1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh

125 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy Học Câu Kể 'Ai Thế Nào?' Trong Môn Tiếng Việt Lớp 3 Theo Hướng Phát Triển Tư Duy Học Sinh
Tác giả Đỗ Thị Mai Đào
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Huy
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 832,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đề tài giúp cho giáo viên không những cung cấp kiến thức về câu theo cấu tạo ngữ pháp, theo mục đích phát ngôn mà còn góp phần giúp học sinh nắm vững cấu trúc và sử dụng câu đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

-

ĐỖ THỊ MAI ĐÀO

DẠY HỌC CÂU KỂ "AI THẾ NÀO?" TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN

TƯ DUY HỌC SINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Giáo dục Tiểu học

Phú Thọ, 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

-

ĐỖ THỊ MAI ĐÀO

DẠY HỌC CÂU KỂ "AI THẾ NÀO?" TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN

TƯ DUY HỌC SINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Giáo dục Tiểu học

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS Nguyễn Xuân Huy

Phú Thọ, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016 khóa luận tốt nghiệp của em đã hoàn thiện xong Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban lãnh đạo nhà trường Đại học Hùng Vương, lãnh đạo khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non

đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình em thực hiện đề tài của mình

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Xuân Huy - Phó trưởng khoa - khoa giáo dục Tiểu học và Mần non Thầy giáo đã rất nhiệt tình giúp đỡ, động viên và đóng góp cho em rất nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu đề tài

Bên cạnh đó em cũng nhận được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh lớp 3A, 3B trường Tiểu học Phong Châu - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện để em tiến hành thực nghiệm

sư phạm, cũng như các ý kiến đóng góp chân thành của các thầy cô trong quá trình thực nghiệm của mình

Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo - tác giả của các cuốn tài liệu mà em đã sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Qua những tài liệu quý giá đó mà em đã hoàn thiện đề tài của mình

Do quỹ thời gian có hạn, trình độ hiểu biết của bản thân còn có hạn, nên chắc chắn đề tài khóa luận của em còn nhiều thiếu sót nhất định Em mong được sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Đỗ Thị Mai Đào

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các cụm từ viết tắt iv

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài……… ……… ………… 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

3 Mục tiêu của đề tài……… ……… ….3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ….…… …….3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 4

5.1 Đối tượng nghiên cứu 4

5.2 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu ……… ….… 4

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4

6.2 Phương pháp thống kê – phân loại 5

6.3 Phương pháp phân tích 5

6 4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 5

6.5 Phương pháp quan sát sư phạm 6

6.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 6

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 7

1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.2 Cơ sở lí luận……… ……… ……….……… … 10

1.2.1 Giới thuyết chung về câu tiếng Việt 10

1.2.2 Khái quát về tư duy và tư duy ngôn ngữ 19

Trang 5

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 27

1.3.1 Thực tiễn dạy học Luyện từ và câu ở tiểu học 27

1.3.2 Khảo sát thực trạng dạy học câu kể Ai thế nào? và sự phát triển tư duy của học sinh lớp 3 trường tiểu học Phong Châu 30

1.3.3 Thực trạng sử dụng câu kể Ai thế nào? trong các bài Tập đọc lớp 3 38

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠNG CÂU KỂ AI… THẾ NÀO? TRONG CÁC BÀI TẬP ĐỌC LỚP 3 2.1 Phân loại câu kể “Ai thế nào?” trong các bài Tập đọc lớp 3 41

2.1.1.Chủ ngữ trong câu kể “Ai thế nào?” 41

2.1.2 Vị ngữ trong câu kể “Ai thế nào?” 45

2.2 Đặc điểm câu kể "Ai thế nào?" trong việc phản ánh hiện thực tư duy 48

2.2.1 Tư duy ngôn ngữ trong dạng thức câu kể Ai thế nào? 48

2.2.2 Đặc điểm tư duy sự vật (miêu tả) của học sinh lớp 3 50

2.2.3 Đặc điểm tư duy hình tượng của học sinh lớp 3 54

2.3 Ý nghĩa của câu kể “Ai thế nào?” trong việc phát triển tư duy cho học sinh lớp 3 55

2.3.1 Phát triển tư duy ngôn ngữ cho học sinh 55

2.3.2 Rèn kĩ năng miêu tả sự vật, hiện tượng cho học sinh lớp 3 58

2.3.3 Phát triển tư duy hình tượng nghệ thuật cho học sinh lớp 3 61

2.3.4 Phân biệt năng lực tư duy cho học sinh 62

Chương 3: XÂY DỰNG CÁC NHÓM BÀI TẬP THEO CHỦ ĐIỀM VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Xây dựng nhóm bài tập theo chủ điểm 66

3.1.1 Cơ sở và nguyên tắc xây dựng nhóm bài tập theo chủ điểm 66

3.1.2 Khái quát về các nhóm bài tập theo chủ điểm 69

3.1.3 Ý nghĩa của việc xây dựng nhóm bài tập theo chủ điểm 71

3.2 Thực nghiệm sư phạm 75

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 75

3.2.2 Thời gian và cơ sở thực nghiệm 75

3.2.3 Đối tượng thực nghiệm 75

Trang 6

3.2.4 Nội dung thực nghiệm 75

3.2.5 Tổ chức thực nghiệm 77

3.2.6 Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm 77

3.2.7 Kết luận về thực nghiệm sư phạm 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….… ……… … 89

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, những đổi mới về kinh tế - xã hội, đặc biệt là chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi ngành giáo dục phải làm tốt công tác giáo dục mà chức năng chính là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mặt khác, con người sống trong thời đại nào cũng cần có tri thức, tri thức là một trong những nhân tố giúp con người tồn tại và phát triển, khám phá thế giới xung quanh Chất lượng giáo dục và đào tạo là một trong những yếu tố, động lực thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển Do đó, việc đổi mới chương trình giáo dục là một việc hết sức cần thiết đối với người làm công tác giáo dục nói chung và đối với toàn xã hội nói riêng Chính vì vậy, trong những năm qua, Đảng ta rất chú trọng tới việc đổi mới chương trình giáo dục ở tất cả các cấp, các bậc học mà tiêu biểu là cấp tiểu học Bởi bậc tiểu học là nền tảng vững chắc, là cơ sở cho những kiến thức ban đầu và khả năng tư duy của mỗi con người, giáo dục đòi hỏi phải hình thành và phát triển tư duy cho trẻ ngay từ bậc học đầu tiên

Trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng Môn học này chiếm phần lớn khối lượng kiến thức và thời gian học tập trong chương trình tiểu học Học tiếng Việt góp phần hình thành và phát triển

ở học sinh các kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi; thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy; cung cấp cho học sinh kiến thức sơ giản

về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, con người về văn hóa, văn học trong và ngoài nước; bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt

Xuất phát từ mục đích yêu cầu của môn Tiếng Việt trong trường tiểu học nói chung mà việc rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh là điều hết sức cần thiết Đặc biệt đối với học sinh lớp 3, đây là giai đoạn các em sẵn sàng cho việc tiếp thu những tri thức mới một cách nhanh chóng khi đã học được cách đọc chữ, viết chữ ở lớp 1 và những kiến thức vỡ lòng ở lớp 2 Chính vì vậy, việc

Trang 10

phát triển tư duy cho các em là một trong những vấn đề rất quan trọng, nó là nền tảng cho các em tiến thêm trên con đường của tri thức nhân loại

Trong phân môn Tập đọc lớp 3 việc sử dụng câu kể được các tác giả

chú trọng, sử dụng nhiều đặc biệt là dạng câu kể Ai thế nào? Những đặc điểm của dạng câu kể Ai thế nào? trong các bài Tập đọc lớp 3 tác động rất lớn đến

nhận thức, tư duy của các em học sinh Cho nên, nghiên cứu việc dạy học câu

kể Ai thế nào? theo hướng phát triển tư duy học sinh thể hiện cụ thể trên 3 lí

do sau:

1.1 Dạng câu kể ở trong các văn bản nghệ thuật được sử dụng rất nhiều

nó thể hiện khả năng nhận thức về hiện thực khách quan của các nhà văn, nhà

thơ Đặc biệt dạng câu kể Ai thế nào? xuất hiện chủ yếu trong các văn bản văn

xuôi và nó phản ánh tư duy khách quan rất rõ Cho nên, nghiên cứu việc dạy

học câu kể Ai thế nào? ở lớp 3 giúp cho người dạy có sự vận dụng linh hoạt,

sự sáng tạo trong việc lựa chọn, xây dựng các nhóm bài tập theo chủ điểm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực tư duy cho học sinh

1.2 Nghiên cứu đề tài giúp cho giáo viên không những cung cấp kiến thức về câu theo cấu tạo ngữ pháp, theo mục đích phát ngôn mà còn góp phần giúp học sinh nắm vững cấu trúc và sử dụng câu đúng, linh hoạt trong giao tiếp

1.3 Việc nghiên cứu đề tài còn giúp cho người nghiên cứu, người học phát triển tư duy ngôn ngữ, tư duy sự vật (miêu tả), tư duy hình tượng đồng thời người nghiên cứu đề tài còn có các điều kiện học tập, nghiên cứu tốt hơn môn phương pháp dạy học tiếng Việt ở trong nhà trường sư phạm

