1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc sắc của văn học thiếu nhi nước ngoài trong phân môn tập đọc lớp 4

102 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Sắc Của Văn Học Thiếu Nhi Nước Ngoài Trong Phân Môn Tập Đọc Lớp 4
Tác giả Nguyễn Thị Bích Huệ
Người hướng dẫn TH.S Nguyễn Thị Thu Thủy
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Đề Cương Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài này chưa được dạy một cách chuyên sâu như phân tích, cảm thụ về sức hấp dẫn của nó.. í nghĩa khoa học Nghiờn cứu đặc sắc về nội dung và nghệ th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM NON

-

NGUYỄN THỊ BÍCH HUỆ

ĐẶC SẮC CỦA VĂN HỌC THIẾU NHI NƯỚC NGOÀI

TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4

ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục Tiểu học

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TH.S NGUYỄN THỊ THU THỦY

Phú Thọ, 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong đề tài do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp này đã mang lại cho tôi rất nhiều kiến thức cơ bản

về đặc sắc của văn học thiếu nhi nước ngoài trong việc dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Để hoàn thành được khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới giảng viên : Nguyễn Thị Thu Thủy người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và tận tình giúp đỡ, chỉ bảo để tôi hoàn thành đề tài đúng thời gian qui định

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới thầy cô giáo và các bạn sinh viên Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non đã tạo điều kiện giúp đỡ và có những ý kiến đóng góp bổ ích đối với thành công của đề tài Vì thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Phú Thọ, ngày 5 tháng 5 năm 2019

Người thực hiện

Nguyễn Thị Bích Huệ

Trang 4

MỤC LỤC Trang

Trang phụ bỡa……… i

Lời cam đoan……… ii

Lời cảm ơn……… iii

Mục lục……… iv

Danh mục cỏc cụm từ viết tắt……… v

MỞ ĐẦU……… 1

1 Tớnh cấp thiết của đề tài ……… 1

2 í nghĩa khoa học và thực tiễn ……… 2

3 Mục tiờu nghiờn cứu……… 2

4 Nhiệm vụ nghiờn cứu ……… 2

5 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu……… 2

6 Phương phỏp nghiờn cứu……… 3

7 Cấu trỳc của đề tài……… 3

NỘI DUNG……… 4

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Cơ sở lý luận ……… 4

1.1.1 Văn học thiếu nhi nước ngoài và vai trò của nó trong việc hình thành kĩ năng cảm thụ văn học………

1.1.2 Văn học nước ngoài trong nhà trường Tiểu học…

4 17 1.2 Cơ sở thực tiễn……… 20

1.2.1 Thực trạng việc dạy của giỏo viờn với văn học thiếu nhi nước ngoài 20 1.2.2 Thực trạng việc học của học sinh với văn học thiếu nhi nước ngoài 21 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1……… 23

Trang 5

CHƯƠNG 2 : ĐẶC SẮC VỀ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA

VĂN HỌC THIẾU NHI NƯỚC NGOÀI………

24 2.1 Đặc sắc về giá trị nội dung của văn học thiếu nhi nước ngoài 24

2.1.1 Giá trị hiện thực sõu sắc……… 24

2.1.1.1 Bức tranh hiện thực xó hội phong phỳ……… 24

2.1.1.2 Con người điển hỡnh, đại diện chõn- thiện mỹ……… 28

2.1.2 Giá trị nhân đạo lớn lao……… 31

2.1.2.1 Tố cỏo xó hội mạnh mẽ……… 31

2.1.2.2 Ca ngợi tài đức, trớ tuệ con người……… ………… 33

2.1.2.3 Thương cảm, bờnh vực những số phận ộo le, bất hạnh……… 35

2.2 Đặc sắc về giá trị nghệ thuật của văn học thiếu nhi nước ngoài 37

2.2.1 Cốt truyện hấp dẫn, lụi cuốn……… ……… 38

2.2.2 Nhõn vật đa dạng, phong phỳ……… 40

2.2.3 Khụng gian và thời gian nghệ thuật sống động……… 42

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2……… 49

CHƯƠNG 3: hướng dẫn cảm thụ CÁC BÀI TẬP ĐỌC CỦA VĂN HỌC THIẾU NHI NƯỚC NGOÀI TRONG CHƯƠNG TRèNH TIẾNG VIỆT LỚP 4………

50 3.1 Khái quát về cảm thụ văn học……… 50

3.2 Nội dung bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học………

54 3.3 Phương phỏp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học………

57

Trang 6

3.4 Hướng dẫn phõn tớch các b i tập đọc thuộc văn học thiếu nhi nước

ngoài trong chương trình tiếng Việt lớp 4………… ………

63 Tiểu kết chương 3……… 91

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 92

1 Kết luận ……… 92

2 Kiến nghị ……… 92

Tài liệu tham khảo ……… 94 Phụ lục

Trang 8

mở đầu

1 Tớnh cấp thiết của đề tài

Văn học nước ngoài là một trong những bộ phận quan trọng trong chương trình văn học ở mọi cấp bậc từ trung học phổ thông, trung học cơ sở và nhất là bậc Tiểu học Văn học nước ngoài ở bậc Tiểu học chủ yếu là văn học thiếu nhi

Nó được dịch và phân bổ theo các chủ điểm phù hợp với chương trình Tiểu học của học sinh Khi nhắc tới văn học nước ngoài người ta thường nghĩ đến những vùng đất lạ, những khoảng trời mới, những con người, những phong tục văn hóa của các châu lục Văn học nước ngoài trong nhà trường núi chung, bậc Tiểu học núi riờng khụng chỉ hướng tới việc tỡm hiểu những đặc sắc của một nền văn húa, văn học khỏc mà cũn gúp phần hiểu thờm về văn húa, văn học của dõn tộc mỡnh Nghiờn cứu, tiếp nhận văn húa, văn học nước ngoài là cần thiết và càng trở nờn cần thiết trong giai đoạn tăng cường giao lưu, hội nhập hiện nay Có thể nói, văn học nước ngoài có vị trí và ảnh hưởng rất quan trọng đối với sự phát triển văn hóa của dân tộc

Trong phân môn Tập đọc lớp 4 (chương trình 2000) hiện nay các tác phẩm văn học thiếu nhi chiếm một số lượng đáng kể (10 tác phẩm = 16,13%) Các tác phẩm này đã và đang được giảng dạy trong nhà trường Tiểu học tuy nhiên chỉ dừng ở mức đọc hiểu Các tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài này chưa được dạy một cách chuyên sâu như phân tích, cảm thụ về sức hấp dẫn của nó Vì vậy các thầy cô giáo cần đặc biệt quan tâm tới nhiệm vụ bồi dưỡng và nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh thông qua các giờ Tập đọc nói chung và các giờ Tập đọc có văn học thiếu nhi nước ngoài nói riêng Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em sẽ được đọc hiểu và cảm nhận được cái hay cái đẹp của văn học thiếu nhi nước ngoài, giúp các em mở mang tri thức, phong phú về tâm hồn Năng lực cảm thụ văn học tốt, giỳp học sinh càng hứng thú khi viết văn, càng thêm yêu quý môn tiếng Việt

Từ cỏc lý do đó nờu trờn, chỳng tụi mạnh dạn lựa chọn đề t i “Đặc sắc của văn học thiếu nhi nước ngoài trong phân môn Tập đọc lớp 4” để nghiên

Trang 9

cứu, triển khai với mong muốn giúp giáo viên có thể nắm bắt v truyền tải được đặc sắc của bộ phận văn học n y cho các em học sinh, giúp các em hiểu được về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và có khả năng cảm thụ văn học ngay từ khi mới bước chõn vào thế giới của văn chương, của tưởng tượng và sỏng tạo

2 í nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 í nghĩa khoa học

Nghiờn cứu đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài trong phân môn Tập đọc lớp 4, nhằm gúp phần hướng dẫn học sinh cảm thụ tác phẩm

2.2 í nghĩa thực tiễn

Trang bị những kiến thức về tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài để phát triển năng lực cảm thụ văn học nước ngoài cho học sinh Tiểu học

3 Mục tiờu nghiờn cứu

Tỡm hiểu những đặc sắc về nội dung v nghệ thuật của các tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài trong phân môn Tập đọc lớp 4

Đề xuất cách hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học qua cỏc đề bài mẫu nhằm nõng cao hiệu quả của việc giảng dạy bộ phận văn học này ở trường Tiểu học

4 Nhiệm vụ nghiờn cứu

Thống kê các tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài trong phân môn Tập

Đề xuất mới: Trang bị cho học sinh và giỏo viờn những kiến thức cơ bản

về các tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài, hiểu được giá trị về nội dung và nghệ thuật của để rèn luyện kĩ năng cảm thụ văn học

5 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu

Trang 10

5.1 Đối tượng nghiờn cứu

Tỏc phẩm văn học thiếu nhi nước ngo i được giảng dạy trong phân môn Tập đọc lớp 4

5.2 Phạm vi nghiờn cứu

Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của cỏc tỏc phẩm văn học thiếu

nhi nước ngo i trong phân môn Tập đọc lớp 4

Năng lực cảm thụ văn học của học sinh trong phõn mụn Tập đọc lớp 4

6 Phương phỏp nghiờn cứu

Phương phỏp phõn tớch và tổng hợp

Phương phỏp trực quan

Phương phỏp khảo sỏt, thống kờ, phõn loại

Phương phỏp so sỏnh loại hỡnh

7 Cấu trỳc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khúa luận gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn học thiếu nhi nước

ngoài

Chương 3 Hướng dẫn cảm thụ cỏc bài Tập đọc của văn học thiếu nhi

nước ngoài trong chương trỡnh tiếng Việt lớp 4

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lớ luận

1.1.1 Văn học thiếu nhi nước ngoài và vai trò, ý nghĩa trong việc hình thành

kĩ năng cảm thụ văn học

1.1.1.1 Sơ lược về văn học thiếu nhi nước ngoài

Trờn thế giới, từ rất lõu đó xuất hiện văn học thiếu nhi Hầu như bất cứ nhà văn lỗi lạc nào đều cú vài tỏc phẩm nổi tiếng viết cho cỏc em thiếu nhi Ở khắp nơi trờn trỏi đất, trẻ em thiếu nhi đang ngày càng được quan tõm Văn học viết cho cỏc em ngày càng được coi trọng Nhu cầu thưởng thức văn học của cỏc

em cũng ngày càng được nõng cao Chớnh vỡ vậy, việc sỏng tỏc văn học cho thiếu nhi được đặt ra một cỏch nghiờm tỳc Vào thỏng 5 năm 1991, hội nghị khoa học quốc tế về văn học thiếu nhi nước ngoài được tổ chức ở Ba Lan Trung tõm chỳ ý của nhiều bỏo cỏo là vấn đề văn học “người lớn” và văn học “thiếu nhi” Tiến sĩ ngữ văn A.V.Lipatov quan niệm văn học “người lớn” và văn học

