1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp

126 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Tính Tự Lập Cho Trẻ 5 – 6 Tuổi Thông Qua Thí Nghiệm Khám Phá Môi Trường Xung Quanh Theo Hướng Tích Hợp
Tác giả Đỗ Thị Lan Hương
Người hướng dẫn Th.S: Bùi Thị Phương Liên
Trường học Trường Đại học Hùng Vương
Chuyên ngành Giáo dục mầm non
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục tính tự lập thông qua hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh đóng vai trò vô cùng quan trọng, bởi qua đó chúng ta có thể giáo dục và hình thành cho trẻ cách cư xử đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

Ngành: Giáo dục mầm non

Phú Thọ, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

-

ĐỖ THỊ LAN HƯƠNG

GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA THÍ NGHIỆM KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG

QUANH THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành:Giáo dục mầm non

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Th.S: BÙI THỊ PHƯƠNG LIÊN

Phú Thọ 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là của riêng

tôi, các kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực Mọi sự giúp đỡ cho việc

thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa

luận đã được ghi rõ nguồn gốc và được phép công bố

Phú Thọ, ngày tháng năm 2019

Sinh viên thực hiện

Đỗ Thị Lan Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo Trường Đại học Hùng Vương, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non đã tạo điều kiện cho em hoàn thiện và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp của mình

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – ThS Bùi Thị Phương Liên,

giảng viên khoa Giáo dục Mầm non – Trường Đại học Hùng Vương Trong suốt thời gian qua, nhờ có sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của cô mà em đã

có được những kiến thức, những kinh nghiệm quý giá cùng tinh thần làm việc hết mình để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ giáo viên và các cháu lớp 5 tuổi A1, A2 trường Mầm non Thanh Lâm đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt các công việc trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Trong khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Phú Thọ, ngày… tháng năm 2019

Sinh viên

Đỗ Thị Lan Hương

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG – BIỂU ĐỒ

1 Danh mục các bảng

Bảng 1.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò của hoạt động thí nghiệm trong việc

giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi………

Bảng 1.2 Thực trạng biện pháp giáo dục tính tự lập thông qua họat động thí nghiệm

khám phá môi trường xung quanh ở trường mầm non cho trẻ 5 – 6 tuổi

Bảng 1.3 Khó khăn mà giáo viên khi tổ chức giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

thông qua hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh…………

Bảng 1.4 : Kết quả khảo sát tác dụng của giáo dục tính tự lập đối với sự phát

triển của trẻ………

Bảng 3.1 Bảng mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi ( TN-ĐC)

trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh trước tiến

hành thử nghiệm

Bảng 3.2 Bảng mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi ( TN-ĐC)

trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh trước tiến

hành thử nghiệm (theo tiêu chí)

Bảng 3.3 Bảng mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi ( TN-ĐC)

trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh sau tiến

hành thử nghiệm

Bảng 3.4 Bảng mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi ( TN-ĐC)

trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh sau tiến

hành thử nghiệm ( theo tiêu chí)

Bảng 3.5 Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm thực nghiệm trước và sau

khi thực nghiệm ………

Bảng 3.6 : Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm thực nghiệm trước và sau

khi thực nghiệm(theo tiêu chí) ………

Bảng 3.7 Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm đối chứng trước và sau khi

Trang 7

2 Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi

( TN-ĐC) trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

trước tiến hành thực nghiệm

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi(TN-ĐC)

trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh trước tiến

hành thử nghiệm (theo tiêu chí)

Biểu đồ 3.3 Biểu đồ mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi ( TN-ĐC)

trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh sau tiến

hành thực nghiệm

Biểu đồ 3.4 : Biểu đồ mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi

( TN-ĐC) trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

sau tiến hành thử nghiệm ( theo tiêu chí)

Biểu đồ 3.5 So sánh mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm thực nghiệm

trước và sau khi thực nghiệm ………

Biểu đồ 3.6 : Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm thực nghiệm trước và

sau khi thực nghiệm(theo tiêu chí) ………

Biểu đồ 3.7 Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm đối chứng trước và sau

Trang 8

MỤC LỤC

Phần I Mở đầu 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

2.1 Về lý luận 3

2.2 Về thực tiễn 3

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4.1 Khách thể nghiên cứu 3

4.2 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 4

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu anket 4

7.2.2 Phương pháp quan sát 4

7.2.3.Phương pháp đàm thoại 4

7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm 5

7.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 5

7.2.6 Phương pháp thống kê toán học 5

8 Những đóng góp mới của đề tài 5

9 Cấu trúc của khóa luận 5

Chương 1 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 6

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.2 Tính tự lập và giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi 11

1.1.3 Thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh và ưu thế của nó với sự phát triển tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi 21

Trang 9

1.1.4 Dạy học theo hướng tích hợp ở bậc học mầm non 25

1.1.5 Khái niệm biện pháp tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi 27

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 29

1.2.1 Thực trạng về việc tổ chức giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp 29

Chương 2 41

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THÍ NGHIỆM KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 41

2.1.Cơ sở khoa học của việc xây dựng một số biện pháp tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi 41

2.1.1 Dựa vào chiến lược phát triển con người Việt Nam thế kỷ XXI 41

2.1.2 Dựa vào mục tiêu giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay 42

2.1.3 Dựa vào quan điểm tích hợp trong giáo dục trẻ 42

2.2 Những nguyên tắc xây dựng các biện pháp tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi 43

2.2.1 Cần hướng tới mục đích hình thành và phát triển tri thức về tự lập nói riêng và phát triển nhân cách cho trẻ nói chung 43

2.2.2 Các biện pháp phải phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi 44

2.2.3 Tạo điều kiện tối ưu về vật chất và tinh thần, tạo mọi cơ hội để trẻ học tính tự lập 44

2.3 Một số biện pháp tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi 45

2.3.1 Biện pháp 1: Sưu tầm, thiết kế và lựa chọn các hoạt động thí nghiệm phù hợp với nội dung giáo dục tính tự lập 45

Trang 10

2.3.2 Biện pháp 2: Mở rộng chủ đề thí nghiệm khám phá môi trường

xung quanh ở mọi hoạt động 47

2.3.3 Biện pháp 3: Thường xuyên thay đổi các cách thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh khác nhau 50

2.3.4 Biện pháp 4: Tạo môi trường hoạt động phù hợp, hấp dẫn đối với trẻ 53

2.3.5 Biện pháp 5: Sử dụng câu hỏi, lời gợi ý, lời nhận xét và bổ sung câu trả lời của trẻ, hướng trẻ đến một mục tiêu nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập 55

2.3.6 Biện pháp 6: Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động 56

Chương 3 59

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59

3.1 Mục đích thực nghiệm 59

3.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian thực nghiệm 59

3.3 Nội dung thực nghiệm 61

3.4 Tiêu chí đánh giá và thang đánh giá thực nghiệm 61

3.4.1 Tiêu chí đánh giá 61

3.4.2 Cách đánh giá và thang đánh giá 62

3.5 Tiến hành thực nghiệm 63

3.5.1 Tiến hành đo đầu vào 63

3.5.2 Tiến hành thực nghiệm 64

3.5.3 Tiến hành đo đầu ra 64

3.6 Kết quả thực nghiệm 64

3.6.1 Kết quả đo đầu vào 64

3.6.2 Tổ chức thực nghiệm tác động 66

3.6.3 Kết quả đo đầu ra sau thực nghiệm 71

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 84

Phần III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Kiến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 11

Phần I Mở đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài

Hình thành nhân cách cho trẻ ngay từ buổi ban đầu đang được các bậc phụ huynh và các cơ sở giáo dục mầm non đặc biệt quan tâm Khoa học tâm lí đã khẳng định: Khi hết lứa tuổi mầm non, ở trẻ đã đặt xong nền móng đầu tiên của nhân cách, sự phát triển về mặt nhân cách cho trẻ sau này đều mang rõ dấu ấn của thời ấu thơ Vì thế, ngay từ lứa tuổi này chúng ta phải chăm lo phát triển toàn diện cho trẻ, trên cơ sở đó mà từng bước hình thành nhân cách cho trẻ theo hướng yêu cầu mà xã hội mới đặt ra Và một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục nhân cách trẻ là làm thế nào để có thể phát huy tính tự lập cho trẻ Việc giáo dục tính tự lập cho trẻ sẽ tạo cơ hội cho trẻ tự khẳng định bản thân, có khả năng giải quyết mọi vấn đề gặp phải trong cuộc sống sau này mà không ỷ lại, dựa dẫm vào người khác Chính những điều này sẽ góp phần không nhỏ vào

sự thành công của trẻ khi trẻ trưởng thành

Giáo dục tính tự lập cho trẻ là hoạt động có mục đích của nhà giáo dục nhằm xây dựng cho trẻ những nét tính cách, những phẩm chất, bồi dưỡng cho các em những tiêu chuẩn và hành vi qui định thái độ của chúng trong quan hệ giao tiếp với nhau, với gia đình, xã hội Ở trường mầm non, việc giáo dục tính tự lập cho trẻ được thực hiện thông qua nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động trải nghiệm Giáo dục tính tự lập thông qua hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh đóng vai trò vô cùng quan trọng, bởi qua đó chúng ta có thể giáo dục và hình thành cho trẻ cách cư xử đúng mực trước các

tình huống của cuộc sống, giáo dục tình yêu thiên nhiên, thái độ tích cực trong

giữ gìn và bảo vệ môi trường xung quanh, giáo dục thái độ trân trọng và yêu lao động, có trách nhiệm với công việc được giao, hình thành ở trẻ sự nhạy cảm với các trạng thái của sự vật hiện tượng, con người xung quanh, biết thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ,…