Ngoài ra bản thân tôi nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng trong giáo dục mà ít được đề cập đến, có chăng chỉ là nghiên cứu những nét khái quát nhất về câu tiếng Việt, nghiên cứu cách nhận diện và sử dụng dạng câu

trần thuật ở tiểu học chứ chưa nghiên cứu dạy học câu kể Ai thế nào? theo

hướng phát triển tư duy cho học sinh Chính vì vậy, nghiên cứu tốt vấn đề này

Trang 11

sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên nên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu

triển tư duy học sinh làm hướng nghiên cứu của mình Chúng tôi hi vọng đề

tài của chúng tôi sẽ là những đóng góp tích cực cho các bạn sinh viên, quý thầy cô giảng dạy ở trường tiểu học cũng như các em học sinh tiểu học

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu dạy học câu kể Ai thế nào? ở lớp 3 theo hướng phát triển

tư duy cho học sinh sẽ có những đóng góp tích cực về khoa học và thực tiễn nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường tiểu học Cụ thể được

thể hiện qua 2 ý nghĩa sau:

- Nghiên cứu cơ sở khoa học của đề tài giúp các em học sinh nắm bắt

được định nghĩa, phân loại, đặc điểm về câu tiếng Việt nói chung và dạng câu

kể Ai thế nào? thông qua các bài Tập đọc lớp 3 nói riêng

- Đề tài nghiên cứu đặc điểm nhận thức của học sinh đặc biệt là sự phát triển năng lực tư duy của học sinh; nghiên cứu đặc điểm phân loại, ý nghĩa của

dạng câu kể Ai thế nào? thông qua các bài Tập đọc lớp 3 từ đó đề tài xây dựng

các nhóm bài tập theo chủ điểm nhằm phát triển năng lực tư duy cho học sinh lớp 3

3 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu của đề tài đó là:

- Nghiên cứu đề tài để chỉ ra được đặc điểm, phân loại, ý nghĩa của dạng

câu kể Ai thế nào? thông qua các bài Tập đọc lớp 3

- Xây dựng các nhóm bài tập theo chủ điểm nhằm phát triển tư duy cho học sinh

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá được tính khả thi của đề tài góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 12

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài phải thực hiện các nhiệm

vụ sau:

- Nghiên cứu về cơ sở khoa học của đề tài để tìm hiểu tổng quan về tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài, nghiên cứu khái quát câu tiếng Việt nói chung và câu kể nói riêng; khái quát về tư duy và tư duy ngôn ngữ Nghiên

cứu về thực tiễn dạy học câu kể Ai thế nào? lớp 3 theo hướng phát triển tư

duy học sinh ở trường Tiểu học Phong Châu

- Nghiên cứu đặc điểm dạng câu kể Ai thế nào? trong các bài Tập đọc lớp 3 để thấy được sự phân loại, đặc điểm và ý nghĩa của dạng câu kể Ai thế

nào? trong các bài Tập đọc

- Xây dựng các nhóm bài tập theo chủ điểm nhằm phát triển tư duy cho học sinh

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính đúng đắn của đề tài

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu dạy học câu kể Ai thế nào? trong môn Tiếng Việt lớp 3 nhằm

phát triển tư duy của học sinh khối lớp 3 trường Tiểu học Phong Châu - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu các văn bản trong các bài Tập đọc lớp 3 và mở rộng tìm hiểu việc ứng dụng các văn bản đó trong các phân môn khác của môn Tiếng Việt (như trong phân môn Luyện từ và câu, Tập làm văn, Chính tả )

- Đề tài nghiên cứu ứng dụng việc dạy học câu kể Ai thế nào? ở lớp 3

theo hướng phát triển tư duy học sinh ở trường Tiểu học Phong Châu - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được đề tài chúng tôi sử dụng kết hợp, linh hoạt các phương pháp sau đây:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Trang 13

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết là tổ hợp các phương pháp nhận thức khoa học bằng con đường suy luận dựa trên các tài liệu lý thuyết đã được thu thập từ các nguồn khác nhau

Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để nghiên cứu cơ sở khoa học của đề tài trong các tài liệu về câu trong tiếng Việt, sách giáo khoa, sách tham khảo, giáo trình…nhằm tìm hiểu các vấn đề liên quan tới câu trong

tiếng Việt, các dạng câu kể, đặc điểm, ý nghĩa của câu kể Ai thế nào? trong các

bài Tập đọc lớp 3 từ đó xây dựng các nhóm bài tập theo chủ điểm nhằm phát triển tư duy cho học sinh

6.2 Phương pháp thống kê – phân loại

Sử dụng phương pháp thống kê bằng cách thống kê tất cả các bài Tập

đọc lớp 3 thông qua các chủ điểm, để từ đó tiếp tục thống kê các câu kể Ai thế

nào? có trong các bài Tập đọc nhằm tìm hiểu mức độ sử dụng dạng câu kể có

trong các văn bản đó, qua đó thấy được đặc điểm, phân loại, ý nghĩa về nhận thức, tư duy của học sinh thông qua các câu kể đó

Sử dụng thống kê, phân loại kết hợp với điều tra giáo dục trong việc

tìm hiểu thực trạng dạy học câu kể Ai thế nào? theo hướng phát triển tư duy ở

trường tiểu học; thống kê – phân loại điểm trong thực nghiệm sư phạm

6.3 Phương pháp phân tích

Dựa trên những nghiên cứu về lý luận cũng như nghiên cứu thực tiễn từ

đó đưa ra những phân tích, dẫn chứng, lập luận sao cho phù hợp với nội dung của đề tài

Phân tích các tài liệu liên quan đến đề tài; phân tích và xử lý các số liệu đã

thống kê lại Phân tích thực trạng dạy học câu kể Ai thế nào? theo hướng phát

triển tư duy cho học sinh lớp và sự phát triển tư duy HS lớp 3 trường Tiểu học Phong Châu

6.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Đó là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa học, bằng cách sử dụng trí tuệ của một đội ngũ chuyên

Trang 14

gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định, ý kiến của từng người sẽ bổ sung cho nhau, kiểm tra lẫn nhau cho ta một ý kiến đa số

Với đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp này là hỏi ý kiến các thầy

cô trong khoa về các lĩnh vực liên quan tới đề tài, hỏi ý kiến từ các thầy giáo

cô giáo giảng dạy, công tác ở trường tiểu học

6.5 Phương pháp quan sát sư phạm

Quan sát sư phạm là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo dục trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm cho ta những tài liệu sống về thực tiễn giáo dục để có thể khái quát nên những qui luật nhằm chỉ đạo tổ chức quá trình giáo dục được tốt hơn

Phương tiện để quan sát chủ yếu là tri giác trực tiếp Nếu có khả năng

có thể dùng các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ để tài liệu quan sát được xem xét

kĩ hơn (máy chụp hình, quay phim, thu âm )

Đối với đề tài, sử dụng phương pháp quan sát sư phạm để quan sát các hoạt động của GV và HS trong quá trình dạy và học;

6.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của đề tài Đối với đề tài này sau khi xây dựng nhóm bài tập theo chủ điểm chúng tôi tiến hành thực nghiệm trên học sinh lớp 3A trường Tiểu học Phong Châu

nhằm kiểm tra tính hiệu quả của việc dạy học câu kể Ai thế nào? theo hướng

phát triển tư duy học sinh

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Ngôn ngữ là thành tựu vĩ đại lớn nhất của loài người Sự ra đời của ngôn ngữ là thể hiện một chức năng mà nó chính là chức năng giao tiếp GS Cao Xuân Hạo đã nhận định: thoạt tiên những nhu cầu thực tiễn của giao tiếp

xã hội đặt ra cho con người những nhiệm vụ trao đổi và thông báo cần được thực hiện bằng phương tiện ngôn ngữ và công việc của ngôn ngữ học là tìm hiểu xem những nhiệm vụ ấy được thể hiện bằng những phát ngôn nào, có những quy tắc gì chi phối việc sử dụng những phát ngôn ấy Như vậy, mỗi ngôn ngữ được hình dung hai bộ phận: bộ phận sử dụng các yếu tố ngôn ngữ và

bộ phận các quy tắc hoạt động của các ngôn ngữ ấy

Trong các bộ phận của các yếu tố ngôn ngữ, câu được xem như một đơn

vị ngôn ngữ có cấu trúc nhất định phù hợp với quy tắc của một thứ tiếng

1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài

Nói đến vấn đề về câu hẳn ai cũng biết rằng đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới vì ngay khi chữ viết xuất hiện, tiếng nói hình thành thì câu cũng được hình thành theo đó Trong lịch sử ngôn ngữ học có khá nhiều nghiên cứu định nghĩa về câu khác nhau có thể dẫn ra một số định nghĩa về câu như sau:

- Từ thời cổ Hi Lạp, Aristote quan niệm: “Câu là một âm phức hợp có ý

nghĩa độc lập mà mỗi bộ phận riêng biệt trong đó cũng có ý nghĩa độc lập”

- Học phái Alecxandri (thế kỉ III - II tr CN) đã nêu định nghĩa : “Câu

là tổ hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn”.[2; tr.105]

- Theo Halliday (1985) quan niệm câu là nơi cả ba bình diện của nghĩa đều được thực hiện, theo đó câu thực hiện 3 chức năng cơ bản đó là chức năng ý niệm, chức năng liên nhân và chức năng ngôn bản Như vậy, một câu

có thể đồng thời có ba mô hình cấu trúc không tương hợp nhau về các đơn vị ngôn ngữ trên trục hình tuyến