“thiếu nhi” là những hiện tượng quan hệ lẫn nhau Đú khụng chỉ là hai dạng sỏng tạo, mà cũn là những bỡnh thụng nhau Thiếu văn học cho trẻ em thỡ lịch sử văn học “người lớn” cũng như ý nghĩa của nú sẽ khụng đầy đủ

Nền văn học viết cho trẻ em của nhõn loại rất phong phỳ Ở mỗi một dõn tộc, văn học đều phản ỏnh những sắc thỏi riờng cuộc sống của dõn tộc đú Tuy vậy những tỏc phẩm hay đều gặp gỡ nhau ở một điểm là hướng về mục đớch nhõn văn Cho dự tỏc phẩm đú cú nờu lờn những cỏi xấu, cỏi ỏc trong cuộc sống thỡ cũng nhằm mục đớch để con người đấu tranh vươn lờn những chuẩn mực đạo đức trong cỏc mối quan hệ xó hội và trong lao động Những tỏc phẩm này đó gúp phần khụng nhỏ vào việc bồi đắp tư tưởng tỡnh cảm cho cỏc em, được trẻ

em khắp mọi nơi yờu thớch Cũng chớnh vỡ thế mà trẻ em Việt Nam đó trải qua

bao thế hệ từng biết đến Tõy du kớ (Ngụ Thừa Ân) ở Trung Quốc, truyện ngắn của L.Tụnxtụi, thơ của Mỏc-xỏc ở Liờn Xụ (cũ), truyện ngắn của Peron, truyện ngụ ngụn của La Phụng-ten, Khụng gia đỡnh của Hecto Malụ ở Phỏp, truyện cổ

Trang 12

tích của Anđecxen ở Đan Mạch, Và gần đây nhất có bộ truyện tranh Đôrêmon nổi tiếng của nhà họa sĩ tài ba Fujiko ở Nhật Bản

Ở Nhật Bản có tới hàng trăm nhà xuất bản sách giáo khoa và sách cho trẻ

em Từ nhiều năm nay số lượng sách cho trẻ em phát hành ngày càng lớn Chỉ riêng năm 1993, Nhật Bản đã phát hành tới 2 tỉ 250 triệu cuốn

Ở Pháp văn học viết cho thiếu nhi đã có một truyền thống lâu đời và có những tác phẩm trở thành kinh điển, ví dụ : truyện ngắn của Perôn, truyện ngụ ngôn của La Phôngten (thế kỉ XVII) Ngày nay nhắc đến Perôn là người ta nhớ

ngay tới những truyện như : Người đẹp ngủ trong rừng, Con yêu râu xanh, Cô

bé quàng khăn đỏ, Con mèo đi hia Những truyện đã làm cho tên tuổi của Perôn

trở thành bất diệt Truyện ngụ ngôn của La Phông Ten tràn ngập chất thơ, trong sáng, giản dị và thâm thúy Ông coi mục đích của văn học là răn dạy người đời bằng nghệ thuật ngôn ngữ Những sáng tác của ông cho đến bây giờ vẫn là một kho báu vô tận để cho người đời và nhất là các nhà văn suy ngẫm

Ở Thụy Điển, năm 1967 đã thành lập “Viện sách cho trẻ em Thụy Điển”

Đây là trung tâm tư liệu về văn học cho thiếu nhi Năm 1900, 1926) đã đưa ra một tuyên ngôn nổi tiếng : “Đây là thế kỉ của trẻ thơ” và thật sự trong thế kỉ XX Thụy Điển đã được coi là một cường quốc về sách cho thiếu nhi

Ellenkey(1849-Nhân dân Đan Mạch thì vô cùng tự hào vì tên tuổi của đất nước họ đã gắn liền với tên tuổi của nhà viết cổ tích thiên tài Anđecxen Những pho truyện cổ tích thần tiên của Anđecxen không chỉ thu hút trẻ em mà còn làm say lòng người

ở khắp mọi nơi trên trái đất

Như vậy có thể nói, văn học thiếu nhi đã có một truyền thống lâu đời trong lịch sử văn hóa của nhân loại Khắp các quốc gia, thế hệ này nối tiếp thế

hệ kia đã chăm lo việc làm sách cho các em, giữ gìn và phát triển kho báu của dân tộc

1.1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của văn học thiếu nhi nước ngoài với việc hình thành

những kĩ năng cảm thụ văn học

Trang 13

Chúng ta đã biết “dạy văn là dạy người” Do vậy, việc hình thành và phát triển tình cảm, tâm hồn cho học sinh có ý nghĩa cực kì quan trọng Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học chính là nhiệm vụ gắn liền với bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách cho học sinh Thông qua việc giúp học sinh nhận thức về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học, rung cảm được trước cái hay cái đẹp của tác phẩm phân môn Tập đọc sẽ dần dần xây dựng được những tâm hồn, nhân cách

theo mục tiêu giáo dục đề ra

Đặc biệt lứa tuổi các em khi được tiếp xúc cái mới lạ từ văn học nước ngoài Lúc đầu các em sẽ hào hứng nhưng khi đi vào sâu sẽ trở nên khó hiểu và nhàm chán Vì thế đối với người giáo viên cần phải có phương pháp hay để dẫn lối các em cảm thụ một cách sâu sắc hơn

Do văn học nước ngoài là nền văn học khó học và khó cảm nhận Khi các

em đã có được kĩ năng từ việc học các nền văn học khó từ đó các em dễ dàng tiếp thu, dễ dàng cảm nhận các nền văn học khác

1.1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của văn học thiếu nhi nước ngoài với việc giáo dục nhận thức, thẩm mỹ cho học sinh

Vai trò, ý nghĩa của văn học thiếu nhi nước ngoài phù hợp với thị hiếu, tâm lí các em và hướng các em tới cái đẹp của chân - thiện - mĩ Trẻ em ở lứa tuổi thiếu nhi là những “bạn đọc đặc biệt” (được tiếp xúc với văn học thiếu nhi nước ngoài trong chương trình tiếng Việt lớp 4 Các em bắt đầu được biết đến chủ yếu là qua lời đọc, lời kể của ông bà, cha mẹ, thầy cô,…qua 10 tác phẩm trong sách) Cho nên VHTN viết cho các em phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi và những sở thích của trẻ nhỏ Các em vốn rất yêu cái đẹp, cái tốt, cái thực Vì vậy các nhà văn cần nắm được những đặc điểm tâm lí của trẻ

để thỏa mãn những nhu cầu ấy một cách tự nhiên Những hình tượng nghệ thuật, giàu giá trị nhân văn kết hợp vần điệu, nhạc điệu do các nhà văn dày công sáng tạo trong tác phẩm sẽ gây được những ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn trẻ thơ, tác động nhẹ nhàng đến nhận thức, tư tưởng tình cảm ở trẻ Văn học nước ngoài bao giờ cũng là một bộ phận trong chương trình văn học được giảng dạy ở các

Trang 14

cấp học, trong đó có Tiểu học Để giờ học các tác phẩm văn học nước ngoài thực sự hấp dẫn, lôi cuốn, mở ra những khả năng mới cho sự thụ cảm, tiếp nhận của người học, đặc biệt các em học sinh Tiểu học, theo chúng tôi cần có một sự tiếp cận phù hợp.Việc tiếp cận tác phẩm văn học nước ngoài từ bối cảnh thời đại tác phẩm ra đời sẽ giúp người dạy nắm được các đặc điểm văn hoá, xã hội, lịch

sử, thẩm mỹ, các yếu tố đặc trưng của hệ thống hình tượng và ngôn từ được thể hiện trong tác phẩm, từ đó có thể so sánh, đánh giá tác phẩm sâu sắc hơn bằng cái nhìn và quan điểm hiện đại Tác phẩm văn học được soi sáng từ nhiều góc

độ, điểm nhìn khác nhau sẽ toàn diện, khách quan và có thêm nhiều ý nghĩa mới Tiếp cận và giảng dạy theo đặc trưng thể loại cũng là công việc và thói quen của bất cứ người nào làm công tác giảng dạy và nghiên cứu văn chương Sự khác biệt về loại hình tác phẩm chứa đựng trong nó những đặc sắc và ưu thế riêng của từng thể loại Ngay trong một thể loại cũng được chia tách thành các nhóm nhỏ hơn, do vậy tiếp cận và giảng dạy tác phẩm theo đặc trưng thể loại là một hướng tiếp cận từ bản thân văn bản ngôn từ

Do được sắp xếp theo các chủ điểm trong khung chương trình, nên dễ nhận thấy rằng, dù chủ đề của các tác phẩm được giới thiệu và giảng dạy ở từng lớp rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, nhưng có thể quy về một số cụm chủ

đề chính chứa đựng nội dung mà nhà văn nhà thơ thời kì đó sáng tác ra một phần phản ánh khách quan xã hội hiện thực

Chính vì vậy văn học thiếu nhi nước ngoài đặc biệt trong chương trình lớp

4 có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình giáo dục nhận thức và thẩm mỹ cho học sinh

1.1.1.4 Một số tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài nổi tiếng được giới thiệu trong chương trình tiếng Việt Tiểu học

Tác phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu, giảng dạy trong nhà trường nói chung, trường Tiểu học nói riêng là các bản dịch (một dạng sáng tạo), nên không còn mang đặc điểm ngôn ngữ, văn phong tác giả hoàn toàn nữa Do

Trang 15

vậy, khi dạy các tác phẩm này giáo viên không nên tập trung khai thác vẻ đẹp ngôn ngữ câu văn

Là tác phẩm văn học được đưa vào chương trình (dù là đoạn trích) cho nên vẫn phải tuân thủ những nguyên tắc chung của việc dạy văn, học văn Người giáo viên cần nắm vững tác phẩm, biết cách nhấn mạnh những gì cần nhấn mạnh, bởi lẽ, đó cũng là điểm khác biệt so với việc giới thiệu hay giảng dạy một tác phẩm văn học dân tộc nào đó Bắt đầu từ ý nghĩ này, tôi dự kiến đưa ra một

số gợi ý khi tìm hiểu và giảng dạy một số bài sau trong phân môn Tập đọc lớp 4 Góp phần giúp học sinh Tiểu học trong việc cảm thụ văn học

