn, cởi mở hơn, thoải mái hơn Giúp HS rèn luyện củng cố kiến thức, đông thời phát huy vốn kinh nghiệm mà các em được tích lũy thông qua trò chơi Rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ Nhờ sử dụng trò chơi học tập mà quá trình dạy và học trở thành một hoạt động học tập vui và hấp dẫn hơn Đối với HS, không có phương tiện nào giúp các em phát triển một cách tự nhiên,
có hiệu quả, rèn luyện tính tự chủ bằng hoạt động trò chơi học tập
- Tóm lại trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng giúp cho HS phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Trò chơi làm cho HS được phát
Trang 34triển các năng lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau từ đó tiếp thu bài học được dễ dàng
- Cách tổ chức trò chơi học tập:
+ Giới thiệu trò chơi: Thực hiện giới thiệu tên trò chơi, luật chơi một cách
ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu Sử dụng các thủ thuật gây hứng thú để thu hút học sinh tham gia chơi
+ Thỏa thuận vai chơi: Giáo viên lưu ý không nên giáo vai trò " trưởng
trò" hay người điều khiển trò chơi cho học sinh CPTTT Với những trò chơi phức tạp thì giáo viên cần hướng dẫn trẻ CPTTT từng phần chơi một cách cụ thể Trẻ chơi thành thạo phần này mới chuyển xang phần mới Trẻ CPTTT có những hạn chế nhất định nên khi tổ chức trò chơi giáo viên có thể thay đổi luật chơi sao cho phù hợp với khả năng của trẻ Giáo viên chú ý không "chơi hộ" trẻ, để trẻ hoàn thành nhiệm vụ của mình
+ Kết thúc trò chơi: Đối với trẻ CPTTT giáo viên cần lưu ý tới mức độ dật
được của trẻ qua buổi chơi, trên cơ sở đó đạt ra những mục đích cho lần chơi sau khi trẻ chơi trò chơi này
1.5.5.5 Hình thức tổ chức các hoạt động ngoại khóa
- Ngoài những hoạt động vui chơi để thúc đẩy khả năng nhận thức và tạo điều kiện để trẻ mở mang thêm kiến thức GV nên tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa ngoài giờ lên lớp: Tổ chức cho HS đóng kịch theo các nhân vật trong các
bài học; Tổ chức các cuộc thi học tập như Thi đọc thơ diễn cảm Bên cạnh đó để
trẻ có những kĩ năng cư xử thông thường trong cuộc sống GV cần tổ chức cho trẻ đi tham quan, du lịch
- Ngoài ra chúng ta cần xây dựng các nhóm HS giỏi giúp đõ HS CPTTT
và những HS yếu, kém khác
1.5.6 Mục đích điều chỉnh họat động dạy học Tập đọc cho trẻ CPTTT
1.5.6.1 Tổ chức hoạt động dạy học để phù hợp với khả năng và nhu cầu nhận thức của trẻ CPTTT
Trang 35- Trẻ CPTTT có khả năng và nhu cầu hạn chế so với trẻ bình thường Việc tham gia học tập hòa nhập với các bạn bình thường vừa là cơ hộ được giao lưu, học hỏi; được chung sống, chia sẻ [1; trang 133]
- GV phải biết HS CPTTT đang có những khả năng gì? Mức độ nhận thức cuả trẻ như thế nào? Trẻ có những nhu cầu gì? Biện pháp hỗ trợ cho trẻ?, Từ đó cần xác định cụ thể về mục tiêu cũng như nội dung giáo dục đối với từng trẻ; có phương pháp hỗ trợ kịp thời khi trẻ gặp khó khăn, quan tâm và tin yêu trẻ Đó chính là cơ sở là điều kiện để chúng ta có thể tổ chức được hiệu quả các hoạt động học tập cho các em
1.5.6.2 Tổ chức hoạt động dạy học đa dạng, phong phú nhằm phát huy khả năng tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức của trẻ
- Tổ chức các hoạt động đa dạng, phong phú để giúp HS có thể thể huy khả năng lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng Điều này có nghĩa là phải phải tổ chức cho HS được hoạt động một cách tích cực, đồng thời tạo ra cơ hội tham gia hoạt động nhiều hơn cho học sinh yếu, kém và trẻ CPTTT Các em được tham gia các hoạt động ấy một cách chủ động, tích cực, chúng tự tìm tòi,
tự khám phá dưới sự hướng dẫn của GV.[1; trang 134]
1.5.6.3 Linh hoạt sử dụng các phương pháp và ứng xử sư phạm
