Nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính phục vụ việc ra quyết định tại công ty, được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các chị trong phòng Kế toán và cán bộ công nhân viên củ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ THANH THANH
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH PHỤC VỤ RA QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH – TRƯỜNG HỢP CÔNG TY TNHH
DỊCH VỤ ERP - FPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2012
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ THANH THANH
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH PHỤC VỤ RA QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH – TRƯỜNG HỢP CÔNG TY TNHH
DỊCH VỤ ERP - FPT
Chuyên ngành: Tài chính và ngân hàng
Mã số : 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG VĂN HẢI
Hà Nội – 2012
Trang 3Mục lục
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iv
Mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp mới của luận văn 5
7 Bố cục của luận văn 5
Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về phân tích tài chính và phân tích tài chính cho việc ra quyết định trong doanh nghiệp 6
1.1 Phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.1.1 Tài chính doanh nghiệp 6
1.1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp 7
1.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính 9
1.1.4 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính 9
1.1.5 Các bước tiến hành phân tích tài chính 13
1.1.6 Các phương pháp phân tích tài chính 14
1.2 Phân tích tài chính cho việc ra quyết định 17
1.2.1 Ra quyết định và quy trình ra quyết định 17
1.2.2 Mối quan hệ giữa phân tích tài chính và ra quyết định 19
1.2.3 Phân tích tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán 21
1.2.4 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp 26
1.2.5 Phân tích khái quát các chỉ tiêu qua báo cáo KQHĐKD 26
Trang 41.2.6 Phân tích các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ yếu, so sánh với chỉ tiêu trung
bình ngành 27
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính phục vụ việc ra quyết định tại Công ty TNHH Dịch vụ ERP – FPT 35
2.1 Khái quát về Công ty TNHH Dịch vụ ERP FPT 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 35
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của công ty 36
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty 36
2.1.4 Đặc điểm kinh doanh của công ty 38
2.1.5 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và công tác kế toán của công ty 40
2.1.6 Đặc điểm lao động của công ty 43
2.1.7 Năng lực tài chính của công ty 45
2.2 Phân tích thực trạng tài chính phục vụ ra quyết định tại Công ty TNHH Dịch vụ ERP FPT 47
2.2.1 Phân tích tình hình tài chính của công ty qua bảng CĐKT 48
2.2.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn và tình hình sử dụng vốn 64
2.2.3 Phân tích khái quát các chỉ tiêu tài chính trên báo cáo KQHĐKD qua 3 năm 66 2.2.4 Phân tích các nhóm chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ yếu 68
2.3 Những đánh giá tổng quan về tình hình tài chính và việc ra quyết định tại công ty 81
2.3.1 Những đánh giá tổng quan về tình hình tài chính 81
2.3.2 Đánh giá việc ra quyết định tại công ty dựa vào thông tin tài chính 84
2.3.3 Nhận định về phân tích tài chính và việc ra quyết định trong quản trị tài chính 86 Chương 3: Hoàn thiện phân tích tài chính phục vụ việc ra quyết định tại công ty TNHH Dịch vụ ERP FPT 89
3.1 Định hướng và mục tiêu phân tích tài chính tại công ty trong thời gian tới 89
3.1.1 Định hướng phân tích tài chính 89
Trang 53.1.2 Mục tiêu phân tích tài chính 89
3.2 Hoàn thiện phân tích tài chính phục vụ việc ra quyết định tại công ty TNHH Dịch vụ ERP FPT 89
3.2.1 Những vấn đề tài chính liên quan đến việc ra quyết định tại công ty 89
3.2.2 Định hướng quyết định đầu tư 90
3.2.3 Định hướng quyết định tài trợ nguồn vốn 93
3.2.4 Một số định hướng ra quyết định khác tại công ty 95
3.2.5 Nhóm giải pháp nhằm ổn định tình hình tài chính phục vụ ra quyết định của nhà quản trị 96
3.3 Kiến nghị 101
3.3.1 Đối với ban lãnh đạo công ty 101
3.3.2 Đối với cơ quan nhà nước 102
3.3.3 Đối với các đề tài nghiên cứu về tài chính tiếp theo tại công ty 102
KẾT LUẬN 103
Tài liệu tham khảo 104
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 726 Tiền gửi ngân hàng TGNH
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Tình hình lao động của công ty qua 3 năm 44
2 Bảng 2.2 Tình hình tài sản của công ty qua 3 năm 45
3 Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế tài chính chủ yếu 46
4 Bảng 2.4 Tình hình biến động tài sản và nguồn vốn 48
5 Bảng 2.5 Bảng thể hiện mối quan hệ cân đối 1 50
6 Bảng 2.6 Bảng thể hiện mối quan hệ cân đối 2 51
7 Bảng 2.7 Bảng phân tích tình hình biến động và cơ cấu tài sản 52
8 Bảng 2.8 Bảng phân tích tình hình biến động và cơ cấu nguồn vốn 55
9 Bảng 2.9 Bảng tổng hợp nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính và
12 Bảng 2.12 Tỷ lệ giữa phải thu và phải trả 64
13 Bảng 2.13 Tình hình sử dụng vốn của công ty qua 3 năm 65
14 Bảng 2.14 Diễn biến nguồn vốn của công ty qua 3 năm 66
15 Bảng 2.15 Bảng phân tích tình hình biến động của một số chỉ tiêu
16 Bảng 2.16 Bảng nhu cầu và khả năng thanh toán 70
17 Bảng 2.17 Bảng tổng hợp nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình thanh
18 Bảng 2.18 Bảng tổng hợp nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động 78
19 Bảng 2.19 Bảng tổng hợp nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi 81
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty 37
2 Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức hoạt động kinh doanh 39
4 Sơ đồ 2.4 Sơ đồ tổ chức nhân sự phòng kế toán công ty 43
Trang 10Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bối cảnh nền kinh tế thị trường tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cũng như những thuận lợi hay khó khăn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể đứng vững trước những biến động của kinh tế hay không phụ thuộc vào chính năng lực tài chính của mình Vì một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính tốt sẽ tạo được khả năng cạnh tranh trong kinh tế Trên thương trường, biết rõ mình là ai, mình đang ở vị trí nào là điều cốt yếu của doanh nghiệp Nó được thể hiện ở đâu, như thế nào để có thể biết khả năng của mình còn tuỳ vào thái độ của mỗi nhà quản trị Thật vậy, nếu như công tác phân tích tài chính được chú trọng, được diễn ra thường xuyên thì việc các thông tin tài chính được cung cấp không chỉ có ý nghĩa đối với công tác quản lý
mà còn được nhiều đối tượng quan tâm Nó giúp cho nhà quản trị biết được năng lực tài chính của công ty, xác định được các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề ra những biện pháp nhằm phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những hạn chế với mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
Để đương đầu với những thách thức trong kinh doanh, các hoạt động của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở nền tảng của công thức hoạch định Công tác này thường có hai mức: cấp chiến lược và chiến thuật Hoạch định chiến lược xác định tuyến kinh doanh, các hoạt động dài hạn và các chính sách tài chính của doanh nghiệp Kế hoạch chiến thuật có hiệu lực trong những thời hạn ngắn hơn và thường ảnh hưởng trong những lĩnh vực nhỏ hơn của doanh nghiệp Trong đó, điểm chung của cấp đó chính là phân tích tài chính Đối tượng của việc phân tích tài chính cũng luôn nhằm mục đích giúp nhà quản trị trả lời được các câu hỏi: Quyết định tài trợ thế nào? Quyết định đầu tư ra sao? Quyết định chia lợi tức cổ phần như thế nào? Công tác phân tích tài chính quan trọng đối với một doanh nghiệp và thông tin mà nó cung cấp lại được nhiều đối tượng quan tâm Những thông tin phân tích tài chính sẽ góp phần tư vấn, đưa ra các quyết định quản lý của nhà quản trị Bởi
