Nội dung các bài Tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 phản ánh một số vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất, sở thích, thú vui lành mạnh… của con người thông qua ngôn ngữ văn học và n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong môn Tiếng Việt chương trình Tiểu học, phân môn Tập đọc được xác định là phân môn tổng hợp Ngoài chức năng dạy kĩ năng đọc nó còn trau dồi cho học sinh kiến thức tiếng Việt, kiến thức về đời sống xã hội, giáo dục tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ và bước đầu giúp học sinh có khả năng cảm thụ văn học ở mức độ
đơn giản
Nội dung các bài Tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 phản ánh một số vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất, sở thích, thú vui lành mạnh… của con người thông qua ngôn ngữ văn học và những hình tượng giàu chất thẩm mĩ và nhân văn,
do đó có tác dụng giáo dục tư tưởng tình cảm và trau dồi nhân cách cho học sinh Đặc biệt chất văn chương đầy ắp trong các câu ca dao, tục ngữ và những bài văn, bài thơ… Vì thế, trong các giờ Tập đọc ở bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng chúng tôi nhận thấy nếu ta chỉ dừng lại ở việc dạy học sinh biết đọc đúng, đọc diễn cảm và khai thác nội dung bài đọc theo hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa thì chưa đủ để các em thấy cái hay cái đẹp, chưa khám phá được những ước mơ, khát vọng, những điều sâu kín mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm vào trong những bài văn, bài thơ Làm thế nào để đạt được mong muốn trên? Làm thế nào để học sinh tích cực và hứng thú chủ động tiếp thu kiến thức nhằm nâng cao khả năng cảm
thụ văn cho học sinh khi dạy tập đọc lớp 5 ? Đó là điều vô cùng cấp thiết
Tập đọc là một phân môn hết sức quan trọng trong chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học nhằm rèn luyện và phát triển cho học sinh các kĩ năng đọc, nghe và nói Để dạy một giờ Tập đọc ở lớp 5 có hiệu quả, giáo viên cần yêu cầu học sinh trước hết phải đọc để hiểu văn bản, rồi trên cơ sở đó, phải nâng cao, mở rộng cảm thụ tác phẩm Mỗi một tác phẩm văn chương đích thực, tuy ở mức độ khác nhau, nhưng giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật mới có thể chung đúc lại thành linh hồn của tác phẩm đó là cái hay, cái đẹp, cái cao cả của thơ văn Cảm thụ văn bản là cái đích mà người đọc, người học hướng tới giá trị, linh hồn của tác phẩm mà nói một
Trang 2cách rõ hơn, đối với học sinh Tiểu học cảm thụ văn học là cảm nhận được cái hay, cái đẹp về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Điều này thực sự
quan trọng trong việc giáo dục học sinh luôn hướng tới cái đẹp trong cuộc sống
Chính vì thế, đối với mỗi giờ Tập đọc ở lớp 5, ngoài việc cung cấp kiến thức
có trong bài đọc cho học sinh, nếu giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ cho học sinh đọc đúng, đọc lưu loát, ngắt nghỉ đúng nhịp, đọc diễn cảm thì chưa đủ mà cần phải giúp cho học sinh phát hiện ra các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng làm đòn bẩy để bộc lộ nội dung Từ đó giúp các em đọc đúng hơn, lưu loát và đọc hay (đọc diễn cảm) bài đọc đó Đọc tốt sẽ giúp các em học tốt hơn các môn học khác và các em sẽ cảm nhận được biết bao cái hay, cái đẹp của cuộc sống thông qua những
áng thơ văn Có như vậy thì giờ dạy Tập đọc mới đạt được các mục tiêu cơ bản
Trong quá trình dạy phân môn Tập đọc, việc vận dụng linh hoạt các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc của nhiều giáo viên còn phần nào hạn chế Có nhiều giáo viên còn chú ý tập chung cho việc dạy đúng quy trình một tiết tập đọc, tìm hiểu nội dung bài đọc và luyện đọc theo đúng quy trình Cụ thể giáo viên chủ yếu dựa vào các câu hỏi của sách giáo khoa để vấn đáp học sinh, chưa phát huy được tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh Giáo viên truyền thụ một cách máy móc, còn học sinh thì tiếp nhận tri thức một cách thụ động, mà vấn đề cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phát huy sức sáng tạo của giáo viên và khơi dậy mọi tiềm năng vốn có của học sinh Như vậy việc nâng cao kiến thức và khả năng cảm thụ văn học cho học sinh chưa được giáo viên chú trọng
Dạy Tập đọc lớp 5 - có một điều mà bất cứ giáo viên nào khi giảng dạy cũng phải thừa nhận rằng: Năng lực đọc của học sinh còn rất hạn chế Đặc biệt là năng lực cảm thụ văn học Đa số các em chưa thể cảm nhận và phát hiện những cái hay, cái độc đáo của bài văn, bài thơ Thiết nghĩ đây là một vấn đề hết sức quan trọng giúp học sinh có năng lực viết văn, trau dồi vốn ngôn ngữ để giao tiếp và hơn thế nữa là giáo dục tâm hồn trong sáng cho các em Song thực tế dạy học cho thấy vấn
đề này còn nhiều hạn chế từ cả hai phía: người học và người dạy Vậy làm thế nào
Trang 3để bồi dưỡng kiến thức và khả năng cảm thụ văn học cho học sinh khi dạy Tập đọc lớp 5 theo tinh thần đổi mới phương pháp, đổi mới chương trình ? Để bồi dưỡng kiến thức và khả năng cảm thụ văn học cho học sinh khi dạy Tập đọc lớp 5 theo tinh thần đổi mới phương pháp, đổi mới chương trình nghĩa là ngoài việc "dạy đọc" theo đúng nghĩa của nó thì yếu tố cần và đủ để dạy thành công tiết Tập đọc đó là: học sinh hiểu được nội dung bài đọc, cảm nhận được cái hay cái đẹp và những tình cảm trong sáng của con người, tình yêu thiên nhiên, yêu lao động… thông qua các
thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong mỗi đoạn văn, đoạn thơ
Ở bậc Tiểu học, môn Tập đọc được dạy từ lớp 1 đến lớp 5, đây là môn học công cụ giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt, là phương tiện để các em học tốt các môn học khác, đặc biệt nó là tiền đề giúp các em phát huy khả năng cảm thụ văn học Bởi vậy dạy Tập đọc rèn cho học sinh những kĩ năng cơ bản: kĩ năng đọc, kĩ năng nghe, kĩ năng nói và trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức đời sống cho bản thân Có nghĩa là qua phân môn Tập đọc các em được trang bị những phương tiện tối ưu cần thiết để bước vào khám phá kho tàng tri thức và văn hóa nhân loại, hơn nữa thông qua phân môn Tập đọc các em còn có thể rèn cho mình khả năng cảm thụ tạo được mối giao cảm giữa tác giả với mình và mình với người khác
Thực tế hiện nay, việc dạy cảm thụ văn học trong phân môn Tập đọc ở các lớp nói chung và ở lớp 5 nói riêng chưa được chú trọng Giáo viên chỉ chú ý vào khâu luyện đọc và tìm hiểu nội dung bài Muốn học sinh cảm nhận được cái hay cái đẹp, sự sâu sắc ở ngôn từ, biện pháp nghệ thuật, và ở ý nghĩa trong mỗi bài văn bài thơ, khổ thơ đoạn văn mà các em đã được học thì người giáo viên phải rèn được cho các em kĩ năng cảm thụ văn học Qua cảm thụ, học sinh được củng cố thêm vốn từ ngữ, biết sử dụng các biện pháp tu từ trong viết bài tập làm văn như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ và học sinh cũng đọc diễn cảm hơn một văn bản nếu các em cảm thụ tốt văn bản đó
Trong quá trình học Đại học, nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ không thể thiếu đối với sinh viên Công việc này vừa tạo cho sinh viên tiếp cận kiến thức
Trang 4ở lĩnh vực mình nghiên cứu một cách sâu sắc nhằm tích lũy trí thức, mở rộng và nâng cao trình độ Đồng thời nghiên cứu khoa học còn là một động lực giúp sinh viên chủ động, sáng tạo phát huy năng lực cá nhân đóng góp vào các công trình nghiên cứu khoa học của nhà trường Chính vì vậy, đối với sinh viên nghiên cứu khoa học là hết sức bổ ích và cần thiết
Là sinh viên khoa Giáo Dục Tiểu Học & Mầm Non, được đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tôi nhận thấy nghiên cứu khoa học là một khâu rất quan trọng cần được tập dượt đối với mỗi sinh viên, để vừa được tiếp cận vừa được tham gia nghiên cứu khoa học, vừa nâng cao kiến thức mở rộng tầm hiểu biết cho bản thân Chính vì vậy, sau quá trình làm đề tài nghiên cứu khoa học ở năm học thứ 3 tôi đã quyết định phát triển đề tài của mình lên làm khóa luận tốt nghiệp
Đặt ra vấn đề là làm thế nào để nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5 để đạt được hiệu quả, nâng cao chất lượng dạy và học cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh khối lớp 5 nói
riêng? Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: " Một số
biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5 " với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao
năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc và môn Tiếng Việt nói chung, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở Tiểu học