Bài 1 Anđecxen và truyện cổ Anđecxen

a Vài nét về tác giả

Crixtian Anđecxen (1805 – 1875) sinh ra và lớn lên tại thành phố Ôđenzê

cổ kính của nước Đan Mạch trong gia đình một người thợ đóng giày.Ông lớn lên trong cảnh bần hàn và đã từng nếm trải mùi vị đắng cay của cuộc sống Ông đau khổ nhưng không khuất phục, ông tự hào về dòng máu “dân đen” của mình Ông gần gũi với những người nghèo khổ, những người dân cày và những người thợ

b Nội dung và nghệ thuật tác phẩm

Nội dung: Những tháng năm lăn lộn với cuộc sống đã giúp cho Anđecxen

có một vốn sống, vốn hiểu biết phong phú Đặc biệt cuộc sống của những người được coi là “dân đen” lại chính là mảng đề tài phong phú, là nguồn cảm xúc không bao giờ cạn trong trái tim người nghệ sĩ của Anđecxen Với ông “Chẳng

có truyện cổ tích nào hay hơn những chuyện do chính cuộc sống tạo ra” Đánh giá về truyện Anđecxen, nhà văn Nga K.Pautovxki đã nhận định: “Trong mỗi truyện cổ tích cho trẻ con của Anđecxen còn có một truyện cổ tích khác mà chỉ

có người lớn mới có thể hiểu hết ý nghĩa của nó” Truyện cổ tích của Anđecxen luôn có một giá trị nhân đạo sâu sắc đó là: Niềm tin vào thắng lợi của ánh sáng trước bóng tối, đó là niềm tin vào sự thắng lợi của trái tim người trên cái ác, đó

là sự mỉa mai, châm biếm sâu cay đối với bất công, lừa dối và ngu dốt

Trang 16

Nghệ thuật: Truyện của ông bộc lộ một khả năng kì lạ của trí tưởng

tượng Nhà thơ Ighêman đánh giá “Anh có một khả năng quý báu là trong bất

cứ cống rãnh nào cũng tìm ra được ngọc trai” Bằng trí tưởng tượng kì diệu của

mình, Anđecxen đã sáng tạo ra những cốt truyện hấp dẫn, nhiều màu vẻ, những

hình ảnh, hình tượng có ý nghĩa sâu xa, có sức cuốn hút tâm hồn người đọc

Tóm lại, Anđecxen là người nghệ sĩ nhân đạo chủ nghĩa, là nhà văn của người

nghèo và là một con người mà Đức vua Đan Mạch ao ước “được một lần nắm

bàn tay gầy guộc của ông là một vinh dự”

c, Tác phẩm Bà chúa Tuyết

Tóm tắt: Truyện gồm bảy truyện nhỏ

Truyện thứ nhất: Tấm gương và những mảnh gương vỡ; Truyện thứ hai:

Hai em bé; Truyện thứ ba: Vườn nhà bà biết làm phép lạ; Truyện thứ tư: Hoàng

tử và công chúa; Truyện thứ năm: Con gái quân cướp đường; Truyện thứ sáu:

Bà lão xứ Lapôni và bà lão người Phần Lan; Truyện thứ bảy: Việc xảy ra trong

lâu đài bà chúa Tuyết

Truyện bà chúa Tuyết cho thấy xã hội còn tồn tại cái xấu và cái ác Muốn

chiến thắng cái xấu và cái ác, con người cần phải có sức mạnh của lòng yêu

thương Muốn cho cái xấu và cái ác bị huỷ diệt, con người cần có thiện căn,

lương tri và lòng nhân ái

•Giá trị nội dung

* Ý nghĩa hiện thực của tác phẩm: Xã hội đang tồn tại cái xấu, cái ác

- Cơ sở xã hội: Giữa thế kỉ 19, Châu Âu và Đan Mạch đang diễn ra quá

trình tích lũy và phát triển của CNTB.Xã hội tư sản với thế lực đồng tiền đang

huỷ hoại mọi giá trị đạo đức, tinh thần truyền thống và tự nhiên của con người,

làm cho con người tha hóa đến cùng cực

- Cái xấu, cái ác đang tồn tại khắp nơi: Tấm gương của quỷ là hiện thân

của cai xấu, cái ác Cái gì soi vào tấm gương đó cũng bị biến dạng, méo mó

đi.Cái tốt trở thành cái xấu, cái xấu thì làm cho mọi người khiếp sợ Nguy hiểm

Trang 17

hơn, khi tấm gương ấy bị nát vụn ra thành trăm ngàn mảnh bay khắp không trung và có thể bắn vào mắt, vào tim bất kì người nào

- Cái xấu, cái ác có sức phá hoại ghê gớm, làm cho con người bị tha hóa triết để: Mảnh vụn của tấm gương bắn vào mắt ai thì người đó có cái nhìn sai lệch, dẫn đến nhận thức sai lệch Con người không còn ai tốt, ai cũng đáng sợ và xấu xa Mảnh vụn của gương bắn vào tim ai, trái tim người đó trở thành băng giá, dẫn đến tình cảm khô cứng, chai lì, không còn cảm giác, người đó trở nên lạnh lùng, dửng dưng với mọi buồn vui của mọi người

=> Ý nghĩa của hình tượng: Con người khi đã mất hết lí trí thì không thể nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan, không còn cảm xúc để thương yêu, căm giận trước những hiện tượng khác nhau của cuộc đời Và như thế sự sống của con người mất hết ý nghĩa cao đẹp, con người chỉ còn sống theo bản năng sinh vật

* Ý nghĩa nhân đạo: Ánh sáng của chân lí, sức mạnh của tình thương có khả năng chế ngự và chiến thắng cái xấu, cái ác Tác phẩm là thông điệp mà Anđecxen gửi đến mọi người: Loài người hãy cảnh giác với cái xấu và cái ác, vì

nó sẽ làm loài người bị mê hoặc và trở lại tình trạng thú vật đáng sợ Trong tác phẩm, Anđecxen không chỉ phản ánh một cách tinh tế sâu xa sự huỷ hoại ghê gớm của cái xấu, cái ác để mọi người xa lánh và cảnh giác đối với nó mà ông còn bộc lộ rất rõ thái độ, tinh thần chiến đấu không khoan nhượng đối với cái xấu, cái ác

- Khẳng định ánh sáng của chân lí vĩnh cửu sẽ xua tan đi bóng đen của cái xấu, cái ác: Lũ quỷ định mang tấm gương lên trời, nhưng chúng đã thất bại Ánh sáng của chân lí đã xua tan bóng đen của cái xấu và đẩy lùi cái ác Nếu coi thiên đường là niềm tin, là chân lí vĩnh hằng của loài người thì ở đó cái xấu, cái ác không thể tồn tại được Đó có thể được coi là một xã hội tuyệt hảo, tuyệt mĩ, một xã hội lí tưởng mà trong đó thiện căn của con người được đề cao, tôn trọng

và bất khả xâm phạm

Trang 18

- Tác phẩm đã khẳng định: Tình yêu thương của con người có thể chiến thắng cái xấu, cái ác, xây dựng một xã hội tốt đẹp tràn đầy tình thương yêu Chính lòng tốt kì diêu của bé Giécđa đã cho em sức mạnh và niềm tin để em có thể đi tìm Kay- người bạn thân thiết Trên con đường đầy khó khăn nguy hiểm

và cám dỗ, bằng sự chân thành Giécđa đã cảm hóa được mọi người đã vượt qua được mọi khó khăn, đã nhận được sự giúp đỡ đầy nhiệt tình của mọi người để tiếp tục đi tìm Kay và đưa được Kay trở về

•Giá trị nghệ thuật:

* Hình tượng nghệ thuật: Tác giả đã sử dụng thể loại cổ tích với thế giới

kì ảo giàu tưởng tượng để miêu tả một thế giới vật chất có thật nhằm phản ánh hiện thực để bày tỏ thái độ của mình trước hiện thực đó

+ Nghĩa đen của hình tượng: đó là “câu chuyện cổ tích cho trẻ em” Hình tượng bao trùm của truyện là cô bé Giécđa đi tìm bạn và cứu bạn vì bạn đã bị mảnh gương của quỷ bắn vào mắt, vào tim Trong truyện lại có rất nhiều hình tượng nhỏ: Tấm gương của quỷ, bà lão có nhiều phép lạ, Hoàng tử và công chúa…

+ Nghĩa bóng của hình tượng: Ý nghĩa sâu xa của hình tượng là những

mơ ước về lí tưởng thẩm mĩ mà người nghệ sĩ đã gửi vào những hình tượng nghệ thuật Đó là giá trị nội dung của truyện

* Kết cấu: Gồm bảy truyện nhỏ Kết cấu truyện tập trung phản ánh tình cảm yêu thương giữa con người với con người Yếu tố làm nên chất thơ của truyện

* Chi tiết nghệ thuật:

+ Tấm gương và những mảnh gương vỡ là biểu hiện của cái xấu, cái ác và

sự hủy hoại ghê gớm của nó đối với con người

+ Những giọt nước mắt của Giécđa là biểu tượng cho tình cảm tốt đẹp, ấm

áp của con người, nó có sức mạnh đẩy lùi cái xấu và cái ác đem lại sự tốt đẹp cho con người, cho cuộc sống

Bài 2 Lep Tônxtôi và tác phẩm “Kiến và chim bồ câu”

Trang 19

a Tác giả: L.Tônxtôi (1828-1910) là một nhà văn Nga vĩ đại.Ông đã cống

hiến cho nền văn học Nga và văn học thế giới những tác phẩm nổi tiếng: Chiến tranh và hoà bình, Anna Karênina, Phục sinh…và những truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích, truyện ngắn viết cho thiếu nhi Ông được suy tôn là một nhà văn Nga thiên tài, một “con sư tử của nền văn học Nga” (đánh giá của V.Lênin) L.Tônxtôi luôn mơ ước về cuộc sống no ấm và học hành cho con em những người lao động Vì rất yêu trẻ thơ nên ông đã viết nhiều truyện ngắn và truyện đồng thoại cho trẻ em ở nông trại Iaxnaia Pôliana Ông đã in những truyện ngắn

và truyện đống thoại của mình dành cho trẻ nhỏ trong những cuốn sách nhan đề

“Sách học vần” và “Những cuốn sách Nga để đọc” Nhiều truyện trong những cuốn sách này được thiếu nhi Liên Xô rất yêu thích: “Ba con gấu” “Sư tử và chó con”… Ông dịch truyện ngụ ngôn của Êdốp sang tiếng Nga Ông đã đưa các bản

dịch truyện ngụ ngôn của Êdốp hoà nhập với cuộc sống của người dân Nga khiến chúng trở thành những truyện ngụ ngôn Nga Chính vì vậy, truyện của ông mang đậm màu sắc và phong vị Nga, dấu ấn của ngòi bút L.Tônxtôi Truyện ngụ ngôn của ông dễ hiểu, dễ nhớ và rất hấp dẫn với trẻ nhỏ tiêu biểu là tập truyện

“Kiến và chim bồ câu

b Tác phẩm “Kiến và chim bồ câu”:

- Kết cấu của tác phẩm: Truyện có 103 truyện nhỏ trong đó có 14 truyện nói về con người một cách trực tiếp, 08 truyện gồm hai loại nhân vật: là người

và vật Còn lại 81 truyện nói về loài vật 103 truyện là 103 bài học bổ ích và lý thú cho trẻ thơ và cho cả người lớn trên toàn thế giới