Trang 11vậy, việc phân tích tài chính cần được quan tâm hơn nữa, để nó thể hiện đúng vai trò của mình trong nền kinh tế
Nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính phục vụ việc ra quyết định tại công ty, được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các chị trong phòng Kế toán
và cán bộ công nhân viên của Công ty TNHH Dịch vụ ERP - FPT, cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo, PGS.TS, Hoàng Văn Hải, chủ nhiệm khoa Quản trị kinh doanh, tác giả đã chọn đề tài “ Phân tích tài chính phục vụ ra quyết định kinh doanh – Trường hợp Công ty TNHH Dịch vụ ERP - FPT” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu, đã có rất nhiều tác giả thực hiện việc phân tích tài chính tại cơ quan, đơn vị Đây là đề tài không chỉ được nghiên cứu ở cấp học mà nhiều ngành học đã nghiên cứu phân tích, là đề tài thu hút nhiều đối tượng quan tâm vì nó mang tầm khái quát, đánh giá tài chính tại công
ty
Một số đề tài về phân tích tài chính như:
Báo cáo phân tích tài chính tại công ty CP cao su Đà Nẵng Một số vấn đề về phân tích tài chính doanh nghiệp ở công ty TNHH An Dương
Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp ở công ty TNHH quảng cáo Liên Minh
Phân tích tình hình tài chính thông qua hệ thống báo cáo tài chính kế toán
và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty XNK THIẾT BỊ ĐIỆN ẢNH - TRUYỀN HÌNH
“Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần VINACONEX 25”, Luận
văn Thạc sỹ của tác giả Bùi Văn Lâm viết năm 2011 cũng đề cập đến thực trạng phân tích tình hình tài chính của công ty và đề xuất các giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính phục vụ nhu cầu quản lý tài chính, sản xuất kinh doanh của Công ty
Trang 12Mỗi tác giả khác nhau có nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu từng mảng khác nhau của lĩnh vực tài chính, có tác giả đi sâu vào phân tích tình hình tài chính, có tác giả nghiên cứu về công tác tài chính tại đơn vị
Phân tích tình hình tài chính là đề tài khá phổ biến được nhiều đối tượng quan tâm, nghiên cứu Một số tác giả tiêu biểu đi sâu vào nghiên cứu phân tích tình hình tài chính tại Việt Nam và thế giới như: Tác giả Nguyễn Minh Kiều với Bộ sách “Phân tích tình hình tài chính” tập 1,2,3 Tác giả Higgins với tác phẩm “Phân tích quản trị tài chính (Nguyễn Tấn Bình dịch),…Trong đó các tác giả đã khái quát
về những lý luận chính của phân tích tài chính doanh nghiệp, cung cấp các cơ sở, phương pháp và nội dung phân tích tài chính chủ yếu
Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn khác nhau thì tình hình tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức khác nhau, người nghiên cứu cần đi sâu, đi sát theo từng thời kỳ, định hướng các mục tiêu, quyết định cho nhà quản trị
Vì vậy, tác giả đã chọn để tài “ Phân tích tài chính phục vụ ra quyết định kinh doanh – Trường hợp Công ty TNHH Dịch vụ ERP - FPT”, đây là đề tài phân tích tài chính tại công ty phát triển các dịch vụ liên quan đến mảng công nghệ thông tin, phần mềm Hiện tại chưa có đề tài nào liên quan đến nội dung mà em nghiên cứu Đây là đề tài lần đầu được ghi nhận tại đơn vị
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Qua phân tích nhằm đưa ra những đánh giá chung về tình hình tài chính tại công ty TNHH Dịch vụ ERP - FPT trong những năm qua, thấy được những mặt tích cực cũng như hạn chế, từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính tại công ty
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài nhằm nêu lên tình hình tài chính tại công ty TNHH Dịch vụ ERP – FPT như thế nào và hướng đưa ra quyết định của nhà quản trị ra sao Từ đó xây dựng lên mục đích nghiên cứu cho để tài
Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu những lý luận cơ bản về phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Trang 13- Đánh giá thực trạng tình hình tài chính của công ty thông qua việc phân tích tài sản, nguồn vốn và các nhóm chỉ tiêu tài chính
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính
- Đưa ra những tư vấn, giải pháp phục vụ việc ra quyết định tại công ty
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Tình hình tài chính tại công ty TNHH Dịch vụ ERP – FPT và việc ra quyết định của nhà quản trị
Phạm vi về nội dung: Thực trạng hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của Công ty TNHH Dịch vụ ERP FPT, phân tích tài chính để phục vụ việc ra quyết định của nhà quản lý, vì vậy chỉ những thông tin mang tính chất ra quyết định
sẽ được phân tích kỹ hơn trong đề tài này
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại Công ty TNHH Dịch vụ ERP FPT
Phạm vi về thời gian: Số liệu được sử dụng phân tích trong đề tài từ năm
2009 đến năm 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chung: Phải dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, xem xét các sự kiện kinh tế cách tổng hợp và phải xuất phát từ thực tiễn trong mối quan hệ tương quan với các sự kiện khác
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Thu thập tài liệu: Các tài liệu đã được công bố như các báo cáo tài chính, các văn bản, quy định… hoặc các số liệu thực tế tìm hiểu, phân tích được
+ Xử lý dữ liệu: Từ những số liệu thu thập được, tiến hành tính toán, phân tích, lập bảng biểu so sánh nhằm phục vụ cho quá trình phân tích tài chính tại công
ty
+ Các phương pháp khác: Quan sát, thống kê, phân tích số liệu, tham khảo ý kiến chuyên gia
Trang 146 Những đóng góp mới của luận văn
- Đóng góp với ban lãnh đạo công ty về tình hình tài chính thông qua việc phân tích tài chính tại công ty Đưa ra những ưu điểm, hạn chế của trong hoạt động tài chính tại công ty
- Định hướng các quyết định cho nhà quản trị, đề xuất một số giải pháp khắc phục các hạn chế trong hoạt động tài chính và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính
và ra quyết định tại công ty
- Đóng góp về hướng phát triển mảng để tài: Là cơ sở, nền tảng cho các đề tài phân tích tài chính tiếp theo
7 Bố cục của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về phân tích tài chính và phân tích tài chính
cho việc ra quyết định trong doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính phục vụ việc ra quyết định tại công
ty TNHH Dịch vụ ERP – FPT
Chương 3: Hoàn thiện phân tích tài chính phục vụ việc ra quyết định tại công
ty TNHH Dịch vụ ERP – FPT
Trang 15Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về phân tích tài chính và phân tích tài
chính cho việc ra quyết định trong doanh nghiệp 1.1 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp phục vụ cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp và góp phần tích luỹ vốn cho Nhà nước [5, tr.3]
Bản chất của tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính của doanh nghiệp với các chủ thể, bao gồm:
Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước: Các doanh nghiệp thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế, phí, lệ phí đối với ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước lại cấp vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước hoặc trợ giá cho doanh nghiệp trong những trường hợp cần thiết
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức trung gian tài chính, chủ yếu là ngân hàng, là cầu nối giữa doanh nghiệp với các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh
tế
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thành phần kinh tế khác: Được thực hiện thông qua các hoạt động trao đổi hàng hoá Các hoạt động kinh tế diễn ra thường xuyên liên tục nên sẽ có nhiều mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể khác nhau nhằm buôn bán, trao đổi các loại vật tư, hàng hoá, dịch vụ, trái phiếu, cổ phiếu,
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đó là mối quan hệ kinh tế giữa các phòng ban, các phân xưởng, tổ, đội sản xuất, mối quan hệ giữa cán bộ công nhân viên, những người lao động [5,tr.2]