Trang 16

Những định nghĩa vừa nêu trên mang tính chất sơ lược, đơn giản, dễ hiểu tuy nhiên qua thử thách hàng ngàn năm và cho đến ngày nay vẫn sử dụng

nó phổ biến Và qua các quan niệm đó góp phần có những cống hiến nhất định cho việc nghiên cứu câu sau này

Ngoài nghiên cứu về câu việc nghiên cứu sự phát triển tư duy của học

sinh cũng được nghiên cứu nhiều Như Alêcxâyep với công trình "Phát triển tư

duy học sinh" đã chỉ ra tầm quan trọng của phát triển tư duy học sinh, đồng

thời đưa ra những phương pháp, biện pháp nhằm phát triển khả năng tư duy cho học sinh

1.1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về câu như Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Diệp Quang Ban, Nguyễn Minh Thuyết, GS Lê A, Nguyễn Kim Thản, G.S Đỗ Thị Kim Liên…

Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết câu là đơn vị có chức năng thông báo, tức là biểu hiện một thông điệp Trong đó, vị ngữ là nòng cốt là “xuất phát điểm” của thông điệp

Cao Xuân Hạo cho rằng “Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tiếp, nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất”

Nguyễn Kim Thản thì chọn định nghĩa của V.V.Vinogradov: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo qui tắc của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểu thị

và truyền đạt tư tưởng Trong câu, không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực”

Theo GS Đỗ Thị Kim Liên, câu được thành lập khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy nhằm mục đích giao tiếp hay bày tỏ thái độ Chính

vì vậy, câu phải có chức năng thông báo, thể hiện: câu mang nội dung thông tin, được dùng để bày tỏ cảm xúc câu tác động đến nhận thức của người nghe

GS Lê A cũng nghiên cứu định nghĩa về câu, nghiên cứu về sự phân loại, các kiểu câu thường gặp… Đặc biệt ông đã đề cập đến sự phân loại các

Trang 17

dạng câu theo mục đích nói và chia ra làm bốn kiểu câu như (câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần thuật, câu nghi vấn) trong đó dạng thức câu trần thuật được ông nghiên cứu rất kĩ Ông chỉ ra rõ khái niệm câu trần thuật đó là “Câu trần thuật là kiểu câu có chức năng chính dùng để kể, miêu tả, nhận định một

sự kiện, một hiện tượng Trần thuật là ý nghĩa tình thái trong câu miêu tả hay nhận định một sự kiện hiện tượng Tất cả các câu đơn, câu ghép trong tiếng Việt đều có thể dùng để trần thuật” [1, tr 103]

Hay Diệp Quang Ban cũng nghiên cứu về dạng câu trần thuật (câu kể

- tường thuật) như ông đã chỉ ra định nghĩa tường thuật như sau “Câu tường thuật dùng để kể, xác nhận (là có hay không có) mô tả sự vật với các đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó, là hình thức biểu hiện, thông thường của một phán đoán Câu tường thuật được thể hiện bằng thực từ, phụ từ của chúng, sử dụng các tiểu từ tình thái riêng để bày tỏ thái độ với nội dung câu nói, hoặc đối với người nói người nghe nhằm hoàn chỉnh câu, giúp cho câu đứng trước được” [2, tr 224]

Như vậy việc nghiên cứu về câu nói chung và dạng câu trần thuật nói riêng đã được nhiều người nghiên cứu, tuy nhiên phần lớn các tác giả chỉ nghiên cứu các định nghĩa quan điểm về câu, phân loại câu (câu đơn bình thường, câu đơn, câu đặc biệt, câu rút gọn…)

Ở trường Tiểu học việc nghiên cứu về các kiểu câu trong chương trình cũng đã có nhiều người đề cập đến tuy nhiên các kiểu câu kể cũng ít được

nghiên cứu, cũng có một số đề tài đã được nghiên cứu như “Sử dụng linh hoạt

ba kiểu câu kể “Ai là gì?”,“Ai thế nào?”,“Ai làm gì?” hay cũng có đề tài

nghiên cứu về việc “Biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 2, lớp 3 nhận diện và

sử dụng ba loại câu kể “Ai thế nào?”,“Ai là gì?”, “Ai làm gì?”

TS Nguyễn Thị Xuân Yến với bài viết “Phát triển tư duy cho học sinh

qua dạy học môn Tiếng Việt” đã đề cập đến những phương pháp tổ chức đồng

tâm và phát triển Phương pháp dạy học hướng vào người học nhằm tôn trọng lợi

Trang 18

ích, quyền lợi, sáng tạo cá nhân của HS Nhờ đó, tư duy của người học sẽ được

hình thành và phát triển trong môi trường, điều kiện tốt nhất

Trên đây là những tài liệu quý báu cho tôi trong tiến trình thực hiện đề tài của mình, phát triển tư duy cho học sinh tiểu học là một vấn đề mà đang được các nhà giáo dục quan tâm, đề cập đến nhiều phương diện, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung Với đề tài này chúng tôi nghiên cứu cụ

thể chi tiết hơn trong "Dạy học câu kể " Ai thế nào?" trong môn Tiếng Việt lớp

3 theo hướng phát triển tư duy học sinh"

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Giới thuyết chung về câu tiếng Việt

1.2.1.1 Câu tiếng Việt

Nói đến khái niệm về câu có rất nhiều định nghĩa khác nhau về câu tiếng Việt, có thể dẫn ra một số định nghĩa về câu tiếng Việt như sau:

Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, và có tính chất độc lập

Câu là một ngữ tuyến được hình thành một cách tương đối trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nhất định, là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với hiện thực

Diệp Quang Ban định nghĩa về câu như sau “Câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [2; tr.106]

Như vậy, nhóm tác gỉa trên tập trung chú ý về nghĩa hoàn chỉnh của câu, chú trọng đến cấu tạo ngữ pháp của câu đặc biệt chú ý đến tính chỉnh thể của câu

Trang 19

Tác giả Lê A cũng nghiên cứu về câu và ông đã chỉ ra định nghĩa câu dựa trên hai phương diện đó là:

Ở phương diện cấu tạo ngữ pháp, cũng tức là ở bậc trừu tượng, khái quát, câu là đơn vị ngôn ngữ được cấu tạo bởi các đơn vị từ nhỏ (từ, ngữ cố định, cụm từ tự do) theo những quy tắc ngữ pháp nhất định

Ở phương diện sử dụng, mỗi câu gắn với một tình huống cụ thể, một

mục đích giao tiếp cụ thể, biểu hiện một ý nghĩa cụ thể Câu cụ thể đó được gọi là phát ngôn; phát ngôn chính là câu trong họat động giao tiếp

VD: + Hôm nay, trời mưa to

+ Mẹ đã về

Tuy có nhiều định nghĩa về câu như vậy song chúng ta hiểu câu với định nghĩa như sau: Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với một ngữ cảnh nhất định, nhằm một mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc

Từ những định nghĩa trên chúng ta thấy câu được chia ra làm 3 nhóm chính: câu theo quan hệ ngữ pháp, câu theo quan hệ ngữ nghĩa và câu theo quan

hệ ngữ dụng Trong đó, đề tài tập trung nghiên cứu nhóm câu theo quan hệ ngữ pháp dụng Nhóm câu này phù hợp với lứa tuổi tiểu học và được sử dụng phổ biến trong các văn bản tập đọc ở tiểu học

1.2.1.2 Đặc điểm của câu

Qua những định nghĩa về câu ta có thể thấy câu có hai đặc điểm chính

đó là về nội dung và về hình thức như sau:

Xét về nội dung:

- Câu là sản phẩm hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là loại đơn vị không có sẵn trong ngôn ngữ, là kết hợp tự do của những đơn vị có sẵn (từ, cụm từ cố định) hoặc những đơn vị không có sẵn (các kiểu cụm từ tự do)

Về ngữ pháp, câu là lõi của phát ngôn, là đơn vị nhỏ nhất của đơn vị cấu tạo văn bản

- Câu chứa đựng một nội dung thông báo, thể hiện một ý tương đối trọn vẹn nội dung đó có thể là:

Trang 20

Hiện thực được nói đến trong câu, phản ánh vào câu, như sự vật, hiện tượng, trạng thái, hành động, tính chất, quan hệ…Hiện thực này sẽ tạo nên phần nghĩa miêu tả nghĩa sự vật, nghĩa biểu hiện của câu, của phát ngôn

Quan hệ, thái độ của người nói với người nghe và sự đánh giá chủ quan của người nói đối với hiện thực được nói đến trong câu Nội dung này chính

là một yếu tố quan trọng tạo nên nghĩa tình thái trong câu

Xét về hình thức:

- Khi nói, câu có ngữ điệu kết thúc, (hạ giọng ở câu trần thuật, lên giọng ở câu hỏi không có từ nghi vấn) Với tiếng Việt, người nói thường dùng

các tiểu từ tình thái ở cuối câu như: (à, ư, hả, hử, nhé…)