- Nội dung: mỗi truyện là một bài học giáo dục bổ ích và lý thú, cho dù là những câu chuyện nói về con người hay nói về loài vật đều mang mục đích để giáo dục con người

+ Là những bài học giáo dục đạo đức: lòng yêu thương, tinh thần đoàn kết, lòng dũng cảm, tính thật thà, lòng hiếu thảo…

+ Là những bài học giáo dục tình yêu lao động, yêu cuộc sống, yêu tự do + Là những bài học về cách sống, cách giao tiếp, ứng xử…

Trang 20

- Giới thiệu một vài tác phẩm trong tập “Kiến và chim bồ câu”

Truyện Con chuột phát phì: Chuột ta gặm sàn nhà, và một cái khe hở hiện

ra Chuột chui qua khe hở và tìm thấy rất nhiều thức ăn Là một con chuột tham lam nên chuột ăn nhiều quá đến mức bụng hắn phình lên Sáng ra, chuột tìm đường trở về ổ, nhưng cái bụng đã phình to đến mức chuột không sao lách qua được kẽ hở (Lép Tônxtôi – Thúy Toàn dịch)

Truyện Rùa và Đại bàng: Rùa nài nỉ xin đại bàng dạy cho nó biết bay Đại bàng không dạy bởi Rùa không thể bay được, nhưng Rùa cứ khẩn khoản nài mãi Đại bàng bèn lấy móng quặp Rùa bay lên cao rồi thả ra: Rùa rơi bộp xuống đất (Lép Tônxtôi – Thúy Toàn dịch)

Bài 3 Grim và “Truyện cổ Grim”

a Tác giả: Đó là họ của hai anh em hai nhà bác học, nhà văn người Đức:

Giacốp Grim (1785-1863) và Vinhem Grim(1786-1859) Hai anh em đã phối hợp để biên soạn những công trình có giá trị: Từ điển Tiếng Đức và Truyện cho trẻ em và truyện kể trong nhà Truyện kể cho trẻ nhỏ và trong nhà (216 truyện)

là công trình mà hai anh em Grim đã đi khắp nước Đức để sưu tầm và ghi lại, nhưng vẫn đảm bảo nguyên văn của tác phẩm kể cả nội dung và hình thức Tác phẩm độc đáo, hồn nhiên, tươi mát đầy ý nghĩa

“Truyện cổ Grim” là một công trình nghiên cứu và sưu tập truyện cổ dân gian của hai anh em Grim Với cách dựng truyện rất có cá tính, giàu chất lãng mạn, truyện rất phù hợp với trí óc hồn nhiên, ngây thơ của trẻ

b.Về tác phẩm Truyện cổ Grim

*Nội dung: “Truyện cổ Grim” là một công trình nghiên cứu và sưu tập truyện cổ dân gian của hai anh em Grim Với cách dựng truyện rất có cá tính, giàu chất lãng mạn, truyện rất phù hợp với trí óc hồn nhiên, ngây thơ của trẻ

- Tác phẩm của Grim thể hiện khát vọng của nhân dân lao động về chân thiện mĩ, về cuộc sống ấm no hạnh phúc, về sự công bằng, sự chiến thắng của cái thiện, cái tốt

Trang 21

- Thể hiện quan niệm chất phác của người lao động về đạo lí trong cuộc sống: ở hiền gặp lành, ác giả ác báo

- Trong quan niệm của Grim, những người kém thông minh, kém may mắn luôn được đền bù xứng đáng

- Điều đặc biệt là trong tác phẩm của Grim đã nêu cao quan niệm nhân văn: Giai cấp thống trị phải hiểu lẽ phải, đạo lí, nếu không sẽ bị trừng trị thích đáng

- Nhân vật là những con người thuộc mọi tầng lớp xã hội từ vua, chúa, hoàng tử công chúa đến những người lao động nghèo khổ nhưng bất kì họ là ai nếu họ có một phẩm chất đạo đức tốt đẹp thì học sẽ được mọi người yêu quý, tôn trọng

c Tác phẩm Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn

Đây là một trong những truyện cổ xuất sắc nhất của Grim Truyện phản ánh quan niệm “ở hiền gặp lành”, “ở ác gặp ác”, đó cũng là ước mơ thiết tha về

lẽ công bằng của nhân dân lao động từ xưa đến nay

* Giá trị nội dung:

- Cơ sở xã hội: Nước Đức thế kỉ XIX cũng như Đan Mạch trong giai đoạn phát triển và tích luỹ tư bản chủ nghĩa Xã hội bị phân hóa, đồng tiền có sức mạnh làm băng hoại mọi giá trị tinh thần của con người Xã hội tư sản luôn

đề cao chủ nghĩa cá nhân, vì vậy, những tính xấu như ích kỉ, nhỏ nhen, đố kị trong mỗi con người có điều kiện nảy nở, huỷ diệt nhân cách con người Những tính xấu đó khi có môi trường phát triển cũng có thể làm nguy hại đến con người

Trang 22

- Ý nghĩa hiện thực:

+ Lòng đố kị nhỏ nhen, thói ích kỉ tầm thường có thể dẫn đến tội ác giết người: Mụ dì ghẻ của Bạch Tuyết là người có lòng dạ rất xấu, chỉ vì ghen ghét với sắc đẹp của Bạch Tuyết mà mụ đã nhẫn tâm sai người đem nàng vào rừng giết chết.Và sau đó khi biết nàng chưa chết thì mụ đã tìm mọi cách để giết nàng hết lần này đến lần khác

Những tính xấu đó không chỉ tồn tại trong quan hệ xã hội mà nó đã có mặt trong quan hệ gia đình (xã hội thu nhỏ), lồng vào trong sự ghen ghét của bà

mẹ ghẻ đối với con chồng Nàng Bạch Tuyết đẹp, điều đó càng khiến mụ dì ghẻ kiêu căng ích kỉ ghen tuông lồng lộn Vì muốn mình là người đẹp nhất nước nên

mụ đã bỏ qua sự thật (chân lí) mà gương thần phán quyết để tìm mọi cách hãm hại Bạch Tuyết bằng được

Nàng Bạch Tuyết đẹp, một vẻ đẹp hoàn thiện, lí tưởng Điều đó khiến mụ hoàng hậu không chịu nổi, Mụ đã ghen ghét một cách hèn hạ, xấu xa Bạch Tuyết càng lớn, càng xinh đẹp thì lòng đố kị, ghen ghét của mụ càng lớn dẫn đến ý định giết chết Bạch Tuyết - giết chết cái đẹp và quyết tâm thực hiện bằng mọi cách

Cái xấu, cái ác có thể nấp dưới lớp vỏ ngoài đẹp đẽ, trên ngôi vị cao sang, song bản chất tàn bạo của nó thì không thể nào giấu được Cái xấu, cái ác

đi kèm với cường quyền nên khả năng huỷ diệt càng lớn Tuy nhiên, sự độc ác tàn bạo không thể làm thay đổi được sự thật, chân lí Gương thần không khuất phục quyền uy mà luôn tôn trọng sự thật Như vậy, chân lí không thuộc về kẻ mạnh Trước sự thật ấy, mụ dì ghẻ đã thất bại thảm hại và chết vì ghen tức Cái

ác tự huỷ diệt và cái thiện đã chiến thắng

Như vậy, trong mỗi con người không chỉ có cái tốt mà còn có những tính xấu, những cái đó cũng có sức mạnh làm tha hoá con người, huỷ diệt nhân cách con người Con người cần cảnh giác

- Ý nghĩa nhân đạo:

Trang 23

+ Lòng tốt của con người có thể chiến thắng cái xấu, cái ác Nàng Bạch Tuyết thoát khỏi bàn tay độc ác của mụ dì ghẻ và cuối cùng được hưởng hạnh phúc cái chính đều nhờ vào lòng tốt của con người, những người lao động hiền lành Đó là bác đầu bếp trong cung vua đã xót thương cô bé vô tội xinh đẹp mà thả cho nàng chạy đi và tìm cách lừa bà Hoàng hậu mà không sợ bị trừng phạt

Đó là các chú lùn, những người lao động có hình dáng bên ngoài xấu xí nhưng lại có tấm lòng vàng Họ cưu mang nàng lúc nàng bị săn đuổi, chia sẻ với nàng những gì mà họ có và tìm cách cứu sống nàng những khi bị mụ hoàng hậu hãm hại

+ Đề cao vẻ đẹp của đạo đức chân chính: Nàng Bạch Tuyết đẹp, một vẻ đẹp mang tính hoàn thiện lí tưởng cả về hình dáng lẫn tâm hồn, nhất là vẻ đẹp tâm hồn.Vẻ đẹp ấy toả sáng khiến mọi người đều có cảm tình, yêu mến nàng,che chở và giúp đỡ nàng Cũng chính vì quá yêu vẻ đẹp ấy mà không nỡ vùi lấp nàng nàng mà các chú lùn đã đặt nàng vào quan tài thuỷ tinh trên núi Vẻ đẹp hoàn thiện của Bạch Tuyết đã lay động tấm chân tình của chàng hoàng tử tốt bụng và chàng đã quyết định lấy Bạch Tuyết khi nàng đã chết Và chính tình yêu mãnh liệt của hoàng tử đã vượt qua giới hạn của sự sống và cái chết giúp cho Bạch Tuyết có cơ hội hồi sinh Bạch Tuyết sống lại đó là sự bất diệt của vẻ đẹp

lí tưởng, của chân lí, của thiện căn và của quan niệm đạo đức chân chính của nhân dân: Ở hiền gặp lành, cái thiện phải chiến thắng cái ác

Như vậy, truyện Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn đã phản ánh quan niệm: Con người sống cần tình yêu thương Chính tình yêu thương và lòng tốt của con người góp phần tạo nên sức mạnh để chiến thắng cái xấu và cái ác, chiến thắng những tính ích kỉ, nhỏ nhen và chiến thắng cả cái chết Tình yêu thương có khả năng hồi sinh cho con người

*Giá trị nghệ thuật:

- Kết cấu của tác phẩm hợp lí, chặt chẽ Là truyện cổ tích thế sự vì vậy trong truyện yếu tố hoang đường kì ảo chỉ đóng vai trò thứ yếu còn con người đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết mâu thuẫn Nhưng chính nhờ các

Trang 24

yếu tố thần kì đã góp phần tạo nên sự lung linh bay bổng của hình tượng nghệ thuật, khơi gợi sức tưởng tượng, liên tưởng phong phú của trẻ thơ về một thế giới tốt đẹp

- Chiếc gương thần: là một chi tiết nghệ thuật rất đặc sắc có giá trị cao trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm Gương tượng trưng cho chân lí, cho sự thật Bà hoàng hậu có thể nắm giữ gương, có thể đập nát gương nhưng không thể bắt gương nói sai sự thật.Chân lí không đồng hành với kẻ ác

- Những thủ đoạn độc ác của bà hoàng hậu tương phản triết để với cái đẹp, cái thiện Nó tiêu biểu cho những thế lực xấu xa kiên quyết huỷ diệt cái đẹp.Cái chết của bà hoàng hậu là sự thất bại tất yếu của cái xấu, cái ác trước cái chân thiện mĩ

- Hình tượng bà hoàng hậu đại diện cho những thói xấu của con người

- Hình tượng nàng Bạch Tuyết tiêu biểu cho vẻ đẹp hoàn thiện, lí tưởng của con người

- Hình tượng các chú lùn là hình tượng đẹp đẽ về những con người lao động tuy bề ngoài xấu xí nhưng có tấm lòng vàng

- Hình tượng Hoàng tử tượng trưng cho tình yêu chân chính của con người có sức mạnh hồi sinh cả những linh hồn đã chết

1.1.2 Văn học nước ngoài trong nhà trường Tiểu học

Tiếng Việt lµ mét m«n häc ë trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, những tư tưởng tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết Khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hoạt động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn Các tác phẩm văn học nói chung và văn học nước ngoài nói riêng trong chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học đã

Trang 25

gúp phần trực tiếp vào việc hỡnh thành năng lực hoạt động ngụn ngữ, trang bị kiến thức và bồi dưỡng tõm hồn đú cho cỏc em Biết cách phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm sẽ giúp các em thấy được sự hấp dẫn của chúng Từ đó các em phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực phát hiện và có khả năng cảm thụ văn học

Văn học thiếu nhi nước ngo i được đưa vào chương trỡnh Tiểu học chủ yếu ở phõn mụn Tập đọc nhằm cung cấp kiến thức cho học sinh và giỳp cỏc em

cú dịp được làm quen với cỏc nền văn hoỏ, văn học khỏc trờn thế giới, để từ đú, biết thờm nhiều điều mới lạ, biết cảm nhận và so sỏnh với văn học dõn tộc mỡnh, biết phõn biệt phải trỏi, tốt xấu theo tấm gương của cỏc hỡnh tượng văn học và

ý nghĩa giỏo dục của cỏc tỏc phẩm

Theo thống kờ cú 10 tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài được giới thiệu trong phõn mụn Tập đọc lớp 4 Mỗi tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài

đều có những chủ đề gần gũi thân thiết với học sinh Tiểu học ứng với từng chủ

điểm trong chương trình tiếng Việt lớp 4 như sau :

STT Tên tác phẩm Tên tác

giả (xuất xứ)

Thương người như thể thương thân

Ca ngợi tấm lũng nhõn hậu của bạn nhỏ, biết quan tõm chia sẻ vui buồn với người khỏc

2 Gà trống và

cỏo

La Phụng-ten

Thơ

Măng mọc thẳng

Ca ngợi tài trớ thụng minh của chỳ gà trống trỏnh được mưu của con cỏo già gian ỏc

3

Nỗi dằn vặt

của Anđrõy- ca

Xu khụm-

Truyện ngắn

Măng mọc

Khuyờn răn cỏc bạn nhỏ khụng được ham

Trang 26

linxki thẳng chơi, phải hoàn thành

cụng việc

4 Ở vương quốc

tương lai

lớch

Mỏt-tộc-Kịch ngắn

Trên

đôi cánh

ước mơ

Trớ tưởng tượng phong phỳ của cỏc bạn nhỏ khi ước mơ về tương

lai

5 Điều ước của

vua Miđỏt

Thần thoại Hi Lạp

Truyện ngắn

Trên

đôi cánh

ước mơ

Khuyờn răn chỳng ta phải biết ước mơ nhưng khụng được ước mơ những điều viển vụng

6

Trong quỏn ăn

“Ba cỏ bống”

xõy Tụn-xtụi

A-lếch-Truyện ngắn

Tiếng sỏo diều

Ca ngợi trớ thụng minh của chỳ người gỗ Bu-

Khuyờn người lớn phải biết quan tõm đến suy nghĩ của trẻ con

8 Khuất phục tờn

cướp biển

xơn

Xti-ven-Truyện ngắn

Những người quả

cảm

Ca ngợi lũng dũng cảm và trớ thụng minh của bỏc sĩ trước sự hung hón của tờn cướp

biển

9 Ga-vrốt ngoài

chiến luỹ Huy-gụ

Truyện ngắn

Những người quả

cảm

Ca ngợi tấm lũng dũng cảm của chỳ bộ Gavrốt

Trang 27

10 Con sẻ

Tuốc-ghờ-nhộp

Truyện ngắn

Những người quả

cảm

Ca ngợi tỡnh cảm của

sẻ mẹ dành cho sẻ con

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng việc dạy của giỏo viờn với văn học thiếu nhi nước ngoài

Văn học nước ngoài là một bộ phận văn học hay và khú Văn học nước ngoài hay vỡ cỏc tỏc phẩm đó được chọn lựa trong kho tàng văn học thế giới Văn học nước ngoài giỳp cho cỏc em hiểu biết về nhiều nền văn húa, nhiều kiến thức bổ ớch, mới mẻ và lý thỳ Văn học nước ngoài khú tiếp cận vỡ phải thụng qua bản dịch và vỡ ớt nhiều cũn xa lạ, chưa quen thuộc với cỏch cảm, cỏch nghĩ, với tõm lý, tõm hồn của người Việt Bản thõn người dạy đó thấy khú, người học cũn khú hơn, vỡ lần đầu tiờn cỏc em mới được tiếp xỳc với một nền văn húa, với cỏc tỏc phẩm của một dõn tộc khỏc mà chưa biết, chưa cú bất cứ sự chuẩn bị gỡ

để tiếp nhận nú Khoảng cỏch lớn về khụng gian, thời gian, tõm lý cảm thụ, tiếp nhận này dài hay ngắn, rộng hay hẹp, nụng hay sõu… phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực, vai trũ của người dạy Nhiều giỏo viờn khi giảng dạy cỏc tỏc phẩm văn học nước ngoài đó khụng tạo được sự khỏc biệt so với việc giảng dạy cỏc tỏc phẩm văn học dõn tộc Kiến thức văn học nước ngoài rất rộng: từ cổ chớ kim, từ đụng sang tõy; cỏc địa danh, cỏc tờn nhõn vật thường khú đọc, khú nhớ Tuy nhiờn, văn học nước ngoài, như đó núi, mang tinh hoa, bản sắc văn húa, tư tưởng, tõm hồn của cỏc dõn tộc khỏc nhau trờn thế giới, lại là khối kiến thức mới

mẻ, hấp dẫn và khụng bao giờ bị trựng lặp, nhàm chỏn Người giỏo viờn cú thể khụng cần am hiểu quỏ cặn kẽ và sõu sắc về dõn tộc đó sinh ra nhà văn, về nhà văn và tỏc phẩm được dạy, nhưng nếu cú niềm say mờ và cú phương phỏp truyền đạt phự hợp cũng đủ để cuốn hỳt học sinh Tiểu học vào cỏi thế giới mới

mẻ ấy Giờ học Văn học nước ngoài bao giờ cũng là những giờ học sinh động và thỳ vị nhất với trẻ thơ Chỳng tụi đỏnh giỏ cao sự cố gắng của cỏc giỏo viờn, song quả thật, để một giờ dạy văn học nước ngoài khỏc với một giờ dạy văn

Trang 28

thụng thường, người dạy cần cú sự hiểu biết rộng hơn, gia cụng nhiều hơn cho bài dạy so với việc dạy cỏc tỏc phẩm văn học trong nước khỏc Vỡ là cỏc tỏc phẩm của cỏc nền văn húa của cỏc dõn tộc khỏc trờn thế giới nờn khi giảng dạy giỏo viờn cũng cần chỳ ý một số yờu cầu sau:

- Cần nắm vững nội dung chương trỡnh để chủ động trong giảng dạy Cú như vậy mới cú ý thức hơn trong việc liờn hệ, so sỏnh, giỏo dục tư tưởng và truyền thụ cỏi đẹp đến cho học sinh

- Cần chỳ ý sự tương đồng và khỏc biệt về quan niệm thẩm mỹ, văn húa, phong tục tập quỏn giữa dõn tộc Việt Nam và cỏc dõn tộc khỏc để khai thỏc được hết những giỏ trị tiềm tàng trong tỏc phẩm

- Tỏc phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu, giảng dạy trong nhà trường núi chung, trường Tiểu học núi riờng là cỏc bản dịch (một dạng sỏng tạo), nờn khụng cũn mang đặc điểm ngụn ngữ, văn phong tỏc giả hoàn toàn nữa Do vậy, khi dạy cỏc tỏc phẩm này giỏo viờn khụng nờn tập trung khai thỏc vẻ đẹp ngụn ngữ cõu văn Là tỏc phẩm văn học được đưa vào chương trỡnh (dự là đoạn trớch) cho nờn vẫn phải tuõn thủ những nguyờn tắc chung của việc dạy văn, học văn Người giỏo viờn cần nắm vững tỏc phẩm, biết cỏch nhấn mạnh những gỡ cần nhấn mạnh, bởi lẽ, đú cũng là điểm khỏc biệt so với việc giới thiệu hay giảng dạy một tỏc phẩm văn học dõn tộc nào đú Bắt đầu từ ý nghĩ này, chỳng tụi dự kiến đưa ra một số gợi ý khi tỡm hiểu và giảng dạy một số bài sau trong chương trỡnh Hi vọng rằng đõy chỉ là chỳt kinh nghiệm cần thiết cho quỏ trỡnh chuẩn bị để cú một bài giảng đầy đủ, hay hơn, bổ ớch, giỳp học sinh nhận thức được nhiều hơn trong việc giảng dạy văn học nước ngoài ở trường Tiểu học

1.2.2 Thực trạng việc học của học sinh với văn học thiếu nhi nước ngoài

Hiện nay học sinh Tiểu học chưa thật sự quan tõm nhiều tới văn học thiếu nhi nước ngoài, phần lớn cỏc em chỉ được tỡm hiểu qua cỏc đoạn trớch trong cỏc tỏc phẩm Tập đọc chứ chưa thật sự nghiờn cứu sõu và am hiểu về cỏc tỏc phẩm Thời gian học và đọc tỡm hiểu về văn học thiếu nhi nước ngoài cũn hạn chế Sỏch tiếng Việt chưa biờn soạn phần chuyờn sõu cho học sinh tỡm hiểu về văn

Trang 29

học thiếu nhi nước ngoài Vì vậy nguồn thông tin mà các em tiếp nhận về văn học thiếu nhi nước ngoài còn rất hạn chế và chưa thật sự sâu rộng

Trang 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Bộ phận văn học thiếu nhi nước ngoài được phân bố trong phân môn Tập đọc trong chương trình tiếng Việt lớp 4 rất đa dạng và phong phú về thể loại đề tài Văn học thiếu nhi nước ngoài đem đến cho các em những cái nhìn mới về những vùng đất mới, phong tục tập quán tốt đẹp của các nước trên thế giới Văn học thiếu nhi nước ngoài không chỉ góp phần bồi dưỡng tâm hồn, nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp, tiếp thu dần những tri thức cần thiết trong đời sống mà còn giúp cho trẻ phát triển trí tuệ, mở rộng sự hiểu biết và phát triển toàn diện về nhân cách Nó được coi là một bộ phận rất quan trọng trong chương trình tiếng Việt lớp 4 Để hiểu sâu về bộ phận văn học này giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu về các tác giả, tác phẩm để học sinh có thể hiểu rõ về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Từ đó học sinh có thể tự cảm nhận được cái hay và cái đẹp của các tác phẩm Giáo viên cần đưa ra những kế hoạch để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học thiếu nhi nước ngoài cho học sinh một cách tốt nhất Có như vậy việc tiếp xúc với văn học thiếu nhi nước ngoài mới thực sự có

hiệu quả trong quá trình dạy và học ở nhà trường Tiểu học

Trang 31

CHƯƠNG 2 : VĂN HỌC THIẾU NHI NƯỚC NGOÀI - ĐẶC SẮC VỀ NỘI

DUNG VÀ NGHỆ THUẬT 2.1 Đặc sắc về giá trị nội dung của văn học thiếu nhi nước ngoài

2.1.1 Giá trị hiện thực sõu sắc

2.1.1.1 Bức tranh hiện thực xó hội phong phỳ

Văn học thiếu nhi nằm trong sỏng tỏc văn học núi chung nờn cũng mang đầy đủ những đặc điểm của sỏng tỏc nghệ thuật ngụn từ Nú thực hiện cỏc chức năng chung của văn học Bờn cạnh đú, VHTN cũng cú những chức năng riờng mang tớnh đặc thự do đối tượng phục vụ chủ yếu của nú là thiếu nhi Và chớnh những chức năng mang tớnh đặc thự đú là những yếu tố cơ bản làm nờn sức hấp dẫn của mảng văn học này

Khỏc với cỏc tỏc phẩm VHTN Việt Nam cú đặc điểm nổi bật là sự hồn nhiờn, ngõy thơ, giàu hỡnh ảnh, vần điệu thỡ văn học thiếu nhi nước ngoài lại mang một phong thỏi hoàn toàn khỏc Tỏc phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài thường miờu tả chiều sõu của cỏc nhõn vật thiếu nhi ở nhiều hoàn cảnh, hiện thực xó hội phong phỳ khỏc nhau cựng với cỏc tỡnh huống truyện mang nhiều tỡnh tiết bất ngờ và lớ thỳ

Thụng qua nhõn vật trong tỏc phẩm, người nghệ sĩ dẫn cỏc em đi tỡm hiểu

về xó hội hiện thực chứa đựng nhõn vật Lướt qua một số tỏc phẩm thiếu nhi nước ngoài ở bậc Tiểu học phản ỏnh một cỏch rừ nột về bức tranh hiện thực xó hội như:

Ga-vrốt ngoài chiến luỹ được sỏng tỏc vào thế kỉ XIX, sau khi cỏch mạng

tư sản Phỏp năm 1789 thắng lợi, giai cấp tư sản lờn nắm quyền đó phản bội và cướp đoạt thành quả của nhõn dõn lao động Một trật tự xó hội mới được thiết lập cựng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với cơ chế trả tiền ngay, lạnh lựng khụng tỡnh nghĩa Giai cấp tư sản lỳc này đó mất vai trũ tớch cực trong lịch sử, chỳng trở nờn phản động và thẳng tay đàn ỏp, búc lột nhõn dõn Cựng lỳc này, giai cấp vụ sản từng bước lớn mạnh và bước lờn vũ đài chớnh trị trở thành lực lượng cỏch mạng đối lập với tư sản, đại diện cho toàn nhõn loại tiến bộ Văn học

Trang 32

giai đoạn này sẽ đi vào ca ngợi vẻ đẹp của người lao động, những người vốn bị

xã hội tư sản phủ nhận và coi thường Tác phẩm ca ngợi tấm lòng dũng cảm của

em Ga-vrốt - một cậu bé ở thành phố Paris nước Pháp Trong số các nhân vật

của tập truyện Những người khốn khổ, Ga-vrốt có lẽ là nhân vật chiếm được

nhiều say mê và cảm tình nhất từ bạn đọc Xuất hiện với nhiều vẻ đẹp khác nhau, chú là “tên trộm cắp bé con hào hiệp”, là “con ruồi của bánh xe cách mạng

vĩ đại”, là “hạt bụi” sẽ “hóa thân vào bão táp” Bất hạnh ở chỗ chú “có cha có

mẹ mà lại mồ côi”, bị đẩy ra khỏi nhà từ bé, không ai chăm sóc nuôi nấng, phải lấy đường phố làm nhà, lăn lộn để kiếm từng bữa ăn Nhưng cuộc sống thiếu tình yêu thương không làm chú chai sạn, “trái tim em không hoàn toàn âm u và trống rỗng” Trái lại, chú sống hồn nhiên, lạc quan và đầy bản lĩnh, cao thượng,

“đó là một chú bé vui nhộn, xanh xao, nhanh nhẹn, tinh khôn, ưa chế giễu…vui

vẻ như con mèo hay con chim sẻ” Ga- vrốt được xây dựng theo kiểu “nhân vật nổi loạn” của chủ nghĩa lãng mạn, mang hình ảnh người anh hùng đơn độc chống lại xã hội Giống như Giăng Vangiăng, vẻ đẹp của Ga-vrốt cũng là sự hội

tụ của cái hùng, cái cao cả trong một số phận bất hạnh

Vẻ đẹp đầu tiên của Ga- vrốt chính ở chỗ chú biết quý trọng tự do và có tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ cách mạng, khát khao duy nhất của chú là

“lật đổ chính phủ và khâu lại cái quần dài của mình” Ga- vrốt thuộc lòng đường phố Paris và nhớ được lí lịch của tất cả cảnh sát Cuộc sống buộc chú phải như vậy và cũng vì trong tiềm thức, Ga- vrốt đã mang sẵn tư tưởng nổi dậy đấu tranh chống chính quyền

Cuộc đời ngắn ngủi của Ga- vrốt cũng là hành trình cứu giúp và ban phát cho người khác, ban phát tất cả những gì mình có mà không đòi hỏi nhận về một chút nào Đi trên đường, gặp một con bé hành khất đang rét run vì lạnh, chú sẵn sàng “cởi ngay tấm khăn len ấm quàng quanh cổ, chú vuốt lên đôi vai gầy gò tím ngắt của con bé ăn mày” Chứng kiến cảnh nghèo khó của cụ Mabớp, nhanh như cắt, Ga- vrốt lấy trộm tiền của tên lưu manh Môngpacnac ném cho cụ Trong mọi việc làm, chú đều hành động một cách âm thầm, lặng lẽ giống như

Trang 33

Giăng Vangiăng, làm ơn, giúp đỡ người khác mà không cần báo đáp Đối với những người nghèo khổ, Ga- vrốt giống như một thiên thần bé con, một “chú tiên đồng” láu cá và vui vẻ, lúc nào cũng giúp đỡ mọi người

Sự cao cả, trượng nghĩa của Ga- vrốt được thể hiện rõ nhất ở việc cưu mang hai đứa bé xa lạ mà chính chú cũng không biết đó là em mình Gặp hai đứa bé đang bị đuổi khỏi tiệm cắt tóc, Ga- vrốt ra hiệu cho chúng đi theo mình, chú móc sạch túi mua một ổ bánh mỳ và chia cho hai đứa phần lớn hơn, nhận về mình phần nhỏ hơn Lo hai đứa không có chỗ ngủ, chú dẫn chúng về chỗ ở của mình, dù đó chỉ là bụng một con voi đá đặt ở công viên Dẫu hoàn cảnh của Ga-vrốt cũng chẳng hơn gì hai đứa bé kia, nhưng chú sẵn sàng sẻ chia mọi thứ, cả miếng ăn và chỗ ngủ nhỏ bé cho chúng Bằng lời hứa với hai đứa bé “tao sẽ chăm non cho chúng mày”, Ga- vrốt đã chứng tỏ sự cao cả của mình với một cách sống đầy trách nhiệm, tự tin và bản lĩnh Tuy có những suy nghĩ và hành động như người lớn, nhưng Ga- vrốt vẫn giữ được vẻ đẹp trong sáng, hồn nhiên của trẻ thơ Chú không quên nhu cầu chơi đùa, đi đây đi đó, vẫn ham thích được tắm sông, được xem kịch ở nhạc viện như bao đứa trẻ khác Sự hòa lẫn giữa lòng dũng cảm và tâm hồn ngây thơ, trong sáng đã tạo nên một vẻ đẹp bất hủ cho trẻ em trên khắp thế giới Ga- vrốt hiện lên trong thế đối lập tương phản với

xã hội tư bản, tuy chỉ là một đứa “nhãi ranh của đường phố”, nhưng chú đã mang lại cho hai đứa bé kia tất cả những gì nhỏ bé mà mình có, nhưng cả xã hội rộng lớn kia lại không thể mang lại cho chúng

Là “hạt bụi” sẽ “hóa thân vào báo táp”, Ga- vrốt lập tức tham gia vào cuộc khởi nghĩa ngay khi nó nổ ra Trong khi nhiều người chưa hiểu được khởi nghĩa thì Ga-vrốt với trái tim trẻ thơ hồn nhiên đã nắm rất rõ vai trò của nó Chú

tự nhủ: “Cố Gócxo à, cố mắng những người cách mạng là sai Khẩu súng này là

vì cố đấy Để cho sau này trong cái sọt của cố có nhiều cái ăn được” Ga-vrốt tham gia khởi nghĩa với tất cả lòng nhiệt thành của mình Chú lăng xăng như

“con ruồi của cố xe cách mạng vĩ đại”, sẵn sàng làm mọi việc dù nguy hiểm đến đâu Chú là biểu tượng cho sự trẻ trung, đầy sức sống của cách mạng Trong khi

Trang 34

nghĩa quân đang chiến đấu rất căng thẳng thì Ga-vrốt vẫn giữ được vẻ hồn nhiên, vẫn hát những bài ca một cách vui vẻ như chẳng gì có thể làm cho chú sợ hãi Nhờ có chú mà nghĩa quân cũng sôi nổi lên rất nhiều, “chú đến đấy để khuyến khích mọi người… Vì chú, kẻ này vui lên, kẻ kia thêm hăng hái, kẻ nọ nổi nóng, có điều ai ai cũng hoạt động hơn lên”, thiếu Ga- vrốt, nghĩa quân như mất đi một nửa linh hồn Dũng cảm mà nhí nhảnh, bông đùa, Ga- vrốt mang vẻ đẹp gần giống với hình tượng Tôn Ngộ Không, cả hai đều xứng đáng là người anh hùng đại diện cho sức mạnh của nhân dân, “chất phác, hồn nhiên, vô tư nhưng hàm chứa một sự giận dữ có thể nổ tung trong những thời điểm cần thiết”