Các mối quan hệ kinh tế này một mặt thể hiện doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, tham gia nhiều mối quan hệ khác nhau trong nền kinh tế và tự chịu trách nhiệm trước các hoạt động kinh doanh của mình Mặt khác, nó phản ánh mối liên hệ rõ nét tài chính doanh nghiệp với các khâu trong hệ thống tài chính nước ta
mà ở đó, doanh nghiệp vừa là chủ thể và vừa là khách thể
Trang 161.1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu
về tài chính hiện hành với quá khứ Thông qua phân tích tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro hay triển vọng của doanh nghiệp,từ đó, đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản
lý cho phù hợp [5,8,10]
Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh và có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Do đó, trước khi lập kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần nghiên cứu báo cáo tài chính của kỳ kế toán đã qua Nhưng các số liệu đó lại là những tài liệu có tính chất lịch sử và chưa thể hiện hết nội dung mà người quan tâm đòi hỏi
Các đối tượng khác nhau có nhu cầu thông tin khác nhau, do vậy họ có thể tập trung xem xét các khía cạnh khác nhau của tình hình tài chính doanh nghiệp Cụ thể:
Đối với nhà quản lý doanh nghiệp
Qua phân tích, nhà lãnh đạo doanh nghiệp thấy được một cách toàn diện tình hình tài chính doanh nghiệp trong mối quan hệ nội bộ với mục đích lợi nhuận và khả năng thanh toán Bởi vậy, khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản trị phải giải quyết ba vấn đề sau:
Thứ nhất: Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược có tính chất dài hạn của doanh nghiệp
Thứ hai: Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh là nguồn nào?
Để trang trải cho các loại tài sản của doanh nghiệp cần có nguồn vốn tài trợ, hay còn gọi nguồn hình thành tài sản, nói cách khác là phải có tiền để đầu tư Nhưng muốn có vốn đầu tư thì phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định, vấn đề này liên
Trang 17quan đến cơ cấu vốn và chi phí vốn của doanh nghiệp Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp đó là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn vốn tài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp và mang lại hiệu quả sử dụng vốn tối ưu nhất [5, tr.128]
Thứ ba: Đó là việc nhà quản trị phải sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế nào? Đây chính là quyết định tài chính ngắn hạn và nó liên quan chặt chẽ đến vấn đề quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp
Do vậy, cần thiết phải có thông tin trung thực về tình hình tài chính doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trong việc lập kế hoạch sản xuất, dự kiến được kế hoạch đầu tư dài hạn, chiến lược sản phẩm và thị trường, lựa chọn phương án sản xuất mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp Đây cũng là mục tiêu chính của luận văn này
Đối với nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Qua thông tin phân tích tài chính, giúp các nhà đầu tư nắm được những yếu
tố như sự rủi ro, mức sinh lời, khả năng thanh toán, khả năng hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, họ rất cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp [8, tr.340-341]
Đối với các chủ nợ
Đối với các chủ ngân hàng, một mặt họ chú ý tới số lượng tiền và tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để so sánh với số nợ ngắn hạn, qua đó biết được khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Mặt khác, họ còn chú ý tới khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đảm bảo hoàn trả các khoản cho vay dài hạn, chú ý đến việc đảm bảo cơ cấu tài chính an toàn trong doanh nghiệp để đề phòng rủi ro
Đối với các nhà cung cấp vật tư hàng hoá, họ cần thiết phải nắm được các thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai
Trang 18 Đối với người lao động
Những người lao động cũng rất quan tâm tới thông tin về tài chính và về các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bởi kết quả hoạt động kinh doanh có tác động trực tiếp tời tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động
Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện phân tích tình hình tài chính, qua đó đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định hay không, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước và phục vụ cho hoạt động thống kê
1.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính
Với những vai trò quan trọng như vậy, nhiệm vụ của phân tích tài chính là cung cấp những thông tin chính xác về mọi mặt tài chính của doanh nghiệp Các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Đánh giá thực trạng của hoạt động tài chính trên các mặt: Đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình và hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền mặt ra, vào doanh nghiệp
- Xác định rõ các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính cũng như nguyên nhân gây nên tình trạng biến động của các nhân tố trên
- Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tích cực nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.4 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc
ra quyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương lai của doanh nghiệp Vì vậy, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin, từ thông tin nội bộ đến thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin định tính cũng như
Trang 19định lượng Trong khuôn khổ của luận văn, thông tin chủ yếu là bám vào các thông tin tài chính phục ra quyết định của nhà quản trị
1.1.4.1 Thông tin chung
Đây là các thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, tác động đến chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh Nếu nó diễn ra theo chiều hướng thuận lợi thì hoạt động kinh doanh được mở rộng, tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu nó tác động bất lợi, nó sẽ ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy, để có những nhận xét đánh giá khách quan và chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp thì việc quan tâm và nghiên cứu các thông tin bên ngoài là cần thiết
1.1.4.2 Thông tin theo ngành kinh tế
Nội dung của việc nghiên cứu các thông tin trong phạm vị ngành kinh tế là đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành kinh doanh
Đặc điểm của ngành kinh doanh thường được chú trọng đó là:
- Tính chất của sản phẩm
- Quy trình kỹ thuật sản xuất được áp dụng
- Cơ cấu sản xuất: Đầu tư vào loại hình sản xuất kinh doanh nào, cơ cấu tài sản ra sao
- Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành Dựa vào những thông tin này, ta có thể đưa ra được những nhận xét tổng quát nhất về tình hình tài chính doanh nghiệp
1.1.4.3 Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Ngoài những thông tin trên thì thông tin được nhà phân tích quan tâm nhất là thông tin kế toán của doanh nghiệp Nó được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo kế
Trang 20toán của doanh nghiệp Việc phân tích tài chính đưa ra các thông tin tài chính nhằm phục vụ ra quyết định của doanh nghiệp dựa trên một số báo cáo chuẩn tắc sau:
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán phản ánh một cách tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp vừa theo kết cấu vốn, vừa theo nguồn hình thành vốn Nội dung các loại, các mục, các khoản phản ánh giá trị các loại tài sản hay nguồn vốn cụ thể hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo tài chính Nguyên tắc lập là tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn [1, tr.47]
Kết cấu của bảng cân đối kế toán gồm hai phần:
- Phần tài sản: Phản ánh giá trị hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập
báo cáo tài chính Về mặt kinh tế, số liệu các chỉ tiêu trong báo cáo phần tài sản thể hiện giá trị các loại vốn của doanh nghiệp hiện có đến thời điểm lập báo cáo như tiền, các khoản đầu tư tài chính, vật tư, hàng hoá, tài sản cố định, Căn cứ vào số liệu này cho phép đánh giá quy mô, kết cấu vốn đầu tư, năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp [5, tr.129]
- Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh
nghiệp tại thời điểm lập báo cáo tài chính Về mặt kinh tế, số liệu các chỉ tiêu trong phần nguồn vốn thể hiện quy mô và giá trị các nguồn vốn mà doanh nghiệp đã và đang huy động, sử dụng để đảm bảo cho lượng tài sản của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh tính đến thời điểm lập báo cáo tài chính
Tác dụng của bảng cân đối kế toán:
+ Cung cấp thông tin một cách khái quát tình hình doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu về tổng tài sản và nguồn vốn, thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp
+ Đánh giá được tình hình thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải trả, phải thu
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Khác với
Trang 21bảng cân đối kế toán, số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp về phương thức kinh doanh, về sử dụng các tiềm năng vốn, lao động, kinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Nội dung của bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể thay đổi theo yêu cầu quản lý nhưng phải phản ánh được 5 nội dung quan trọng sau: Doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, lợi nhuận [5, tr.131]
Tác dụng của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nàh nước của doanh nghiệp Do đó, phân tich báo cáo kết quả kinh doanh giúp ta đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, biết được tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và giá vốn là bao nhiêu [1, tr.63]
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh lượng tiền hình thành và sử dụng trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng tiền vào, ra và những khoản được coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động bất thường
Tác dụng của báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
+ Xác định các dòng tiền do các hoạt động kinh doanh mang lại trong kỳ và
dự đoán các dòng tiền trong tương lai
+ Đánh giá khả năng thanh toán nợ vay và khả năng trả lãi cổ phần bằng tiền + Chỉ ra mối liên hệ giữa lãi, lỗ ròng và việc thay đổi tiền của doanh nghiệp
Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo
Trang 22cáo mà các báo cáo tài chính khac không thể trình bày rõ ràng và chi tiết được Cụ thể như đặc điểm hoạt động kinh doanh cả doanh nghiệp, chính sách kế toán áp dụng, chi tiết một số chỉ tiêu: Chi phí sản xuất, tình hình tăng giảm TSCĐ, tăng giảm vốn chủ sở hữu, giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quả kinh doanh [1, tr.83]
Tác dụng của thuyết minh báo cáo tài chính:
+ Trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
+ Trình bày về tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng
+ Đưa ra những phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và kiến nghị của doanh nghiệp
Các sổ sách, báo cáo khác
Ngoài những báo cáo tài chính trên, nhà phân tích cần quan tâm đến những
sổ sách kế toán chi tiết khác làm minh chứng cho những lời nhận xét được đưa ra, các hợp đồng kinh tế, các tài liệu về lao động, về chính sách quản lý mà doanh nghiệp đề ra nhằm làm phong phú hơn nội dung phân tích tài chính tại doanh nghiệp
1.1.5 Các bước tiến hành phân tích tài chính
1.1.5.1 Thu thập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Trong đó, các thông tin kế toán là quan trọng nhất được phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.1.5.2 Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập được Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu
Trang 23nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
và tối đa hoá lợi nhuận
1.1.6 Các phương pháp phân tích tài chính
Phân tích tài chính phải nắm vững những nguyên lý cơ bản của kinh tế chính trị, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật, phạm trù của phép duy vật biện chứng để tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể, khi phân tích tình hình tài chính cần:
- Xem xét các sự kiện kinh tế một cách toàn diện trong quá trình vận động và phát triển của chúng, phải xuất phát từ thực tế khách quan và phải có quan điểm lịch
- Rút ra kết luận và tìm ra các giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại
Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính được đưa ra nhưng trên thực tế, người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
Trang 24+ Đảm bảo các chỉ tiêu thống nhất về phương pháp tính toán
+ Phải cùng một đơn vị đo lường và phải được thu thập trong cùng một độ dài thời gian
+ Các chỉ tiêu cần được quy đổi về cùng một quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau
- Nội dung của phương pháp:
Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu của việc phân tích
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
+ So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán
1.1.6.2 Phương pháp tỷ lệ
- Điều kiện áp dụng:
Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các giá trị tỷ lệ tham chiếu
- Nội dung của phương pháp:
+ Phương pháp phân tích tỷ lệ dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng chỉ tiêu này trong quan hệ tỷ lệ với các đại lượng chỉ tiêu khác của doanh nghiệp
1.1.6.3 Phương pháp loại trừ
Phương pháp này được áp dụng rộng rãi để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích bằng cách khi xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố này thì loại trừ sự ảnh hưởng của nhân tố khác
- Điều kiện áp dụng:
Trang 25+ Phải xác định các nhân tố ảnh hưởng có quan hệ với chỉ tiêu phân tích dưới dạng tích số hay thương số
+ Trình tự thay thế các nhân tố phải tuân theo nguyên tắc nhất định vừa phù hợp với ý nghĩa của hiện tượng nghiên cứu vừa phải đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ
về thực chất của các nhân tố
- Nội dung của phương pháp:
Trong thực tế, phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích kinh tế dưới hai dạng là: Phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch
1.1.6.4 Phương pháp liên hệ cân đối
Phương pháp liên hệ cân đối thường thể hiện dưới hình thức phương trình kinh tế hoặc bảng cân đối kinh tế, được sử dụng để tính mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố khi chúng có quan hệ tổng số với chỉ tiêu phân tích
1.1.6.5 Phương pháp phương trình DUPONT
Dupont là một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở Mỹ Dupont đã chỉ ra mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn
Tổng số vốn Doanh thu Tổng số vốn
Từ việc phân tích phương trình trên, Dupont đã khái quát hoá và trình bày chỉ số ROI một cách rõ ràng, nó giúp cho các nhà quản trị tài chính có một bức tranh tổng hợp để có thể đưa ra các quyết định tài chính hữu hiệu Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản ( ROA ), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ( ROE ) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó với tỷ số tổng hợp Tuy nhiên, nó chỉ áp dụng cho các công ty lớn, có đội ngũ cán bộ phân tích chuyên trách vì phương pháp này không chỉ đòi hỏi đánh giá sự tác động của chỉ tiêu thành phần với chỉ tiêu tổng
Trang 26hợp mà còn sử dụng kinh tế lượng để đánh giá mức độ tác động của các chỉ tiêu thành phần với nhau
Ngoài các phương pháp trên còn có một số phương pháp khác như phương pháp phân tổ, tham khảo ý kiến chuyên gia
1.2 Phân tích tài chính cho việc ra quyết định
1.2.1 Ra quyết định và quy trình ra quyết định
1.2.1.1 Ra quyết định và vai trò của ra quyết định
Trong mọi tổ chức luôn luôn tồn tại nhu cầu giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình quản trị Để giải quyết các vấn đề này người ta thường phải xây dựng và lựa chọn phương án tối ưu Việc này tất yếu đòi hỏi các nhà quản trị cân nhắc, lựa chọn và đi đến quyết định.Vậy ra quyết định là gì?