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 Nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5; góp phần giải quyết các vướng mắc của giáo viên trong quá trình bồi dưỡng và rèn luyện kĩ năng cảm thụ văn học; rèn cho học sinh kĩ năng cảm thụ văn học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình bồi dưỡng nâng cao năng lực cảm thụ văn học
Trang 5cho học sinh lớp 5 thông qua phân môn Tập đọc
- Đối tượng nghiên cứu: Là một số biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5
4 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng hợp lí và linh hoạt các biện pháp trong quá trình rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh thông qua phân môn Tập đọc lớp 5, sẽ nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh đồng thời góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học trong trường Tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lí thuyết về cảm thụ văn học, cơ sở lí luận và thực tiễn việc sử dụng một số biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5
- Nghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa phân môn Tập đọc lớp 5 và năng lực cảm thụ văn học của học sinh lớp 5
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5
- Thiết kế một số bài dạy Tập đọc để rèn khả năng cảm thụ cho học sinh lớp 5
- Thực nghiệm sư phạm
6 Phạm vi nghiên cứu
Ở Tiểu học, phân môn Tập đọc được đưa vào nội dung chương trình học từ lớp 1 đến lớp 5 Tuy nhiên, trong thời gian hạn hẹp và điều kiện cho phép đề tài chỉ
tập chung nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong
dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5”
Về địa bàn: đề tài tập chung nghiên cứu và thực nghiệm tại trường Tiểu học
Lê Đồng thuộc phường Âu Cơ thị xã Phú Thọ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Trang 6Là nhóm các phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút ra các kết luận khoa học cần thiết Nhóm này bao gồm các phương pháp: Phương pháp phân tích
và tổng hợp lí thuyết; Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết
Trong đề tài này, chúng tôi chú trọng sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết nghiên cứu các văn bản, tài liệu lí luận khác nhau về một chủ đề, bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận, từng mặt để hiểu chúng một cách toàn diện Nhằm phát hiện ra những xu hướng, những trường phái nghiên cứu của từng tác giả, từ đó lựa chọn những thông tin quan trọng, từ đó liên kết sắp xếp các tài liệu, thông tin lí thuyết đã thu thập được để tạo ra một hệ thống lí thuyết đầy đủ,
sâu sắc phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình
7.2 Phương pháp điều tra
Là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhất định nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phương pháp điều
tra An két
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Là phương pháp thu thập các sự kiện trong những điều kiện được tạo ra một cách chủ động của nhà nghiên cứu đảm bảo sự thể hiện tích cực các hiện tượng, sự kiện cần nghiên cứu
Là phương pháp nhà nghiên cứu chủ động tạo tác động đến đối tượng nghiên cứu những điều kiện được khống chế nhằm xác định mối quan hệ nhân quả giữa từng nhân tố nghiên cứu
Mục đích sử dụng phương pháp này là nhằm kiểm chứng những giả thuyết,
khẳng định hoặc bác bỏ những biện pháp, cách thức nào đó
7.4 Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp nghiên cứu khoa học trong đó người nghiên cứu nhờ sự giúp đỡ trí tuệ của đội ngũ những người có trình độ cao, am hiểu sâu về lĩnh vực
Trang 7mà nhiều người nghiên cứu quan tâm, xin ý kiến đánh giá, nhận xét của họ về vấn
đề nghiên cứu hoặc định hướng cho người nghiên cứu
Đây là phương pháp đỡ tốn thời gian và sức lực nhất Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu chỉ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia
Ở đề tài này, chúng tôi tham khảo và nhờ sự giúp đỡ từ phía các thầy cô giáo
có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm đồng thời xin ý kiến đánh giá, nhận xét từ phía
các chuyên gia nghiên cứu khoa học đầu ngành
7.5 Phương pháp phân tích – đối chiếu
Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành
những bộ phận, những mặt yếu tố cấu thành giản đơn để nghiên cứu, phát hiện ra
từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó Từ đó chúng ta hiểu được đối tượng
nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố
bộ phận ấy
Nhiệm vụ của phân tích đối chiếu là thông qua cái riêng để tìm ra được cái
chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái
phổ biến
Ở đề tài này, chúng tôi tiến hành phân tích các tài liệu có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu Hệ thống hóa các tài liệu liên quan để hoàn thiện đề tài
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở khoa học của đề tài Chương 2 : Thực trạng và giải pháp của đề tài
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CẢM THỤ VĂN HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG
1.1 Cơ sở lí luận của cảm thụ văn học
Nghiên cứu cơ sở lí luận là một việc hết sức quan trọng trong việc tìm hiểu bất
cứ một vấn đề nào đó Cơ sở lí luận là bàn cân chính xác nhất để xác định cốt lõi đúng đắn của vấn đề Nhận biết được tầm quan trọng đó chúng tôi đưa ra một số cơ
sở lí luận của đề tài "Một số biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong
dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5” như sau:
1.1.1 Khái quát về cảm thụ văn học
Bàn về vấn đề cảm thụ văn học (CTVH), có rất nhiều ý kiến tranh luận, có ý kiến cho rằng: CTVH là một đối tượng “phi phương pháp luận” Như thế nghĩa là chúng ta không nghiên cứu được CTVH vì tính chất “thiên biến vạn hóa” và sự lệ thuộc của nó vào những thiên kiến chủ quan của người đọc
Trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên chỉ giải thích các thuật ngữ: Tiếp nhận văn học, thưởng thức văn
học, phê bình văn học mà không có thuật ngữ cảm thụ văn học (hay cảm thụ văn
chương) Như vậy có thể suy ra rằng, CTVH không được coi là một thuật ngữ, không được coi là một khái niệm mà CTVH được coi là một hiện tượng bao trùm tất cả ba khái niệm trên
Cũng có ý kiến đề nghị hiểu CTVH đồng nhất với tiếp nhận văn chương theo tinh thần thiết thực và đơn giản hơn: “Nói một cách đơn giản, CTVH là quá trình tiếp nhận, hiểu, cảm được văn chương, tính hình tượng của văn chương, đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trưng phản ánh nghệ thuật của văn chương”
Nói tóm lại, Cảm thụ văn học là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều
sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (trong cuốn truyện, bài văn, bài thơ, ) hay một bộ phận của tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ, ) thậm chí
là một từ ngữ có giá trị trong câu văn, câu thơ Khi đọc (hoặc nghe) một câu
Trang 9chuyện, một bài thơ, ta không những hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng và thật sự gần gũi, “nhập thân” với những gì đã đọc
Cảm thụ văn học ở bậc Tiểu học là cả một quá trình Các em được cảm nhận một cách sâu sắc, tinh tế các tác phẩm thông qua việc đọc mẫu của giáo viên, thông qua việc rèn luyện đọc và đặc biệt trong việc khai thác, tìm hiểu nội dung, ý nghĩa
cũng như nghệ thuật của tác phẩm
Cảm thụ văn học có đối tượng là tác phẩm văn học: Tác phẩm trọn vẹn hay một bộ phận của tác phẩm (một đoạn, một câu văn, câu thơ, thậm chí một từ hay)
Phương thức chiếm lĩnh đối tượng của cảm thụ chủ yếu là bằng tình cảm, bằng những xúc động mang tính trực quan, bằng sự tham gia chủ yếu của yếu tố vô thức
Qua bản chất của cảm thụ văn học chúng tôi thấy cảm thụ văn học là vấn đề cốt lõi trong quá trình dẫn dắt học sinh nắm bắt được tác phẩm Bởi vậy, việc nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh là rất cần thiết Đồng thời qua nghiên cứu cho thấy cảm thụ văn học chính là nền tảng vững chắc cần được vận dụng và tìm hiểu, làm hạt nhân cho lí thuyết nghiên cứu trong đề tài này
Như mọi hoạt động tâm lí khác của con người, cảm thụ văn học cũng là một hoạt động phân tích - tổng hợp của não, cũng đòi hỏi sử dụng các thao tác hoạt động trí tuệ: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa Theo nghiên cứu của
Nikiphorova (1959), Cảm thụ tác phẩm văn học nghệ thuật của học sinh,
Matxcova Hoạt động này có ba cấp độ hay là ba phương diện:
- Quá trình phân tích - tổng hợp chung khi đọc một văn bản bất kì: Ở đây có
Trang 10sự sắp xếp âm thành từ, từ thành câu, cũng như các quá trình tự động và vô thức ở
người đọc Quá trình này là nền tảng của cảm thụ văn học
- Sự cảm thụ có suy nghĩ kết hợp với các thao tác tư duy như: phân tích, so
sánh, thiết lập các mối liên hệ và quan hệ, khái quát hóa Về cơ bản, sự suy nghĩ của người đọc về tác phẩm diễn ra sau sự cảm thụ trực tiếp tác phẩm, khi người đọc
đã tái tạo được hình tượng tác phẩm và xác định được những quan hệ thẩm mĩ - cảm xúc nhất định với tác phẩm Suy nghĩ này sẽ làm giàu có, sâu sắc nhận thức,
tạo những rung cảm thẩm mĩ mới, sâu hơn, có ý thức hơn cho người đọc
- Quá trình phân tích - tổng hợp lại hình tượng (quá trình tưởng tượng): Đặc
điểm của quá trình này là sự phân tích và tổng hợp hình tượng được thực hiện một cách vô thức, không phụ thuộc vào ý chí của người đọc Ở đây, tình cảm đóng một vai trò quan trọng
Sự kết hợp hữu cơ và quan hệ tương hỗ của các cấp độ trên là nét độc đáo của cảm thụ văn học
Việc nghiên cứu các cấp độ của cảm thụ cho thấy: giáo dục văn học phải giúp học sinh cảm thụ sâu sắc tác phẩm ở mức trở thành những người đọc biết suy nghĩ
1.1.1.2 Đặc điểm của cảm thụ văn học
* CTVH trước hết là hoạt động nhận thức hình tượng văn chương
Nhận thức hình tượng văn chương bắt đầu từ việc đọc một cách trọn vẹn tác phẩm văn chương Người đọc (hoặc người nghe) phải có khả năng thông qua lớp
vỏ ngôn từ mà hiểu được nội dung tác phẩm, hình dung được những con người, những cuộc sống, tâm trạng, tính cách, số phận… trong tác phẩm; đồng thời nắm bắt được các tình tiết, diễn biến của tác phẩm tự sự, hay cảm xúc chủ đạo của tác phẩm trữ tình… Từ đó rút ra được đại ý (đối với đoạn văn), tư tưởng chủ đề (đối với tác phẩm hoàn chỉnh) và phát hiện được ý đồ nghệ thuật của tác giả
Thông qua nhận thức nội dung, người đọc còn phát hiện ra mối liên hệ giữa tác phẩm với đời sống, rút ra được bài học ứng xử cho bản thân và cho xã hội
Trang 11CTVH cũng là hoạt động nhận thức đối với phương diện nghệ thuật của tác phẩm Người đọc nhận thức được vẻ đẹp của hình tượng ngôn từ, phát hiện phương pháp sáng tác, tài năng và nhân cách người đọc được mở rộng và nâng cao hơn
Đối với các tác phẩm thơ, nhận thức nội dung và nghệ thuật chính là phát hiện được cảm xúc chủ đạo, sự độc đáo của cấu tứ, tìm và bình giá được ý nghĩa sâu sắc của nội dung, phát hiện vẻ đẹp kì diệu của “nhãn tự”, “thần cú”, khai thác
và đồng cảm sâu sắc với những tâm sự của tác giả, phát hiện chính xác phong cách riêng và tài năng độc đáo của nhà thơ
Đối với tác phẩm văn xuôi như truyện, kí, kịch bản văn học thì nhận thức tác phẩm chính là phân tích, bình giá được toàn bộ tác phẩm trong cuộc sống sinh động của nó, cũng như nhận thấy tính chất đặc thù của các yếu tố cấu thành tác phẩm như: nhân vật, tính cách, cốt truyện, thời gian, không gian nghệ thuật
Nói chung, nhận thức tác phẩm văn chương chính là nắm bắt được các nét chính về nội dung và nghệ thuật tác phẩm, thu thập và xử lí các thông tin liên quan đến tác phẩm dựa trên những quan niệm nghệ thuật nhất định, nhằm phát hiện ra những đặc điểm riêng biệt của tác phẩm về mặt nội dung và hình thức nghệ thuật Trong CTVH, nhận thức là phương diện đầu tiên và quan trọng nhất
* CTVH còn là sự rung cảm trước vẻ đẹp tinh tế của hình tượng văn học
Sự rung cảm xét cho cùng chính là hoạt động “nhận thức một cách đặc biệt”,
là sự thể nghiệm của người đọc đối với nội dung tác phẩm, nhằm phát hiện và thưởng thức những vẻ đẹp tinh tế, kín đáo, sâu sắc của hình tượng văn học
Khác với nhận thức lí tính đơn thuần, CTVH luôn là sự rung cảm trước cái đẹp, trước những gì tinh túy và tế nhị nhất của hình tượng văn chương CTVH chống lại những gì khô khan, cằn cỗi, giản đơn, nông cạn, nó đòi hỏi phải có một
sự tinh tế, sâu sắc, quảng bá và uyên thâm
Hình tượng văn chương không phải chỉ chứa đựng những tri thức, kinh nghiệm thuộc một vài lĩnh vực khoa học hay đời thường mà là tổng thể những tri thức, kinh nghiệm liên quan đến mọi lĩnh vực, được thăng hoa một cách kì diệu, có sức hấp dẫn và có thần lực luôn lôi cuốn tâm hồn người đọc Do đó, CTVH còn là
Trang 12sự rung động của tâm hồn và nhân cách người đọc trước tính thẩm mĩ và tổng hòa của hình tượng trong tác phẩm
* CTVH thiên về chủ quan và cảm tính
Tính chủ quan trong CTVH là đặc tính cho phép người đọc có thể tùy ý yêu thích tác phẩm này hay tác phẩm khác, tán thành hay phản đối tư tưởng nghệ thuật của tác giả tùy thuộc vào sở thích riêng, vốn tri thức, vốn sống, vốn kinh nghiệm riêng của mỗi người Thậm chí họ còn có thể nhận thức, rung cảm theo một cách khác, không hoàn toàn giống với ý đồ của tác giả Nói chung, CTVH tùy thuộc rất nhiều vào chủ quan của người đọc
CTVH cũng là hoạt động thiên về cảm tính Nếu các ngành khoa học nói chung đòi hỏi phải dùng tư duy logic để khảo cứu, phân tích, thống kê, tổng hợp một cách đầy đủ và chính xác, thì CTVH đòi hỏi phải có các yếu tố cảm nhận Người đọc, bằng vốn tri thức và kinh nghiệm, cùng với năng khiếu của mình, có thể lĩnh hội được những khía cạnh khó nhận thấy nhất, ẩn giấu sau các chi tiết thông thường
Cả hai đặc điểm chủ quan và cảm tính đã làm cho cảm thụ phân biệt với hoạt động nghiên cứu – phê bình văn học CTVH không đòi hỏi truy nguyên nguồn gốc tác phẩm, thống kê tỉ mỉ và chính xác như nghiên cứu phê bình Trái lại chỉ bằng những cảm nhận dựa theo kinh nghiệm và sự nhạy cảm, nó có thể đưa ra từ đầu những phát hiện nhiều khi sâu sắc, mới mẻ và độc đáo về hình tượng tác phẩm Nghiên cứu – phê bình văn học tuy vẫn chấp nhận tính chủ quan và cảm tính, nhưng nói chung, đó là một hoạt động của tư duy khoa học, còn CTVH cho phép chấp nhận tính chủ quan, cảm tính ở mức độ cao hơn Về việc này có thể nói, CTVH là hoạt động gắn liền với trực giác Đó là cảm nhận mang tính phát hiện
* CTVH là hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo
Người đọc không phải chỉ biết tiếp nhận tác phẩm một chiều thụ động mà trái lại, bao giờ họ cũng chủ động, sáng tạo trong nhận thức và rung cảm Tính chủ động và sáng tạo thể hiện ở chỗ: người đọc không bị lệ thuộc vào dụng ý của tác giả mà có quyền nhận thức và rung cảm theo cách riêng, tùy thuộc vào hoàn cảnh
Trang 13sống, vào vốn năng lực của họ Người đọc có thể chủ động tìm kiếm trong tác phẩm những gì đồng cảm, giúp ích được cho họ trong cuộc sống và thậm chí còn
có thể phát hiện ra những ưu, nhược điểm của tác giả để bình giá
Bản thân việc đọc – hiểu tác phẩm văn chương là sự “đánh thức” cuộc sống
ở trong tác phẩm theo khái niệm riêng của mỗi người đọc, gắn những giá trị tinh thần trong tác phẩm với cuộc sống bên ngoài và với khái niệm sống của chính họ
“Một sự tiếp nhận văn học đích thực đồng nghĩa với việc làm sống dậy khách thể tinh thần của tác phẩm, biến nó thành năng lực tư duy, cảm nhận và xúc cảm của chính người tiếp nhận Chừng nào người ta chưa nhìn ra cái gì ẩn chứa bên trong cái vỏ “vật chất” của hình tượng văn học hoặc chỉ biết khai thác ở hình tượng các bằng chứng về dân tộc học, lịch sử, kinh tế học thì chừng ấy sự tiếp nhận chưa xảy
ra hoặc xảy ra ở một trình độ thấp, chưa thực sự tạo được môi trường sống trong tác phẩm” [21-16]
Tính chủ động, sáng tạo của CTVH khiến cho người đọc trong tưởng tượng của tác giả không đồng nhất, thậm chí đôi khi còn trái ngược với người đọc trong thực tế và có những phát hiện của họ đôi khi làm cho chính tác giả phải ngạc nhiên
1.1.2 Cảm thụ văn học trong dạy học Tiếng Việt
1.1.2.1 Cảm thụ văn học – Hoạt động cơ bản trong dạy học Tiếng Việt
Không chỉ dạy con người nhận thức mình mà cảm thụ văn học còn dạy con người biết yêu cuộc sống, biết tận hưởng cuộc sống và biết sống Nhờ cảm thụ văn học trẻ em có thể trải nghiệm cuộc sống qua các bài văn, bài thơ; được sống bằng cuộc sống của nhiều thế hệ, nhiều lớp người, nhiều tâm trạng Các em sẽ quan tâm hơn tới người, có nhiều hơn khả năng đánh giá con người, tế nhị, nhạy cảm hơn trong giao tiếp Các em sẽ có ý thức tự nhận thức và điều chỉnh hành vi Những hành vi đạo đức của người có ý thức về bản thân sẽ tạo nên sự hấp dẫn của vẻ đẹp đạo đức
Giờ Tập đọc thường chỉ có 1 tiết, nhưng việc phân tích nội dung bài đọc vẫn cần đạt đến trình độ làm cho học sinh hiểu ý nghĩa của hình tượng và tác phẩm, cảm thụ được vẻ đẹp của tác phẩm Chính vì thế, cảm thụ văn học trong dạy học