Hình ảnh Ga- vrốt nổi bật nhất trong lúc ra nhặt đạn ngoài chiến lũy Lúc này chú thực sự là một anh hùng “đầu đội trời chân đạp đất” với lòng quả cảm khiến cho quân thù phải khiếp sợ Tác giả sử dụng biện pháp “huyền thoại hóa” nhân vật, cho nhân vật làm những điều phi thường không tưởng, “Ga- vrốt làm bia cho súng đạn mà lại chơi đùa với súng đạn”, “cả chiến lũy run sợ còn chú thì nhởn nhơ ca hát”, “cứ một tiếng súng, chú trả lời bằng một khúc hát” Những hành động phi thường đó đã khẳng định cái đẹp lớn lao trong phẩm chất của Gavrốt

Biện pháp tương phản được sử dụng, đưa Ga- vrốt hiện lên như một tia sáng rực rỡ đối lập trên cái nền bóng tối của quân thù xung quanh để nhấn mạnh

vẻ đẹp anh hùng của chú Phát đạn thứ nhất không làm Ga- vrốt gục ngã, chú vẫn tiếp tục ca hát Đến phát thứ hai, chú không chết mà “linh hồn bé bỏng vĩ đại ấy đã bay về trời” Ga- vrốt lúc này đã được “huyền thoại hóa” không giống với con người Chú là một thiên thần bé nhỏ trên thiên đường xuống giúp đỡ nhân loại và bay về trời khi nhiệm vụ đã hoàn thành Thế gian đầy đen tối không phải chỗ cho một thiên thần nên Ga- vrốt đã dời bỏ nó, tìm về một nơi tốt đẹp hơn Cái chết của Ga- vrốt vì vậy không hề bi thương mà trở nên cao đẹp, hùng tráng hơn bao giờ hết

Trang 35

Ga- vrốt xứng đáng là một trong những hình tượng trẻ em đẹp nhất trong văn học, là biểu tượng cho thế hệ của cái đẹp sẽ lớn lên và tỏa sáng Ga- vrốt hi sinh nhưng hai đứa em chú chắc chắn sẽ tiếp tục sống cuộc sống bất diệt của anh trai mình

Hay tác phẩm Người ăn xin – phản ánh một hiện thực xã hội Nga nghèo

nàn, trong chế độ nông nô vào giữa thế kỉ XIX Họ là những người bị áp bức bóc lột nhất trong chế độ phong kiến, họ hoàn toàn bị phụ thuộc vào ruộng đất của phong kiến, địa chủ, bị phong kiến, địa chủ chiếm đoạt sản vật, ngoài ra còn phải làm nhiều công việc tạp dịch phục vụ phong kiến, địa chủ Nông nô tuy không phải là tài sản của phong kiến địa chủ, nhưng khi phong kiến, địa chủ bán ruộng đất thì bị bán theo, sản vật do nông nô làm ra bị phong kiến địa chủ chiếm hữu

Những con người ấy là đại diện cho một xã hội đói kém Họ không được nhiều người giúp đỡ và bảo vệ vì xung quanh họ cũng có rất nhiều con người lâm vào hoàn cảnh giống vậy Họ chọn cách còn lại duy nhất là phải “đi ăn xin”

Ở cái hoàn cảnh cùng tận ấy họ lại gặp những con người cũng nghèo khó như vậy nhưng tấm lòng thật cao cả Họ không trao tặng nhau tiền bạc, mà trao tặng nhau hơi ấm, trao tặng nhau tình người

Thông qua các bức tranh hiện thực xã hội giúp trẻ em dần nhận thức được thế

giới Vì vậy, trước hết, sức hút của văn học viết cho thiếu nhi cũng luôn luôn thể

hiện được sự hồn nhiên, ngây thơ của trẻ Đó có thể là sự hồn nhiên, ngây thơ trong hành động hoặc cách cảm, cách nghĩ của các nhân vật

2.1.1.2 Con người điển hình, đại diện chân- thiện mỹ

Điểm qua một số hình ảnh, lứa tuổi thiếu nhi được giáo dục thông qua hình ảnh của các nhân vật, những con người điển hình, đại diện cho những nét đẹp chân, thiện, mỹ Các em dần hình thành bước đi biết thế nào là tốt là xấu Biết thế nào là đẹp là xấu dần dần các em hướng đến lựa chọn những hình mẫu

để noi theo Trong chương trình giảng dạy cho thiếu nhi lớp 4 xuất hiện 10 tác

Trang 36

phẩm nước ngoài Với ngôn từ dễ hiểu, các tác phẩm đưa người đọc tiếp cận với những nhân vật chính diện hay phản diện

Điểm qua một số hình ảnh như vrốt ngoài chiến lũy Tác giả nói

Ga-vrốt là một thiên thần vì em dũng cảm và như có phép lạ: đạn bắn theo em, em nhanh hơn đạn Em chơi trò ú tim với cái chết một cách thật ghê rợn Ga-vrốt chỉ là một em bé nghèo sống lang thang trên đường phố, nhưng khi thấy nghĩa quân chiến đấu với bọn lính của chính quyền, em đã đứng về phía nghĩa quân, tự nguyện tham gia chiến đấu bằng cách đi lượm đạn về tiếp thêm cho nghĩa quân Hành động của em thể hiện một tinh thần dũng cảm tuyệt vời Đây là một nhân

vật rất đáng yêu trong tác phẩm Những người khốn khổ của nhà văn Vích-to

Huy-gô của nước Pháp

Hãy lướt qua tác phẩm Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca, An-đrây-ca tự dằn vặt

mình Khi biết ông đã qua đời, An-đrây-ca òa khóc Bạn cho rằng vì mình mê chơi, mua thuốc về chậm mà ông chết An-đrây-ca cũng đã kể hết mọi chuyện cho mẹ nghe Dù mẹ an ủi, bảo An-đrây-ca không có lỗi nhưng An-đrây-ca lại không nghĩ như vậy Bạn đã nức nở cả đêm dưới gốc cây táo do ông trồng Mãi khi đã lớn, bạn vẫn tự dằn vặt mình Câu chuyện cho thấy An-đrây-ca là người

có tình cảm yêu thương và ý thức trách nhiệm đối với người thân của mình Bạn

ấy rất trung thực và nghiêm khắc với lỗi lầm bản thân Nói tóm lại, đó là những phẩm chất rất đáng để chúng ta học tập

Như vậy, điểm qua các tác phẩm ta thấy được con người thật đáng quý và thật đẹp biết bao Người giáo viên lựa chọn những ý kiến bước đi để các em tự cảm nhận Những tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài trong chương trình tập đọc lớp 4 thể hiện được những đặc điểm sau đây:

Là những sáng tác phù hợp với tâm lí lứa tuổi khác nhau của trẻ em, được

“nhìn đôi mắt trẻ thơ” và xuất phát từ cảm xúc hồn nhiên, trong trẻo, tự nhiên

“như trẻ thơ” Mỗi lần sáng tác cho các em là một lần người viết được “sống lại” tuổi thơ của mình và hòa đồng tâm hồn với trẻ thơ Thế giới xung quanh trẻ

Trang 37

luôn vui tươi, trong trẻo Niềm vui như là một lẽ sống tự nhiên của các em - từ cách nhìn, cách nghe, cách cảm, cách nghĩ, trí tưởng tượng…

Có vai trò quan trọng trong việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em cả

về đạo đức, trí tuệ và tình cảm thẩm mĩ Ở lứa tuổi tiểu học, với tâm hồn thơ ngây, trong trắng, chưa có nhiều những trải nghiệm cá nhân, nhận thức về thế giới xung quanh ở mức cảm tính, nên việc tiếp xúc với cái đẹp lấp lánh của ngôn

từ và trí tưởng tượng phong phú trong tác phẩm VHTN sẽ là cơ sở để các em rung động và cảm nhận được vẻ đẹp về một thế giới bao la đầy âm thanh, màu sắc và sự huyền bí Trong truyện cổ tích, trẻ được gặp ông Bụt, bà Tiên tốt bụng với những phép biến hóa thần thông, những nàng công chúa xinh đẹp, những chàng hoàng tử thông minh, can đảm… Còn trong truyện thần thoại, các em lại được bắt gặp lối nhân hóa và sự tưởng tượng nghệ thuật, ở đó các con vật, cỏ cây, hoa lá hiện lên một cách sinh động thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc giữa con người với thiên nhiên Trẻ thơ vốn đã sẵn trong đầu trí tưởng tượng phong phú nên khi gặp những yếu tố kì ảo, đẹp đẽ trong các tác phẩm văn học thì trí tưởng tượng ở trẻ càng được thăng hoa, giúp các em phát triển trí tuệ và thưởng thức cái đẹp, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế hơn…

Phù hợp với thị hiếu, tâm lí các em và hướng dẫn tới cái đẹp chân -thiện

- mĩ Trẻ em ở lứa tuổi mầm non là những “bạn đọc đặc biệt” (chưa biết đọc, biết viết, được tiếp xúc với văn học (chưa biết đọc, biết viết, được tiếp xúc với văn học thiếu nhi chủ yếu là qua lời đọc, lời kể của ông bà, cha mẹ, thầy cô,…), cho nên VHTN viết cho các em phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi và những sở thích của trẻ nhỏ Các em vốn rất yêu cái cái đẹp, cái tốt, cái thực; vì vậy các nhà văn cần nắm được những đặc điểm tâm lí của trẻ để thỏa mãn những nhu cầu ấy một cách tự nhiên Những hình tượng nghệ thuật, giàu giá trị nhân văn kết hợp vần điệu, nhạc điệu do các nhà văn dày công sáng tạo trong tác phẩm sẽ gây được những ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn trẻ thơ, tác động nhẹ nhàng đến nhận thức, tư tưởng tình cảm ở trẻ

Trang 38

VHTN có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.VHTN như một nguời bạn đồng hành cùng trẻ thơ, cung cấp cho trẻ thơ một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữ nghệ thuật Khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với các tác phẩm VHTN, vốn từ ngữ của các em phong phú và sống động hơn Các em tự hình thành cho mình khả năng diễn đạt một vấn đề một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm bởi đã được học cách diễn đạt sinh động ấy trong tác phẩm Đối với trẻ Tiểu học, sự phát triển ngôn ngữ ấy qua hoạt động bắt chước lời nói, việc làm của các nhân vật hoặc những cách diễn đạt trong tác phẩm Chính quá trình trẻ được nghe, được kể diễn cảm truyện, thơ

và được trực tiếp tham gia vào hoạt động đọc, kể lại truyện thơ sẽ giúp trẻ tích lũy và phát triển thêm nhiều từ mới Điều này giúp giáo viên có thể dễ dàng hơn trong việc rèn luyện khả năng biểu cảm trong ngôn ngữ nói, ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ đối thoại với trẻ

Những tác phẩm thơ, truyện của trẻ tự viết cho mình hay của người lớn viết cho các em phải rất hồn nhiên, vui tươi, ngộ nghĩnh và trong sáng Những tác phẩm thơ, truyện do chính các em sáng tác bao giờ cũng thể hiện những xúc cảm chân thành, hồn nhiên, trong trẻo,…như chính bản tính của trẻ thơ

Người lớn muốn viết cho trẻ em phải học được sự hồn nhiên, ngây thơ ấy, phải thực sự hòa nhập với cuộc sống trẻ thơ, sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng với trẻ thơ và mang lại cho tác phẩm sự thành công

2.1.2 Giá trị nhân đạo lớn lao

2.1.2.1 Tố cáo xã hội mạnh mẽ

Do được sắp xếp theo các chủ điểm trong khung chương trình, nên dễ nhận thấy rằng, dù chủ đề của các tác phẩm được giới thiệu và giảng dạy ở từng lớp rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, nhưng có thể quy về một số cụm chủ đề chính Chứa đựng nội dung mà nhà văn nhà thơ thời kì đó sáng tác ra một phần phản ánh khách quan xã hội hiện thực

Trang 39

Ga-vrốt ngoài chiến luỹ được sáng tác vào thế kỉ XIX, sau khi cách mạng

tư sản Pháp năm 1789 thắng lợi, giai cấp tư sản lên nắm quyền đã phản bội và cướp đoạt thành quả của nhân dân Đó là một xã hội của những con người khốn khổ Văn học đã tố cáo xã hội một cách mạnh mẽ, khiến một chú bé đáng lẽ đang trong tuổi ăn tuổi học nhưng hoàn cảnh xô đẩy lại phải ra chiến trường, nhặt bom đạn để đánh trả quân thù

Hay trong tác phẩm Người ăn xin là một xã hội nghèo nàn ở nước Nga vào

thế kỉ thứ XIX Lúc này tác phẩm được viết ra trong thời kì xã hội ở chế độ nông

nô Những hình ảnh cho thấy ông lão ăn xin vô cùng đáng thương Ông lão già lọm khọm, đôi mắt đỏ hoe, giàn giụa nước mắt, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi, hình dáng xấu xí, bàn tay sưng húp bẩn thỉu, giọng rên rỉ cầu xin Môt xã hội nghèo nàn, lấy hình ảnh của người ăn xin để phản ánh xã hội chính là điểm nhấn

mà tác giả đưa trí tưởng tượng trẻ em đi xa hơn Nhưng đồng thời nói lên một số điểm đáng chú ý sau:

Sống giữa tự nhiên mênh mông và khắc nghiệt, đầy bí ẩn, vẻ đẹp và sức mạnh của con người còn được thể hiện ở ý thức, khát vọng tìm hiểu, khám phá, giải thích, chế ngự, chinh phục tự nhiên vì sự sinh tồn và phát triển của mình Chế ngự và chinh phục thiên nhiên là một chặng đường dài đầy gian nan vất vả

mà loài người đã trải qua Nếu không có những khát vọng đó thì con người

không có được cuộc sống văn minh, tốt đẹp như ngày hôm nay Các truyện Ông Mạnh thắng thần Gió (Phỏng theo A-Nhông) hay Trên con tàu vũ trụ (Ga-ga-

rin)… đã giúp các em nhỏ từng bước có ý thức về điều đó Song trên hết, con người tồn tại và phát triển được chính là nhờ có lòng nhân ái Lòng nhân ái là phẩm chất quý giá nhất của mỗi con người Xã hội ngày càng tốt đẹp, con người ngày càng đáng yêu, cuộc sống ngày càng đáng Sống đó chính là nhờ lòng nhân

ái, nhờ sự yêu thương, quan tâm, chia sẻ, đoàn kết giúp đỡ giữa con người với con người Ngược lại, xã hội và con người sẽ trở nên đáng sợ khi trong lòng nó, trong lòng mỗi con người đã mất hết tình yêu thương, chỉ còn sự thù hằn, giả dối, tàn nhẫn, độc ác Lòng nhân ái không chỉ được thể hiện ở tình cảm giữa con

Trang 40

người với con người mà còn thể hiện ở tình cảm và thái độ của con người với

thiên nhiên Thông qua các Truyện như Người ăn xin (Tuốc-ghê-nhép), Người đi săn và con vượn (L.Tônxtôi), Người mẹ (Anđecxen)…, các em nhỏ sẽ nhận

đựợc những bài học đầu tiên về một khái niệm còn hết sức trừu tượng và xa vời

2.1.2.2 Ca ngợi tài đức, trí tuệ con người

Nhấn mạnh các chuẩn mực đạo đức, đặc biệt cả ngợi tài đức, trí tuệ của con người Loài người, bản thân nó chứa đựng những tiềm năng vô cùng to lớn Đó

là trí tuệ, là khát vọng khám phá, chinh phục thiên nhiên, là lòng nhân ái Chính những tiềm năng to lớn này đã làm cho con người ngày càng đẹp đẽ hơn, đáng trân trọng và đề cao hơn Trí tuệ là thứ vũ khí vô địch của con người Trí tuệ là

sự hiểu biết, là khả năng giải quyết những khó khăn trong cuộc sống Nhờ có trí tuệ mà con người đã tiến hóa, đã tạo lập nên biết bao điều kì diệu Vẻ đẹp trí tuệ của con người, sự thông minh của con người được thể hiện gián tiếp qua các truyện cổ tích về loài vật, các truyện ngụ ngôn đặc biệt sinh động, hấp dẫn,

chẳng hạn: Sư tử và chuột nhắt, Con quạ thông minh, Bác sĩ Sói, Sói và Sóc…

Trong cuộc sống, con người không chỉ gắn bó với thiên nhiên, mà con người còn sống gắn bó với nhau trong cùng một bộ tộc, một dân tộc, một xã hội Mối quan hệ xã hội giữa con người rất phức tạp, phong phú, đa dạng và rộng mở Để tồn tại và phát triển, con người phải xây dựng các thiết chế xã hội và chuẩn mực đạo đức Những chuẩn mực đạo đức ấy được phản ánh trong pháp luật, thể hiện trong lối sống, phong tục tập quán, trong các hành vi ứng xử của mỗi người, tạo nên phẩm chất người tốt đẹp của họ Một trong những phẩm chất cao quý của con người chính là tình yêu quê hương đất nước, yêu quý thiên nhiên, cỏ cây muông thú Tình yêu ấy có khi là tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí chống giắc ngoại xâm, là lòng căm thù giặc, là sự yêu quý, tôn trọng từng nhành cây, ngọn cỏ, từng tấc đất, hạt cát của quê hương Tình yêu quê hương đất nước thật thiêng liêng và cao quý, nó gắn con người với nơi chôn rau cắt rốn, với đồng bào

đã từng chia ngọt sẻ bùi Thiếu tình yêu ấy cuộc sống sẽ nhạt nhẽo, vô vị, buồn

tẻ biết bao Cùng với các tác phẩm văn học thiếu nhi giáo dục lòng yêu quê

Ngày đăng: 26/06/2022, 10:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, vi.wikipedia.org/wiki/ Võ Quảng [2]. Lê Huy Bắc (2006), Từ điển văn học nước ngoài, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: ]. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia", vi.wikipedia.org/wiki/ Võ Quảng [2]. Lê Huy Bắc (2006), "Từ điển văn học nước ngoài
Tác giả: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, vi.wikipedia.org/wiki/ Võ Quảng [2]. Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
Năm: 2006
[3]. Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá (2005), Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (bộ mới)
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế Giới
Năm: 2005
[4]. Hồ Ngọc Đại (1994), Công nghệ giáo dục và công nghệ dạy văn ở Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ giáo dục và công nghệ dạy văn ở Tiểu học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Năm: 1994
[5]. Lê Bá Hán (1992), Từ điển thuật ngữ văn học , Nhà xuất bản Giỏo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1992
[6]. Bùi Công Hùng (1983), Bàn về văn học thiếu nhi, Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học thiếu nhi
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Kim Đồng
Năm: 1983
[7]. Trần Mạnh Hưởng (2004), Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
[8]. Ma Văn Kháng (2002), Bách khoa thư văn học thiếu nhi, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa thư văn học thiếu nhi
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa
Năm: 2002
[9]. Phan Trọng Luận (2001), Giáo trình phương pháp dạy học văn – tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp dạy học văn – tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
[10]. Lã Thị Bắc Lý (2008), Văn học thiếu nhi với giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non, Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thiếu nhi với giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Lã Thị Bắc Lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm
Năm: 2008
[11]. Lê Phương Nga (2001), Dạy tập đọc ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tập đọc ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
[12]. Trần Đức Ngôn, Dương Thu Hương (2001), Giáo trình Văn học thiếu nhi Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học thiếu nhi Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Ngôn, Dương Thu Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
[13]. Hoàng Phê (1994), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Trung tâm từ điển học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1994
[14]. Vân Thanh, Nguyên An (2002), Bách khoa văn học thiếu nhi, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân Thanh, Nguyên An "(2002), "Bách khoa văn học thiếu nhi
Tác giả: Vân Thanh, Nguyên An
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa
Năm: 2002
[15]. Vân Thanh (1999), Phác thảo văn học thiếu nhi Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo văn học thiếu nhi Việt Nam
Tác giả: Vân Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1999
[16]. Vân Thanh (2003), Văn học thiếu nhi Việt Nam, Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thiếu nhi Việt Nam
Tác giả: Vân Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Kim Đồng
Năm: 2003
[17]. Vân Thanh (2006), Tác giả Văn học thiếu nhi Việt Nam, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả Văn học thiếu nhi Việt Nam
Tác giả: Vân Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa
Năm: 2006
[18]. Nguyễn Minh Thuyết (2000), Sách giỏo khoa Tiếng Việt lớp 4 tËp 1+ 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giỏo khoa Tiếng Việt lớp 4 tËp 1+ 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
[19]. Phùng Văn Tửu (2002), Cảm thụ và giảng dạy văn học nước ngoài, Nhà xuất bản Giáo dục (Chi nhánh TP.HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm thụ và giảng dạy văn học nước ngoài
Tác giả: Phùng Văn Tửu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục (Chi nhánh TP.HCM)
Năm: 2002
[20]. Bùi Thanh Truyền, Trần Quỳnh Nga, Nguyễn Thanh Tâm (2009), Thi pháp trong văn học thiếu nhi, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp trong văn học thiếu nhi
Tác giả: Bùi Thanh Truyền, Trần Quỳnh Nga, Nguyễn Thanh Tâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w