- Sự linh hoạt trong sử dụng PPDH, ứng xử sư phạm để thích ứng với sự thay đổi của đối tượng và hoàn cảnh là yếu tố thành công của mỗi bài dạy Phối hợp nhiều PPDH sẽ giúp cho HS đỡ nhàm chán và có hứng thú hơn tới môn học, đặc biệt là HS khối 1, 2, 3, sự luôn thay đổi càng cần thiết Hơn nữa sự phong phú về PPDH sẽ đáp ưng nhu cầu giáo dục cá biệt và đáp ứng được lớp học đông HS và có trẻ khuyết tật Mối HS có thói quen cũng như khả năng hoạt động trí óc khác nhau nên một PPDH chỉ có thể phù hợp với một số đối tượng nhất định.[1; trang 134]
- Linh hoạt sử dụng nhiều PPDH sẽ giúp cho HS đều có cơ hội bình đẳng trong lĩnh hội kiến thức và kĩ năng kĩ xảo
Trang 361.5.6.4 Luôn kiểm tra kiến thức và kĩ năng đạt được ở HS để thấy sự tiến bộ của trẻ
- Kiểm tra đánh giá là khâu then chốt của quá trình dạy học Bởi vậy, hoạt động tổ chức kiểm tra đánh giá vô cùng quan trọng Đánh giá vừa nhằm mục đích xác định năng lực và kiến thức hình thành ở người học, vừa giúp người thầy điều chỉnh hoạt động dạy của mình Sự đánh giá của thầy về kết quả học của học trò dần phải chuyển xang kĩ năng tự đánh giá của trò Sự tự đánh giá giúp cho sự phát triển khả năng tựu học của HS Đánh giá phải theo mục tiêu đã
đề ra và đúng cấp độ năng lực của HS.[9; trang 102]
- Đối với trẻ CPTTT GV cần có những tiêu trí đánh giá và mức độ kiểm tra khác so với trẻ bình thường Đánh giá trẻ CPTTT phải dựa trên 3 phương diện:
+ Đánh giá kết quả lĩnh hội kiến thức
+ Đánh giá rèn luyện kĩ năng
+ Đánh giá thái độ.[2; trang 216]
- Như vậy, yêu cầu GV cần chú ý việc đánh giá trẻ CPTTT phải đảm bảo khuyến khích tinh thần và thái độ học tập tốt Khi đánh giá không nên quá khắt khe, nhận xét một cách phiến diện gây tâm lý chán nản, tự ti cho HS Phải luôn luôn có sự điều chỉnh trong đánh giá kết quả giáo dục trẻ CPTTT trong tất cả các hoạt động học tập đặc biệt trong dạy học phân môn Tập đọc và lấy kế hoạch giáo dục cá nhân của trẻ làm cơ sở chủ yếu để thực hiện đánh giá
1.5.7 Phương pháp điều chỉnh trong dạy học trẻ CPTTT
+ Phương pháp đồng loạt: trẻ CPTTT có thể tham gia vào các hoạt động
học tập thường xuyên của lớp Với phương pháp này, giáo viên chỉ cần quan tâm hơn để giúp trẻ lĩnh hội nội dung bài học như trẻ bình thường.[2; trang 190]
+ Phương pháp đa trình độ: trẻ CPTTT cùng tham gia vào việc học
nhưng với mục tiêu về số lượng và mức độ khó của kiến thức khác nhau dựa trên khả năng nhận thức và nhu cầu của trẻ Cách điều chỉnh này dựa trên mô
Trang 37+ Phương pháp trùng lặp giáo án: trẻ CPTTT và trẻ bình thường cùng
tham gia vào hoạt động chung của bài học nhưng theo mục tiêu riêng.[2; trang 190]
+ Phương pháp thay thế: trẻ CPTTT cùng học chung với trẻ bình thường
nhưng theo 2 chương trình giáo dục khác nhau Ví dụ: các HS bình thường học giải toán còn trẻ CPTTT thực hiện phần viết màu sắc tập đi thẳng.[2; trang 190]
- Cơ sở điều chỉnh dựa vào các môn học, bài học cụ thể và còn phụ thuộc vào nhu cầu khả năng của mỗi đứa trẻ khác Trong việc điều chỉnh hoạt động dạy học Tập đọc cho HS CPTTT thì liên quan đến các mặt vốn từ vựng, cấu trúc ngôn ngữ và kĩ năng phát âm, luyện đọc, sửa tật phát âm
Như vậy, trong khi dạy học cho các em học sinh CPTTT giáo viên cần lưu ý sử dụng phương pháp điều chỉnh phù hợp với từng đối tượng học sinh, điều kiện, hoàn cảnh của em học sinh đó
1.5.8 Các hình thức điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT
- Thay đổi hình thức và môi trường hoạt động của HS:
+ Hình thức hoạt động học tập như: Hoạt động chung của cả lớp, hoạt
động theo từng nhóm, hoạt qua sự trợ giúp của bạn bè
+ Môi trường hoạt động: Trong lớp, ngoài sân trường, tham quan cảnh
thực, người thực…
- Thay đổi hình thức giảng dạy của GV: Hướng dẫn HS nắm vững kiến
thức qua việc tổ chức các hoạt động khác nhau: Hoạt động vui chơi, trò chơi,
luyện tập - thực hành.…
- Vận dụng các phương pháp dạy học khác nhau:
GV cần biết vận dụng HS một cách linh hoạt các phương pháp dạy học khác nhau, đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với nội dung và đối tượng, thể hiện được nghệ thuật và phong cách sư phạm