Ra quyết định là công việc xuyên suốt các hoạt động của người quản lý bất
kể ở cấp nào Đó là hành vi sáng tạo của người lãnh đạo nhằm định ra mục tiêu, chương trình và tính chất hoạt động khách quan của hệ thống và việc phân tích các thông tin cần thiết của thị trường, của bản thân doanh nghiệp Vì thế có thể khẳng định rằng ra quyết định là quá tŕnh xác định vấn đề và lựa chọn phương án hành động trong những phương án khác nhau
Ra quyết định về quản trị có vai trò cực kỳ quan trọng trong các hoạt động về quản trị là bởi vì:
- Các quyết định luôn luôn là sản phẩm chủ yếu và là trung tâm của mọi hoạt động về quản trị Không thể nói đến hoạt động về quản trị mà thiếu việc ra các quyết định, càng không thể nói đến việc kinh doanh mà thiếu dịch vụ và hàng hoá
- Xét về mặt tổng thể thì không thể thay thế các quyết định về quản trị bằng tiền bạc, vốn liếng, sự tự phát, sự tự điều chỉnh hoặc bất cứ thứ tự động hoá bằng máy móc tinh xảo nào
- Mỗi quyết định về quản trị là một mắt xích trong toàn bộ hệ thống các quyết định của một tổ chức nên mức độ tương tác ảnh hưởng giữa chúng với nhau
Trang 27là cực kỳ phức tạp và hết sức quan trọng Không thận trọng trong việc ra quyết định, thường có thể dẫn tới những hậu quả khôn lường
Với vai trò quan trọng như trên, cho thấy ra quyết định là một khâu quan trọng trong việc quản lý của nhà quản trị:
- Căn cứ vào tính chất của quyết định người ta chia ra các quyết định chiến lược, các quyết định chiến thuật, các quyết định tác nghiệp
- Căn cứ vào phương pháp ra quyết định có hai loại: Quyết định trực giác và quyết định có lý giải
- Căn cứ vào thời gian thực hiện quyết định có thể chia ra quyết định dài hạn, quyết định trung hạn và quyết định ngắn hạn
- Căn cứ vào tính chất tác động của quyết định trong tổ chức, người ta chia ra quyết định trực tiếp và quyết định gián tiếp
- Căn cứ vào các lĩnh vực chức năng quản trị hoạt động trong tổ chức có thể chia thành các quyết định tổ chức, quyết định nhân sự, quyết định tài chính và quyết định Marketing …
1.2.1.2 Quy trình ra quyết định
Hầu hết các nhà quản lý cấp cơ sở đều có cảm giác rằng họ có quá nhiều việc phải làm Làm cách nào để có thể biết được cách phân bổ thời gian sao cho hợp lý? Giữa việc dễ làm, việc quan trọng và việc khẩn cấp, ta phải chọn việc nào để làm trước? Làm sao ta quyết định được?
Ra quyết định là một tiến trình, gốm các bước:
- Xác định vấn đề: Liên quan đến năng lực của nhà quản trị, nhất là năng lực hoạch định và điều hành: Cần nhận thức và kiểm soát các vấn đề bên trong và bên ngoài của tổ chức, đánh giá các yếu tố và xác định nguyên nhân của vấn đề giữa thực trạng hiện tại và kỳ vọng tương lai
Trang 28- Lựa chọn giải pháp, giải quyết vấn đề: Khi lựa chọn giải pháp, cần xét đến nhiều yếu tố, nhiều môi trường tác động đối với việc ra quyết định lựa chọn, giải quyết vấn đề
- Đánh giá thực hiện giải pháp đã chọn: Kiểm tra tính chất của việc ra quyết định ở hiệu quả đạt được, có như mong muốn hay không
Tóm lại: Cần lưu ý một số thông tin ở các bước ra quyết định như sau:
Thông tin (Knowledge): Ở giai đoạn này chúng ta thu thập dữ liệu và bảo đảm chúng đều chính xác Những thông tin cần có là:
- Tính chất của công việc (khẩn cấp, quan trọng)
- Yêu cầu chỉ thị của cấp trên
Mục tiêu (Objectives): Một khi bạn đã thu thập và kiểm tra tất cả thông tin
có được thì việc quan trọng tiếp theo là quyết định xem chính xác vấn đề là gì Câu
hỏi ở đây sẽ là: Tôi đang cố gắng đạt được điều gì?
Phương án (Alternatives): Câu hỏi ở đây sẽ là:
Trên cơ sở những thông tin có được và mục tiêu cần đạt được, các phương
án mà tôi có thể chọn lựa là gì?
Đánh giá và lựa chọn (Look ahead): Ở giai đoạn này, bạn cần thử nghiệm tính khả thi của từng phương án nhưng chỉ là thử trong đầu Các câu hỏi ở đây như sau:
- Phí tổn (về tài chính và những thứ khác) cho việc áp dụng mỗi phương án là bao nhiêu?
Hành động (Action): Đây là lúc bạn chọn một trong số nhiều phương án, thực hiện và xem nó tiến triển như thế nào
1.2.2 Mối quan hệ giữa phân tích tài chính và ra quyết định
Như đã trình bày ở trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài xoay quanh những thông tin tài chính phục vụ việc ra quyết định của nhà quản trị Vì vậy các quyết
Trang 29định của nhà quản trị luôn dựa trên các thông tin chân thực nhất, quyết định theo khách quan chứ không theo ý kiến chủ quan của bản thân người ra quyết định
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệp phải giải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây :
Thứ nhất : Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản
xuất kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp
Thứ hai : Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào?
Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, nghĩa là phải
có tiền để đầu tư Các nguồn tài trợ đối với một doanh nghiệp được phản ánh bên phải của bảng cân đối kế toán Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc vay nợ dài hạn, ngắn hạn Nợ ngắn hạn có thời hạn dưới một năm còn nợ dài hạn có thời hạn trên một năm Vốn chủ sở hữu là khoản chênh lệch giữa giá trị của tổng tài sản và nợ của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất Liệu doanh nghiệp có nên sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu để đầu tư hay kết hợp với cả các hình thức đi vay và đi thuê? Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn của doanh nghiệp
Thứ ba : Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế
nào?
Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ đến vấn đề quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn liền với các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ Nhà quản lý tài chính cần xử lý sự lệch pha của các dòng tiền
Trang 30Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh nghiệp, nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ
sở để đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó
Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý tài chính đều nhằm vào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp: đó là sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh và chiếm được thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận
và tăng trưởng thu nhập một cách vững chắc Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt
và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản lý được đưa
ra là đúng đắn Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp là những người có nhiều lợi thế để thực hiện phân tích tài chính một cách tốt nhất
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Từ đó, họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý
Vì vậy, có thể thấy, phân tích tài chính có mối quan hệ khá chặt chẽ với việc
ra quyết định của nhà quản trị Phân tích tài chính cung cấp các thông tin, chính xác kịp thời cho nhà quản trị doanh nghiệp Dựa vào các thông tin tài chính được phân tích, nhà quản trị sẽ có cách nhìn khách quan và đưa ra các quyết định phù hợp với tình hình tài chính tại công ty hơn Chi tiết sẽ được thể hiện ở từng nội dung phân tích và chỉ tiêu phân tích tài chính
1.2.3 Phân tích tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán
Phân tích khái quát tính hình tài chính của doanh nghiệp
Có thể khẳng định khi phân tích bảng cân đối kế toán, nhà quản trị sẽ có cách nhìn khái quát nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn của công ty, từ đó có thể đánh
Trang 31giá sơ bộ về tỷ trọng từng loại tài sản, tăng giảm ra sao qua các năm, thấy được trình độ sử dụng vốn để có cách điều chỉnh phù hợp Đề ra các quyết định cơ bản như: quyết định đầu tư vào tài sản dài hạn, quyết định vốn lưu động, …
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, trước tiên phải so sánh tổng tài sản và tổng nguồn vốn giữa các kỳ kế toán, phân tích tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Phân tích tình hình tài sản qua bảng CĐKT
Phân tích về quy mô
So sánh về mặt giá trị để thấy được sự thay đổi về quy mô của tài sản qua các năm nghiên cứu
Phân tích về kết cấu
Tính toán tỷ trọng của các chỉ tiêu trong phần tài sản so với tổng tài sản để thấy được phần trăm các khoản mục đó chiếm trong tổng tài sản
Lập bảng so sánh các số liệu phân tích, bao gồm giá trị thể hiện phần quy mô và
tỷ lệ phần trăm thể hiện kết cấu, tính toán sự chênh lệch về mặt giá trị tuyệt đối và tương đối giữa các năm nghiên cứu của các khoản mục Qua so sánh để thấy được
sự thay đổi quy mô vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ
Bằng việc phân tích này, nhà quản trị sẽ có những thông tin để ra các quyết định:
- Quyết định đầu tư
- Quyết định luân chuyển vốn ngắn hạn và dài hạn
Phân tích tình hình nguồn vốn qua bảng CĐKT
Tương tụ như việc phân tích tài sản, phân tích tình hình nguồn vốn qua bảng cân đối kế toán cũng bao gồm:
Phân tích về quy mô
So sánh về mặt giá trị để thấy được sự thay đổi về quy mô của nguồn vốn qua các năm nghiên cứu
Phân tích về kết cấu
Trang 32Tính toán tỷ trọng của các chỉ tiêu trong phần nguồn vốn so với tổng nguồn vốn
để thấy được phần trăm các khoản mục đó chiếm giữ
Trên thực tế thường xảy ra một trong hai trường hợp sau gắn với quyết định của nhà quản trị
- Trường hợp doanh nghiệp không sử dụng hết nguồn vốn để đầu tư tài sản thì sẽ
bị chiếm dụng vốn từ bên ngoài Nhà quản trị sẽ đưa ra quyết định về việc sử dụng vốn hợp lý với điều kiện doanh nghiệp, tránh được các khoản nợ phải thu khó đòi
- Trường hợp doanh nghiệp thiếu vốn để trang trải tài sản nên doanh nghiệp phải
đi vay các tổ chức bên ngoài hay nói cách khác là doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn
Nhà quản trị cần xây dựng một mô hình kết cấu vốn phù hợp với thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp, tránh gây ra nợ xấu
Phân tích tình hình tài trợ qua bảng CĐKT
Để phân tích tình hình tài trợ của doanh nghiệp ta đi xem xét ở các khía cạnh liên quan đến cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư thông qua các chỉ tiêu tài chính:
- Cơ cấu nguồn vốn: Phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh hiện
nay doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vốn vay hoặc có mấy đồng vốn chủ sở hữu Để đánh giá cơ cấu nguồn vốn ta sử dụng hai chỉ tiêu:
+ Hệ số nợ: Được đo bằng tỷ số giữa tổng số nợ phải trả với tổng tài sản hay
tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Hệ số nợ = Tổng số nợ phải trả
Tổng nguồn vốn
Hệ số này nói lên trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn từ các chủ
nợ là bao nhiêu phần hay trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có mấy đồng do vay nợ
mà có
Do đó, sẽ giúp nhà quản trị ra quyết định cân đối nguồn vốn cho phù hợp, tránh tình trạng mất khả năng thanh khoản khi hệ số nợ quá cao
+ Hệ số vốn chủ sở hữu ( hệ số tự tài trợ ): Dùng đo lường sự góp vốn của chủ
sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được tính như sau:
Trang 33Hệ số vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu = 1 - Hệ số nợ
Tổng nguồn vốn Hai hệ số này phản ánh mức độ độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệp đối với chủ nợ, nó cũng phản ánh mức độ mạo hiểm của nhà quản lý doanh nghiệp trong việc tổ chức nguồn vốn kinh doanh của mình Các chủ nợ thường thích doanh nghiệp nào có hệ số vốn chủ sở hữu càng cao càng tốt vì nó là điều kiện đảm bảo cho các khoản nợ được hoàn trả đúng hạn [9, tr.236]