Trẻ em lứa tuổi mầm non luôn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh và chính nhu cầu đó của trẻ trở thành động lực giúp trẻ tích cực trong khi hoạt động Do vậy, việc hình thành tính tự lập là rất quan trọng để thoả

Trang 12

mãn nhu cầu khám phá của trẻ Chính vì thế trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, chúng ta có thể hình thành tính tự lập cho trẻ thông qua nhiều hoạt động bằng các phương tiện khác nhau, trong đó có thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh, khi trẻ có cơ hội được đứng ở vị trí của “ nhà nghiên cứu” khi được tận mắt chứng kiến những diễn biến trong quá trình thí nghiệm hay tự thực hành khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh thì việc nâng cao tính tự lập sẽ trở nên dễ dàng hơn Thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh là một nội dung rất hấp dẫn của hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh Khám phá môi trường xung quanh giúp cho việc tổ chức làm thí nghiệm đem lại hiệu quả cao Thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

có rất nhiều ưu thế, dễ dàng kích thích tính tự lập của trẻ Nhưng để phát triển được tính tự lập không phải dễ dàng

Thực tế, ở trường mầm non giáo viên đã tổ chức giáo dục tính tự lập thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh, trẻ được hoạt động, được cô chỉ bảo hướng dẫn Trong khi hoạt động thí nghiệm trẻ được tự do lựa chọn đồ dùng làm thí nghiệm cũng như cách tiến hành thí nghiệm Mặc dù trẻ được hoạt động một cách tự lập nhưng kỹ năng của trẻ còn rất yếu Trẻ 5 – 6 tuổi thích tìm hiểu về thế giới xung quanh, thích làm mọi thứ bằng chính tự lực của bản thân nhưng các cách tổ chức ở trường mầm non để trẻ phát huy tính tự lập thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh là chưa cao Những phương pháp mà giáo viên sử dụng chưa đạt được hiệu quả tối đa để trẻ phát triển, trong khi hoạt động trẻ còn chưa tích cực và cũng có những trẻ cảm thấy không hứng thú với cách tổ chức của cô, trẻ không chú ý bài học dẫn đến trêu đùa các bạn khác gây mất trật tự Và hầu như ở các trường mầm non việc tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh để phát huy tính

tự lập cho trẻ chưa có hiệu quả do cô giáo giúp đỡ trẻ quá nhiều, khi thấy trẻ không làm được thì cô giúp đỡ luôn không cho trẻ thời gian cố gắng thực hiện

và cô không tạo cho trẻ hứng thú về bài học

Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài: “Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp”

Trang 13

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 Về lý luận

- Làm rõ cơ sở lý luận về tính tự lập và vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi; về thí nghiệm khám phá đối với lứa tuổi mẫu giáo; vai trò của việc tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh trong việc giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Xác định cơ sở khoa học của việc xây dựng một số biện pháp tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

2.2 Về thực tiễn

- Đề xuất được các biện pháp tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 –

6 tuổi với những hướng dẫn thực hiện cụ thể

- Đề tài là tài liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non và giáo viên mầm non quan tâm đến vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ mầm non thông qua tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài “Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp” nhằm mục đích nâng cao mức độ phát triển tính tự lập cho trẻ, tạo

nền tảng cho việc phát triển những tính cách và năng lực cần thiết cho trẻ, chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông sau này

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình phát triển tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp

Trang 14

5 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng các biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ dựa trên việc tận dụng ưu thế của quá trình tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh và thỏa mãn được nhu cầu nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi thì mức độ phát triển tính tự lập cho trẻ sẽ được nâng cao

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển tính tự lập

cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiêm khám phá môi trường xung quanh

- Đề xuất biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

- Thực nghiệm biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh ở trường mầm non

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp: Phân tích- tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề lý luận có liên

quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu anket

Xây dựng phiếu điều tra nhằm phát hiện thực trạng những biện pháp

tổ chức hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh của giáo viên mầm non trong việc giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

7.2.2 Phương pháp quan sát

Quan sát những biện pháp giáo dục tính tự lập thông qua hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh của giáo viên Quan sát được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu thực tiễn, từ việc xác định thực trạng đến việc tổ chức thực nghiệm

7.2.3 Phương pháp đàm thoại

Đàm thoại với giáo viên về những biện pháp hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

Trang 15

7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu sản phẩm nhằm phát hiện ra những kỹ năng mà trẻ đã sử dụng và thể hiện trong sản phẩm Qua sản phẩm xác định sự hình thành những nhận biết của trẻ và thái độ của trẻ thể hiện trong sản phẩm

7.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Áp dụng những biện pháp tổ chức hướng dẫn hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi tuổi nhằm kiểm tra tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

7.2.6 Phương pháp thống kê toán học

Chúng tôi sử dụng một số công thức toán học như: Tính phần trăm, tính trung bình,… để phân tích và sử lý kết quả nghiên cứu

8 Những đóng góp mới của đề tài

Xây dựng hệ thống lý luận về tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

Làm rõ thực trạng của việc tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xunng quanh nhằm giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

Đề xuất được các biện pháp tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm giáo dục tính tự lập 5 – 6 tuổi

9 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận được chia làm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số biện pháp tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường

xung quanh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi theo hướng tích hợp

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

Phần II Nội dung

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới

Vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ từ lâu đã được các nhà tâm lí học

và giáo dục học quan tâm nghiên cứu bằng các biện pháp, phương pháp khoa học khác nhau Họ đều gặp nhau tại một điểm – khẳng định vai trò của tính

tự lập đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Tiêu biểu như công trình nghiên cứu của các tác giả như: L.I.Kaplan, T.I.Ganhelin, Vengher, A.A.Xơmirơnôp, E.I.Đơmitriev Các tác giả đều đã khẳng định tính tự lập không tự nhiên mà có, những tư chất tự nhiên của con người chỉ là những điều kiện cần thiết cho việc hình thành tính tự lập dưới

sự hướng dẫn và giúp đỡ của người lớn

Theo tác giả Rudaki: “Tính tự tin chính là trụ cột của tinh thần phong độ, khiến con người cởi mở lạc quan, làm tiêu trừ và ngăn ngừa sinh sản lòng tự ti, biết xử lý vấn đề một cách quyết đoán, nhanh gọn” [31] Vì từ tính tự tin trẻ mới

mạnh dạn làm mọi thứ thông qua tính tự tin trẻ có thể rèn luyện tính cách dần dần sẽ chủ động trong mọi việc

Một số nhà nghiên cứu gắn tính tự lập với các quá trình tâm lí như: tư duy chú ý, trí nhớ phản ánh trong công trình của các tác giả: S.L.Rubinstein,T.I Galina, I.U.A Đmitriêva Theo các tác giả tính tự lập gắn chặt với ý chí và xem nó như một cấu trúc phức tạp, nhưng khi đã được hình thành thì tồn tại như một phẩm chất, tính cách bền vững và không thay đổi

Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các tác giả: T.I Galina, R.G.Nheatreva, A.A.Liublinxkaia, K.D.usinxki, T.Guscova Các tác giả qua nghiên cứu đều đã khẳng định vai trò của người lớn trong việc phát triển tính tự lập cho trẻ Đồng thời họ cũng nhận định rằng lao động của trẻ có vai trò hết sức quan trọng đối với việc hình thành và phát triển tính tự lập [25]

Trang 17

George Matthew Adams trong cuốn “You can - Không gì là không thể” cho rằng: “Tự lập giống như sống lưng của con người… Thiếu tự lập, con người

sẽ chẳng làm nên trò chống gì… Tự lập là nền tảng của thành công, giúp con người rèn luyện bản lĩnh, nhân cách và nắm bắt kịp thời các cơ hội” [27]

Tạo cho trẻ thói quen tự lập là việc làm vô cùng quan trọng Nếu trẻ tự lập làm mọi việc chúng sẽ có can đảm khám phá mọi thế giới xung quanh dù chỉ một lần Đây là một điều đáng quan tâm khi trẻ lên 5 - 6 tuổi, tức là lúc trường học sẽ trở thành một môi trường quan trọng trong cuộc đời của trẻ Mỗi ngày trẻ

có những trải nghiệm mới về học tập và trẻ cần có sự tự tin, tự mình ứng phó giải quyết những trải nghiệm đó, mỗi ngày trẻ cũng có những trải nghiệm mới

về xã hội khi trẻ giao tiếp với những bạn cùng lớp Như vậy, các tác giả đề cao vai trò tính tự lập đối với quá trình phát triển đời người, phát triển lý thuyết giáo dục tính tự lập lên một nấc thang mới cao hơn

Ngay từ thế kỷ XVI, J.A.Comenxki ( 1592-1670) trong cuốn sách

“Thế giới bằng tranh” đã thể hiện quan điểm của mình về vấn đề này Cuốn sách của ông là bách khoa toàn thư đặc biệt dành cho trẻ nhỏ, ở đó trẻ được giới thiệu về thế giới với tất cả sự phát triển của khoa học lúc bấy giờ Từ những bức tranh và những bình luận ngắn kèm theo, trẻ đã có thể biết về những công việc đầu tiên của con người trên Trái Đất như : làm vườn, làm ruộng, dệt vải, về những cuốn sách, nghệ thuật lời nói, về đạo đức, tính hài hước, tính nhân văn, về vật lý, hóa học thiên văn [28]

Bàn về các yếu tố ảnh hưởng đến tính tự lập, tác giả JeanCharier cũng

khẳng định: “Tình trạng sức khoẻ cũng góp phần làm ảnh hưởng tới sự tự tin của mỗi con người trước khó khăn trong cuộc sống” Thêm vào đó, chính ông