- Thay đổi nội dung và yêu cầu: GV cần thay đổi nội dung và yêu cầu sao cho phù hợp với mọi đối tượng HS phù hợp khả năng của trẻ
Trang 38- Thay đổi cách đánh giá: Đánh giá theo mục tiêu đã lập trong kế hoạch giáo dục các nhân của trẻ để giúp các em phát triển
- Thay đổi cách giao nhiệm vụ và bài tập: GV cần phải tính đến thời gian
và khả năng của HS để trẻ có thể hoàn thành nhiệm vụ hay bài tập được giao
- Thay đổi cách trợ giúp: Đối với trẻ KT nói chung và trẻ CPTTT nói
riêng khi tổ chức cho các em tham gia hoạt động học tập cần lưu ý phân công thành viên trợ giúp Tổ chức hoạt động học hợp tác nhóm; có thể sử dụng vòng
tay bạn bè để hỗ trơ cho trẻ trong quá trình học tập
1.5.9 Ý nghĩa của việc điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT
- Điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT
có ý nghĩa vô cùng quan trọng Điều chỉnh sẽ giúp trẻ CPTTT:
+ Bù trừ những khiếm khuyết, lệch lạc về tinh thần, thể chất, các giác quan hay các hành vi xa lạ
+ Sử dụng được tối đa những kiến thức, kĩ năng hiện có và lĩnh hội những kiến , kĩ năng mới
+ Tránh những bất cập giữa những kĩ năng hiện có và những nội dung giáo dục phổ thông
+ Đặc biệt sự điều chỉnh hoạt dạy học là cơ sở để trẻ CPTTT có những
cơ hội học tập và phát triển như trẻ bình thường khác Nâng cao tính phù hợp giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS
+ Tạo hứng thú tham gia học tập và tiếp thu bài học được dễ dàng hơn
Tiểu kết chương 1
Điều chỉnh hoạt động dạy học cho HS CPTTT trong phân môn Tập đọc
có ý nghĩa vô cùng to lớn Để điều chỉnh hiệu quả, GV cần nắm chắc về nội dung, hình thức, phương pháp điều chỉnh hoạt động dạy học cho trẻ CPTTT một cách đầy đủ và chính xác Phương pháp và hình thức điều chỉnh hoạt động dạy học trong phân môn Tập đọc cho trẻ CPTTT đã được chúng tôi tiến hành
Trang 39chỉnh hoạt động dạy học cho trẻ CPTTT Từ những vấn đề đã tìm hiểu sẽ giúp cho chúng ta biết để điều chỉnh hoạt động dạy học cần phải chuẩn bị và xây
dựng kế hoạch điều chỉnh như thế nào
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẬP ĐỌC
CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC PHONG CHÂU - THỊ XÃ PHÚ THỌ
2.1 Khái quát quá trình khảo sát
2.1.1 Một số nét về quá trình dạy học cho trẻ CPTTT tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ
Trường Tiểu học Phong Châu nằm trên địa bàn Thị Xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ là một ngôi trường đạt được rất nhiều thành tích trong công tác dạy học nói chung và công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật nói riêng Trường có trung binh hàng năm khoảng hơn 500 HS Đây là ngôi trường đầu tiên tại Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ tổ chức dạy học hòa nhập cho trẻ khuyết tật và với nhiều sự cố gắng đã đạt được nhiều thành tích cao trong công tác giáo dục hòa nhập này
Theo kết quả khảo sát ta có số liệu chính xác từ ban quản lý nhà trường
về tình hình học sinh tham gia học hòa nhập Hàng năm số HS khuyết tật tham gia học hòa nhập tại trường Tiểu học Phong Châu - Thị xã Phú Thọ luôn có khoảng trên 20 em Trong đó, chiếm số lượng nhiều hơn là học sinh CPTTT Phần đa đều HS khuyết tật là những trẻ có hoàn cảnh gia đình khó khăn Có một số HS có điều kiện tốt về vật chất nhưng còn thiếu sự quan tâm một cách đúng mực của gia đình.[Phụ lục 2]
Vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và giáo dục trẻ CPTTT nói riêng là công tác có rất nhiều sự quan tâm ở trường Tiểu học Phong Châu - Thị
xã Phú Thọ Điều đó được thể hiện thông qua nhiều chương trình hành động, kế hoạch dạy học hàng tháng của trường cho trẻ khuyết tật Đội ngũ cán bộ GV luôn nhiệt tình trong giảng dạy và dành nhiều tâm huyết tình cảm cho HS đặc biệt với trẻ CPTTT Đây chính là điều kiện rất thuận lợi để chúng tôi tổ chức thử nghiệm một số thiết kế giảng dạy có sử dụng các phương pháp điều chỉnh