Lưu ý rằng, bên cạnh việc xem xét hệ số nợ, để làm rõ hơn về mức độ độc
lập tài chính của doanh nghiệp, ta đi nghiên cứu đến hệ số nợ dài hạn: Chỉ tiêu này
cũng phản ánh mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp đối với chủ nợ
Hệ số nợ dài hạn = Nợ dài hạn
Vốn chủ sơ hữu Chỉ tiêu này càng cao thì rủi ro của doanh nghiệp càng tăng và mức độ cao hay thấp cũng tuỳ theo từng ngành hoạt động Để hạn chế rủi ro tài chính, thường người cho vay chỉ chấp nhận chỉ tiêu này ở mức nhỏ hơn 1 hay nợ dài hạn không được vượt quá vốn chủ sở hữu
Do đó, nhà quản trị cần đưa ra các quyết định nhằm tăng hoặc giữ ổn định hệ số vốn chủ hữu, cân đối giữa vốn tự có và vốn đi vay phù hợp, tạo uy tín với các tổ chức tín dụng trong việc vay nợ ngân hàng
- Cơ cấu tài sản: Phản ánh tỷ lệ tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn có trong tổng
tài sản hay trong một đồng vốn kinh doanh thì có bao nhiêu đồng dùng để hình thành tài sản lưu động và bao nhiêu đồng để hình thành tài sản cố định Cơ cấu tài sản được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:
Tỷ suất đầu tư
vào TSDH =
TSCĐ và đầu tư dài hạn
* 100 = 1 - Tỷ suất đầu tư
vào TSNH Tổng tài sản
Tỷ suất đầu tư
vào TSNH =
TSLĐ và đầu tư ngắn hạn
* 100 = 1 - Tỷ suất đầu
tư vào TSDH Tổng tài sản
Trang 34Nhà quản trị dựa vào các thông tin này để đưa ra các quyết định đầu tư và tài sản ngắn hạn và dài hạn phù hợp giữ vững năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Thông thường, các doanh nghiệp mong muốn có một cơ cấu tài sản tố ưu, phản ánh cứ một đồng đầu tư vào tài sản dài hạn thì dành ra bao nhiêu đồng để đầu tư vào tài sản ngắn hạn
Cơ cấu tài sản = Tài sản ngắn hạn
Tài sản dài hạn Bên cạnh việc phân tích về cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản, để phân tích sâu hơn về tình hình tài trợ, ta xét đến chỉ tiêu:
+ Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn: Chỉ tiêu này cho biết mức độ tài trợ tài sản
dài hạn băng nguồn vốn chủ sở hữu [9, tr.241]
Tỷ suất tự tài trợ
Vốn chủ sỡ hữu Tài sản dài hạn Với chỉ tiêu này, giúp nhà quản trị thấy được tình hình tài trợ tài sản bằng hình thức nào và có quyết định tài trợ đúng đắn Nếu như ỷ suất này lớn hơn 1 thể hiện khả năng tài chính vững vàng và ngược lại, nếu nhỏ hơn 1 có nghĩa là một phần tài sản dài hạn được tài trợ bằng nguồn vốn vay, nếu đó là nguồn vốn ngắn hạn thể hiện doanh nghiệp đang kinh doanh trong cơ cấu vốn mạo hiểm Buộc nhà quản trị cần
có các định hướng khác phù hợp hơn
Phân tích tình hình các khoản phải thu, phải trả qua bảng CĐKT
Phân tích tình hình phải thu, phải trả của doanh nghiệp là phân tích cụ thể từng khoản mục trong tổng các khoản phải trả, các khoản phải thu về mặt quy mô và kết cấu, bên cạnh đó xem xét mối quan hệ giữa các khoản phải trả và phải thu Từ đó, giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định về việc cân đối các khoản phải thu, phải trả, đảm bảo khả năng thanh khoản cho doanh nghiệp
Tình hình thanh toán được biểu hiện chủ yếu là tình hình công nợ của công ty hay liên quan trực tiếp là các khoản phải thu, phải trả Mối liên hệ giữa khoản phải
Trang 35thu và phải trả cho thấy mức độ rủi ro của công ty là cao hay thấp, có xảy ra tình trạng nợ xấu hay không
1.2.4 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh thì các loại tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp luôn biến động và tại mỗi thời điểm khác nhau thì sự biểu hiện của các loại tài sản và nguồn vốn cũng không giống nhau Vì vậy, việc phân tích diễn biến nguồn vốn và các loại tài sản trong kỳ đã qua là rất cần thiết Vì nó giúp cho nhà quản trị:
- Đánh giá được tính chất hợp lý của toàn bộ quá trình tổ chức tạo lập vốn và
sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Đưa ra các quyết định sử dụng vốn hiệu quả và tận dụng tối ưu được các nguồn tạo vốn: Tăng giảm các khoản mục tài sản, nguốn vốn một cách phù hợp
Mỗi sự thay đổi của từng khoản mục đó đều được xếp vào một cột diễn biến nguồn vốn hoặc sử dụng vốn theo nguyên tắc sau:
- Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc các khoản mục bên nguồn vốn giảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng vốn
- Nếu các khoản mục bên tài sản giảm hoặc các khoản mục bên nguồn vốn tăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn vốn
1.2.5 Phân tích khái quát các chỉ tiêu qua báo cáo KQHĐKD
Với việc phân tích báo cáo KQHĐKD, nhà quản trị sẽ đưa ra được các kế hoạch về doanh thu, giá vốn hiệu quả cũng như phân bổ các chi phí một cách thích hợp
Dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh, phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu đồng thời so sánh chúng qua một số niên độ kế toán về mặt quy mô và kết cấu theo tính chất tuyệt đối và tương đối Qua đó, đánh giá xu hướng biến động của các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm và tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Quyết định giá vốn và chi phí: Nếu như tốc độ tăng của giá vốn cao hơn tốc
độ tăng của doanh thu thì cần có sự xem xét lại về chính sách giá của doanh nghiệp,
Trang 36cũng như các khoản chi phí cấu thành nên giá thành thành phẩm, hàng hóa Và ngược lại, nếu nó ở mức hợp lý thì nên duy trì và kiểm soát chặt chẽ các khoản mục phí
- Quyết định doanh thu: Quyết định này phụ thuộc vào chính sách giá của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng sẽ có chính sách giá khác với thời kỳ suy thoái,…
1.2.6 Phân tích các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ yếu, so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành
Các số liệu trong các báo cáo tài chính chưa thể hiện hết tình hình tài chính của doanh nghiệp, vì vậy các nhà tài chính còn dùng các hệ số tài chính để giải thích thêm về các mối quan hệ tài chính Các hệ số tài chính được thiết lập để đo lường những đặc điểm cụ thể về tình trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp khác nhau có các hệ số tài chính khác nhau và chúng biến đổi qua từng kỳ kế toán
Nhóm chỉ tiêu về tình hình và khả năng thanh toán
Với nhóm chỉ tiêu này, phản ánh rõ nét về việc thanh toán của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định:
- Quyết định liên quan đến các khoản phải thu: Cân đối các khoản phải thu phù hợp, tránh tình trạng xảy ra các khoản nợ khó đòi
- Quyết định liên quan đến các khoản phải trả: Thực hiện thanh toán các giao dịch đến hạn kịp thời, đảm bảo uy tín với nhà cung cấp và các đối tượng phải trả, duy trì khả năng thanh khoản, tránh nợ xấu, nợ quá hạn
- Quyết định về vốn lưu động: Thực hiện các quyết định tồn kho, tồn quỹ về lâu dài, đảm bảo tình hình thanh toán cho doanh nghiệp trong ngắn hạn a) Phân tích tình hình thanh toán