- Khi viết, chữ cái đầu âm tiết của đầu câu viết hoa, cuối câu có một

trong các dấu sau: dấu chấm, chấm hỏi, chấm than, dấu chấm lửng

1.2.1.3 Phân loại câu

* Phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp

Ngữ pháp học thường lấy số lượng kết cấu chủ vị là tiêu chí phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp Kết cấu chủ vị nòng cốt là một cấu trúc ngữ pháp - nghĩa độc lập không bị bao trong một kết cấu lớn hơn, được coi là hạt nhân để cấu tạo nên câu Kết cấu chủ vị thành phần là cấu trúc không độc lập cả về phía cú pháp ngữ nghĩa Bởi nó chỉ là một bộ phận tạo nên cấu trúc lớn hơn:

là bổ ngữ trong cụm động từ, là định ngữ trong cụm danh từ, hay là một thành phần chính của câu: chủ ngữ hoặc vị ngữ

Căn cứ vào số lượng kết cấu chủ vị nòng cốt có thể phân loại câu thành câu đơn và câu ghép

- Thứ nhất là câu đơn

Câu đơn là loại câu mà trong hai thành phần cấu tạo chỉ có một kết cấu nòng cốt (một kết cấu C-V) Trong thực tế giao tiếp, phần nòng cốt có thể chỉ bao gồm hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ với cách cấu tạo đơn giản, nghĩa là mỗi thành phần chỉ bao gồm một từ

VD:+ Mây bay

+ Một đám mây trắng đang bay qua mặt trăng

Trang 21

Câu đơn lại được phân thành hai loại: câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt

- Thứ hai là câu ghép

Câu ghép là câu có hai kết cấu chủ vị nòng cốt trở lên, mỗi kết cấu là một

vế câu, nêu lên một sự việc trong câu ghép có quan hệ nghĩa với nhau, quan

hệ nghĩa đó được thể hiện bằng một quan hệ ngữ pháp nào đó

Câu ghép thường được phân loại theo kiểu quan hệ ngữ pháp giữa các vế câu, thành câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ Tuy nhiên căn cứ vào sự vắng mặt của từ ngữ làm phương tiện liên kết các vế câu có thể phân câu ghép thành hai loại đó là câu ghép không dùng từ ngữ liên kết giữa các vế câu và câu ghép có dùng từ ngữ liên kết các vế câu

* Phân loại câu theo cấu trúc đề - thuyết

Cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc thông báo nhằm mục đích giao tiếp bằng ngôn ngữ Nội dung thông báo biểu hiện trong một cấu trúc đề - thuyết thường là một hành động nhận định miêu tả về một chủ đề, từ một điểm xuất phát, hoặc chỉ là một hành động nhận định miêu tả không có chủ đề hay điểm xuất phát Hành động nhận định miêu tả…được gọi là thuyết Chủ đề hay điểm xuất phát (cho thuyết) được gọi là đề Cấu trúc thông báo có đề và thuyết được gọi là cấu trúc đề - thuyết Dựa vào sự có mặt hay vắng mặt đề - thuyết ở bậc câu; bậc của cấu trúc đề thuyết trong câu; số lượng cấu trúc - đề thuyết trong câu người ta phân loại cấu trúc đề thuyết thành các loại sau:

- Câu có đủ cấu trúc đề - thuyết ở bậc câu là câu hai thành phần

- Câu hai thành phần mà có phần đề, phần thuyết bậc câu không chứa một cấu trúc đề - thuyết ở bậc thấp hơn là câu một bậc

- Câu hai phần mà có phần đề hay phần thuyết do một cấu trúc đề thuyết bậc dưới tạo thành câu nhiều bậc

- Câu chỉ có phần thuyết, vắng mặt hay khuyết phần đề được là câu

một phần

* Phân loại câu theo mục đích phát ngôn

Trang 22

Hoạt động giao tiếp luôn có tính mục đích Hiện tượng câu (hay còn gọi là phát ngôn) theo mục đích nói rất đa dạng nhưng thường được phân loại thành bốn mục đích cơ bản Từ đó, các câu cũng được phân ra làm bốn kiểu câu: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cầu khiến

- Câu nghi vấn

Câu nghi vấn (còn gọi là câu hỏi) là kiểu câu có chức năng chính biểu thị điều hoài nghi hay thắc mắc, cần được giải đáp nội dung đó bằng một câu trả lời

- Câu cầu khiến

Câu cầu khiến là câu có chức năng chính là nhằm đòi hỏi người đối thoại thực hiện một hành động hay một chuyển biến Nội dung hành động, chuyển biến biểu hiện ở nòng cốt câu Trong câu cầu khiến thường có mặt hoặc có khả năng xuất hiện từ có ý nghĩa tình thái cầu khiến như phụ từ cầu

khiến hãy, đừng, chớ, hoặc trợ từ đi, mà thôi Dấu cuối câu là dấu chấm than

(!), nhưng cũng có khi là dấu chấm

Câu cảm thán thường có các từ ngữ tình thái như: ôi, ối, ủa, ái, ái chà

chà, chao ôi, thay, biết bao, xiết bao, biết mấy,…Ngữ điệu câu cảm thán

thường được kết thúc bằng dấu chấm than khi viết (!)

VD:+ Thiêng liêng theo tiếng gọi Bác Hồ!

- Câu trần thuật (còn gọi là câu tường thuật, câu kể)

Câu trần thuật là kiểu câu có chức năng chính dùng để kể, miêu tả, nhận định một sự kiện, một hiện tượng Trần thuật là ý nghĩa tình thái trong

Trang 23

câu miêu tả hay nhận định một sự kiện hiện tượng Tình thái trần thuật được nhận biết ở kiểu câu này là sự vắng mặt các dấu hiệu tình thái của câu nghi vấn, câu cầu khiến…và sự có mặt của những dấu hiệu phủ định hay khẳng định hiện thực được phản ánh trong câu Tất cả các câu đơn, câu ghép trong tiếng Việt đều

có thể dùng để trần thuật

VD: + Hoa có chiếc váy màu tím rất xinh

+Trăng đêm nay soi sáng mọi ngõ ngách

Người ta có thể chia câu trần thuật thành hai loại đó là câu trần thuật khẳng định và câu trần thuật phủ định

Câu trần thuật khẳng định là câu xác nhận sự có mặt của sự vật, hiện tượng hay sự kiện xác nhận sự có mặt của đặc trưng đối tượng hiện thực hoặc trong hiện tượng

VD: + Hoa đang chăm chỉ chép bài tập của cô cho

+ Chim én đang bay lượn trên bầu trời

Câu trần thuật phủ định là câu xác nhận sự vắng mặt của sự vật, hiện tượng hay sự kiện, xác nhận sự vắng mặt của đặc trưng đối tượng trong hiện

thực hoặc trong tưởng tượng bằng phương tiện hình thức xác định như không,

chẳng, chưa…

VD: + Hôm nay, Hoài An không đi học

Như vậy, theo GS TS Lê A thì câu được chia thành ba loại đó là: theo cấu tạo ngữ pháp, theo cấu trúc đề - thuyết và theo mục đích phát ngôn Trong

đó đề tài nghiên cứu chú trọng vào sự phân loại câu theo mục đích phát ngôn

Mà theo mục đích phát ngôn thì cũng được chia ra làm 4 loại khác nhau, trong

đó hướng tiếp cận chính của đề tài đó là nghiên cứu dạng câu trần thuật (câu kể) Bởi dạng câu này nó được sử dụng rất nhiều trong các bài Tập đọc lớp 3

đặc biệt là dạng câu kể Ai thế nào? sự xuất hiện câu kể Ai thế nào? trong các

văn bản văn xuôi rất nhiều Tuy nhiên để xác định cấu trúc của dạng câu kể này đặt trong mối quan hệ với các câu kể khác được hay không nó thể hiện khả năng tư duy của học sinh rất rõ

1.2.1.4 Khái quát về câu kể

Trang 24

a, Đặc điểm câu kể

- Trong hệ thống câu phân loại theo mục đích phát ngôn thì câu kể không

mang những đặc điểm của câu của các câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cầu khiến Câu kể được dùng để kể, tả, thông báo những sự vật, hiện tượng thông báo trong hiện thực khách quan… Dấu câu được sử dụng đó là dấu chấm ở cuối câu (.)

- Theo quan điểm ngữ pháp cấu tạo thì câu kể là loại câu do một cụm C

- V dùng để kể, miêu tả, nhận định một sự kiện, hiện tượng

VD: + Tôi đang đang nắn nót viết từng chữ thì Cô-rét-ti chạm khuỷu

tay vào tôi, làm cho cây bút nguệch ra một đường rất xấu

- Câu kể có từ “là” là loại câu do một cụm C - V tạo thành, dùng để giới

thiệu, tả hoặc kể một sự việc, sự vật hay để nêu một ý kiến Vị ngữ thường do

từ “là” kết hợp với danh từ (cụm danh từ) tạo thành, dùng để giới thiệu, tả

hoặc kể về một sự việc, sự vật hay nêu một ý kiến Khi vị ngữ biểu thị ý phủ

định, nó kết hợp với cụm từ không phải, chưa phải

Một số kiểu câu: câu định nghĩa; câu giới thiệu; câu miêu tả, câu

đánh giá

- Câu kể không có từ “là”: là câu trần thuật vị ngữ thường do động từ

hoặc cụm động từ, tính từ hoặc cụm tính từ tạo thành Khi biểu thị ý phủ định

nó kết hợp với các từ không, chưa

Những câu kể không có từ “là” dùng để miêu tả hành động, trạng thái,

đặc điểm,…của sự vật nêu ở chủ ngữ Hoặc còn dùng để thông báo về sự xuất hiện, tồn tại hay tiêu biến của sự vật

b, Phân biệt câu kể, câu trần thuật, câu tường thuật

Câu kể, câu tường thuật, câu trần thuật đều là một loại câu, tuy nhiên tùy vào hoàn cảnh, nội dung, thời điểm mà có cách gọi khác nhau sao cho phù hợp nhất

Câu kể được gọi khi mô tả một hiện thực, một chứng kiến đã tham gia

sau đó kể lại với người khác hoặc là loại câu tái hiện sự việc đã sảy ra trong quá khứ qua lời kể của một nhân vật nào đó

Trang 25

Câu trần thuật được gọi khi nhiều hơn câu kể và câu tường thuật bởi nó

thường chú trọng hơn tới thứ tự các sự kiện, thời gian đã xảy ra trong quá khứ

Câu tường thuật dùng để kể, xác nhận (là có hay không có) mô tả sự

vật với các đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó, là hình thức biểu hiện, thông thường của một phán đoán Câu tường thuật được thể hiện bằng thực từ, phụ từ của chúng, sử dụng các tiểu từ tình thái riêng để bày tỏ thái độ với nội dung câu nói, hoặc đối với người nói người nghe nhằm hoàn chỉnh câu, giúp cho câu đứng trước được [2, tr 224]

c, Phân loại câu kể

* Câu kể “Ai là gì ?”

Câu kể Ai là gì? là một trong những kiểu câu đơn trần thuật cơ bản của

Tiếng Việt Được dùng để giới thiệu, miêu tả, định nghĩa, nhận định về người,

sự vật, hiện tượng… Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi (Ai?, Cái gì?, Con gì?) có

thể là một danh từ hoặc cụm danh từ tạo thành, còn vị ngữ trả lời cho câu hỏi

là gì? do từ là kết hợp với một số từ hoặc cụm từ (danh từ, động từ/ cụm động

từ, tính từ/ cụm tính từ) tạo thành [14, tr 142]

- Câu kể Ai là gì ? bao gồm câu định nghĩa, câu giới thiệu, câu miêu tả,

câu đánh giá, câu nhận định

Khi vị ngữ biểu thị ý phủ định nó kết hợp với từ không phải, chưa phải Đây là một đặc điểm hình thức có thể được sử dụng để phân biệt câu kể Ai

làm gì? và Ai thế nào?

- Câu định nghĩa

+ Tính từ là những từ chỉ hình dáng, đặc điểm, màu sắc, tính chất,

trạng thái của người, sự vật, hiện tượng

+ Danh từ là những từ chỉ người, vật, sự vật, khái niệm

- Câu giới thiệu

+ Quê hương là chùm khế ngọt

- Câu miêu tả

+ Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo, sáng sủa

Trang 26

Câu kể Ai làm gì? dùng để miêu tả hoạt động trạng thái, thông báo về

sự xuất hiện, tồn tại hay tiêu biến của sự vật, hiện tượng được nêu ở chủ ngữ

Trong câu kể Ai làm gì? chủ ngữ trả lời cho câu hỏi Ai (người, con vật hay đồ

vật, cây cối được nhân hóa) có hoạt động nói đến ở vị ngữ Chủ ngữ do danh

từ hoặc cụm danh từ tạo thành Vị ngữ trả lời cho câu hỏi làm gì? thường do

động từ hoặc một cụm động từ tạo thành [14, tr 145]

- Dùng miêu tả hoạt động, trạng thái của sự vật hiện tượng được nói đến trong chủ ngữ Những câu này được gọi là câu miêu tả Trong câu miêu tả chủ ngữ đứng trước vị ngữ

+ Bóng tre chùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn (Thép Mới)

- Dùng thông báo về sự xuất hiện, tồn tại hoặc tiêu biến của sự vật, hiện tượng nêu ở chủ ngữ Đó là những câu tồn tại Trong câu tồn tại chủ ngữ thường đứng sau vị ngữ

+ Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ kính (Thép Mới)

- Câu kể "Ai thế nào?"

Dùng để miêu tả đặc điểm, trạng thái, tính chất của sự vật, hiện tượng

Chủ ngữ thường là trả lời cho câu hỏi (Ai? Cái gì?Con gì?) cho nên chủ ngữ thường do danh từ, cụm danh từ tạo thành Vị ngữ trả lời cho câu hỏi như thế

nào? thường là các tính từ (cụm tính từ, động từ chỉ trạng thái, hoặc cụm động

Trang 27

- Câu dùng để miêu tả đặc điểm tính chất của sự vật hiện tượng được nêu ở chủ ngữ Chủ ngữ câu miêu tả được nêu ở vị ngữ

VD: + Những bông hồng đỏ rực khắp vườn

- Câu tồn tại là những câu thông báo về sự xuất hiện, tồn tại hoặc tiêu biến của sự vật, hiện tượng nêu ở chủ ngữ Trong câu tồn tại chủ ngữ thường đứng sau vị ngữ

VD: + Khắp vườn đỏ rực những bông hoa hồng

1.2.2 Khái quát về tư duy và tư duy ngôn ngữ

1.2.2.1 Khái quát về tư duy

a, Khái niệm về tư duy

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tư duy:

Trong thực tiễn cuộc sống, có rất nhiều cái mà ta chưa biết, chưa hiểu Song, để làm chủ được thực tiễn, con người cần phải hiểu thấu đáo những cái chưa biết đó, phải vạch ra cái bản chất, mối quan hệ, liên hệ có tính chất quy luật của chúng Quá trình đó gọi là tư duy

Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết [22; T 79]

Tư duy là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác Khác với cảm giác và tri giác, tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng Quá trình phản ánh này mang tính gián tiếp và khái quát nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa giới hạn của nhận thức cảm tính

b, Đặc điểm của tư duy

Theo như tâm lí học, tư duy mang 5 đặc điểm sau:

- Tính "có vấn đề" của tư duy

Không phải hoàn cảnh nào tư duy cũng xuất hiện Trên thực tế, tư duy chỉ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, tình huống "có vấn đề" Tức là những tình huống chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà những hiểu biết cũ,

Trang 28

phương pháp, hành động cũ, tuy còn cần thiết nhưng không đủ giải quyết Muốn giải quyết vấn đề mới đó, đạt được mục đích mới đó con người phải tìm cách giải quyết mới Tức là con người phải tư duy

Hoàn cảnh, tình huống có vấn đề kích thích con người tư duy

- Tính gián tiếp của tư duy

Tính gián tiếp của tư duy trước hết ở việc con người sử dụng ngôn ngữ

để tư duy Nhờ ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, công thức, quy luật, khái niệm ) vào quá trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát ) để nhận thức được cái bên trong, bản chất của sự vật, hiện tượng

- Tính trừu tượng và khái quát của tư duy

Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản ánh sự vật, hiện tượng một cách cụ thể riêng lẻ tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất, chung cho nhiều sự vật hiện tượng Trên cơ sở đó khái quát những

sự vật hiện tượng riêng lẻ, nhưng có những thuộc tính bản chất chung thành của nhóm, một loại, một phạm trù Nói cách khác, tư duy mang tính trừu tượng và khái quát

- Tư duy quan hệ chặt chẽ ngữ

Tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ được ngược lại ngôn ngữ cũng không thể tồn tại được.Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất và tánh rời nhau đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức

- Tính chất lí tính của tư duy

Chỉ có tư duy con người mới phản ánh được bản chất của sự việc hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của chúng, bởi vì chỉ tư duy mới có thể vượt qua được những giới hạn trực quan, cụ thể của nhận thức cảm tính Nhưng như thế không có nghĩa là, cứ tư duy là phản ánh đúng đắn, sâu sắc sự vật, hiện tượng Tư duy có phản ánh đúng hay không là còn tùy thuộc vào chiến thuật và phương pháp tư duy nữa

Trang 29

- Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính

Mối quan hệ này là mối quan hệ qua lại, hai chiều; tư duy được tiến hành trên cơ sở những tài liệu do nhận thức cảm tính cung cấp, tính đúng đắn của các kết quả tư duy được kiểm tra bằng thực tiễn, dưới hình thức trực quan Ngược lại, tư duy và những kết quả của nó ảnh hưởng đến các quá trình nhận thức cảm tính

c, Phẩm chất của tư duy

Tư duy có những phẩm chất sau:

* Tính định hướng: thể hiện ở ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và con đường tối ưu để đạt mục đích đó

* Bề rộng: thể hiện có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác

* Độ sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng

* Tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hành động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo

* Tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng xuôi và ngược chiều (Ví dụ: từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể:

* Tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề

* Tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra mô hình khái quát Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề cùng loại

Để đạt được những phẩm chất tư duy trên, trong quá trình dạy học chúng ta chú ý rèn luyện cho HS các thao tác tư duy

1.2.2.2 Khái quát về tư duy ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Trong thời đai hiện nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hóa giữa các dân tộc Ngôn ngữ

Trang 30

là phương tiện quan trọng nhất của sự trao đổi văn hóa giữa các dân tộc Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, và là công cụ tư duy của con người

Một trong những đặc điểm của tư duy là tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: "Tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ được ngược lại ngôn ngữ cũng không thể tồn tại bên ngoài tư duy được Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất và tánh rời nhau đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức."

Như vậy, ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là cái vỏ vật chất của tư duy Ngôn ngữ và tư duy là một thể thống nhất nhưng không đồng nhất Sự không đồng nhất giữa ngôn ngữ và tư duy thể hiện ở các phương diện sau:

Về bản chất, tư duy là hoạt động của hệ thần kinh cao cấp; ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu và quy tắc ngữ pháp được trừu tượng hóa từ lời nói của một cộng đồng

- Về chức năng, chức năng của tư duy là nhận thức thế giới, xã hội, con người; chức năng của ngôn ngữ là làm công cụ giao tiếp, công cụ tư duy Là công

cụ giao tiếp, ngôn ngữ có những từ không biểu thị khái niệm (đại từ, phụ từ, kết

từ, trợ từ ), có những câu không biểu thị phán đoán (câu hỏi, câu hô gọi )

- Về hệ thống sản phẩm, sản phẩm của tư duy là khái niệm, phán đoán, suy lí Sản phẩm của ngôn ngữ là từ, ngữ , câu, đoạn văn, văn bản Các khái niệm được thể hiện ra trong từ, ngữ, các phán đoán được thể hiện ra trong các câu, các suy lí được thể hiện ra trong các đoạn văn, các tư tưởng được diễn đạt trong văn bản Các khái niệm về sản phẩm của hai hệ thống ấy

là khác nhau Một từ có thể biểu thị nhiều khái niệm khác nhau (hiện tượng nhiều nghĩa, hiện tượng đồng âm), một khái niệm có thể được thể hiện bằng nhiều từ ngữ khác nhau (hiện tượng đồng nghĩa) và một ý tưởng có thể được biểu thị trong một hoặc nhiều câu

- Về quy luật hoạt động, tư duy chỉ chấp nhận sự hợp lí, logic; ngôn ngữ nhiều khi hoạt động theo quy luật của thói quen Các hiện tượng bất quy tắc trong các ngôn ngữ chính là biểu hiện cụ thể của thói quen ngôn ngữ mà

Trang 31

bằng tư duy logic không thể nào lí giải được Không hiểu rõ điều này, nhiều người học ngoại ngữ đã áp dụng những suy lí logic để tạo ra những câu nói

"đúng ngữ pháp" nhưng lại rất xa lạ với thói quen nói năng của người dân sử dụng ngôn ngữ ấy

Tóm lại, ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất nhưng không đồng nhất và tách rời nhau Chức năng của ngôn ngữ đối với tư duy là thể hiện tư tưởng và trực tiếp tham gia vào việc hình thành tư tưởng Hay nói cách khác, khi người nói, người viết phát ngôn thì mỗi câu mỗi từ trong câu phải mang một ý nghĩa nhất định, đó là một biểu hiện cơ bản của tư duy ngôn ngữ

1.2.2.3 Phát triển năng lực tư duy tập trung tư duy ngôn ngữ

Việc phát triển tư duy cho HS trước hết là giúp HS nắm được các kiến thức cần lĩnh hội đồng thời cần biết vận dụng các kiến thức đó vào việc giải bài tập và thực hành Qua đó, HS sẽ nắm chắc hơn kiến thức và biến những kiến thức đó trở nên sinh động HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của các em phát triển

Tư duy ngày càng phát triển thì khả năng tiếp thu tri thức sẽ diễn ra nhanh, sâu sắc và có chất lượng hơn, khả năng vận dụng kiến thức càng linh hoạt và hiệu quả hơn Như vậy, việc phát triển tư duy cho học sinh có vai trò tiên quyết trong việc tiếp thu tri thức của học sinh Sự phát triển tư duy của học sinh được diễn ra xuyên suốt trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức Khi tư duy phát triển sẽ tạo ra một kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ,

có phương pháp chuẩn bị lâu dài cho học sinh hoạt động sáng tạo sau này Do

đó, việc phát triển năng lực tư duy ngôn ngữ cho học sinh là một hoạt động hết sức cần thiết trong quá trình dạy học Trong đó, việc học sinh tham gia vào hoạt động với các bài tập dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ giúp cho học sinh nắm được các kiến thức và phương pháp nhận thức đồng thời rèn luyện các thao tác tư duy sao cho hiệu quả nhất

Để đánh giá sự phát triển của tư duy nhất là tư duy ngôn ngữ ta cần căn

cứ vào các bình diện sau:

Trang 32

* HS có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào các tình huống khác nhau trong quá trình học tập HS đều phải giải quyết những vấn đề đòi hỏi cần sự liên tưởng đến những kiến thức đã được học trước đó Nếu HS biết cách sử dụng các kiến thức cũ vào các tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện của tư duy phát triển

* Tái hiện nhanh chóng các kiến thức, các mối quan hệ cần thiết để giải quyết một bài tập cụ thể nào đó Thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản chất giữa các sự vật hiện tượng đã có trước đó

* Có khả năng phát hiện ra những cái chung và cái riêng của các hiện tượng, vấn đề khác nhau Từ đó tìm ra cách giải quyết phù hợp cho từng vấn đề

* Có năng lực vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn Đây là kết quả phát triển tổng hợp của sự phát triển tư duy Để có thể giải quyết được các bài tập đòi hỏi HS phải biết phân tích, suy đoán, vận dụng các thao tác tư duy để có cách giải quyết thích hợp

* HS có khả năng diễn đạt ngôn ngữ nói một cách mạch lạc, rõ nghĩa, lưu loát Có sự liên kết một cách lôgic giữa các nôi dung, chủ đề với nhau Phản ứng nhanh, linh hoạt trong giao tiếp

* HS trình bày bài văn phong mạch lạc, câu từ đúng nghĩa, ngữ pháp

1.2.2.4 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 3 trong mối quan hệ với phát triển

tư duy

Trẻ em có nhu cầu lớn trong hoạt động và tiếp xúc, song việc hoạt động ngoài giờ lên lớp, sự tiếp xúc hằng ngày của trẻ với môi trường xung quanh, giao tiếp mọi người chỉ là ngẫu nhiên, bộc phát, hoàn toàn không chủ động Tổ chức cho trẻ được hoạt động cả về trí tuệ lẫn thể chất, tạo môi trường cho các em tiếp xúc, giao tiếp bạn bè, thầy cô một cách tự nhiên, có nội dung, có phương pháp, có kế hoạch phục vụ mục đích giáo dục đề ra Muốn nâng cao hoạt động giáo dục cần nắm vững đặc điểm phát triển của HS

Trang 33

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý của HS tiểu học Ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý có thể ảnh hưởng đến quá trình tư duy của HS

(1) Sự phát triển của quá trình nhận thức (nhận thức lý tính):

• Tư duy:

Trong Tâm lý học nhận thức, Piaget đã đưa ra thuyết hoạt động hóa nhằm mô tả các cấu trúc lôgic khác nhau có tính kế thừa trong quá trình phát triển trí tuệ của con người từ khi sinh ra tới tuổi trưởng thành Ông cho rằng

tư duy của trẻ hình thành và phát triển liên tục theo từng giai đoạn cụ thể Theo ông, ở giai đoạn từ 0 đến 2 tuổi, trẻ chỉ sử dụng công cụ tư duy là tri giác và động tác có khả năng biểu hiện Đó là thời kì trí tuệ cảm giác – vận động tiền ngôn ngữ Từ 2 tuổi đến khoảng 7 tuổi là khởi đầu cho một thời kì mới Ở giai đoạn này, trẻ có TD mang chức năng tượng trưng (kí hiệu), chuyển từ trí tuệ cảm giác - vận động sang trí tuệ biểu tượng Có nghĩa là các

em nhận thức đối tượng chủ yếu và trực tiếp thông qua các giác quan Như vậy, tư duy của trẻ đã chuyển từ tiền hoạt động sang thời kì hoạt động cụ thể,

từ tiền thao tác sang thao tác Sở dĩ có nhận định như vậy bởi trẻ trong giai đoạn mẫu giáo và đầu tiểu học tư duy chủ yếu diễn ra trong trường hành động Tức những hành động trên đồ vật và hành động tri giác (phối hợp hoạt động của các giác quan) Thực chất của loại TD này là trẻ tiến hành các hành động để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật Về bản chất trẻ chưa có các TTTD – với tư cách là các thao tác trí óc bên trong Trong giai đoạn tiếp theo (thường là HS từ lớp 3, lớp 4), trẻ đã chuyển được các hành động phân tích, khái quát, so sánh từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong, mặc dù tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động đối với đối tượng thực, chưa thoát ly khỏi chúng Đồng thời, tư duy của trẻ hình thành tính thuận - nghịch Ở thời kì này, biểu hiện rõ nhất của bước phát triển trong tư duy của trẻ là đã hình thành các hoạt động tinh thần, xuất hiện sự phân loại, chia loại Trẻ đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng Nhưng những khả

Trang 34

năng mới cũng chỉ trong trường hoạt động hạn chế vì vẫn phải bám giữ trên đối tượng cụ thể (đồ vật, sự vật, hiện tượng) [5; tr.205]

Tóm lại, tư duy của HS lớp 3 mang đậm tính cảm xúc và chiếm ưu thế hơn là tư duy trực quan hành động Các phẩm chất của tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức của HS lớp 3 còn sơ đẳng Ở lứa tuổi này, năng lực trừu tượng hóa

và khái quát hóa đang phát triển mạnh nhưng chưa đầy đủ, còn phải dựa vào những sự vật cụ thể, những tài liệu trực quan Các em chưa thể tự mình suy luận một cách lôgíc và thường dựa vào những mối liên hệ ngẫu nhiên của sự vật và hiện tượng Ở lứa tuổi này tư duy của các em còn mang tính cảm xúc Trẻ xúc cảm rất sinh động với tất cả những điều suy nghĩ

• Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức

Ngôn ngữ của các em phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ ngữ Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

• Chú ý và sự phát triển nhận thức của trẻ

Ở lứa tuổi này chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế Chú ý chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Trẻ chỉ tập

Trang 35

trung chú ý tốt khoảng 20-25 phút, khối lượng chú ý không lớn, khả năng phân phối chú ý còn bị hạn chế nhiều, nhưng sự di chuyển chú ý lại phát triển nhanh vì hưng phấn của chúng linh hoạt và nhạy cảm

• Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của trẻ

Trí nhớ của trẻ đang phát triển mạnh Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic Giai đoạn này ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều HS chưa biết

tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Nói tóm lại, khi trẻ bắt đầu bước vào trường tiểu học là một bước ngoặt lớn Môi trường thay đổi đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30– 35 phút Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bộc phát để chuyển thành tính kỷ luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết… Tất cả đều

là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần

có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học

(2) Sự phát triển tình cảm của trẻ

Tình cảm của trẻ mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật, hiện tượng sinh động, rực rỡ… Lúc này khả năng kiềm chế tình cảm của trẻ còn non nớt Các em dễ bị “ lây” những cảm xúc của người khác, tình cảm của trẻ dễ thay đổi, biểu hiện dễ thấy nhất là trẻ dễ khóc cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư Tình cảm gia đình giữ vai trò quan trọng đối với trẻ Tình bạn và tính tập thể được hình thành và phát triển cùng với tình thầy trò

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.3.1 Thực tiễn dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học

Phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học có vai trò quan trọng trong hệ

thống ngôn ngữ Ở Tiểu học, việc dạy Luyện từ và câu được đưa vào chương trình lớp 2 nhằm mở rộng và cung cấp vốn từ phong phú cho học sinh, cung cấp

Trang 36

cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu rèn cho học sinh khả năng

dùng từ đặt câu sao cho hợp lí Có thể khái quát nội dung chương trình phân

môn Luyện từ và câu qua sơ đồ sau:

+ Xét về thời lượng học tập “Dấu câu” là đơn vị kiến thức ngữ pháp lớn

nhất (từ lớp 2 đến lớp 5) Kế đến là câu kể (câu xét theo mục đích) và câu đơn

với một nồng cốt chủ - vị (câu xét theo cấu trúc) Và cuối cùng là từ loại

(danh từ, động từ, tính từ và đại từ)

+ Thời lượng học tập dành cho kiến thức về ngữ pháp như từ láy - từ

ghép; từ đơn - từ phức rất ít và mỗi đơn vị kiến thức chỉ được ôn luyện một lần

+ Kiến thức “Từ vựng - ngữ nghĩa” được học như từ trái nghĩa, từ nhiều

nghĩa, từ đồng âm…với thời lượng ít và không được ôn luyện qua các lớp

+ Kiến thức liên quan đến ngữ dụng học được học với thời lượng khiêm

tốn và vể hai vấn đề: Dùng câu hỏi vào mục đích khác và giữ phép lịch sự khi

đề nghị hoặc khi hỏi

+ Về mở rộng vốn từ theo chủ điểm có xuyên suốt từ lớp 2 đến lớp 5

theo chủ đề phát triển từ cụ thể đến trừu tượng

+ Việc lĩnh hội ngữ pháp của học sinh tăng dần từ việc nhận biết đơn

giản và sử dụng tự nhiên các điểm ngữ pháp trong ngữ cảnh ở lớp 2 và lớp 3

Từ loại

MRVT Theo chủ

điểm Từ so sánh Nhân hóa

Dấu câu

Câu

LT & C

Đặt câu

Trang 37

đến việc nhận diện và phân tích chúng một cách có ý thức cũng như có thể cho những giải thích đơn giản về các điểm ngữ pháp ấy ở lớp 4 và 5

+ Về từ vựng, vốn từ phát triển cho học sinh tiểu học được thiết kế theo chủ đề từ những nội dung gắn liền với cuộc sống thực tại xung quanh, dễ dàng

quan sát được: Bầu trời và mặt đất, Sáng tạo,…

+ Về từ loại: Ở lớp 3 có từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động/ trạng thái, từ chỉ tính chất, đặc điểm

+ Về câu: dạy các mẫu câu: Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào?

Ở lớp 3: trả lời cho bộ phận Ai là những từ chỉ sự vật (người, con vật, đồ vật, cây cối) Trả lời cho bộ phận Là gì?/ Làm gì?/ Thế nào? Là những từ chỉ

hoạt động/ trạng thái, tính chất/ đặc điểm

Như vậy trong chương trình Tiểu học nói chung và trong môn Tiếng việt lớp 3 nói riêng thì việc nội dung về câu được bố trí học nhiều đặc biệt là câu trần thuật đơn Đối với học sinh lớp 3 việc hiểu và làm tốt các bài tập về

kiểu câu Ai thế nào ? không phải là vấn đề dễ dàng Qua thực tế tôi thấy khi

làm các bài tập này các em thường lúng túng, các em còn xác định nhầm, gặp nhiều khó khăn khi làm bài, chất lượng chưa cao, đặc biệt khi cho các em đặt câu thì các em thường không theo mẫu mà thường biến câu trong hoạt động giao tiếp làm cho câu thiếu linh hoạt Học sinh diễn đạt câu không thể hiện được tính sáng tạo của học sinh, đặc biệt là khả năng làm mới ngôn ngữ của mình Hay có những câu hỏi mang tính chất khô cứng đối với các em, mang nặng hình thức, chưa gắn với thực tế

Nguyên nhân tình trạng trên là do các em chưa được cung cấp khái

niệm về câu Ai thế nào?, căn cứ để nhận biết từng bộ phận trả lời câu hỏi Ai

?thế nào?; các em chưa hiểu rõ câu theo kiểu Ai thế nào ? dùng để làm gì và

khi nào thì dùng câu kiểu Ai thế nào ? mà ở lớp 2 các em chỉ được làm bài qua các ví dụ mẫu của giáo viên và sự khẳng định đó là câu Ai thế nào ? của

giáo viên, lên lớp 3 các em ôn lại kiểu câu này cũng qua một số bài tập

Lượng bài tập trong sách giáo khoa còn ít, chưa phong phú nên việc luyện tập sâu về kiểu câu này còn hạn chế Cụ thể một số học sinh trung bình

Trang 38

còn xác định chưa đúng, cứ cho rằng kiểu câu Ai thế nào? là câu mà trong đó

có từ chỉ đặc điểm, tính chất Khi đặt câu hỏi cho bộ phận trả lời câu hỏi Ai? thì dù bộ phận đó là con vật hay cây cối các em vẫn dùng là Ai?, cái gì?

Thậm chí có học sinh khá giỏi vẫn xác định câu kiểu Ai thế nào? là câu kiểu Ai làm gì ?

Giáo viên ra câu hỏi căn cứ vào đâu mà em xác định đó là câu theo mẫu

Ai thế nào ? thì các em không trả lời được

Bên cạnh đó thì trong các văn bản nói viết thường sử dụng rất nhiều ba

kiểu câu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? đặc biệt là kiểu câu Ai thế nào? Do vậy việc nhận diện, sử dụng kể Ai thế nào? ở lớp 3 vẫn còn gặp nhiều khó

khăn Các em thường nhầm lẫn giữa vị ngữ của các câu kể trên, các em cho

rằng vị ngữ của câu kể Ai thế nào? luôn là tính từ, câu kể Ai làm gì? luôn là động từ Mà thực tế có khi vị ngữ trong câu kể Ai thế nào? bên cạnh là tính từ

chủ yếu thì còn có những động từ chỉ trạng thái, tính chất Ngoài ra còn căn

cứ vào chủ ngữ của câu nói Mặt khác, ở lớp 3 dạy nội dung các câu kể thường thông qua các bài thực hành rồi từ đó rút ra nội dung chính của các kiểu câu mà chưa sử dụng nhiều những định nghĩa, khái niệm về các kiểu câu

kể Từ thực tế như vậy, để phát triển tư duy học sinh trước hết phải cho các

em hiểu rõ cấu trúc, sự phân loại, cách xác định nhận diện câu kể Ai thế nào?

từ đó tạo điều kiện cho các em hoàn thành các bài tập theo chủ điểm nhằm phát triển tư duy học sinh mà chúng tôi xây dựng ở chương 3

1.3.2 Khảo sát thực trạng dạy học câu kể Ai thế nào? và sự phát triển tư duy của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Phong Châu

1.3.2.1 Một số nét về trường Tiểu học Phong Châu – thị xã Phú Thọ

Trường Tiểu học Phong Châu – thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ được thành lập năm 1986 Trường được đặt địa điểm tại phường Phong Châu - thị

xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ Kể từ khi thành lập nhà trường luôn đạt thành tựu tập thể LĐTT và tập thể LĐSX là cơ quan văn hóa cấp quốc gia, lá cờ đầu bậc tiểu học trong tỉnh Phú Thọ Năm 2009-2010 được Bộ giáo dục tặng bằng khen, năm 2010-2011 được thủ tướng chính phủ tặng bằng khen, tháng 7 năm

Trang 39

2012 được công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2, tháng 11 năm

2014 được nhà nước trao tặng Huân chương lao động hạng 3

Về giáo viên: cán bộ và giáo viên nhà trường có 35 người trong đó có 2 lãnh đạo là hiệu trưởng hiệu phó, 29 giáo viên, 4 nhân viên

Đội ngũ GV đủ về số lượng và đồng bộ về kiến thức Nhà trường luôn quan tâm, xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giáo viên, 100% GV đạt chuẩn về kiến thức

Trường gồm 617 HS chia thành 5 khối, trong đó khối 3 gồm 139 HS

và chia thành 4 lớp: lớp 3A, lớp 3B, lớp 3C và lớp 3D

Nhà trường luôn chú trọng tới hoạt động bồi dưỡng HS giỏi, chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi cũng tăng lên nhằm bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

1.3.2.2 Mục đích khảo sát

Mục đích khảo sát thực trạng về dạy học câu kể Ai thế nào? trong môn

Tiếng Việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh trong dạy học tiểu học hiện nay Cụ thể là:

- Nhận thức của giáo viên về dạy học rèn luyện tư duy, sự cần thiết của việc phát triển tư duy cho học sinh tiểu học

- Thực trạng về sự phát triển tư duy học sinh lớp 3 trường Tiểu học Phong Châu

- Biểu hiện tư duy của học sinh trong quá trình học tập

1.3.2.3 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát là GV đang trực tiếp giảng dạy tại trường Tiểu học Phong Châu – thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ cùng với 139 HS khối lớp 3 của trường

1.3.2.4 Phương pháp khảo sát

Để tìm hiểu các vấn đề nêu trên chúng tôi sử dụng các phương pháp: phương pháp điều tra giáo dục (trò chuyện, phỏng vấn, xin ý kiến GV, cán bộ quản lí trường tiểu học về các vấn đề liên quan tới rèn luyện tư duy cho học sinh; sử dụng phiếu hỏi GV và HS lớp 3 Đồng thời chúng tôi sử dụng

Trang 40

phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục và phương pháp nghiên cứu tài liệu liên quan đến thực trạng dạy học và phát triển tư duy cho HS

1.3.2.5 Nội dung khảo sát

Để khảo sát thực trạng rèn luyện và phát triển tư duy cho học sinh lớp 3 chúng tôi đã tiến hành các nội dung cụ thể sau:

- Đề nghị GV trả lời các câu hỏi trong phiếu xin ý kiến ( phiếu hỏi dành cho GV)

- Đề nghị HS trả lời các câu hỏi trong phiếu hỏi (phiếu hỏi dành cho HS)

- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lí và một số GV giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 ở Tiểu học Phong Châu - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ

- Dự giờ một số tiết dạy Tập đọc, Luyện tập Tiếng Việt

Nghiên cứu tài liệu, xem vở HS, tìm hiểu vở bài tập, vở Luyện tập Tiếng Việt, kế hoạch dạy học của GV tại trường thực tập

1.3.2.6 Đánh giá kết quả khảo sát

Chúng tôi đánh giá kết quả khảo sát qua các phần chính sau:

- Qua phiếu thăm dò

- Qua dự giờ

- Qua quan sát, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu sản phẩm giáo dục,

1.3.2.7 Kết quả khảo sát thực trạng

a, Thực trạng dạy học câu kể Ai thế nào? trong môn Tiếng Việt lớp 3 trường Tiểu học Phong Châu

Qua việc khảo sát GV ở trường Tiểu học nói chung và GV dạy khối lớp

3 nói riêng chúng tôi thu được kết quả như sau:

Trước hết chúng tôi tìm hiểu nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển tư duy cho học sinh tiểu học chúng tôi nhận thấy các giáo viên trong trường rất coi trọng việc phát triên tư duy cho học sinh tiểu học, đó chính là những điều kiện quan trọng giúp chúng tôi thực hiện đề tài này Kết quả cụ thể được ghi trong bảng 1.1

Ngày đăng: 26/06/2022, 10:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS.Lê A (2011) Giáo trình Tiếng Việt 3, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiếng Việt 3
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
2. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Tiếng việt tập 2, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng việt tập 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
3. Nguyễn Thị Kim Dung (2009), 35 bộ đề trắc nghiệm và tự luận Văn – Tiếng Việt 3, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 35 bộ đề trắc nghiệm và tự luận Văn – Tiếng Việt 3
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
4. Bùi Văn Huệ (2008), Tâm lí học tiểu học, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2008
5. Bùi Văn Huệ (1997), Tâm lí học tiểu học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1997
6. Lê Phương Nga (1995), Nguyễn Trí, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 1, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 1
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1995
7. Lê Phương Nga (1995), Nguyễn Trí, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 2, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 2
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1995
8. Hoàng Trọng Phiến (1998), Ngữ pháp Tiếng Việt câu, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt câu
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
9. Phan Thị Tuyên, Hoàng Thị Thuận (2009), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Nxb ĐH Hùng Vương, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Phan Thị Tuyên, Hoàng Thị Thuận
Nhà XB: Nxb ĐH Hùng Vương
Năm: 2009
10. Nguyễn Minh Thuyết(2011), Tiếng Việt 3 tập 1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 3 tập 1
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2011
11. Nguyễn Minh Thuyết (2011), Tiếng Việt 3 tập 2, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 3 tập 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2011
12. Nguyễn Minh Thuyết (2005), SGK Tiếng Việt 4 tập 2, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt 4 tập 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2005
13. Nguyễn Minh Thuyết (2007), Hỏi đáp về phương pháp dạy học Tiếng Việt 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về phương pháp dạy học Tiếng Việt 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
14. Nguyễn Minh Thuyết (2007), Hỏi đáp về phương pháp dạy học Tiếng Việt 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về phương pháp dạy học Tiếng Việt 3
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
15. Nguyễn Minh Thuyết (2007), Hỏi đáp về phương pháp dạy học Tiếng Việt 4, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về phương pháp dạy học Tiếng Việt 4
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
16. Đặng Mạnh Thường (2011), Luyện từ và câu lớp 4, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện từ và câu lớp 4
Tác giả: Đặng Mạnh Thường
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2011
17. Đặng Mạnh Thường (2011), Luyện từ và câu 3, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện từ và câu 3
Tác giả: Đặng Mạnh Thường
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2011
18. Nguyễn Trại (2012), Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 3 tập 1 , Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 3 tập 1
Tác giả: Nguyễn Trại
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2012
19. Nguyễn Trại (2012), Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 3 tập 2 , Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 3 tập 2
Tác giả: Nguyễn Trại
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2012
20. Nguyến Trí (2011), Tiếng Việt thực hành quyển 3 tập 1 , Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành quyển 3 tập 1
Tác giả: Nguyến Trí
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.6: Vi điều khiển PIC16F877A - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
Hình 1.6 Vi điều khiển PIC16F877A (Trang 16)
Bảng 1.2. Các biểu hiện tư duy trong giờ học ở HS lớp 3 - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
Bảng 1.2. Các biểu hiện tư duy trong giờ học ở HS lớp 3 (Trang 41)
Bảng 1.1. Nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển tư duy cho học sinh tiểu học - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
Bảng 1.1. Nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển tư duy cho học sinh tiểu học (Trang 41)
thu được kết quả như bảng 1.3. - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
thu được kết quả như bảng 1.3 (Trang 42)
Bảng 1.3. Các khó khăn thầy cô thường gặp khi dạy học câu kể Ai thế nào? trong môn Tiếng Việt lớp 3 nhằm phát triển tư duy cho học sinh - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
Bảng 1.3. Các khó khăn thầy cô thường gặp khi dạy học câu kể Ai thế nào? trong môn Tiếng Việt lớp 3 nhằm phát triển tư duy cho học sinh (Trang 42)
hình thức xây dựng các nhóm bài tập theo chủ điểm mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển các yếu tố tư duy của học sinh - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
hình th ức xây dựng các nhóm bài tập theo chủ điểm mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển các yếu tố tư duy của học sinh (Trang 43)
Bảng 1.6: Trong giờ học, các em đã thực hiện những hoạt động (hành vi, việc làm) sau: - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
Bảng 1.6 Trong giờ học, các em đã thực hiện những hoạt động (hành vi, việc làm) sau: (Trang 44)
tiết, hình ảnh một cách linh hoạt, biến hóa. - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
ti ết, hình ảnh một cách linh hoạt, biến hóa (Trang 45)
Bảng 1.7 Thực trạng sử dụng câu kể Ai thế nào? trong các bài Tập đọc lớp 3 - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
Bảng 1.7 Thực trạng sử dụng câu kể Ai thế nào? trong các bài Tập đọc lớp 3 (Trang 46)
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của hai lớp TN và ĐC - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của hai lớp TN và ĐC (Trang 87)
tiết, hình ảnh một cách linh hoạt, biến hóa. - Dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh
ti ết, hình ảnh một cách linh hoạt, biến hóa (Trang 103)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w