đã trả lời câu hỏi “Tại sao bạn lại nhút nhát? Bởi vì ban thiếu ý chí! Bởi vì bạn

có tự ti, mặc cảm không tự biết đến khả năng của mình thực sự như thế nào và bởi vì bạn sợ” [29] Vì thế nếu bạn nhút nhát bạn sẽ không dám đối đầu với thử

thách luôn giấu mình vào vỏ bọc an toàn, không rèn luyện bản thân bạn mãi luôn thất bại

Trang 18

I.G.Pextalozi (1746-1872); P.H.Phrebel (1782-1852); M.Montexxori (1870-1952) cho rằng việc nhân biết thế giới khách quan (về đặc điểm tính chất) là rất quan trọng đối với trẻ trước tuổi đi học Chính những quan sát, tiếp xúc với thiên nhiên và xã hội có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển năng lực trí tuệ của con người

Như vậy, các nhà tâm lí, giáo dục học đã đi sâu nghiên cứu bản chất của tính tự lập, khẳng định rõ vị trí quan trọng của phẩm chất tự lập trong cấu trúc nhân cách, sự thành công trong việc hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách này phụ thuộc rất nhiều vào sự giáo dục và giúp đỡ của người lớn đối với trẻ Họ cũng khẳng định muốn hình thành tính tự lập cho trẻ, người lớn phải tạo điều kiện cho trẻ tự thực hiện những nhiệm vụ vừa sức phù hợp với trẻ

1.1.1.2 Lich sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc tổ chức hoạt động khám phá môi trường xung quanh ở tuổi mẫu giáo và vấn đề giáo dục tính tự lập đã được nhiều nhà tâm lý học,

giáo dục học quan tâm nghiên cứu

Đã có một số công trình nghiên cứu về tính tự lập của trẻ ở lứa tuổi mầm non của một số tác giả:

Tác giả Mai Ngọc Liên đã nghiên cứu một số biện pháp giáo dục tính

tự lập của trẻ (24 – 36 tháng) thông qua hoạt động tự phục vụ Mai Ngọc Liên coi tính tự lập có nhiều nét tương đồng với tính tự lực và cho rằng: Ngay từ lứa tuổi còn rất nhỏ (2 tuổi) cần giáo dục trẻ tính tự lập cho trẻ bằng cách động viên, khuyến khích trẻ, cho trẻ luyện tập kĩ năng tự phục vụ, sử dụng các trò chơi, tạo điều kiện thuận lợi để trẻ tự phục vụ bản thân mình Tác giả cho rằng: Hoạt động tự phục vụ là phương tiện hữu hiệu nhất để giáo dục tính tự lập cho lứa tuổi hài nhi (24 – 36 tháng) [9]

Tác giả Nguyễn Hồng Thuận cũng đã nghiên cứu một số biện pháp tác động của gia đình nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớn ( 5 – 6 tuổi) Nguyễn Hồng Thuận đã đề xuất và thực nghiệm có kết quả các nhóm biện pháp tổ chức hoạt động, hình thành ở trẻ kỹ năng hoạt động một cách

Trang 19

độc lập, nhóm biện pháp hình thành ý thức tự lập và nhóm biện pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh ứng xử ở trẻ Nguyễn Thị Kim Ngân và

Nguyễn Hồng Thuận cho rằng: “Tính tự lập có nhiều nét tương đồng với tính tự lực có biểu hiện thiên về khía cạnh hành vi” [18]

Nguyễn Thị Vinh nghiên cứu về việc tổ chức môi trường nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ (5 – 6) tuổi ở trường mầm non Tác giả đề cập rất nhiều tới sự ảnh hưởng của môi trường tới khả năng phát triển tính tự lập cho trẻ Tác giả cho rằng môi trường là một trong những nhân tố quyết định tới sự phát triển tính tự lập ở trẻ [20]

Vấn đề cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh được các nhà giáo dục Việt Nam quan tâm từ những năm 50 – 60 của thế kỷ XX Thời kỳ

đó cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh được coi là phương tiện nhằm mục đích phát triển ngôn ngữ Các nội dung làm quen với môi trường xung quanh được đưa vào phần "Nhận xét và tập nói" trong chương trình giáo dục mẫu giáo Nội dung và phương pháp của phần này còn rất phiến diện và đơn điệu Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất (1975) nội dung của "Nhận xét và tập nói" được bổ sung, cải tiến và mang tên gọi mới "Tìm hiểu môi trường xung quanh và tập nói" Trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non, nội dung trên được đưa vào môn "Phương pháp phát triển ngôn ngữ" Từ những năm 1980, khi chương trình dự thảo và cải cách mẫu giáo được biên soạn thì làm quen với môi trường xung quanh được tách ra như một lĩnh vực tương đối độc lập với tên gọi "Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh" Tên gọi này được duy trì trong chương trình đổi mới hình thức chăm sóc và nuôi dạy trẻ (2004)

Chính vì vậy, nếu trẻ ở lứa tuổi được trang bị đầy đủ về khả năng tự lập sẽ tạo cho trẻ một nền tảng nhân cách vững vàng để trở thành người tự tin, độc lập, năng động và sáng tạo trong cuộc sống sau này Như vậy ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về tính tự lập của trẻ mẫu giáo Các tác giả đã khái quát hóa những vấn đề lý thuyết, đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục phẩm chất này trong các hoạt động khác nhau

Trang 20

Tuy nhiên chưa có những nghiên cứu đi sâu, cụ thể về các biện pháp phát huy tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động thí nghiệm khám

phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp Vì vậy cần phải nghiên

cứu đưa ra các biện pháp hữu hiệu để giáo dục phẩm chất này của trẻ

1.1.2 Tính tự lập và giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

1.1.2.1 Khái niệm tính tự lập

Trong cuốn đại từ điển Tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên có định nghĩa về tính tự lập như sau: Tự lập là tự sức mình làm lấy, không dựa dẫm nhờ vả vào người khác (Tự làm mọi việc, tinh thần tự lực, tự cường) [21]

Từ điển Việt – Anh (Tác giả Đặng Chấn Liêu và Lê Khả Kế) giải thích:

“tự lập” (Independent) có nghĩa là độc lập trong hành động [10]

I.Kon cho rằng: Tính tự lập là một phẩm chất nhân cách thể hiện sự không phụ thuộc khả năng tiếp nhận và ra những quyết định quan trọng, sự sẵn sàng chịu trách nhiệm về hành vi, sự tin tưởng rằng những hành vi của mình là đúng, có giá trị xã hội, có thể thực hiện được và phù hợp với đạo lý Như vậy I.Kon đã đề cập đến nội dung của khái niệm tự lập, từ việc định hướng ra quyết định của mình Tuy nhiên, định nghĩa của I.Kon chưa bao hàm toàn bộ cơ chế ảnh hưởng của tính tự lập đến quá trình hoạt động đạt kết quả cuối cùng

Các nhà giáo dục đều khẳng định tính tự lập là phẩm chất ổn định của nhân cách, có ý nghĩa rộng lớn đối với sự phát triển của con người, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người Tính tự lập thể hiện ở sự hợp nhất những biểu hiện cá nhân lên việc mục đích hóa, động

cơ hóa bên trong các nguồn lực, phương tiện để thực hiện các chương trình hành động đã lựa chọn, không có sự tham gia từ bên ngoài

Từ những nghiên cứu ở trên, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm về tính tự

lập như sau: Tính tự lập là một phẩm chất quan trọng của nhân cách được hình thành trong quá trình hoạt động của cá nhân với các sự vật hiện tượng, với người khác và với bản thân Nó đặc trưng cho thái độ tự tin vào khả năng của bản thân, thể hiện khả năng tự đặt mục đích, nhiệm vụ hành động, tự điều khiển,

Trang 21

điều chỉnh bản thân, sử dụng các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực để đạt mục đích đã đề ra

1.1.2.2 Vai trò của tính tự lập

Người có tính tự lập sẽ dễ đạt được thành công, được mọi người yêu mến, kính trọng Có biết bao người đã sống tự lập và đạt tới thành công ngoài mong đợi, như Hồ Chí Minh đã sống tự lập trong những năm tìm đường cứu nước Bác

ra đi với hai bàn tay trắng để rồi đem lại tự do độc lập cho cả dân tộc, hay tấm gương nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký bị liệt cả hai tay, ông đã vượt lên sự rủi ro của

số phận trở thành một người thầy ưu tú viết bằng chân, bằng đôi chân ấy ông đã viết sách, làm thơ, dạy học một tấm gương tự lập mà thanh niên Việt Nam phải noi theo

Ngược lại với đức tính tự lập là nhút nhát, lo sợ, ngại khó, dựa dẫm, ỷ lại, phụ thuộc vào người khác Hiện nay, có một số thành phần không nhỏ trong

xã hội có biểu hiện ỷ lại, dựa dẫm vào bạn bè, cha mẹ, để chiếm chức, chiếm quyền, chiếm “ghế” Chính vì những thành phần này làm bộ mặt xã hội Việt Nam ta xấu đi và gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc Tự lập là một phẩm chất để khẳng định nhân cách, bản lĩnh và khả năng của một con người Chỉ biết dựa dẫm vào người khác sẽ trở thành một gánh nặng cho người thân, xã hội và cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa

Vì vậy cần phải rèn luyện khả năng tự lập một cách bền bỉ, đều đặn Để có thể tự lập, bản thân mỗi người phải có sự nỗ lực, cố gắng và ý chí mạnh mẽ để vươn lên, vượt qua thử thách, khó khăn, để trau dồi, rèn luyện năng lực, phẩm chất

Nếu mọi người đều biết sống tự lập kết hợp với tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau thì xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn và cuộc sống mỗi người sẽ được hạnh phúc

1.1.2.3 Biểu hiện của tự lập

Tự lập thể hiện sự tự tin, bản lĩnh cá nhân dám đương đầu với khó khăn, thử thách ý chí nỗ lực phấn đấu vươn lên trong học tập, công việc, cuộc sống

Tự lập ở đây được biểu hiện qua nhiều hành động khác nhau Ví dụ, ngay khi là học sinh, tính tự lập việc tự lập được thể hiện qua việc bản thân bạn có tự giác làm bài hay không, có ý thức tham gia vào các công việc gia đình hay

Trang 22

không… Ở trường, khi được giao bài tập khó, thay vì chép bài bạn, thì bạn sẽ tự suy nghĩ cho đến khi cảm thấy nó nằm ngoài tầm giải quyết của bản thân thì mới nhờ đến thầy cô bạn bè Hay như ở nhà thay vì để mẹ lo hết công việc trong gia đình, bạn có thể tự dọn dẹp phòng ngủ của bản thân, thậm chí giúp mẹ khi không được nhờ vả Một ví dụ khác ở lứa tuổi mầm non, biểu hiện của trẻ biết tự lập là tự thu dọn đồ dùng, đồ chơi sau khi chơi, tự thu dọn bàn ghế, tự làm một

số việc vệ sinh cá nhân đơn giản… mà không cần tới sự nhắc nhở của cô giáo và cha mẹ

Sống tự lập là một điều cần thiết với mọi người Sự tự lập đem lại cho chúng ta sự vững vàng, có những chính kiến riêng và tự tin trong mỗi quyết định Nó sẽ giúp bản thân vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống

1.1.2.4 Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

a, Khái niệm giáo dục

Giáo dục (theo nghĩa rộng):

Là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm

xã hội của loài người

Để hiểu rõ hơn khái niệm Giáo dục (theo nghĩa rộng) cần làm sáng tỏ khái niệm nhân cách và khái niệm xã hội hoá con người

Hình thành nhân cách: Đó là quá trình phát triển con người về mặt sinh lý, tâm lý và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi về chất Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩm sinh, di truyền, tính tích cực của chủ thể…), và các nhân tố bên ngoài (ảnh huởng của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục), do ảnh hưởng của các tác động tự phát, ngẫu nhiên (tác động bên trong, bên ngoài chưa được kiểm soát, điều khiển) và các tác động có mục đích, có tổ chức (kiểm soát được, điều khiển được) Quá trình này làm biến đổi đứa trẻ với những tư chất vốn có của con người thành một nhân cách

Trang 23

Xã hội hoá con người: Đó là quá trình có tính chất xã hội hình thành nhân cách Quá trình này chỉ bao hàm các tác động do những nhân tố xã hội; xã hội tác động một cách có mục đích, có tổ chức tới cá nhân, mặt khác cá nhân tích cực tái sản xuất các mối quan hệ xã hội bằng hoạt động, bằng sự tham gia tích cực vào môi trường xã hội Từ đó, giáo dục nói một cách khác là sự xã hội hoá con nguời chỉ dưới những tác động có mục đích và có tổ chức

Giáo dục (theo nghĩa hẹp):

Đó là một bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những

cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thể lực

Chức năng trội của quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) chỉ được thực hiện trên cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến tình cảm và hành vi

Giáo dưỡng (hay trau dồi học vấn):

Dưới góc độ là quá trình thì đó là quá trình con người lĩnh hội hệ thống tri thức nhất định về khoa học tự nhiên, xã hội và về tư duy

Dưới góc độ kết quả lĩnh hội thì đó là trình độ học vấn, nghĩa là trình độ tri thức, kỹ năng kỹ xảo đã được lĩnh hội, chẳng hạn như người ta nói trình độ THPT

cơ sở, trình độ Đại học…Chức năng trội của nó là sự tác động đến ý thức là chính

Dạy học - Đó là con đường, phương tiện của giáo dưỡng (trau dồi học vấn) và giáo dục (nghĩa hẹp):

Dưới góc độ quá trình thì dạy học là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh, điều khiển hoạt động tâm lý của học sinh để giúp họ tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức và hình thành thế giới quan khoa học cho họ

b, Khái niệm giáo dục tính tự lập

Tự lập là do chính bản thân mình làm, không có sự giúp đỡ từ cá nhân hay yếu tố bên ngoài nào, tự lập là một cách sống độc lập, tự bản thân mình lo lắng, đưa ra các quyết định đối với tất cả công việc của bản thân Việc giáo dục tính

Trang 24

tự lập cho trẻ ngay từ sớm sẽ góp phần xây dựng cho trẻ tính cách để hình thành tính tự lập và giúp ích cho cuộc sống sau này Nước Nhật là một nước chú trọng đến giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ khi con bé, có rất nhiều câu chuyện kể

về cách dạy con của người Nhật trẻ biết chăm sóc bản thân trong hoàn cảnh nguy hiểm mà không nhờ sự giúp đỡ của ai Nhưng hiện trạng hiện nay cuộc sống phát triển, đời sống vật chất được nâng cao hơn, cha mẹ cũng dành nhiều thời gian quan tâm chăm sóc trẻ hơn, điều này gây nên tình trạng ỷ lại của trẻ, trẻ dần trở nên lười vận động lười suy nghĩ, không tự lập lúc nào cuộc sống cũng màu hồng và ở trong một chiếc hộp an toàn không bao giờ muốn thoát ra vỏ bọc

ấy, điều này làm trẻ ngày càng nhút nhát, hèn kém Cuộc sống là một hành trình rất dài và nhiều khó khăn, thành công không đến với những người lười biếng, chúng ta cần phải biết rèn luyện bản thân trở nên độc lập không phụ thuộc vào người khác từ những hành động nhỏ nhất, tính tự lập sẽ giúp ta có được kỹ năng vững vàng để đối diện với những trở ngại, thách thức trong cuộc sống Giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ khi còn bé không những tạo ra cho trẻ khả năng tự lập trong sinh hoạt hằng ngày mà còn là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành sự tự tin, năng động, sáng tạo, làm cơ sở để hình thành các kỹ năng sống sau này

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của giáo dục là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, nhờ

có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá nhân loại và dân tộc được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên

Theo Nguyễn Sinh Huy trong cuốn “Giáo dục học đại cương”: “Giáo dục là hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [8]

Theo nhóm tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai - Đinh Thị

Kim Thoa trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non (từ lọt lòng đến 6 tuổi)”: “Giáo dục đó là quá trình mà thế hệ cha anh truyền lại kinh nghiệm lịch

Trang 25

sử - xã hội cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống và lao động để đảm bảo sự phát triển hơn nữa của xã hội và của cá nhân

Với trẻ thơ, giáo dục nhằm phát triển các chức năng tâm lí, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, chuẩn bị cho những giai đoạn phát triển sau được thuận lợi” [19]

Từ các nghiên cứu trên chúng tôi đưa ra khái niệm: Giáo dục tính tự lập

là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục hình thành và phát triển tính tự lập

c, Giáo dục tính tự lập với sự phát triển của trẻ 5 – 6 tuổi

Tính tự lập có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ mầm non nói chung và của trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng Vai trò của tính

tự lập thể hiện ở một số mặt cụ thể sau:

+) Tính tự lập tạo điều kiện phát triển trí tuệ và xúc cảm của trẻ

Trong những năm gần đây, ở nhiều nước phương tây người ta quan tâm nghiên cứu tới vấn đề xúc cảm ở con người và sự giáo dục xúc cảm cho mọi người, đặc biệt là lớp trẻ Hiện nay người ta chứng minh được rằng trí thông minh xúc cảm có vai trò to lớn cho những thành tích xuất sắc, sự thăng tiến nghề nghiệp trong cuộc đời mỗi người

Tính tự lập có ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến trí thông minh xúc cảm của trẻ Xét trên bình diện tâm lí học, trong quá trình hoạt động tự lập, trẻ tự nhận biết xúc cảm của mình, có lòng tự tin và khả năng tự điều khiển, kiểm soát cảm xúc của mình

+) Tính tự lập ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình hình thành những chuẩn mực

và hành vi đạo đức ở trẻ

Trẻ 5 – 6 tuổi thường lĩnh hội những chuẩn mực và quy tắc hành vi như là những thước đo để đánh giá người khác và đánh giá bản thân Tính tự lập sẽ điều chỉnh hành vi của trẻ cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó mà hành vi của trẻ mang tính chủ động rõ nét hơn Tính tự lập sẽ giúp trẻ đạt mục đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động Tính

Trang 26

tự lập ở trẻ 5 – 6 tuổi được coi như một biểu hiện rõ nhất của ý thức khiến cho nhân cách của trẻ được khẳng định

+) Tính tự lập liên quan trực tiếp đến quá trình phát triển tính tích cực sáng tạo của trẻ

Tính tự lập liên quan chặt chẽ đến tính tích cực Tính tích cực và tính tự lập là hai tính cách có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của trẻ Nhiều nhà khoa học đã nhận định: Nhờ có tính tự lập mà giáo viên hướng trẻ hoạt động tích cực hơn Tích cực là một trong những chỉ số và điều kiện của việc phát huy tính tự của trẻ Quá trình phát triển tính tự lập được hình thành bằng con đường tích cực hóa cá nhân Vì vậy hai tính cách này của trẻ liên quan chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhân cách trẻ phát triển

+) Tính tự lập thúc đẩy nhanh quá trình chuẩn bị vào lớp 1 của trẻ

Bước vào trường phổ thông là một bước ngoặt trong đời sống của trẻ với những điều kiện hoạt động mới và một địa vị mới trong xã hội Trong quá trình học tập, để chiếm lĩnh tri thức khoa học đòi hỏi học sinh lớp 1 phải biết làm việc một cách tự giác, độc lập Điều đó đòi hỏi trẻ phải có tính tự lập cao Tính tự lập sẽ giúp cho trẻ có tính chủ động, bền bỉ và sự nỗ lực của ý chí trong quá trình hoạt động Tuân theo nội quy của nhà trường và thực hiện những yêu cầu của giáo viên hay của tập thể lớp đề ra Tính tự lập giúp trẻ có niềm tin vào bản thân để kiên trì theo đuổi mục đích học tập và tiếp nhận những tri thức khoa học

có hệ thống Đặc biệt tính tự lập khơi dậy sự sáng tạo, lòng ham hiểu biết, thích khám phá những điều mới trong thế giới tự nhiên và cuộc sống xã hội

Như vậy lứa tuổi 5 – 6 tuổi là giai đoạn trẻ rất nhạy cảm, giáo viên mầm non cần hiểu rõ sự phát triển của trẻ để sử dụng các biện pháp giáo dục đúng đắn nhằm hình thành tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp ở trường mầm non

d, Ý nghĩa của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

Việc giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi có ý nghĩa vô cùng quan trọng Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi là hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên

Trang 27

của nhân cách con người Nó giúp trẻ xã hội hóa nhân cách cá nhân, giúp trẻ dễ dàng hòa nhập vào môi trường tự nhiên và xã hội

Mặt khác, tính tự lập là một giá trị được coi là quan trọng như là một nội dung giáo dục ở nhà trường, gia đình và xã hội Giáo dục tính tự lập góp phần hình thành và phát triển nhân cách ở thế hệ trẻ ngay ở tuổi ấu thơ

Nhờ giáo dục tính tự lập trẻ sẽ hình thành hệ thống những việc làm tự lập như: Tự chuẩn bị quần áo, giữ sạch cặp đi học, tự tắm, tự tập thể dục, biết tự xúc cơm ăn, giữ gìn cơ thể sạch sẽ Trẻ hình thành hệ thống hành vi ứng xử với bản thân, có hành vi văn hóa – vệ sinh như: ăn uống gọn gàng, vệ sinh, luôn giữ gìn mặt mũi, chân tay sạch sẽ, đi ngủ và thức dậy đúng giờ

Ngoài ra, việc giáo dục tính tự lập cho trẻ còn giúp trẻ hình thành thái độ thoải mái, có ý thức tự lực trong sinh hoạt hằng ngày Ở trẻ 5 – 6 tuổi nhân cách đang ở giai đoạn khởi đầu vì vậy, cần quan tâm giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện nói chung và giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ lứa tuổi nhỏ

Như vậy, việc giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi là rất quan trọng Tự lập không phải là giá trị vật chất có thể nuôi sống con người song nó là tài sản quý giá không phải ai cũng dễ dàng có được và không thể đem so sánh với bất kì thứ gì Đây là cách rèn luyện cách sống tốt cho con người ngay từ khi còn nhỏ

e, Sự hình thành và phát triển tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

Các nhà tâm lí – giáo dục học nghiên cứu về tính tự lập của trẻ lứa tuổi mầm non như: N.M acxarina, B.G Ananhiep, G.N Gôđina, M.I Lixina… Đều khẳng định rằng: Tất cả mọi đứa trẻ bình thường cả về tâm lí và sinh lí đều

có nhu cầu và có cố gắng tự thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào người lớn trong một số hoạt động sinh hoạt hàng ngày Các tác giả khẳng định, trẻ ở cuối độ tuổi nhà trẻ đã có biểu hiện của tính tự lập và các biểu hiện đó tiếp tục phát triển và hình thành tính tự lập như một nét phẩm chất của nhân cách trẻ ở cuối độ tuổi mẫu giáo Cụ thể được biểu hiện trong hoạt động của trẻ như: Vui chơi, hoạt động học tập, lao động tự phục vụ

Tính tự lập hình thành từ thực tiễn cuộc sống của trẻ, nó góp phần phát triển nhân cách con người Ở trẻ 5 – 6 tuổi tính chủ định của các quá trình tâm lí

Trang 28

đã phát triển mạnh mẽ, trẻ có khả năng tự lập trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Chính ý thức về bản thân, nhu cầu muốn khẳng định mình

là nguồn gốc làm nảy sinh những ý muốn và hành động độc lập

Như vậy tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi là một phẩm chất nhân cách được hình thành trong quá trình hoạt động của cá nhân với các sự vật hiện tượng với người khác và với bản thân, khả năng hoạt động tự lập, tự đặt mục đích, lựa chọn phương tiện, cách thực hoạt động, tự đánh giá, kiểm tra bản thân, có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực, ý chí trong quá trình hoạt động

f, Đặc điểm tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi

Quá trình hình thành và phát triển tính tự lập của trẻ liên quan chặt chẽ đến sự phát triển các quá trình tâm lí Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lí được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lí (nhận thức, tình cảm, ý chí), xây dựng nền tảng nhân cách ban đầu của con người, mà trong đó tính tự lập đóng vai trò quan trọng

Đối với trẻ 5 – 6 tuổi, tính tự lập biểu hiện ở sự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng tự khẳng định mình trong tập thể, ở những dấu hiệu tự lập trên bình diện rộng và sâu hơn Trong hoạt động thí nghiệm biểu hiện tính tự lập rõ rệt, ít lệ thuộc vào người lớn và hoàn toàn tùy thuộc vào ý thích của mình Những biểu hiện đặc trưng về tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi thể hiện qua các hoạt động bằng các dấu hiệu sau:

+) Tính chủ động trong các ý định của mình (có nghĩa là xuất hiện khả năng tự lập trong việc lập kế hoạch hành động)

Dấu hiện này xuất hiện đầu tiên trong quá trình hình thành tính tự lập, có

xu hướng bền vững và dần dần mở rộng ra các hành động với đồ vật của trẻ Dấu hiệu này thường đi kèm với đòi hỏi “tự tôi” của trẻ Nhiều trẻ đã xuất hiện những mong muốn có ý nghĩa mang tính xã hội Những mong muốn này được kích thích bởi những biểu tượng về kết quả những hành động đã định trước và biểu tượng này được hình dung tương đối rõ ràng Chẳng hạn, trong giờ ăn nhiều trẻ biết tự mình tìm chỗ ngồi, tự xúc ăn, tự đứng dậy khi ăn xong…

Trang 29

Ở giai đoạn mẫu giáo 5 tuổi, tính chủ định của các quá trình tâm lí đã phát triển, khả năng tự lập trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, tự tổ chức quá trình hoạt động đạt kết quả bước đầu: trẻ đã có các kĩ năng tự đặt mục đích

và nhiệm vụ hoạt động, tự điều khiển bản thân, huy động toàn bộ sức mạnh về vật chất, tinh thần, biết vượt khó khăn để đạt được mục đích

Nhiệm vụ của người lớn trong việc giáo dục tính tự lập cho trẻ ở giai đoạn này là sự giúp đỡ tế nhị

Tính chủ động của trẻ đi trước nhiều so với khả năng thực hiện công việc một cách tự lập nên trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh cô giáo cần thể hiện sự tôn trọng cần thiết đối với những mong muốn và ý định của trẻ, giúp đỡ trẻ để thực hiện ý định của mình

+) Sự quyết tâm thực hiện nhiệm vụ đặt ra

Thể hiện sự mong muốn đạt được kết quả mong đợi, chứ không phải là kết quả bất kì Trẻ trở nên bền bỉ, kiên trì, những hành động không có kết quả không làm tan ý định, không làm trẻ từ bỏ ý định mà buộc trẻ tập trung chú ý hơn nữa vào hành vi của mình

Sự quyết tâm của trẻ được kích thích bởi những mong muốn (có suy xét) đạt mục đích đã được hình dung một cách rõ ràng

Quá trình hoạt động tự lập đòi hỏi ở trẻ sự căng thẳng của hoạt động trí tuệ và thể lực, kĩ năng vượt khó khăn bên trong và bên ngoài để đạt được mục đích Vì vậy sự nỗ lực ý chí là biểu hiện cơ bản tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi, thể hiện ở kĩ năng biết vượt khó khăn để đạt được mục đích

Ví dụ khi trẻ thí nghiệm trồng giá đỗ, khi chưa hiểu rõ trồng giá đỗ cần những điều kiện gì thì vấn đề thất bại sẽ xảy ra nhưng nếu trẻ có sự quyết tâm cộng với sự hướng dẫn của cô giáo thì trẻ sẽ có được thành công

+) Sự tự tin

Tự tin là sự kết tinh những hiểu biết và tình cảm của bản thân đối với mình và ý chí của mình, là sự tin tưởng vào năng lực của mình khi hành động Niềm tin tạo cho trẻ nghị lực, ý chí để hành động phù hợp với quan điểm của bản thân, tạo cho trẻ tính kiên định khi hành động, giúp trẻ có nhu cầu trạng thái

Trang 30

hành động dựa trên năng lực của bản thân, tin tưởng yêu quý, trân trọng mình

Tự tin thể hiện ở yêu cầu cao đối với bản thân trong quá trình hành động

Ví dụ: Khi cô mời trẻ lên thực hiện thí nghiệm, trẻ tự tin thể hiện cho cô

và các bạn nghe không rụt rè, ấp úng hay lo sợ

+) Khả năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động và đánh giá bản thân như một chủ thể hành động

Tự kiểm tra và tự đánh giá không chỉ hoàn thành giai đoạn hình thành tính

tự lập như một cấu trúc trọn vẹn của nhân cách, mà còn thay đổi cơ bản tự ý thức của trẻ và những hiểu biết, thái độ của trẻ đối với bản thân

Trong giai đoạn này người lớn cần tạo cơ hội để trẻ trải nghiệm những cảm xúc thỏa mãn khi trẻ thành công trong công việc một cách tự lập, không bỏ qua những thành công dù là nhỏ nhất của trẻ Chính bằng cách đó hình thành ở trẻ thói quen tự lập thực hiện các hành động Đồng thời cô giáo cần kết hợp giữa việc khen thưởng những thành công của trẻ, hoặc phê bình trách phạt khi trẻ phạm sai lầm với việc phân tích cho trẻ thấy động cơ hay quá trình thực hiện hành động của chúng đã tốt hay chưa, tốt ở chỗ nào Thông qua đó, trẻ học được cách đánh giá kết quả và đánh giá quá trình hoạt động Dần dần trẻ bắt đầu biết

tự đánh giá bản thân thông qua hoạt động của mình, biết tự kiểm soát từng hành

vi của mình và chúng có thể biết tự điều chỉnh

+) Có biểu hiện mang tính sáng tạo

Tính tự lập của trẻ nhỏ được thể hiện thông qua một số những biểu hiện mang tính sáng tạo Đó là những biểu hiện tìm tòi, sáng kiến tạo nên những cái mới, cái độc đáo trong hoạt động dựa trên những kiến thức, kĩ năng mà trẻ đã có

Ở độ tuổi 5 – 6 tuổi tính tự lập đã phát triển, có những dấu hiệu đặc trưng riêng biệt thể hiện qua các hoạt động xác định sự trưởng thành về nhân cách Theo các nhà tâm lí học Xô Viết (N.K.Krupxkaia, Liublinxkaia ) hành vi tự lập của trẻ nhỏ phát triển qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Trẻ hành động tự giác không cần người lớn nhắc nhở hoặc giúp đỡ trong những hoàn cảnh quen thuộc

Trang 31

Giai đoạn 2: Tính tự lập của trẻ thể hiện trong những hoàn cảnh mới nhưng gần gũi và không phức tạp hoặc thực hiện các nhiệm vụ do người lớn giao, xuất phát tự bản thân trong điều kiện thay đổi, thoát khỏi sự bắt buộc

Giai đoạn 3: Trẻ tự lập ở những hoàn cảnh với nhiệm vụ ngày càng phức tạp Trẻ lĩnh hội phương thức hành động mang tính chất tổng hợp

Như vậy, tính tự lập của trẻ bao giờ cũng là sản phẩm của sự tuân theo những yêu cầu của người lớn và đồng thời là sản phẩm của những sáng kiến riêng của trẻ Trẻ càng nắm vững các kĩ năng, các quy tắc ứng xử thì trẻ càng trở nên độc lập, sáng tạo hơn

Tóm lại: Tính tự lập là một chỉ số phát triển nhân cách trẻ, được hình thành và phát triển qua các hoạt động khác nhau, lúc đầu phẩm chất tự lập của trẻ mang tính bắt buộc, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân sau đó chuyển sang mang tính tái tạo và sáng tạo để thảo mãn nhu cầu của tập thể và xã hội

1.1.3 Thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh và ưu thế của nó với

sự phát triển tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

1.1.3.1 Khái niệm “ Thí nghiệm phám phá môi trường xung quanh”

a, Khái niệm “ Thí nghiệm”

Có nhiều quan điểm khác nhau về thí nghiệm, nhưng có thể phân theo các hướng nghiên cứu sau:

Thứ nhất, thí nghiệm là quá trình tạo ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó trong điều kiện xác định để quan sát, thu thập các thông tin về sự vật hiện tượng nào đó [5, tr15-16]

Thứ hai, thí nghiệm là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người vào các đối tượng của hiện thực khách quan để thu thập tri thức mới

về chúng dựa trên sự phân tích các điều kiện diễn ra sự tác động, các kết quả của sự tác động đến đối tượng tham gia [3, tr104-109]

Thứ ba, thí nghiệm là hành vi có mục đích kiểm chứng giả thuyết hay

lý luận đặt ra hoặc để phân tích mối quan hệ nhân quả giữa các sự vật hiện tượng trong điều kiện nhân tạo vào sử dụng các dụng cụ thích hợp để quan sát, đo đạc, thí nghiệm giúp ta có được những kết quả khách quan, dựa vào

Trang 32

đó có thể tìm ra đúng, sai của giả thuyết để đề ra mối quan hệ của sự vật hiện tượng [19]

Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy:

- Thí nghiệm là một sự tác động của con người lên các đối tượng

- Thí nghiệm làm biến đổi các sự vật hiện tượng

- Thí nghiệm chỉ diễn ra trong điều kiện nhất định

- Kết quả thí nghiệm cho ta nhiều thông tin về sự vật hiện tượng

Như vậy, chúng ta có thể hiểu về khái niệm “ Thí nghiệm” như sau:

“ Thí nghiệm là sự tác động vào các đối tượng trong tự nhiên nhằm tạo ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó trong điều kiện nhất định để làm bộc lộ tính chất của chúng, đáp ứng nhu cầu nhận thức của chủ thể”

b, Khái niệm “ Thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh”

Dựa vào nguồn gốc hình thành xã hội loài người trên Trái Đất, các nhà khoa học đã khẳng định rằng mọi cá nhân ngay từ khi sinh ra đã có mối quan hệ mật thiết với môi trường xung quanh Kết quả của mối quan hệ này

là quá trình cá nhân trở thành người – quá trình cá nhân thích ứng với môi trường, nhận thức về môi trường và cải tạo nó để đáp ứng nhu cầu bản thân Như vậy, khám phá môi trường xung quanh chính là quá trình phát triển trẻ em như một nhân cách được bắt đầu từ việc thích ứng đến lĩnh hội

và cải tạo môi trường

Cho trẻ khám phá môi trường xung quanh chính là việc giáo viên tạo

ra các điều kiện, cơ hội và tổ chức hoạt động để trẻ tích cực tìm tòi, phát hiện những điều thú vị về các sự vật hiện tượng xung quanh trẻ Thực chất

đó là giáo viên tạo môi trường, tạo ra các tình huống và tổ chức các hoạt động cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm các sự vật hiện tượng của môi trường xung quanh, thông qua đó trẻ có thể hiểu biết về đặc điểm, thuộc tính của sự vật hiện tượng, các mối quan hệ qua lại, sự thay đổi và phát triển của chúng Điều quan trọng hơn cả là thông qua các hoạt động khám quá trẻ học được các kỹ năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán giải quyết vấn đề, truyền tải ý kiến của mình và đưa ra kết luận

Trang 33

Từ đó ta có thể hiểu “ Thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

là sự tác động, tiếp xúc, trải nghiệm các sự vật hiện tượng của môi trường xung quanh, thông qua đó ta có thể hiểu biết về đặc điểm, thuộc tính của sự vật hiện tượng, hay một sự biến đổi nào đó trong điều kiện nhất định để làm bộc lộ tính chất của chúng, đáp ứng nhu cầu nhận thức của chủ thể”

1.1.3.2 Đặc điểm của thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

a, Khái niệm “Môi trường xung quanh”

Môi trường xung quanh là tất cả những gì bao quanh chúng ta như tự nhiên, con người, các đồ vật Khái niệm này có thể nhìn nhận theo 2 nghĩa

Nghĩa rộng, môi trường xung quanh là tất cả các sự vật, hiện tượng, con người có trong hành tinh mà chúng ta đang sống

Nghĩa hẹp, môi trường xung quanh là những hoàn cảnh cụ thể (các sự vật, hiện tượng, con người ) bao quanh một đối tượng có liên quan mật thiết với nó

Môi trường xung quanh bao gồm cả môi trường tự nhiên và xã hội Môi trường tự nhiên bao gồm tự nhiên vô sinh và hữu sinh Môi trường xã hội bao gồm mọi người, đồ vật và xã hội loài người Các môi trường trên có mối quan

hệ tác động qua lại lẫn nhau

b, Đặc điểm của thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

Điểm đặc biệt quan trọng của thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh là tính có thể quan sát được bằng cách ta thay đổi, biến đổi một đại lượng nào đó có liên quan trực tiếp đến sự biến đổi phụ thuộc của một đại lượng khác, làm chúng bộc lộ ra những đặc tính giúp chúng ta có tri thức về nó nhờ các giác quan quan sát hoặc sự hỗ trợ của các phương tiện đo đạc khác

Các điều kiện của thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh phải được lựa chọn và được thiết lập có chủ định, sao cho thông qua thí nghiệm,

có thể trả lời được những thắc mắc, những câu hỏi đặt ra, có thể kiểm tra được giả thuyết hay hệ quả được suy ra từ giả thuyết Mỗi thí nghiệm luôn

có ba yếu tố cấu thành cần được xác định rõ: Đối tượng cần nghiên cứu; phương tiện gây ra tác động lên đối tượng cần được nghiên cứu; và phương tiện quan sát, đo đạc để thu nhận kết quả của sự tác động

Trang 34

Các điều kiện của thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh có thể làm biến đổi được để ta có thể nghiên cứu sự phụ thuộc giữa một số đại lượng, trong khi các đại lượng khác không đổi

Các đại lượng của thí nghiệm phải được khống chế, kiểm soát đúng như

dự định nhờ sử dụng các dụng cụ thí nghiệm có mức độ chính xác tương đối

Có thể lặp lại thí nghiệm, tức là với các thiết bị thí nghiệm, các điều kiện thí nghiệm như nhau thì khi bố trí lại thí nghiệm, hiện tượng vẫn diễn

ra như lần đầu và cho kết quả giống nhau

1.1.3.3 Vai trò của thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

Hình thành biểu tượng đúng về môi trường xung quanh để nâng cao việc giáo dục tính tự lập, giáo dục tình cảm, thái độ và rèn luyện kĩ năng, hành vi cho trẻ, cần phải lựa chọn những nội dung cơ bản, phổ biến, phù hợp với lứa tuổi và khả năng nhận thức của trẻ mầm non, tạo điều kiện để thực hiện tốt các mục tiêu

Sự sinh động và hấp dẫn của sự vật, hiện tượng, con người xung quanh, nhằm hình thành ở trẻ thái độ đúng với môi trường, tạo tiềm năng và động cơ kích thích trẻ tham gia vào cải tạo môi trường xung quanh trên bình diện tưởng tượng và trong cuộc sống thực Các nội dung hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh có liên quan đến sự kế thừa và phát huy truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc (giữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên, sử dụng tài nguyên môi trường tiết kiệm, quan hệ của con người với nhau, với gia đình, quê hương, đất nước…) và tăng cường sự hợp tác quốc tế (giáo dục ý thức về bảo vệ hành tinh Trái Đất và giáo dục lòng nhân ái, thái độ nhân đạo giữa con người với nhau…)

Trẻ 5 – 6 tuổi phát triển tư duy trực quan hình thành: học cách tìm hiểu

đặc điểm cơ bản về cấu tạo của thực vật, động vật và thiết lập sự phụ thuộc của

nó với điều kiện sống Phát triển hình thành tư duy lôgíc đơn giản: khả năng phân tích tổng hợp, biết nêu ra những dấu hiệu riêng biệt và dấu hiệu chung của động vật, thực vật, đồ vật, con người xung quanh và có khả năng khái quát Vì thế khi trẻ tự khám phá tìm hiểu, thực hành thí nghiệm và phân tích các thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên sẽ góp phần rất lớn để trẻ phát huy tính

Trang 35

tự lập Tri thức về môi trường xung quanh là vô tận và không thể tích luỹ đủ mọi tri thức cần thiết cho cuộc sống Do vậy, cách tốt nhất giúp trẻ tích luỹ tri thức

về môi trường xung quanh là hình thành ở chúng các kĩ năng nhận thức và thái

độ tích cực trong việc tìm hiểu môi trường xung quanh để chúng tự khám phá sự vật, hiện tượng và cuộc sống xã hội xung quanh chúng

1.1.4 Dạy học theo hướng tích hợp ở bậc học mầm non

Với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ, xuất phát từ bản thân cuộc sống xung quanh chúng ta và đặc điểm phát triển của trẻ mà chúng ta có thể khẳng định rằng việc xây dựng chương trình giáo dục mầm non theo cách tiếp cận tích hợp là phù hợp hơn với bậc học mầm non

cá nhân trẻ với môi trường sống của mình Trong cách học này, trẻ học một cách

tự nhiên, không có giới hạn tuyệt đối về thời gian, không gian và môn học Bredekamp đã từng viết: Việc học của trẻ không chỉ xảy ra trong phạm vi hạn hẹp của mỗi môn học; sự học và phát triển của trẻ mang tính tích hợp Một hoạt động thúc đẩy một mặt phát triển nào đó đồng thời cũng tác động đến mặt phát triển khác

Quan điểm tích hợp trong giáo dục mầm non, vì vậy, được hiểu là sự xâm nhập, liên kết, đan xen những quá trình sư phạm tạo thành một thể thống nhất,

Trang 36

tác động đồng bộ đến đứa trẻ như một chỉnh thể toàn vẹn, nhờ đó hiệu quả sư phạm được nâng cao

Quan điểm tích hợp trong giáo dục mầm non được thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau:

- Trước hết, ở mối quan hệ giữa việc chăm sóc và giáo dục trẻ em Khi thực hiện hai hoạt động này cần đan cài, lồng ghép chúng vào nhau mới đạt tới hiệu quả cao cho từng nhiệm vụ và cho cả hai Trong khi nuôi phải chú ý đến dạy và trong khi dạy phải quan tâm đến chăm sóc

Hình thức thể hiện quan điểm tích hợp phổ biến là:

 Tích hợp trong một hoạt động là gì?

Theo chúng tôi, tích hợp trong một hoạt động thể hiện ở những điểm sau:

- Khi tổ chức một hoạt động nhằm thúc đẩy một mặt phát triển nào đó, giáo viên cần chú ý tác động cùng một lúc đến nhiều mặt phát triển khác nhau của trẻ

Ví dụ: Tổ chức hoạt động với đồ vật (Đề tài: “Trồng giá đỗ”): mục đích chủ yếu là phát triển, rèn luyện vận động khéo léo của bàn tay, ngón tay và hình thành ở kĩ năng trồng hạt giống, nhưng đồng thời giáo viên cũng cần khai thác nội dung đó để giáo dục các kiến thức về tự lập, phát triển các mặt như phát triển về mặt tình cảm – xã hội, phát triển ngôn ngữ, phát triển nhận thức…

- Tích hợp các lĩnh vực nội dung trong một hoạt động tức là khai thác nội dung của các lĩnh vực hoạt động khác nhau vào trong quá trình tổ chức một hoạt động nào đó

Trang 37

Ví dụ: Khi tổ chức hoạt động học có chủ đích thuộc lĩnh vực khám phá khoa học, giáo viên có thể khai thác những nội dung có liên quan ở các lĩnh vực khác như thơ, truyện, âm nhạc, toán, tạo hình… nhưng cần lưu ý: Việc khai thác nội dung đó phải thực hiện một cách linh hoạt, nhẹ nhàng, không làm mất đi tính trọng tâm của nội dung chính của giờ hoạt động Thông thường, người ta tích hợp các nội dung khác vào đầu hoặc cuối giờ học

1.1.4.2 Một số điều cần lưu ý khi thực hiện cách tiếp cận tích hợp

- Cần phải thường xuyên duy trì hứng thú của trẻ; phải làm cho nội dung gắn với kinh nghiệm trong đời sống thực của trẻ, dựa trên những cải trẻ đã biết Giáo viên cần biết cách thừa nhận, chấp nhận những ý tưởng, những phát hiện của trẻ; khuyến khích, động viên kịp thời, giúp đỡ trẻ khi cần thiết; sử dụng những hình thức khám phá phù hợp; kết hợp hợp lí hình thức hoạt động cả lớp, theo nhóm, cá nhân, đặc biệt hình thức hoạt động nhóm và cá nhân, hoạt động mang tính chất động và hình thức hoạt động có tính chất tĩnh; hoạt động trong lớp và ngoài trời; cân bằng giữa do cô đưa ra và hoạt động do trẻ tự chọn

- Không nên quy định một cách cứng nhắc thời gian cho mỗi chủ đề, cần biết kết hợp một cách hợp lí giữa cách tiếp cận chủ đề với cách tiếp cận khác ( ví

dụ như cách tiếp cận tách biệt: Theo cách tiếp cận này, các hoạt động trải nghiệm của trẻ trong chương trình được xây dựng một cách tách biệt, ít liên quan tới nhau Trong chương trình giáo dục mầm non, đôi khi cách tiếp cận này càng cần thiết, nhất là đối với lĩnh vực giáo dục thể chất, phát triển vận động, làm quen với tác phẩm văn học…) Vì vậy, song song với cách tiếp cận tích hợp theo chủ đề, giáo viên vẫn duy trì ở mức độ nào đó việc dạy học truyền thống để giúp trẻ hình thành các kiến thức, kỹ năng mới

1.1.5 Khái niệm biện pháp tổ chức thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

1.1.5.1 Khái niệm biện pháp

Muốn giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó, cần phải nghiên cứu các yếu tố xoay quanh vấn đề đó như: Mục đích, nội dung, nhiệm vụ, phương pháp, phương tiện, biện pháp và hình thức giải quyết vấn đề đặt ra Các yếu tố này có

Trang 38

liên quan chặt chẽ với nhau và ở một chừng mực nhất định, yếu tố này là cơ sở

để xác định yếu tố kia Biện pháp là một trong các yếu tố nêu trên và nó được xác định căn cứ vào những yếu tố khác như: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung, đặc điểm của đối tượng Trong yếu tố biện pháp chứa đựng các yếu tố nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và cách thức thực hiện một vấn đề đặt ra

Vậy biện pháp là gì? Theo cuốn đại từ điển Tiếng Việt khái niệm biện pháp được giải thích như: một cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn

đề cụ thể Như vậy biện pháp là một khái niệm thuộc phạm trù phương pháp , bao gồm các phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện một vấn đề cụ thể nào

đó, các thành tố của biện pháp tương tác với nhau một cách biện chứng Việc

xác định đúng biện pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết công việc, nhanh chóng đạt được mục đích đề ra

1.1.5.2 Khái niệm biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi

Từ khái niệm biện pháp, từ những quy luật chung của quá trình giáo dục

mà biện pháp giáo dục phải thoả mãn, chúng ta có thể hiểu: Biện pháp giáo dục

là phương thức hoạt động gắn bó, là cách làm cụ thể trong hoạt động của giáo viên và trẻ để hướng tới mục đích, nội dung giáo dục nhằm hoàn thành nhiệm vụ giáo dục đã đặt ra

Chúng ta có thể hiểu: Biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi là phương thức hoạt động gắn bó, là cách làm cụ thể của giáo viên và trẻ nhằm hình thành và phát triển ở trẻ 5 – 6 tuổi tính tự lập

1.1.5.3 Khái niệm biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp

Tính tự lập là một thuộc tính quan trọng của nhân cách Người lớn có vai trò quan trọng trong việc hình thành tính tự lập cho trẻ, cũng như vai trò hướng dẫn, chỉ đạo của người lớn trong quá trình lĩnh hội các kĩ năng và thói quen tự lập trong các hoạt động của trẻ ở trường mầm non Vì vậy việc hướng tới tổ chức hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

để hình thành và rèn luyện cho trẻ những thói quen, kĩ năng tự lập như khả

Trang 39

năng tự chuẩn bị đồ dùng, tự mặc quần áo phù hợp với thời tiết, biết xử lí tình huống khi thí nghiệm thất bại Điều đó hướng tới nhiệm vụ hình thành

ở trẻ ý thức tự lập, độc lập chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1

Như vậy, biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp là cách làm cụ thể của cô và trẻ trong hoạt động thí nghiệm nhằm phát huy tính tự lập cho trẻ

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thực trạng về việc tổ chức giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp

1.2.1.1 Mục đích khảo sát

Chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát nhằm tìm hiểu:

- Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp ở trường mầm non

- Những biện pháp nhằm giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp ở trường mầm non

- Hiệu quả giáo dục tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp

- Dựa trên kết quả điều tra để xác định cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các biện pháp phát huy tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh

1.2.1.2 Đối tượng khảo sát thực trạng

Tiến hành khảo sát 26 giáo viên mầm non đang giảng dạy tại trường mầm non Thanh Lâm – Phù Ninh – Phú Thọ Những giáo viên được khảo sát đều có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn và các giáo viên đều có thâm niên công tác trên hai năm Những giáo viên này đang trực tiếp tham gia giảng dạy ở các lớp mẫu giáo, có nhiệt huyết với nghề, có lòng yêu trẻ, có kỹ năng và kinh nghiệm trong chăm sóc và giáo dục trẻ Đồng thời chúng tôi còn tiến hành khảo sát trên 40 trẻ thuộc lớp 5 tuổi A1 và 5 tuổi A2 trường mầm non Thanh Lâm

Trang 40

5 – 6 tuổi ở trường mầm non Thanh Lâm – Phù Ninh – Phú Thọ, mỗi nhóm quan sát 3 lần, ghi chép làm cơ sở đánh giá quá trình tổ chức giáo dục tính

Đưa ra một số câu hỏi, chẳng hạn:

* Theo con thì tự vệ sinh cá nhân, giữ gìn đồ dùng, dụng cụ, dọn dẹp chỗ chơi có phải là tính tự lập không?

* Theo con thì khi làm thí nghiệm xong thì chúng ta phải làm những gì?

* Nếu gặp các vật dụng nguy hiểm con có sử dụng chúng không? Vì sao?

* Khi làm thí nghiệm đơn giản con có tự làm không?

* Nếu vật liệu thí nghiệm dễ tìm thì con có chuẩn bị không?

- Phương pháp điều tra ANKET:

Ngày đăng: 26/06/2022, 10:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (2010). Giáo dục học mầm non 1,2,3. NXB, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non 1,2,3
Tác giả: Đào Thanh Âm, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang
Năm: 2010
2. Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (2007), Giáo dục học mầm non, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2007
3. Trần Quốc Bắc, Nguyễn Thị Kim Thanh (2007), “Thực hiện một số thí nghiệm hóa học đơn giản gắn với hiện tượng tự nhiên” Tạp chí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện một số thí nghiệm hóa học đơn giản gắn với hiện tượng tự nhiên
Tác giả: Trần Quốc Bắc, Nguyễn Thị Kim Thanh
Năm: 2007
4. Hoàng Chúng – Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục NXB Giáo dục, Hà Nội 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Lê Văn Giáo, Phạm Thị Thanh Hương (2009), “ Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh qua thí nghiệm Vật lý vui” Tạp chí thiết bị giáo dục, số 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh qua thí nghiệm Vật lý vui
Tác giả: Lê Văn Giáo, Phạm Thị Thanh Hương
Năm: 2009
8. Nguyễn Sinh Huy – Giáo dục học đại cương. NXB Giáo dục – 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương
Nhà XB: NXB Giáo dục – 1997
12. Lê Thị Ninh (1996), Phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh, đào tạo từ xa,NXB, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh, đào tạo từ xa
Tác giả: Lê Thị Ninh
Năm: 1996
13. Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân (2007), Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh
Tác giả: Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
14. Hoàng Thị Phương (2008), Lý luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh
Tác giả: Hoàng Thị Phương
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
16. Ngô Phương Thảo (1999), Một số biện pháp giáo dục cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tích hợp. NXB, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giáo dục cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tích hợp
Tác giả: Ngô Phương Thảo
Năm: 1999
17. Đào Như Trang (2013), Đổi mới nội dung, phương pháp, chăm sóc giáo dục trẻ từ 0 -6 tuổi, NXB giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung, phương pháp, chăm sóc giáo dục trẻ từ 0 -6 tuổi
Tác giả: Đào Như Trang
Nhà XB: NXB giáo dục Hà Nội
Năm: 2013
20. Nguyễn Thị Vinh, Tổ chức môi trường chơi nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, báo cáo toàn văn đề tào và khoa học cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức môi trường chơi nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
21. Nguyễn Như Ý, Đại từ tiếng Việt ( 1999), NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ tiếng Việt
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
23. Chiến lược giáo dục Mầm non từ năm 1998 đến năm 2020 – Bộ giáo dục và Đào tạo – 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược giáo dục Mầm non từ năm 1998 đến năm 2020
24. Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông – Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1998 – 2000 cho giáo viên Mầm non. NXB giáo dục 1998.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông
Nhà XB: NXB giáo dục 1998. Tài liệu nước ngoài
25. A.A Liublinxkaia (1978), Tâm lý học trẻ em, sở giáo dục và đào tạo TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em
Tác giả: A.A Liublinxkaia
Năm: 1978
26. A.N. Leeonchiep (1980), Sự phát triển tâm lý trẻ em, TP HCM, lưu hành nội bộ 27. George Matthew Adams, (2015), You can - Không gì là không thể, Thu Hằng dịch, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển tâm lý trẻ em", TP HCM, lưu hành nội bộ 27. George Matthew Adams, (2015), "You can - Không gì là không thể
Tác giả: A.N. Leeonchiep (1980), Sự phát triển tâm lý trẻ em, TP HCM, lưu hành nội bộ 27. George Matthew Adams
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 2015
28. J.A. Comenxki ( 1952 – 1670), Thế giới bằng tranh, (1658) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới bằng tranh
29. Jean Charier (1974), Tính nhút nhát, Nguyễn Xuân Hiếu dịch, Nhà sách Khai Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính nhút nhát
Tác giả: Jean Charier
Năm: 1974
9. Mai Ngọc Liên, luận văn thạc sĩ (2005), Một số biện pháp giáp dục tính tự lập cho trẻ 24-36 tháng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Nhận thức của giáo viên về vai trò của hoạt động thí nghiệm trong   việc giáo dục tính tự lập cho trẻ 5-6 tuổi - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 1.1. Nhận thức của giáo viên về vai trò của hoạt động thí nghiệm trong việc giáo dục tính tự lập cho trẻ 5-6 tuổi (Trang 43)
Bảng 1.2.  Thực trạng biện pháp giáo dục tính tự lập thông qua thí nghiệm khám  phá môi trường xung quanh ở trường mầm non cho trẻ 5 – 6 tuổi - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 1.2. Thực trạng biện pháp giáo dục tính tự lập thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh ở trường mầm non cho trẻ 5 – 6 tuổi (Trang 44)
Bảng 3.1: Bảng biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi (thực nghiệm và đối  chứng) trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh trước khi - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 3.1 Bảng biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi (thực nghiệm và đối chứng) trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh trước khi (Trang 74)
Bảng 3.3: Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi (thực nghiệm và đối  chứng) trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh sau khi - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 3.3 Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi (thực nghiệm và đối chứng) trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh sau khi (Trang 81)
Bảng 3.4 cho thấy biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí  nghiệm khám phá môi trường xung quanh  của trẻ nhóm đối chứng và thực  nghiệm trước thực nghiệm đã có sự chênh lệch, ( Nhóm thực nghiệm được 6.0  điểm, nhúm đối chứng được 5.6 điểm) - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 3.4 cho thấy biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh của trẻ nhóm đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm đã có sự chênh lệch, ( Nhóm thực nghiệm được 6.0 điểm, nhúm đối chứng được 5.6 điểm) (Trang 84)
Bảng 3.4: Bảng biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi (thực nghiệm và đối  chứng) trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh sau khi - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 3.4 Bảng biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi (thực nghiệm và đối chứng) trong hoạt động thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh sau khi (Trang 84)
Bảng 3.5. Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm thực nghiệm   trước và sau khi thực nghiệm - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 3.5. Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm thực nghiệm trước và sau khi thực nghiệm (Trang 85)
Bảng 3.6. Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm thực nghiệm trước và sau   khi thực nghiệm ( theo tiêu chí) - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 3.6. Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm thực nghiệm trước và sau khi thực nghiệm ( theo tiêu chí) (Trang 87)
Bảng 3.7. Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm đối chứng trước và sau   khi thực nghiệm - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 3.7. Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm đối chứng trước và sau khi thực nghiệm (Trang 88)
Bảng 3.8. Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm đối chứng trước và sau khi  thực nghiệm ( theo tiêu chí) - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 3.8. Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm đối chứng trước và sau khi thực nghiệm ( theo tiêu chí) (Trang 90)
Bảng 3.9: So sánh mức độ biểu hiện tính tự lập của 2 nhóm trước và sau  khi tiến hành thực nghiệm - Giáo dục tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá môi trường xung quanh theo hướng tích hợp
Bảng 3.9 So sánh mức độ biểu hiện tính tự lập của 2 nhóm trước và sau khi tiến hành thực nghiệm (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w