Trang 14Tiếng Việt là không thể thiếu, nó còn là hoạt động cơ bản và là một khâu thiết yếu không thể bỏ qua trong dạy học Tập đọc Tiếng Việt
1.1.2.2 Cảm thụ văn học với việc đổi mới dạy học trong phân môn Tập đọc
Việc đi tìm một phương hướng dạy học nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc nằm trong nhu cầu và xu thế đổi mới phương pháp dạy học ở toàn cấp học Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là: đưa các phương pháp dạy học mới vào nhà trường trên cơ sở phát huy mặt tích cực của các phương pháp truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả đào tạo của giáo dục Hiểu như vậy thì không thể chỉ nhấn mạnh đến một vài phương pháp mới, mà không kế thừa các phương pháp truyền thống, cũng không thể chỉ cải tiến các phương pháp dạy học hiện có mà không đưa các phương pháp dạy học mới vào nhà trường
Bên cạnh những phương pháp dạy học truyền thống được sử dụng nhiều năm nay là thuyết trình, giảng giải, chứng minh, vấn đáp, trực quan vài chục năm gần đây đã xuất hiện những phương pháp dạy học mới như: thảo luận, điều tra và nghiên cứu, tích hợp, hoạt động, hợp tác, tự thể hiện tài năng
Muốn đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phải đổi mới toàn diện: về nhận thức của giáo viên và cán bộ chỉ đạo, hình thức tổ chức dạy học, môi trường học tập, phương tiện dạy học và cách đánh giá giáo viên, học sinh
Đặc điểm cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học là quá trình dạy học đặc biệt chú ý đến người học, hướng vào người học, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học và cá thể hóa việc học Dạy học theo cách này sẽ phát huy được khả năng của học sinh để tìm tòi, khám phá nội dung mới của bài học; tạo điều kiện và phương tiện để các em phát hiện được các tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống; khuyến khích, phát triển được năng lực, năng khiếu, sở trường của mỗi em Cách dạy như vậy sẽ không chỉ giúp các em có những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết, mà còn xây dựng cho các em phương pháp học tập và sự ham mê học hỏi để các em có thể học tập và sáng tạo suốt đời
Đặc điểm của phương pháp dạy học nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn
Trang 15học trong dạy học phân môn Tập đọc theo hướng đổi mới nói trên cũng là đề cao vai trò chủ thể cảm thụ, sáng tạo của học sinh, chú trọng việc bồi dưỡng và phát triển năng lực, năng khiếu và bản sắc cá nhân của mỗi học sinh Với văn chương bao giờ cũng là sự sáng tạo và rung động rất riêng của mỗi người
1.1.3 Cơ sở tâm lí học trong Cảm thụ văn học ở học sinh Tiểu học
1.1.3.1 Nhận thức cảm tính
* Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác
đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
* Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết
và mang tính không ổn định: Ở đầu tuổi Tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi Tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn; tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
1.1.3.2 Nhận thức lí tính
* Tư duy
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 5 đã bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh Tiểu học
* Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn Tuy
nhiên, tưởng tượng của các e vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi Tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững
Trang 16và dễ thay đổi
Ở cuối tuổi Tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi Tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều
gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các e bằng cách biến các kiến thức “ khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các e vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lí tính
của mình một cách toàn diện
* Chú ý
Ở đầu tuổi Tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học
có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi Tiểu học, học sinh lớp 5 dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có
sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của một yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng
Trang 17và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ
* Trí nhớ
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu,
dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui
vẻ khi ghi nhớ kiến thức
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh Tiểu học, đòi hỏi ở nhà giáo dục
sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ
Trang 181.1.4 Cơ sở ngôn ngữ học và văn học
Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển
mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính
và lí tính của trẻ; nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, tryện cổ tích, báo nhi đồng, Đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí, Tất
cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng
1.2 Cơ sở thực tiễn của cảm thụ văn học
1.2.1 Vị trí, vai trò của dạy học phân môn Tập đọc ở Tiểu học
1.2.1.1 Vị trí của dạy học Tập đọc ở Tiểu học
Trong chương trình Tiếng Việt của Tiểu học, phân môn Tập đọc chiếm thời lượng chủ yếu của bậc học Nó góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học, phải đảm bảo cho học sinh có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết Muốn nói hay viết giỏi thì trước tiên phải đọc thành thạo
Tập đọc là môn học công cụ, là phương tiện quan trọng nhất, là chìa khóa cho học sinh học tốt các môn khoa học khác Dạy Tập đọc làm cho học sinh hiểu cái hay cái đẹp, cái đúng, cái tinh tế, phức tạp và đa nghĩa của từ ngữ Học Tập đọc chính là học cách nói, cách viết khoa học, chính xác nghệ thuật và trong sáng, góp
Trang 19phần phát triển tư duy, khả năng diễn đạt cho học sinh Dạy Tập đọc cho học sinh không những rèn luyện kỹ năng đọc mà còn phát triển ở các em vốn từ ngữ Tiếng Việt phong phú
Phân môn Tập đọc có một vị trí quan trọng trong môn Tiếng Việt ở Tiểu
học Việc các em học sinh sử dụng Tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp có trở thành kĩ năng, kĩ xảo hay không là nhiệm vụ của môn Tiếng Việt ở Tiểu học Bởi thế, phân môn Tập đọc đảm nhiệm một vai trò hết sức quan trọng trong việc hình
thành bốn kĩ năng nghe – nói – đọc – viết cho các em
Dạy cho học sinh cách Tập đọc hiệu quả là giúp các em phát triển tư duy ngôn ngữ, tiếp xúc với kho tàng tri thức của loài người Đây cũng chính là một phương tiện giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cho các em Vì thế, cần thiết phải nâng cao chất lượng đọc cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh khối lớp 5 nói riêng
1.2.1.2 Vai trò của việc đọc và đọc cảm thụ tác phẩm văn học
Những kinh nghiệm sống, những thành tựu văn hóa, khoa học tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây con người biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy Biết đọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác
Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ thức tỉnh
về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy những năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn Không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ mà xã hội giành cho
họ, không thể hình thành nhân cách toàn diện Đặc biệt trong thời đại thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng nguồn thông tin, đọc chính là học, học nữa, học mãi, học để tự học, học cả đời
Trang 20Vì những lẽ trên, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở Tiểu học Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập các môn học khác Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập Nó tạo diều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là một khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh
Đọc một cách có ý thức cũng có tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc Việc dạy đọc giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh Như vậy đọc có một vai trò to lớn trong việc đọc tác phẩm văn học,nó còn bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
1.2.1.3 Nhiệm vụ của dạy Tập đọc ở Tiểu học
Những điều vừa nêu ở trên khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu này - hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh
Phân môn Học vần cũng thực hiện nhiệm vụ dạy đọc nhưng mới dạy đọc ở mức sơ bộ nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã chữ - âm Việc không hiểu văn bản chỉ đặt ra ở mức độ thấp mà chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ sang đọc (đọc thầm) Như vậy, Tập đọc với tư cách là một phân môn Tiếng Việt tiếp tục những thành tựu dạy học mà học vần đạt được, nâng lên một cách đầy đủ hoàn chỉnh hơn
Tính đa nghĩa của "đọc" kéo theo tính đa nghĩa của "biết đọc", "biết đọc" được hiểu theo nhiều mức độ Một em bé mới đi học biết đánh vần "cờ - ơ - cơ" ngập ngừng đọc từng tiếng một, thế cũng đã biết đọc Chọn trong biển sách báo của nhân loại những gì mình cần, trong một ngày nắm được tinh thần của hàng chục cuốn sách cũng gọi là biết đọc Những năng lực này không phải tự nhiên mà có Nhà trường phải từng bước hình thành và trường Tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên
Trang 21Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của
"đọc": đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến các kĩ năng khác Ví dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và đọc diễn cảm được Nhiều khi khó mà nói được rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu được đúng Vì vậy, trong học tập không thể xem nhẹ yếu tố nào
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp làm việc và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Làm cho sách vở thành một sự tôn sùng ngự trị trong nhà trường đó là một trong những điều kiện để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hóa Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc phải làm cho học sinh thích thú đọc và thấy được khả năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển
Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ:
- Làm giàu thêm kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh
- Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh
1.2.2 Mục tiêu của việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh Tiểu học
* Bồi dưỡng năng lực CTVH giúp HS xác định đúng nội dung chính của tác phẩm
Trang 22Khi CTVH, việc xác định đúng và chính xác nội dung của tác phẩm là một yêu cầu thiết yếu Ngay từ buổi đầu mới đến trường, việc xác định không đúng hoặc thiếu chính xác các nội dung tình cảm, tư tưởng… trong tác phẩm có thể dẫn đến những điều không tốt trong quá trình phát triển tình cảm của các em Lí luận phê bình văn học cho ta thấy rằng, việc xác định nội dung tư tưởng – tình cảm trong tác phẩm không phải lúc nào cũng dễ dàng Tuy vậy, với tất cả những tác phẩm đã được lựa chọn, được nghiên cứu kĩ trước khi đưa vào chương trình Tiểu học thì không phải là vấn đề không thể giải quyết được
Tư tưởng, tình cảm trong tác phẩm chính là những nội dung kiến thức quan trọng trong các bài học Nếu hiếu sai hoặc hiểu chưa tới mức sâu sắc nhất (theo yêu cầu của bài học) thì việc học chưa thành công
Do vậy, bồi dưỡng CTVH cho HS Tiểu học không phải là một công việc xa
lạ mà nằm ngay trong quá trình học tập môn Tiếng Việt của các em
* Bồi dưỡng năng lực CTVH giúp HS nhận biết nhaanh nhạy và chính xác các tín hiệu nghệ thuật trong tác phẩm
Bồi dưỡng năng lực CTVH còn định hướng tới việc khám phá nghệ thuật của tác phẩm Đó là việc hưỡng dẫn HS từng bước nhận diện, làm quen, hiểu biết và sáng tạo được các sản phẩm thẩm mĩ… Với tác phẩm văn chương bao giờ cũng có những tín hiệu đặc biệt, vốn là nơi tập trung những cảm xúc, suy nghĩ của nhà văn Nói rộng hơn, tín hiệu thẩm mĩ là tình cảm, tư tưởng của nhà văn, được thăng hoa một cách kì diệu, tạo nên vẻ đẹp độc đáo, luôn tồn tại và khắc sâu tâm hồn bạn đọc
Việc giúp HS nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu nghệ thuật đó của tác phẩm là một trong những mục đích quan trọng nhất của việc bồi dưỡng năng lực CTVH Bằng những cách thức và phương pháp nào đó, GV phải giúp HS phát hiện được những câu, những từ ngữ, hình ảnh, nhân vật… gây ấn tượng và cảm xúc mạnh nhất
* Bồi dưỡng năng lực CTVH giúp HS hình thành một số kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Thế nào là kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật
Trang 23của tác phẩm ? Ta biết rằng, do đặc điểm tâm lí lứa tuổi của HS, nhà trường tiểu học không yêu cầu các em phải phân tích, đánh giá tác phẩm văn chương Tuy nhiên, những thao tác phân tích, đánh giá đó cần phải được giới thiệu từng bước, giúp các em làm quen để tạo tiền đề cho các cấp học tiếp theo Trong chương trình Tiểu học, việc hình thành những kĩ năng sơ giản đó được lồng ghép trong hệ thống câu hỏi và bài tập Trong đó, yêu cầu HS tìm các khía cạnh của nội dung và hình thức, nêu ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh giàu tính nghệ thuật, khái quát các ý nhỏ thành ý lớn hơn Đó thực chất là những bước đi ban đầu của thao tác phân tích, tổng hợp, đánh giá đối với nội dung, nghệ thuật tác phẩm
1.2.3 Dạy đọc - hiểu là nhân tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực cảm thụ văn học
Để HS cảm thụ được các tác phẩm nghệ thuật thể hiện bằng văn bản thì trước hết phải giúp HS đọc và hiểu được văn bản
Để HS cảm thụ được tác phẩm nghệ thuật thể hiện bằng văn bản thì trước hết phải giúp HS đọc và hiểu được văn bản
Đọc trước hết đòi hỏi người đọc phải hiểu được ngôn từ, chữ nghĩa, biện pháp nghệ thuật, cảm nhận được các chi tiết, tình tiết trong tác phẩm, nhận ra được các nhân vật và tính cách trong sự toàn vẹn của hình tượng nghệ thuật Thứ hai là người đọc tiếp xúc được với ý đồ sáng tạo của tác giả, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng và tình cảm tác giả Thứ ba là liên hệ hình tượng với các văn cảnh đời sống và kinh nghiệm cá nhân để thể nghiệm, đánh giá ý nghĩa lớn, nhỏ, sâu, nông của tác phẩm Cuối cùng, liên hệ tác phẩm với truyền thống văn học, bối ảnh văn hóa để đánh giá vị trí tác phẩm trong đời sống nghệ thuật Điều này đòi hỏi phải có trình độ cao Tùy trình độ và điều kiện mà người đọc vươn tới các mức độ tiếp nhận
Đọc văn bản nghệ thuật, HS không chỉ hiểu nội dung văn bản mà còn phải cảm thụ được một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu Dạy HS đọc – hiểu văn bản nghệ thuật gồm việc làm cho HS nắm được nội dung văn bản, mục tiêu của văn bản, đồng thời dạy cho HS cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, hình
Trang 24tượng văn chương làm nên nội dung văn bản
Đọc – hiểu và đọc diễn cảm là hai kĩ năng quan trọng nhất trong Tập đọc Trong dạy học Tập đọc, cần quan tâm và tạo mọi điều kiện để tất cả HS trong lớp
để tất cả HS trong lớp đều rèn được kĩ năng đọc – hiểu Kĩ năng này được thể hiện lần lượt từ dễ đến khó, bao gồm: giải nghĩa từ, đọc chú thích, trả lời các câu hỏi tìm hiểu nội dung của bài, từ ý của đoạn đến ý của bài, trả lời câu hỏi phát hiện các biện pháp nghệ thuật, đặc điểm ngôn từ, hoặc tìm các câu, các ý hay nhất, các hình ảnh đẹp nhất
Phân môn Tập đọc bằng cách đó đã đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, phát triển tư duy và nhân cách HS Khi dạy Tập đọc, không nên biến giờ học này thành giờ giảng văn vì con đường CTVH của HS sẽ phụ thuộc vào GV mà mất đi tính chủ động, sáng tạo của các em
Kết luận chương 1
Tập đọc là môn học có vị trí đặc biệt quan trọng trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học Tuy cũng là một phân môn trong môn Tiếng Việt nhưng so với các lớp khác Tập đọc lớp 5 có những điểm khác về yêu cầu, mức độ, đặc biệt là về nội dung và phương pháp giảng dạy Vì vậy, để nâng cao năng lực cảm thụ cho học sinh trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5 giáo viên cần nắm rõ được tính chất
và nhiệm vụ của phân môn Tập đọc để vận dụng vào môn học cho đúng đặc trưng của môn học Đồng thời sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học từ đó nâng cao hiệu quả trong mỗi giờ dạy Tập đọc nói chung và nâng cao năng lực cảm thụ văn
học cho học sinh khối lớp 5 nói riêng
Trang 25CHƯƠNG 2:
BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 5
2.1 Khái quát về trường Tiểu học Lê Đồng
2.1.1 Giới thiệu về nhà trường
Triển khai làm đề tài này chúng tôi đã tiến hành điều tra tình hình sử dụng một số biện pháp dạy học của giáo viên, khả năng đọc và cảm thụ tác phẩm văn học của học sinh lớp 5 tại cơ sở trường Tiểu học Lê Đồng - thị xã Phú Thọ để nghiên cứu, nhằm đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc cho học sinh khối lớp 5 trường Tiểu học
Trường Tiểu học Lê Đồng được thành lập từ năm 1992, nằm trên địa bàn phường Âu Cơ thị xã Phú Thọ Là một trong những trường dẫn đầu của thị xã về chất lượng đào tạo Trường gồm 25 giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy; Toàn trường có 622 học sinh được chia thành 18 lớp, trong đó khối 1, 2, 3 mỗi khối gồm
4 lớp, riêng khối 4, 5 mỗi khối gồm 3 lớp Trong những năm gần đây trường đạt được những thành tích khá cao trong phong trào dạy và học
Trường có đội ngũ cán bộ và đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, có lòng nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp, có chuyên môn vững vàng Là một trong những trường nhận được sự quan tâm của chính quyền các cấp, của phụ huynh học sinh Chính vì vậy mà chất lượng dạy và học của nhà trường càng là vấn đề đáng được chú ý, quan tâm nhiều hơn
Tuy nhiên, trường còn gặp một số khó khăn nhất định ngoài những khó khăn
về cơ sở vật chất còn một số khó khăn trong quá trình dạy và học đặc biệt là trong giảng dạy phân môn Tập đọc tiếng Việt cho học sinh lớp 5 Nhiều học sinh còn chưa có tư duy cảm thụ văn học Chính vì vậy mà áp lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạy Tập đọc là rất lớn Vấn đề đặt ra là giáo viên phải biết vận dụng một số phương pháp dạy học nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn học trong dạy
Trang 26học phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung
từ đó nâng cao hiệu quả chất lượng đào tạo
2.1.2 Khái quát về hoạt động dạy học
Những năm gần đây, do càng ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, các cấp quản lí giáo dục đã liên tục phát động phong trào cải tiến phương pháp dạy học Các buổi hội thảo chuyên đề, các cuộc triển lãm đồ dùng dạy học, các buổi thao giảng đã được
tổ chức, động viên được sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo giáo viên Tiểu học
và thu hút được sự tham gia của nhiều cán bộ nghiên cứu giáo dục, cán bộ giảng dạy các trường sư phạm Qua đó, các phương pháp giảng dạy truyền thống như giảng giải, đàm thoại, trực quan, thực hành, ôn luyện được cải tiến, vận dụng theo hướng phát huy tính tích cực của người học Nhiều nơi đã sắp xếp lại tổ chức theo hướng phân hóa trình độ học sinh, làm cho việc giảng dạy sát đối tượng hơn, phát huy được khả năng của học sinh giỏi mà không ảnh hưởng đến trình độ lĩnh hội của học sinh trung bình, yếu, kém Cơ sở vật chất của nhà trường được sửa sang Đời sống giáo viên từng bước được cải thiện, trong đó những giáo viên giỏi được ưu tiên, khuyến khích Những cố gắng đó đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học
Tuy nhiên, những điều đó vẫn chưa vượt khỏi quỹ đạo của phương pháp dạy học truyền thống đã hình thành hàng trăm năm trước là hướng vào hoạt động của người dạy, tạo ra sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Cụ thể:
Giáo viên giảng dạy kiến thức đã được ổn định trong chương trình và sách giáo khoa chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải; còn học sinh thì thụ động tiếp thu kiến thức Đôi khi thầy có đàm thoại hay dùng đồ dùng trực quan thì cũng chỉ nhằm cho trò hiểu được, nhớ được lời thầy giảng để làm được bài tập thầy ra
Giáo viên và học sinh dều phụ thuộc vào chương trình và tài liệu học có sẵn được thiết kế thiên về lí thuyết theo một hệ thống chặt chẽ, chung cho mọi học
Trang 27sinh, chung cho mọi hoàn cảnh Hoạt động của thầy và trò giới hạn trong bốn bức tường, lấy bàn giáo viên và bảng đen làm trọng tâm thu hút sự chú ý của mọi học sinh
Giáo viên là người duy nhất có quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh Học sinh ít có khả năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
Mọi giá trị truyền thống được chấp nhận Mọi điều ghi trong sách là chân lí Còn thầy là người hiểu biết mọi lĩnh vực, nói và làm đều đúng, là đỉnh cao không thể vượt qua Tiêu chuẩn để đánh giá trò là ghi nhớ, tái hiện đúng những điều thầy giảng theo sách giáo khoa
Hạn chế của cách dạy này là:
- Học sinh học tập thụ động, tư duy không được vận hành để chủ động nắm lấy tri thức nên tri thức tiếp thu được không vững Tính thụ động lâu dần thành thói quen sẽ hạn chế trình độ phát triển tư duy, phát triển nhận thức
- Học sinh không được chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập và sáng tạo, khó thích ứng với yêu cầu học tập cao hơn ở các lớp trên, càng khó thích ứng hơn với muôn màu muôn vẻ của cuộc sống sau này
- Năng lực cá nhân của học sinh không có điều kiện bộc lộ và phát triển nên hứng thú học tập bị giảm sút, những thói hư, tật xấu dễ phát sinh
Vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết:
Cho đến nay, nhiều người vẫn coi học sinh Tiểu học là đối tượng chỉ nói theo, nghe theo, làm theo khuôn mẫu có sẵn Quan niệm như vậy có lẽ cũng là một trong những nguyên nhân làm cho mọi hoạt động giáo dục ở cấp học này càng chú
ý tập trung vào hoạt động dạy của giáo viên Mọi cải tiến cũng chỉ nhằm cho hoạt động dạy và tích cực hóa sự tiếp nhận thông tin có sẵn của học sinh Hoạt động học của học sinh chưa được coi trọng đúng mức, đặc biệt chưa quan tâm, đúng mức đến
sự phát triển của từng cá nhân học sinh
Vì vậy, trường Tiểu học cần rèn cho học sinh tính năng động, sáng tạo bằng cách sớm chuyển sang dạy học theo hướng tích cực hóa người học, cá thể hóa dạy học, làm cho học sinh có được những phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng nhu
Trang 28cầu của công cuộc đổi mới sâu sắc đang diễn ra trên đất nước ta - Một sự nghiệp cần có những người có năng lực, có bản lĩnh, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thích ứng được với đời sống xã hội đang từng ngày từng giờ thay đổi Điều đó cũng phù hợp với xu thế giáo dục của khu vực và thế giới là dạy học phát huy năng lực, sở trường của người học, làm cho người học linh hoạt và sáng tạo tiếp thu tri thức, tạo tiền đề cho Việt Nam hòa nhập vào cộng đồng quốc tế
2.1.3 Tình hình dạy học phân môn Tập đọc ở trường Tiểu học Lê Đồng
Trong quá trình dạy phân môn Tập đọc, việc vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học mới của nhiều giáo viên còn phần nào hạn chế Có nhiều giáo viên còn chú ý tập trung cho việc dạy đúng quy trình một tiết Tập đọc, tìm hiểu nội dung bài đọc và luyện đọc theo đúng quy trình Cụ thể giáo viên chủ yếu dựa vào các câu hỏi của sách giáo khoa để vấn đáp học sinh, chưa phát huy được tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh Giáo viên truyền thụ một cách máy móc, còn học sinh thì tiếp nhận tri thức một cách thụ động, mà vấn đề cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phát huy sức sáng tạo của giáo viên và khơi dậy mọi tiềm năng vốn có của học sinh Như vậy việc nâng cao kiến thức và khả năng cảm thụ văn học cho học sinh chưa được giáo viên chú trọng
Dạy Tập đọc lớp 5 - có một điều mà bất cứ giáo viên nào khi giảng dạy cũng phải thừa nhận rằng: Năng lực đọc của học sinh còn rất hạn chế Đặc biệt là năng lực cảm thụ văn học Đa số các em chưa thể cảm nhận và phát hiện những cái hay, cái độc đáo của bài văn, bài thơ Thiết nghĩ đây là một vấn đề hết sức quan trọng giúp học sinh có năng lực viết văn, trau dồi vốn ngôn ngữ để giao tiếp và hơn thế nữa là giáo dục tâm hồn trong sáng cho các em Song thực tế dạy học cho thấy vấn
đề này còn nhiều hạn chế từ cả hai phía: người học và người dạy
Xuất phát từ tình hình thực tế học sinh và yêu cầu về giáo dục toàn diện, chuẩn bị tiền đề cơ bản để học sinh Tiểu học tiếp tục tham gia học các lớp trên Thì việc tìm ra các giải pháp nhằm giải quyết các vướng mắc trên là điều hết sức cần thiết
Trang 292.1.4 Đánh giá chung về cảm thụ văn học ở lớp 5
2.1.4.1 Năng lực cảm thụ văn học của giáo viên
Để nắm bắt tình hình nhận thức của GV đối với việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho HS lớp 5, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát, phỏng vấn 25 GV của trường Tiểu học Lê Đồng – Thị xã Phú Thọ bằng phiếu điều tra nhận thức của
GV về dạy bồi dưỡng năng lực CTVH cho HS (Phụ lục 1).Bước đầu chúng tôi thu được kết quả như sau:
* Thực trạng nhận thức của giáo viên về cảm thụ văn học
Bảng số liệu 1 : Nhận thức của giáo viên về cảm thụ văn học
Stt Nhận thức của giáo viên về
Tỉ lệ (%)
SL (gv)
Tỉ lệ (%)
SL (gv)
Tỉ lệ (%)
SL (gv)
Tỉ lệ (%)
1 Tự đánh giá mức độ hiểu biết
3 Nắm được đặc trưng của hoạt
động CTVH lứa tuổi tiểu học
4 Nắm được mục đích, nội
dung, phương pháp cơ bản
trong việc bồi dưỡng năng lực
có đến 12% giáo viên tự đánh giá ở mức độ hiểu biết yếu
Trang 30Tìm hiểu trình độ nhận thức của giáo viên về CTVH trong phạm vi sâu hơn, chi tiết hơn chúng tôi nhận thấy:
- Số giáo viên nắm đầy đủ những đặc điểm cơ bản của hoạt động CTVH là rất ít, chỉ có 12% giáo viên nắm được ở mức độ tốt nhưng lại có đến 40% giáo viên nắm được ở mức độ trung bình, mức độ khá chỉ có 24% số giáo viên nắm được, còn lại 24% giáo viên ở mức độ trung bình
- Cũng như thế, số lượng giáo viên nắm được những đặc trưng của hoạt động CTVH ở mức độ tốt chiếm tỉ lệ không cao chỉ chiếm 20%, phần đa là ở mức độ trung bình 32%, yếu là 20%, số giáo viên nắm được các đặc trưng của hoạt động CTVH ở mức độ khá là 28%
- Số giáo viên nắm được mục đích, nội dung, các phương pháp cơ bản trong việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh tiểu học mức độ tốt là thấp chỉ có 12%, cao nhất là ở mức độ trung bình 36% và mức độ yếu là 32%, mức độ khá cũng chỉ đạt ở mức 20%
- Số giáo viên nắm được các tiêu chí đánh giá năng lực CTVH của học sinh ở mức
độ trung bình là cao nhất lên tới 40%, sau đó là mức độ khá lên tới 32%, mức độ tốt đạt 20%, và mức độ yếu chỉ là 8%
Nhìn vào kết quả bảng điều tra mức độ nhận thức của giáo viên về cảm thụ văn học, chúng ta thấy trình độ nhận thức của giáo viên không đồng đều, phần lớn giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ trung bình và ở mức yếu, số giáo viên hiểu biết ở mức độ khá và tốt còn rất hạn chế Khi tìm hiểu về nguyên nhân vấn đề này chúng tôi nhận thấy xuất phát từ nhiều yếu tố Xuất phát từ trình độ giáo viên không dồng đều, đội ngũ được đào tạo ở nhiều trình độ khác nhau như: Trung cấp, Cao đẳng, Đại học… và được đào tạo với nhiều hình thức khác nhau: chính quy, tại chức, chuyên tu, từ xa… Còn có những yếu tố ảnh hưởng đến là do thiếu tài liệu tham khảo, thiếu thời gian để nghiên cứu, do năng lực của bản thân có hạn… Nhưng theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản là do giáo viên chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh Khi tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi thu được kết quả: 21.4% giáo viên cho rằng CTVH không ảnh hưởng đến
Trang 31quá trình dạy học Tiếng Việt nên không cần thiết, 50% giáo viên cho rằng ít ảnh hưởng, chỉ có 28.6% giáo viên cho rằng rất ảnh hưởng và việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh là điều cần thiết
* Khả năng của giáo viên trong việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 5
Kết quả điều tra của chúng tôi thể hiện qua bảng sau:
Bảng số liệu 2: Đánh giá khả năng của giáo viên trong việc bồi dưỡng năng lực
Tỉ lệ (%)
Số làm chưa đúng
Tỉ lệ (%)
1 Khả năng CTVH của GV thông qua
một đoạn văn, đoạn thơ, câu
chuyện…
2 Khả năng phát hiện những chi tiết đặc
sắc về nội dung và các biện pháp nghệ
thuật trong văn bản
3 Khả năng tổ chức dạy lồng ghép các
kiến thức CTVH cho học sinh thông
qua các phân môn Tập đọc, kể
chuyện, tập làm văn
4 Khả năng thiết kế được các bài tập
nhằm giúp học sinh nâng cao năng lực
CTVH
Kết quả điều tra cho chúng ta thấy:
Phần lớn khả năng CTVH của giáo viên còn nhiều hạn chế, giáo viên không trả lời được mục đích tác giả viết bài này, câu chuyện này để làm gì? Một số giáo viên có hiểu nhưng diễn đạt không rõ Số giáo viên phân tích cách đọc thơ mắc lỗi sai cũng không phải là ít, mà đọc sai thì sẽ hiểu sai dẫn đến sẽ cảm thụ không đúng Chỉ có 10/25 giáo viên chiếm 40% làm đúng yêu cầu còn lại 60% là trả lời chưa
Trang 32đúng
Tương tự như vậy, 52% giáo viên có khả năng phát hiện những chi tiết đặc sắc
về nội dung và các biện pháp nghệ thuật trong văn bản, còn lại 48% là chưa có khả năng phát hiện ra vấn đề này
Khả năng tổ chức dạy lồng ghép các kiến thức CTVH cho học sinh thông qua các phân môn có 16/25 giáo viên thực hiện được, chiếm 64% nhưng hiệu quả của việc làm để nâng cao năng lực CTVH cho học sinh thì giáo viên chưa thật thỏa mãn, còn nhiều băn khoăn
Khả năng thiết kế được các bài tập nhằm giúp học sinh nâng cao năng lực CTVH còn thấp, chỉ có 11/25 giáo viên thực hiện được chiếm 44%; có tới 56% giáo viên chưa thực hiện được
Qua phỏng vấn, trò chuyện với giáo viên, chúng tôi biết được rằng: Đa số giáo viên đều khẳng định CTVH là một vấn đề khó mà dạy học sinh CTVH thì lại càng khó hơn, bởi giáo viên có cảm thụ được thì mới giúp học sinh cảm thụ được Hơn nữa CTVH ở Tiểu học không có môn học riêng, tiết học riêng mà phải dạy lồng ghép vào các phân môn của môn Tiếng Việt Để đánh giá hiệu quả của việc CTVH thì giáo viên thấy cũng còn đang là vấn đề trừu tượng, chưa cụ thể Khi học ở trường sư phạm thì cũng không có môn riêng và cũng chưa được quan tâm chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng CTVH…
Tất cả những ý kiến trên, theo chúng tôi nguyên nhân chủ yếu là do một mặt chỉ số ít giáo viên được trang bị kiến thức CTVH Mặt khác, vì mặc cảm là vấn đề khó đồng thời quỹ thời gian không nhiều để có thể tìm hiểu nghiên cứu, tài liệu tham khảo chưa có nên dẫn đến giáo viên ít quan tâm, ngại dạy CTVH Cho nên kết quả dạy CTVH chưa được như mong muốn là điều dễ hiểu
Tóm lại, qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy kết quả dạy học CTVH trong những năm vừa qua chưa đạt yêu cầu, nguyên nhân chính là do đội ngũ giáo viên Nhiều giáo viên khi đứng trước một văn bản nghệ thuật đã không hiểu đúng những điều được đọc từ cấp độ từ, câu, đoạn và cả nội dung, đích thông báo của toàn văn bản; năng lực cảm nhận văn chương còn hạn chế, không nắm được đặc trưng của
Trang 33văn bản nghệ thuật, không phát hiện được những giá trị về nội dung, nghệ thuật của văn bản thì chất lượng của việc rèn kĩ năng CTVH nhằm bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh là điều đương nhiên
2.1.4.2 Năng lực cảm thụ văn học ở học sinh
Để khảo sát toàn diện hơn về vấn đề nhận thức và thực hành CTVH của HS lớp 5, chúng tôi đã tiến hành điều tra và phỏng vấn 104 HS lớp 5 (lớp 5A, 5B, 5C) trường tiểu học Lê Đồng Khi điều tra về vấn đề này chúng tối nhận thấy trong quá trình CTVH thông qua phân môn Tập đọc các em gặp rất nhiều khó khăn Hầu hết các em không nắm được bản chất của hoạt động CTVH là làm cái gì, các em không nắm được các kĩ năng cần thiết để cảm thụ được một văn bản nghệ thuật
Qua thực tế khảo sát (thông qua phiếu điều tra ở phụ lục 2) tại trường tiểu học Lê Đồng chúng tôi đã tổng kết thực trạng năng lực cảm thụ văn học của học sinh lớp 5 như sau:
Bảng số liệu 3: Khảo sát chất lượng đọc và năng lực CTVH của học sinh
trước khi dạy thực nghiệm
Stt Mức độ
SL (Hs)
Tỷ lệ (%)
SL (Hs)
Tỷ lệ (%)
SL (Hs)
Tỷ lệ (%)
SL (Hs)
Tỷ lệ (%)
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
Đọc đúng, đọc trôi chảy, lưu loát: tỉ lệ học sinh đọc giỏi chiếm 14.3%; tỉ lệ
học sinh đọc khá chiếm 22.9%; tỉ lệ học sinh đọc trung bình chiếm 34.2%; tỉ lệ học sinh đọc yếu chiếm 28.6% Như vậy ta thấy rằng tỉ lệ học sinh giỏi đọc đúng, đọc trôi chảy, lưu loát vẫn còn thấp chỉ mới đạt tới mức 14.3% và học sinh đọc trung bình là cao nhất lên tới 34.2%, so sánh với tỉ lệ học sinh đọc giỏi thì tỉ lệ học sinh
Trang 34đọc trung bình cao hơn tới 19.9% cao gấp 2.3 lần tỉ lệ học sinh đọc giỏi
Đọc diễn cảm: tỉ lệ học sinh đọc giỏi chiếm 5.7%; tỉ lệ học sinh đọc khá
chiếm 17.2%; tỉ lệ học sinh đọc trung bình chiếm 34.2%; tỉ lệ học sinh đọc yếu chiếm 42.9% Như vậy ta thấy rằng tỉ lệ học sinh giỏi đọc diễn cảm vẫn còn rất thấp chỉ đạt mức 5.7% và học sinh đọc yếu là cao nhất lên tới 42.9% So sánh với tỉ
lệ học sinh đọc giỏi thì tỉ lệ học sinh đọc yếu cao hơn rất nhiều, cao gấp 7.5 lần tỉ lệ học sinh đọc giỏi Điều này rất đáng lo ngại và giáo viên cần phải chú ý nâng cao khả năng đọc diễn cảm cho học sinh ngay từ những bước đầu của bậc Tiểu học
Đọc - hiểu: tỉ lệ học sinh đọc giỏi chiếm 11.4%; tỉ lệ học sinh đọc khá chiếm
14.4%; tỉ lệ học sinh đọc trung bình chiếm 40%; tỉ lệ học sinh đọc yếu chiếm 34.2% Như vậy ta thấy rằng tỉ lệ học sinh giỏi đọc hiểu được vẫn còn thấp chỉ đạt mức 11.4 % và học sinh đọc trung bình là rất cao lên tới 40% So sánh với tỉ lệ học sinh đọc giỏi thì tỉ lệ học sinh đọc trung bình cao hơn 29.6% cao gấp 3.5 lần tỉ lệ học sinh đọc giỏi Nếu học sinh chỉ đọc mà không hiểu được tác phẩm, không hiểu lời của tác giả muốn nói thì sau khi học qua tác phẩm điều đọng lại được ở học sinh chỉ là con số 0 Bởi vậy giáo viên cần phải rèn cho học sinh kĩ năng đọc hiểu tác phẩm thông qua các biện pháp dạy học phù hợp
Khả năng CTVH: tỉ lệ học sinh giỏi chiếm 8.5%; tỉ lệ học sinh khá chiếm
14.4%; tỉ lệ học sinh trung bình chiếm 34.2%; tỉ lệ học sinh yếu chiếm 42.9% Như vậy ta thấy rằng tỉ lệ học sinh giỏi có khả năng CTVH còn khá thấp chỉ mới đạt ở mức 8.5% và học sinh yếu là cao nhất lên tới 42.9%, so sánh với tỉ lệ học sinh giỏi với học sinh yếu thì tỉ lệ học sinh yếu cao hơn tỉ lệ học sinh giỏi lên tới 34.4%, cao gấp 5 lần tỉ lệ học sinh giỏi Điều này chứng tỏ khả năng áp dụng các kĩ năng đọc của học sinh vào CTVH còn yếu kém và nhiều hạn chế
Qua tìm hiểu thực tế tôi nhận thấy đây không chỉ là thực trạng của lớp 5A trường tiểu học Lê Đồng mà có lẽ là thực trạng chung của học sinh Tiểu học hiện nay Chính vì thế cần phải có những giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cho học sinh
2.2 Giới thiệu chương trình Tiếng Việt - Tập đọc ở lớp 5
Trang 35Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 được đưa vào giảng dạy chính thức từ năm học 2006 – 2007 Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập 1 được dạy trong 17 tuần, trừ 2 tuần ôn tập, kiểm tra, mỗi tuần có 2 bài tập đọc, tất cả có 30 bài Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập hai được dạy từ tuần 18, trừ 3 tuần ôn tập và kiểm tra, mỗi tuần cũng có 2 bài tập đọc, tất cả có 30 bài, phân bố đan xen cùng với các phân
môn khác theo 10 chủ điểm cụ thể như sau:
1 Việt Nam Tổ quốc em Thư gửi các em học sinh
Quang cảnh làng mạc ngày mùa
3 Việt Nam Tổ quốc em Lòng dân
Lòng dân ( tiếp theo)
24
29 4.Cánh chim hòa bình Những con sếu bằng giấy
7 Con người với thiên nhiên Những người bạn tốt
Tiếng đàn ba – la – lai – ca trên sông Đà
Trang 36Tiếng vọng 108
12 Giữ lấy màu xanh Mùa thảo quả
Hành trình của bầy ong
15 Vì hạnh phúc con người Buôn Chư Lênh đón cô giáo
Về ngôi nhà đang xây
144
148
16 Vì hạnh phúc con người Thầy thuốc như mẹ hiền
Thầy cúng đi bệnh viện
153
158
17 Vì hạnh phúc con người Ngu Công xã Trịnh Tường
Ca dao về lao động sản xuất
164
168
18 Ôn tập cuối học kì I
19 Người công dân Người công dân số Một
Người công dân số Một (tiếp theo)
4
10
20 Người công dân Thái sư Trần Thủ Độ
Nhà tài trợ đặc biệt của cách mạng
15
20
21 Người công dân Trí dũng song toàn
Tiếng rao đêm
Trang 3726 Nhớ nguồn Nghĩa thầy trò
Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân
30 Nam và nữ Thuần phục sư tử
Tà áo dài Việt Nam
Câu hỏi, bài tập sau các bài Tập đọc trong cả chương trình lớp 5 là 244 câu có
Trang 38thể chia làm 4 loại cơ bản đó là:
Loại thứ nhất: Nhắc lại nội dung miêu tả, nội dung thông tin của văn bản, loại này chiếm gần 73% trong toàn bộ hệ thống câu hỏi
Ví dụ: “ Hình ảnh Trái đất có gì đẹp? (Bài ca về trái đất –TV5 – T1- Tr41);
“Những chi tiết nào trong bài thơ gợi lên hình ảnh một đêm trăng vừa tĩnh mịch, vừa sinh động trên công trường sông Đà?” (Tiếng đàn ba- la- lai- ca trên sông Đà
Loại thứ ba: Nhận biết các chi tiết nghệ thuật (dùng từ, sử dụng các biện pháp
tu từ…) thể hiện sự sáng tạo độc đáo khác thường của tác giả Loại này chiếm khoảng 4% trong toàn bộ hệ thống bài tập
Ví dụ: “Vì sao tác giả gọi hạt gạo là “Hạt vàng” ?” (Hạt gạo làng ta – TV5 – T1 – Tr139); “ Phép nhân hóa ở khổ thơ cuối giúp tác giả nói lên điều gì về “tấm
lòng” của cửa sông đối với cội nguồn ?” (Cửa sông –TV5 – T2 – Tr74)
Loại thứ tư: Yêu cầu học sinh nêu mục đích tác động của tác giả gửi gắm vào văn bản và yêu cầu hồi đáp văn bản Loại này chiếm gần 8% trong toàn bộ hệ thống bài tập
Ví dụ: “Đặt hình ảnh người chiến sĩ đi tuần bên hình ảnh giấc ngủ yên bình
của học sinh, tác giả bài thơ muốn nói lên điều gì ?” (Chú đi tuần – TV5 –T2 –
Tr51); “Em có suy nghĩ gì về cách đối xử của nhóm thủy thủ và của đàn cá heo đối
với nghệ sĩ A- ri- ôn ?” (Những người bạn tốt – TV5 – T1 – Tr64)
Như vậy, qua việc thống kê và sắp xếp các bài tập dành cho phần Tập đọc trong sách giáo khoa TV5 chúng tôi nhận thấy như sau: Để bồi dưỡng nâng cao năng lực CTVH cho học sinh thì trước hết phải giúp học sinh đọc – hiểu văn bản, đọc diễn cảm văn bản và làm các bài tập về rèn kĩ năng CTVH
Trang 39Để việc đọc – hiểu có hiệu quả thì phải giúp học sinh đọc và nắm được nghĩa của các từ chìa khóa, ý của các câu đặc biệt, ý của từng đoạn, từng khổ thơ và đại ý của toàn bài Nhưng nghiên cứu hệ thống câu hỏi, bài tập sau mỗi bài Tập đọc giúp học sinh thực hiện các công việc đó thì chưa đáp ứng được Cụ thể là chưa có hệ thống câu hỏi cho từng yêu cầu cụ thể, một số câu hỏi đưa ra còn mang tính chất chung chung, một số câu hỏi tự luận quá khó với học sinh, trong khi đó lại chưa đưa ra các phương án trả lời giúp học sinh lựa chọn theo hình thức trắc nghiệm khách quan Điều đó chứng tỏ sách giáo khoa chưa thực sự coi trọng việc giúp học sinh khai thác bài để hiểu sâu, hiểu kĩ nội dung bài đọc Mà chúng ta đã biết, việc thực hành bài tập có vị trí rất quan trọng trong việc hiểu văn bản của học sinh, đặc biệt là văn bản nghệ thuật
Theo quy trình của tiết dạy Tập đọc thì đều có bước yêu cầu học sinh đọc diễn cảm Bước này được thực hiện sau khi đọc hiểu Nhưng trong thực tế giảng dạy thì lại không có câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh cách đọc bài này như thế nào? Tại sao phải đọc như thế? Khi đọc cần nhấn mạnh từ ngữ nào? Tốc độ đọc nhanh, chậm như thế nào? Thái độ khi đọc ra sao? Hay hệ thống câu hỏi, bài tập rèn kĩ năng cảm thụ bài đọc về giá rị nội dung, giá trị nghệ thuật một cách sâu sắc, ý nghĩa của bài đọc đi vào cuộc sống như thế nào? thì chưa được quan tâm đúng mực Những nội dung trên chưa được thể hiện trong sách giáo khoa TV5, trong vở bài tập TV cũng không có Với những lí do trên, chúng tôi thiết nghĩ rằng việc xây dựng một hệ thống bài tập giúp học sinh đọc - hiểu, đọc diễn cảm và CTVH cho học sinh lớp 5 trong giờ Tập đọc là hết sức cần thiết, nhằm giúp giáo viên và học sinh có những hoạt động cụ thể, chi tiết nâng cao chất lượng của giờ Tập đọc góp phần bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh
2.3 Biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 trong dạy học phân môn Tập đọc
Để một giờ dạy Tập đọc thành công, điều quan trọng là người giáo viên phải
có phương pháp dạy học tích cực, truyền thụ kiến thức bằng phương pháp gợi mở, dẫn dắt toàn thể học sinh tham gia hoạt động học tập Làm thế nào để các em vận
Trang 40dụng một cách độc lập, sáng tạo những điều tiếp thu được ở những bài Tập đọc vào cách viết văn và ứng xử trong cuộc sống thường nhật Dạy được học sinh điều đó là
đã tạo cho các em năng lực cảm thụ nghệ thuật, giúp các em nói được tiếng nói riêng trong cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm về tác phẩm Để đạt được những yêu cầu trên chúng tôi đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp như sau:
2.3.1 Bồi dưỡng thường xuyên tri thức Tiếng Việt, văn học cho học sinh
Ngay từ những buổi học đầu tiên của phân môn Tập đọc, giáo viên phải giúp học sinh hiểu rõ được CTVH là một phần rất quan trọng của phân môn Tập đọc, là cái đích và cũng là một yêu cầu của phân môn Tập đọc nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung Để đánh giá kết quả của một bài dạy Tập đọc chúng ta thường xem xét ở nhiều khía cạnh, xong điều dễ nhận thấy nhất đó là mức độ hiểu, nắm bắt của học sinh về giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của bài Tập đọc và cách thể hiện sự hiểu biết đó qua việc học sinh đọc diễn cảm bài Tập đọc, cao hơn nữa là khả năng trình bày sự hiểu biết đó bằng ngôn ngữ nói và viết của học sinh
Giúp học sinh hiểu được CTVH là một quá trình nhận thức cái đẹp chứa trong thế giới ngôn từ, cảm thụ kiến thức văn chương là quá trình tiếp nhận, hiểu và cảm được tính hình tượng của văn chương, đặc trưng phản ánh nghệ thuật của văn chương
Năng lực CTVH là khả năng phát hiện được những tín hiệu nghệ thuật và đánh giá được chúng trong việc biểu đạt nội dung CTVH là cảm nhận được những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn chương thể hiện trong văn bản được đọc đồng thời là sự thể hiện thái độ, chia sẻ của người đọc với những
gì đã đọc Ở đây, chúng ta không yêu cầu học sinh phải tìm ra khái niệm và học thuộc từng khái niệm, mà thông qua các thao tác, các việc làm của giáo viên và học sinh như khi chúng ta giới thiệu bài đưa học sinh vào nội dung bài đọc, đọc mẫu cho học sinh nghe, giúp học sinh hiểu và cảm thụ một số hình ảnh đặc sắc, một số biện pháp tu từ trong bài… Hay khi học sinh làm việc trong nhóm: nghe bạn đọc rồi lại đọc cho bạn nghe, cùng bạn trao đổi về nghĩa của một số từ mới trong bài hay cùng các bạn tìm hiểu cách đọc, ý chính của đoạn, đại ý của bài… để học sinh