Thông qua việc phân tích các khoản phải thu, phải trả và mối liên hệ giữa chúng,
ta đã có những nhận xét ban đầu về tình hình thanh toán Để làm rõ hơn về vấn đề này , ta phân tích chỉ tiêu:
Trang 37- Tỷ lệ các khoản phải trả so với tài sản lưu động: Phản ánh mối quan hệ giữa
tài sản lưu động và các khoản phải trả, xem tài sản lưu động có đủ chi trả các khoản
nợ của công ty hay không Được xác định bằng công thức:
Tỷ lệ các khoản phải trả so
với tài sản lưu động =
Tổng nợ phải trả
* 100 Tài sản lưu động
b) Phân tích khả năng thanh toán
Tình hình tài chính của công ty chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến tình hình thanh toán và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được biểu hiện ở số tiền và tài sản mà doanh nghiệp dùng để trang trải các khoản nợ Nhu cầu thanh toán gồm các khoản phải thanh toán của doanh nghiệp [8, tr.244]
Nếu nhu cầu thanh toán lớn hơn khả năng thanh toán, thì nhà quản trị cần đưa ra các quyết định vốn lưu động tức thời, nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản của doanh nghiệp Và ngược lại
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà
hiện nay doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả (bao gồm: Nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, ) Công thức xác định:
Hệ số thanh toán tổng quát ( Htq ) =
Tổng tài sản Tổng số nợ Nếu Htq < 1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp Khi đó, nhà quản trị cần đưa ra quyết định thanh toán gấp các khoản nợ, do tài sản của công ty cũng không
đủ chi trả các khoản nợ đó Công ty dễ rơi vào tình trạng phá sản
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành: Đó là quan hệ tỷ lệ giữa tổng tài sản
lưu động và đầu tư ngắn hạn so với các khoản nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Tài sản ngắn hạn Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với các khoản nợ ngắn hạn Giúp nhà quản trị xây dựng
Trang 38được công thức quyết định đầu tư bao nhiêu vào tài sản ngắn hạn, vì ít nhất, tài sản ngắn hạn cũng phải đảm bảo trang trải được nợ ngắn của công ty
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Hệ số này cho biết khả năng thanh khoản
thực sự của doanh nghiệp và được tính toán dựa trên các tài sản lưu động có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để đáp ứng những yêu cầu thanh toán cần thiết Tuỳ theo mức độ kịp thời của việc thanh toán nợ, hệ số khả năng thanh toán nhanh có thể được xác định theo 2 công thức:
Khả năng thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn - Hàng hoá tồn kho
Tổng số nợ ngắn hạn
Có thể thấy, tài sản dùng để thanh toán nhanh còn được xác định tiền cộng với tương đương tiền, đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao Vì vậy, hệ số khả năng thanh toán nhanh còn được gọi là hệ số thanh toán nhanh tức thời và xác định như sau:
Khả năng thanh toán nhanh (tức thời ) =
Tiền + Tương đương tiền Tổng số nợ ngắn hạn
- Khả năng thanh toán lãi vay: Trên thực tế, lãi vay phải trả là một khoản
chi phí tương đối ổn định và có thể tính toán trước Nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận kinh doanh ( lợi nhuận trước thuế và lãi vay )
Hệ số thanh toán lãi vay =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Lãi vay phải trả
Các tỷ lệ về hiệu quả hoạt động
Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng của tổng nguồn vốn mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng khoản mục cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp
Trang 39Với loại chỉ số này, giúp nhà quản trị có cách nhìn chính xác nhất về tình hình hoạt động của công ty, về hiệu quả sử dụng vốn, sử dụng tài sản, qua đó, thấy được mức độ đóng góp của các khoản mục, đưa ra các quyết định về
- Tăng trưởng, đầu tư cũng như lưu trữ hàng tồn kho
- Các quyết định về doanh thu, giá vốn, các chính sách khuyến mại nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất
a) Vòng quay hàng tồn kho
- Vòng quay hàng tồn kho: Là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ Nếu số vòng quay hàng tồn kho cao thì việc kinh doanh được đánh giá là tốt, nhà quản trị sẽ ra quyết đinh duy trì tốc độ lưu chuyển tồn kho Nhưng nếu trở nên quá cao thì báo hiệu việc doanh nghiệp không dự trữ đủ vật tư, hàng hoá định mức cho kỳ sau hoặc không đảm bảo dự trữ hàng hoá để bán Doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh lượng tồn tối đa tối thiểu đạt mục tiêu kinh doanh
Số vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công thức:
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
- Vòng quay tiền: Đối với nhà quản trị, trong điều kiện thiếu vốn đang phổ biến
ở các doanh nghiệp thì việc quyết định giữ quá nhiều tiền sẽ gây ra tình trạng ứ đọng vốn, hạn chế khả năng đầu tư vào các tài sản khác Mặt khác, theo thời gian do chịu tác động của lạm phát, tiền sẽ trở nên mất giá
Vì vậy, cần quan tâm đến tốc độ vòng quay tiền sao cho đem lại khả năng sinh lợi cao nhất cho doanh nghiệp
Công thức xác định:
Trang 40Vòng quay tiền = Doanh thu thuần
Tiền và các khoản tương đương tiền Với chỉ số này, giúp cho nhà quản trị đánh giá được số vòng tiền luân chuyển trong kỳ có hợp lý với tình hình của doanh nghiệp hay không Bên canh đó đưa ra các quyết định về tồn quỹ hiệu quả
c) Vòng quay các khoản phải thu
- Vòng quay các khoản phải thu: Đó là quan hệ tỷ lệ giữa doanh thu thuần
với số dư bình quân các khoản phải thu của khách hàng trong kỳ Nó phản ánh tốc
độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp và được áp dụng theo công thức:
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần
Bình quân các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu của doanh nghiệp càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là nhanh, đây là dấu hiệu tốt Tuy nhiên, vòng quay các khoản phải thu thấp chưa chắc đã là biểu hiện xấu vì nó còn liên quan đến chính sách bán hàng của doanh nghiệp, tốc độ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
- Kỳ thu tiền bình quân: Phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải
thu ( số ngày của một vòng quay các khoản phải thu ) Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiên trung bình càng nhỏ và ngược lại
Kỳ thu tiền bình quân được xác định theo công thức:
Kỳ thu tiền bình quân =
Số ngày trong kỳ Vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân thấp chứng tỏ doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, ngược lại nếu hệ số này cao, nhà quản trị sẽ phân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng
d) Vốn lưu động
- Vòng quay vốn lưu động: Phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được mấy
vòng Công thức xác định: