1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại lâm đồng

90 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Chế Tài Chính Dịch Vụ Môi Trường Rừng Tại Lâm Đồng
Tác giả Nguyễn Chí Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Tài chính và Ngân hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Lạt
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 818,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu “Chi trả dịch vụ môi trường tại Việt Nam” Hoàng Minh Hà và ctv, 2008 cũng đã đưa ra một số kiến nghị liên quan đến chức năng phòng hộ của rừng đầu nguồn: - Nghiên cứu xác định m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN CHÍ LINH

CƠ CHẾ TÀI CHÍNH DỊCH VỤ MÔI

TRƯỜNG RỪNG TẠI LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Đà Lạt – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng

Mã số: 60 34 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN HỒNG SƠN

Đà Lạt – 2012

Trang 3

1.1.1.Khái niệm Chi trả dịch vụ môi trường rừng 11

1.2.2 Nguyên tắc và hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng 14

1.3 Nội dung cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng 15

1.3.1 Thu từ dịch vụ môi trường rừng 15

1.3.2 Chi từ dịch vụ môi trường rừng 22

1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tài chính dịch vụ môi trường

rừng

1.4.1 Chính sách của nhà nước

1.4.2 Năng lực quản lý của nhà nước

1.4.3 Sự đồng thuận của đối tượng phải chi trả

Trang 4

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TÀI CHÍNH DỊCH VỤ

MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG

2.2.1 Cơ chế tài chính trước khi thực hiện thí điểm chi trả dịch

vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng

2.2.2 Cơ chế tài chính sau khi thực hiện Quyết định số

380/QĐ-TTg về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lâm

Đồng

36

39

2.2.3.Cơ chế tài chính khi triển khai thực hiện nghị định

99/2010/NĐ-CP về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

2.2.4.Đánh giá sự khác nhau giữa các giai đoạn thực hiện

43

49

2.2.5 Ảnh hưởng từ nguồn thu-chi tài chính thực hiện chi trả

dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng

51

2.2.6 Các quan hệ tài chính giữa các chủ thể: cơ quan quản lý,

chủ rừng và người nhận giao khoán bảo vệ rừng

52

Trang 5

2.2.7 Công tác kiểm tra, giám sát 54

2.3 Đánh giá thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng

tại tỉnh Lâm Đồng

56

2.3.1 Những kết quả đạt được 56

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 63

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ

TÀI CHÍNH DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI TỈNH

LÂM ĐỒNG

67

3.1 Định hướng của tỉnh Lâm Đồng đối với công tác quản lý bảo vệ

rừng và phát triển dịch vụ môi trường rừng

67

3.1.1 Định hướng hiệu quả kinh tế 67

3.1.2 Định hướng hiệu quả về môi trường 67

3.1.3 Định hướng chi trả dịch vụ môi trường rừng 69

3.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng 70 3.2.1 Kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng

quản lý Quỹ và Cơ cấu tổ chức bộ máy của Quỹ bảo vệ & phát triển

rừng của tỉnh

70

3.2.2 Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các Đề án đã xây dựng 73

3.2.3 Tăng cường hoàn thiện công tác thu 74

3.2.4 Công khai thủ tục thu, chi

3.2.5 Thực hiện công khai, minh bạch

3.2.6 Xử phạt và khen thưởng

74

74

74

Trang 6

3.3 Kiến nghị thực hiện hoàn thiện cơ chế tài chính địch vụ môi

trường rừng

75

3.3.1 Kiến nghị Chính phủ 75

3.3.2 Kiến nghị đối với Bộ Tài chính 76

3.3.3 Kiến nghị Bộ Nông nghiệp& phát triển nông thôn 76

3.3.4 Kiến nghị đối với UBND tỉnh Lâm Đồng 77

Trang 7

5 PES Chi trả dịch vụ môi trường rừng

6 PTNT Phát triển nông thôn

7 PTR Phát triển rừng

8 UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ,BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1 Diện tích đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng 35

2 Sơ đồ 3.1 Sơ đồ hệ thống Hội đồng Quỹ bảo vệ &PTR 71

3 Sơ đồ 3.2 Sơ đồ hệ thống tổ chức Quỹ bảo vệ &PTR Lâm 73

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Lâm Đồng là tỉnh cực Nam Tây nguyên có có diện tích tự nhiên 977.219 ha, diện tích đất lâm nghiệp 601.477ha, trong đó, diện tích có rừng 566.492ha, tỷ lệ độ che phủ của rừng chiếm 61,5%; là tỉnh đầu nguồn của 9 tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai, sông Cái,sông Lũy và Sêrêpok; rừng Lâm Ðồng không những có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế-

xã hội của tỉnh mà còn đóng góp lớn cho kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường cả nước Lợi ích của rừng đem lại rất lớn cho toàn xã hội: Tài nguyên rừng hiện còn khá phong phú và tính đa dạng sinh học rất cao; là tỉnh đầu nguồn của 5 con sông lớn cung cấp 2000MW điện, cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất không chỉ cho Lâm Đồng mà còn cho các tỉnh lân cận và TP Hồ Chí Minh; rừng bảo vệ môi trường sinh thái, đem lại cảnh quan, du lịch nghỉ dưỡng, du lich sinh thái

Dân số hiện nay của Lâm Đồng có khoảng 1,2 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 21%, phương thức sản xuất lạc hậu, đời sống khó khăn; phá rừng làm rẫy là tập quán hàng ngàn năm; 22% dân di cư

tự do; 13% dân di cư đến theo kế hoạch, như vậy tốc độ tăng dân số cơ học rất

nhanh (từ 0,3 triệu người năm 1976 lên 1,2 triệu người năm 2009) đã tạo ra

áp lực phá rừng làm rẫy lấy đất sản xuất làm nông nghiệp là rất lớn

Mặc dù, Trung Ương, Tỉnh ban hành nhiều cơ chế chính sách tương đối phù hợp và đã tạo động thái chuyển biến rõ rệt trong hoạt động lâm nghiệp của địa phương; phát huy cao nhất hiệu quả đầu tư của nguồn vốn ngân sách nhà nước và kết quả của việc đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng với tỉ trọng vốn đầu tư cho trồng rừng ngoài ngân sách nhà nước trong thời gian qua chiếm 24%; nâng độ che phủ của rừng từ 56% năm 1995 lên 61,5% năm 2009 Nhưng các chính sách Lâm Nghiệp hiện có chưa đủ mạnh để khuyến khích

Trang 10

bảo vệ rừng, lâm nghiệp Lâm Đồng vẫn chưa là chỗ dựa vững chắc của trên 250.000 đồng bào dân tộc thiểu số sống ở trong rừng, gần rừng và rừng vẫn không nuôi được họ

Tình hình phá rừng, khai thác rừng còn diễn ra phổ biến Chất lượng rừng tự nhiên ngày càng giảm sút

Tuy nhiên, tài nguyên rừng vẫn còn là tiềm năng do chưa có chính sách

và cơ chế quản lý, sử dụng hợp lý nên giá trị đóng góp của ngành lâm nghiệp còn ở mức rất khiêm tốn và nghịch lý, thu nhập bình quân của người làm nghề rừng thường kém hơn Tỉnh ít rừng Làm thế nào để bảo vệ rừng và phát triển rừng ở Lâm Đồng đang là một thách thức rất lớn Nếu không có chiến lược căn cơ, không có giải pháp đột phá thì diễn thế rừng sẽ đi xuống Cần một chính sách gắn rừng với dân, lấy rừng nuôi dân, dân phải có thu nhập và tiến tới làm giàu từ rừng, sản phẩm của rừng tạo môi trường sinh thái, tạo nguồn thu cho địa phương

Trước tình hình trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng và chọn Lâm Đồng, Sơn La là hai tỉnh để triển khai thực hiện Đây là cơ hội, là nguồn lực tài chính mới góp phần phát triển ngành Lâm

nghiệp của tỉnh, thông qua thực hiện cơ chế tài chính mới“những người được

hưởng lợi từ rừng có trách nhiệm đóng góp nhằm bảo vệ và phát triển rừng”

Đây là chính sách phù hợp với thực tiễn, thể hiện được mối quan hệ kinh tế giữa người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng trả cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng Chính sách này đã tạo ra nguồn tài chính mới

để đầu tư cho sự nghiệp bảo vệ rừng và phát triển rừng ở Lâm Đồng, nhằm giảm nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với công tác quản lý bảo vệ rừng để tăng đầu tư phát triển, nâng cao chất lượng rừng Mô hình thí điểm

Trang 11

tại Lâm Đồng – Việt Nam đã được dư luận các tổ chức quốc tế quan tâm và ủng hộ

Tuy nhiên, đây là nguồn thu tài chính mới không đưa vào nguồn thu – chi ngân sách hàng năm của tỉnh để thông qua Hội đồng nhân dân Do đó việc triển khai công tác thu, khai thác tất cả các khoản thu và thực hiện quản

lý, sử dụng nguồn thu này một cách hiệu quả đúng theo quy định của chính

sách là yếu tố quyết định đến sự thành công của chính sách

Vì lý do trên, tác giả chọn thực hiện Đề tài: “Cơ chế tài chính dịch vụ

môi trường rừng tại tỉnh Lâm Đồng”

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Ngày nay, con người đã nhận ra rằng, các giá trị sử dụng của rừng gồm giá trị hiện vật và giá trị sử dụng trừu tượng Nếu con người muốn có cuộc sống an lành thì phải trồng rừng và bảo vệ rừng để rừng sản xuất ra các giá trị

sử dụng ấy và nếu các giá trị này được cung ứng cho mọi thành viên trong

xã hội thụ hưởng thì các chủ rừng phải được chi trả, hoàn lại vốn hay lao động mà họ đã đầu tư cho rừng Theo Nguyễn Tuấn Phú (2008), rừng là “loại hàng hoá đặc biệt” có giá trị rất lớn, chiếm tới 60-80% tổng giá trị kinh tế mà rừng tạo ra Do đó, cần phải được hình thành “thị trường” để trao đổi giữa người sản xuất cung ứng các giá trị sử dụng của rừng với người hưởng thụ các giá trị này Các hoạt động trao đổi cung ứng dịch vụ sử dụng môi trường từ rừng được gọi là “Chi trả dịch vụ môi trường rừng” Đó là những cơ sở để hình thành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam

2.1 Các chương trình tiền đề cho PES tại Việt Nam

Dự thảo Luật Đa dạng sinh học trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 18/10/2008 có quy định về tài chính cho bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học đề cập đến các nguồn thu từ PES Hiện tại, Quỹ động

Trang 12

vật hoang dã thế giới (WWF) đang thực hiện một số dự án về các mô mô hình PES như: bảo vệ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch sinh thái

Chương trình Bảo tồn Đa dạnh sinh học khu vực Châu Á đánh giá cao tiềm năng và xây dựng mô hình thí điểm PES rừng ở 3 tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Phước, những mô hình này được triển khai thực hiện từ năm 2006-2009 do Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp với tổ chức Winrock Internationnal

Chương trình Môi trường trọng điểm và sáng kiến hành lang bảo tồn

đa dạng sinh học do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ từ năm

2006-2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng hỗ trợ một số họat động đánh giá và tìm cơ hội thị trường cho PES ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị

Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thực hiện dự án chi trả dịch vụ môi trường ứng dụng tại khu vực ven biển Dự án xây dựng cơ chế chi trả hấp thụ CO2 trong lâm nghiệp thí điểm tại huyện Cao Phong tỉnh Hoà Bình, do Trung tâm Nghiên cứu sinh thái và Môi trường rừng thực hiện

Hiện tại, Viện Chiến lược chính sách Tài nguyên và Môi trường (thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) đang đề xuất nghiên cứu đề tài khoa học công nghệ “Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường đất ngập nuớc ở Việt Nam”, với mục tiêu đề xuất cơ chế PES phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ngập nước

Những chương trình nói trên đã có những kết quả bước đầu và cho thấy rằng, Việt Nam đã sẵn sàng sử dụng một số công cụ tài chính và kinh tế cần thiết để thực thi hoạt động chi trả dịch vụ hệ sinh thái, tạo cơ sở pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn bước đầu để PES thực sự ứng dụng có hiệu quả rộng rãi ở Việt Nam

Trang 13

2.2.Các hoạt động nghiên cứu liên quan

Trong tài liệu “Chi trả dịch vụ môi trường: Kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam” của nhiều tác giả (Hoàng Minh Hà và ctv, 2008) đã đề cập đến những vấn đề ban đầu liên quan đến PES (chi trả dịch vụ môi trường) ở Việt Nam Theo tài liệu này, có một vài nghiên cứu điểm liên quan đến môi trường rừng (MTR) nói riêng đã được tiến hành ở nước ta là:

- Tạo nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn sông Đồng Nai do Cơ quan phát triển DANIDA của Đan Mạch và các đối tác nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm tại hồ Trị An và vùng hạ lưu sông Đồng Nai Vấn đề đặt ra là vùng hạ lưu sông bị ô nhiễm thì chi phí để xử lý nước ở đây

sẽ tăng Nhưng quan trọng là nghiên cứu phải xây dựng được cơ chế chi trả giữa các công ty cung cấp nước và nhóm đối tựơng gây ô nhiễm ở thượng nguồn Bước đầu tiên đã xác định nguyên nhân gây ô nhiễm và chi phí xử lý nước của các nhà máy nước Khi xác định được mối liên hệ này thì sẽ xây dựng cơ chế chi trả Nghiên cứu này đã đưa ra các thông điệp: (i) Các chi phí

và lợi ích của việc bảo vệ nguồn nước là những yêu cầu chính để thuyết phục người mua tham gia; (ii) Nguồn tài chính hỗ trợ là cần thiết cho những thay đổi ban đầu trong các phương thức sử dụng đất ở thượng nguồn; (iii) Kế hoạch chi trả dịch vụ MTR có nhiều khả năng thành công nếu các lợi ích của người mua là rõ ràng

- Xây dựng cơ chế chi trả hấp thụ các-bon trong lâm nghiệp, một nghiên cứu điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Dự án được Trường Đại học Lâm nghiệp và Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường phối hợp xây dựng Mục tiêu của dự án là bảo vệ môi trường và xoá đói giảm nghèo thông qua nâng cao mức thu nhập từ sản phẩm rừng và lợi ích thu được

từ việc bán tín chỉ các-bon Các thông điệp từ nghiên cứu điểm này cho thấy rằng: (i) Xây dựng các dự án các-bon trong lâm nghiệp sử dụng cơ chế phát

Trang 14

triển sạch (CDM) là một quá trình phức tạp và tốn kém; (ii) Cần lồng ghép các dự án phát triển lâm nghiệp với các lợi ích từ việc kinh doanh tín chỉ các-bon thông qua cơ chế chi trả tự nguyện; (iii) Chia sẻ lợi ích rõ ràng và sự tham gia của cộng đồng địa phương và nông dân là chìa khoá để triển khai dự

án thành công

Việt Nam đã sẵn sàng sử dụng một số công cụ tài chính và kinh tế cần thiết để thực thi hoạt động chi trả dịch vụ hệ sinh thái Trong tất cả các nghiên cứu điểm về PES đã trình bày, vấn đề không phải ở chỗ thiếu nguồn tài chính

mà chính là thiếu một khung pháp lý (Vũ Tấn Phương, 2006)

Tài liệu “Chi trả dịch vụ môi trường tại Việt Nam” (Hoàng Minh Hà và ctv, 2008) cũng đã đưa ra một số kiến nghị liên quan đến chức năng phòng hộ của rừng đầu nguồn:

- Nghiên cứu xác định mối liên hệ giữa việc sử dụng đất vùng thượng nguồn và chất lượng nước ở vùng hạ nguồn, tính toán các chi phí nhằm duy trì chất lượng nước;

- Thu hút các cộng đồng địa phương tham gia ký kết hợp đồng với các bên hưởng lợi từ rừng;

- Đảm bảo các hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với các cơ chế chi trả, đặc biệt xây dựng được cơ chế rõ ràng cho cộng đồng địa phương trong việc hưởng lợi từ quản lý tài nguyên được giao;

- Tiến hành nghiên cứu điểm về chi trả dịch vụ môi trường cho người nghèo, tập trung vào các cơ chế chi trả nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói Các

mô hình này có thể gồm: tăng cường sự an toàn về hưởng dụng đất, tạo cơ hội

để người dân địa phương tham gia vào việc ra quyết định, trả công lao động cho việc bảo vệ môi trường sao cho người dân thực hiện được các hoạt động cho sinh kế của họ

Trang 15

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề chung về cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng, mô hình áp dụng tại một số nước ;

- Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng giai đoạn thí điểm theo Quyết định 380/QĐ-TTg trong 2 năm 2009-2010; Thực hiện nghị định 99/2010/NĐ-CP trong năm 2011,2012

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng

4 ĐỐI TƯỢNG & PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu : Cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng 4.2 Phạm vi nghiên cứu : Cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tại tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2009-2010 và năm 2011, 2012

- Thu từ dịch vụ môi trường rừng

- Chi từ nguồn thu dịch vụ môi trường rừng

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Tra cứu tài liệu

- Thu thập số liệu

- Phân tích, đánh giá và xử lý thông tin

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Trang 16

Góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dịch vụ môi trường rừng để khai thác triệt để các khoản thu và quản lý, sử dụng đúng mục đích và hiệu quả nguồn thu này

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng

Chương 2: Thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lâm Đồng

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính dịch vụ môi

trường rừng tại tỉnh Lâm Đồng

Trang 17

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH

DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG

1.1 Khái niệm cơ chế tài chính

Theo Thạc sĩ Võ Khắc Thường (2012), khái niệm ”Cơ chế tài chính” và

”Cơ chế quản lý tài chính” đến nay vẫn còn những cách nhìn nhận khác nhau

Có quan điểm cho rằng trên khía cạnh nào đó thì hai khái niệm này có thể được xem là đồng nhất Điều này được giải thích rằng, khi dùng khái niệm cơ chế tài chính là hàm ý các bộ phận cấu thành, tác động của tài chính là một thể thống nhất, được định hướng theo mục tiêu nhất định và tài chính lúc này mới chỉ ”có khả năng ” trở thành một công cụ để quản lý kinh tế Khi sử dụng khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” thì ngoài nội dung của ”Cơ chế tài chính

” như đã nêu trên, tài chính được khẳng định rõ nét là một công cụ để quản lý kinh tế Cách nhìn nhận như trên chưa phải là một lý giải thỏa đáng, bởi hai khái niệm này, nếu qua một thuật ngữ được sử dụng thì rõ ràng giữa chúng có một nguồn gốc kinh tế và có mối quan hệ hữu cơ, song không thể đồng nhất hoàn toàn về nội dung, cơ cấu, vai trò cũng như phương thức tồn tại và vận động

Để làm sáng tỏ thuật ngữ ”Cơ chế tài chính” và ”Cơ chế quản lý tài chính ” cần phải thông qua khái niệm về ”Cơ chế kinh tế ” và ”Cơ chế quản lý kinh tế ”, bởi lẽ kinh tế quyết định tài chính hay nói cách khác, tài chính phản ánh các quan hệ kinh tế Trong các mối quan hệ này kinh tế là gốc Song cũng cần nhấn mạnh rằng tài chính không thụ động phản ánh các quan hệ kinh tế,

ngay cả điều chỉnh các quan hệ kinh tế đồng hành

Trang 18

Theo TS.Phạm Quang Trung (2003), Thuật ngữ ”Cơ chế quản lý tài chính” đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều văn bản, tài liệu, sách báo và trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, trong thực tế cụm từ ”Cơ chế tài chính” cũng được một số tác giả sử dụng để hàm ý cơ chế quản lý tài chính

Sự phân biệt không rõ ràng giữa hai khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” và ”Cơ chế tài chính” thể hiện khá rõ trong thực tế, qua các tài liệu, các văn bản, các quy định,v.v Xét về phương diện thực tiễn, việc sử dụng lẫn lộn như vậy không gây ra những hậu quả gì đáng kể và có thể chấp nhận được theo thói quen trong ngôn ngữ Tuy nhiên, dưới góc độ học thuật việc hiểu chính xác khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” là cần thiết, nhằm hạn chế những nhầm lẫn, sai sót trong trong quá trình nghiên cứu, xây dựng chính sách và ứng dụng trong thực tiễn

Tuy nhiên, hầu như có rất ít tài liệu nghiên cứu và luận giải về bản thân khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” Khi đề cập đến vấn đề quản lý tài chính hoặc có liên quan đến quản lý tài chính, hầu hết các tác giả ngầm định rằng không cần giải thích về thuật ngữ ”Cơ chế quản lý tài chính” và coi như

đã thống nhất cách hiểu về nó

Để xem xét đầy đủ nội dung ý nghĩa của thuật ngữ ”Cơ chế quản lý tài chính”, cần nghiên cứu khái niệm bao trùm trực tiếp của nó, đó là khái niệm ”

Cơ chế quản lý kinh tế” cho nên việc tiếp cận khái niệm ”Cơ chế quản lý kinh

tế ” sẽ giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính”

Khi nghiên cứu về hai khái niệm ”Cơ chế quản lý kinh tế” và ”Cơ chế kinh tế ” cho thấy rằng: Trong thực tế hai thuật ngữ này có thể được sử dụng thay thế cho nhau, ranh giới giữa chúng tương đối mờ nhạt, do đó có sự lẫn lộn ở một chừng mức nào đó

Trang 19

Như vậy ”Cơ chế tài chính” có thể hiểu là một phạm trù kinh tế khách

quan phản ánh sự hình thành tồn tại và vận động của một phương thức sản xuất tương ứng, trong đó chịu sự chi phối trực tiếp bởi quan hệ sản xuất mà cốt lõi là quan hệ hoặc chế độ sở hữu cấu thành của quan hệ sản xuất đó

1.2 Chính sách dịch vụ môi trường rừng

1.2.1 Khái niệm Chi trả dịch vụ môi trường rừng

Chi trả di ̣ch vụ hê ̣ sinh thái (Payment for ecosysterm servieces - PES) hay còn go ̣i là chi trả di ̣ch vụ môi trường (Payments for Environment Services

- PES) là một lĩnh vự c hoàn toàn mới nhưng đã thu hút đươ ̣c sự quan tâm của các quốc gia và các nhà khoa học trên toàn thế giới PES triển khai sớm nhất

ở Mỹ la tinh , châu Âu , châu Phi PES cũng được phát triển và thực hiê ̣n thí điểm ta ̣i châu Á n hư Indonesia , Philippiness , Trung Quốc , Ấn Độ và Việt Nam

Costa Rica, Mexico và Trung Quốc đã xây dựng các chương trình PES quy mô lớn , chi trả trực tiếp cho các chủ rừng để thực hiê ̣n các biê ̣n pháp bảo

vê ̣ rừng nhằm tăng cường cung cấp các di ̣ch vụ thủy văn , bảo tồn đa dạng sinh ho ̣c, chống xói mòn , hấp thụ cacbon và ta ̣o cảnh quan đe ̣p…

Các nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường của tổ chức For est Trends, The katoomba group (2011); Đánh giá giá tri ̣ kinh tế của công tác bảo tồn hê ̣ sinh thái của Pagiola , S., K vonRitter , (2004) đã xác đi ̣nh các di ̣ch vụ

hê ̣ sinh thái cơ bản , cơ hô ̣i và thách thức khi tham gia thi ̣ trường chi trả di ̣ch

vụ môi trường

Mô ̣t số nghiên cứu khác tâ ̣p trung vào viê ̣c phát triển thi ̣ trường cacbon như: Cái nhìn từ tương lai : Hiê ̣n tra ̣ng của thi ̣ trường các bon tự nguyê ̣n 2011 (Forestrends, 2011); Hiện tra ̣ng và xu thế thi ̣ trường Cacbon 2011 (World Bank, 2011) hoặc các công trình nghi ên cứu về cách đo đa ̣c , thẩm tra và xác

Trang 20

đi ̣nh chất lươ ̣ng di ̣ch vụ hê ̣ sinh thái rừng như : Hướ ng dẫn đo cacbon rừng (Timothy R H Pearson and Sandra L Brown, 1997); Điều tra rừ ng và sổ tay các phương pháp phân tích đất (Amacher, M.C; O’Neil, K.P, 2003); Những nghiên cứu này đã đóng góp phần không nhỏ trong quá trình xây dựng hê ̣

phương pháp luâ ̣n về cách đo đa ̣c , giám sát, thẩm tra chất lượng rừng và di ̣ch

Tiếp đó là nghiên cứu về PES thông qua quyết đi ̣nh 380/2008/QĐ – TTg về chính sách thí điểm chi trả di ̣ch vụ môi trường rừng ở Viê ̣t Nam Mục đích của nghiên cứu này là ta ̣o ra cơ sở cho viê ̣c xây dựng khung pháp lý về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Đi ̣a điểm thực hiê ̣n là Tỉnh Sơn

La và tỉnh Lâm Đồng Kết quả nghiên cứu đã xác đi ̣nh đố i tượng sử dụng di ̣ch

vụ, xác định được xuất phí phải chi trả cho mỗi đơn vị dịch vụ môi trường và thành lập được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng với số tiền chi trả ở tỉnh Sơn La

và Lâm Đồng

Trên cơ sở thành công của 2 dự án nghiên cứu thí điểm , năm 2010 chính phủ đã ban hành nghị định 99/2010/ NĐ – CP quy đi ̣nh về viê ̣c chi trả dịch vụ môi trường rừng Đến thời điểm hiê ̣n nay đã có mô ̣t số tỉnh triển khai thực hiê ̣n nghi ̣ đi ̣nh 99/2010/NĐ-CP như: Ninh Thuâ ̣n , Lạng Sơn , Quảng

Trang 21

Nam… Tuy nhiên , phần lớn các hoa ̣t đô ̣ng triển khai ta ̣i các tỉnh này mới dừng ở viê ̣c lâ ̣p kế hoa ̣ch thành lâ ̣p Ban chỉ đa ̣o thực hiê ̣n nghi ̣ đi ̣nh 99; thành

lâ ̣p tổ kỹ thuâ ̣t, thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh

 Môi trường rừng: Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh

thái rừng : thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên Môi trường rừng có giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của của môi trường rừng, gồm : bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác

 Dịch vụ môi trường rừng: Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung

ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ : Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản

 Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Chi trả dịch vụ môi trường rừng là

quan hệ tài chính tương đối mới trên thế giới Các dịch vụ môi trường rừng có vai trò ngày càng tăng Trong khi nhu cầu về các dịch vụ này liên tục tăng thì năng lực của các hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ đó ngày càng suy giảm Do

đó rất cần xác lập quan hệ chi trả cho dịch vụ này với mức chi trả (giá cả) ngày càng tăng lên Bản chất của chi trả cho dịch vụ môi trường rừng là một dịch

vụ công cộng mang tính vô hình nhưng người được chi trả lại rất cụ thể

Trang 22

Chi trả dịch vụ môi trường rừng "Là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ" Như vậy, chi trả dịch vụ môi trường rừng là một quan hệ tài chính mới cho một loại hình dịch vụ công cộng là dịch vụ môi trường rừng Việc chi trả này bao gồm các yếu tố cơ bản như đối tượng phải chi trả, đối tượng được chi trả, loại dịch

vụ chi trả, hình thức và nguyên tắc chi trả Mặc dù còn nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau nhưng chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành hình thức chi trả tài chính phổ biến trong cơ chế chính sách của nhiều quốc gia, trong đó Việt Nam đã tiếp cận và bước đầu đang triển khai thực hiện

1.2.2 Nguyên tắc và hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng

 Nguyên tắc: Chi trả dịch vụ môi trường rừng thực hiện theo nguyên

tắc: Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu rừng ( rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất) tạo ra dịch vụ đã cung ứng

 Hình thức chi trả : Thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng thông

qua 2 hình thức : Chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp

- Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: là việc người sử dụng dịch

vụ môi trường rừng (người phải chi trả, người mua) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng (người được chi trả, người bán)

- Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp: là việc người sử dụng dịch

vụ môi trường rừng chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng thông qua một tổ chức nhận ủy thác để trả tiền cho cung ứng dịch vụ môi trường rừng (người được chi trả, người bán)

Trang 23

1.3 Nội dung cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng

 Cơ chế dịch vụ môi trường rừng: Cơ chế dịch vụ môi trường rừng là

cơ chế mà ”Những người được hưởng hưởng lợi từ rừng có trách nhiệm

đóng góp nhằm bảo vệ và phát triển rừng ”

Người hưởng lợi (người phải chi trả dịch vụ môi trường rừng là những

tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng và họ có trách nhiệm phải chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu rừng tạo ra dịch vụ đã cung ứng

Các chủ rừng của các khu rừng tạo ra dịch vụ môi trường rừng sử dụng nguồn thu này để chi phí cho công tác quản lý bảo vệ rừng nhằm phát triển rừng, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là bảo đảm nguồn nước cho sản xuất điện, nước và các hoạt động kinh doanh du lịch

1.3.1 Thu từ dịch vụ môi trường rừng

Thu dịch vụ môi trường rừng là nguồn thu được phát sinh từ bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng (bên bán) cho bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng (bên mua) thông qua hợp đồng hợp đồng thỏa thuận tự nguyện có ràng buộc về mặt pháp lý giữa bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng

1.3.1.1 Đối tượng phải chi trả

Các cơ sở sản xuất điện phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối ; về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện ;

Các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch ;

Trang 24

Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất ;

Các tổ chức cá nhân, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi

từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch

vụ du lịch

Các đối tượng phải trả tiền DVMTR cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên,

sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản

Tiền Chi trả DVMTR của các tổ chức, cá nhân phải chi trả là một yếu

tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng dịch vụ môi trường rừng và không thay thế thuế tài nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật

Trường hợp nghiên cứu cụ thể cho việc sản xuất điện ở nhà máy thủy điện Đa nhim đã sử dụng nguồn nước từ lưu vực Đa nhim, tỉnh Lâm Đồng ở vùng thượng lưu của sông Đồng Nai đã cho thấy :

Vai trò của rừng trong việc điều tiết nước trong lưu vực là rất rõ Nó tạo dòng chảy trong mùa khô cao hơn và giảm dòng chảy trong mùa mưa Nó

Trang 25

dẫn đến việc tổng sản lượng điện của nhà máy thủy điện Đa nhim giảm đi 6 triệu Kwh/năm trong trường hợp một năm ẩm ướt và 27 triệu Kw/h/năm trong những năm khô hạn nếu 45.000ha rừng thông chuyển sang canh tác nông nghiệp

Giá trị của rừng trong việc điều tiết nước : Sản lượng của nhà máy

thủy điện Đa nhim đã được tính toán trên cơ sở dữ liệu chảy tràn hàng tháng đến hồ do mô hình SWAT tính toán cho những năm ẩm ướt và những năm khô hạn Sản lượng điện của đa nhim sẽ được tối đa hóa nư là (i) sự sử dụng tối đa thể tích hoạt động bằng việc hạ thấp mực nước hồ chưa đến mức nước tối thiểu WL= 1,018m mỗi năm; (ii) Quy luật vận hành sẽ không bị hạn chế bởi sản lượng điện đầu ra từ nhà máy Đa Nhim; (iii) Sự duy trì hàng năm của turbines được xem xét như là tổng thời gian hoạt động sẽ là 347,75 ngày/năm

Theo số liệu tại bảng 1.1 cho ta thấy : Chuyển đổi 45.000ha rừng thông sang sản xuất nông nghiệp sẽ giảm sản lượng điện đầu ra 6,35 triệu Kwh/năm trong những năm rừng ẩm ướt Kết quả là tổng thất thoát điện là 0,2539 triệu USD/năm Giá trị điều tiết nước trong những năm ẩm ướt là 5,64 USD/ha/năm;

Theo số liệu tại bảng 1.2 cho ta thấy: Trong những năm rừng khô hạn, vai trò của rừng trong việc điều tiết nước sẽ rất quan trọng cho sản xuất điện ở

Đa Nhim Chuyển đổi 45.000ha rừng sang sản xuất nông nghiệp sẽ làm giảm sản lượng đầu ra là 26,6 triệu Kwh/năm Nó dẫn đến kết quả là tổng thất thoát điện là 1,0638 triệu USD/năm Giá trị trị rừng trong việc điều tiết nước trong những năm khô hạn là 23,64 USD/ha/năm

Trang 26

Bảng 1.1: Giá trị rừng trong việc điều tiết nước trong những năm ẩm ướt

Mục Năng lượng

(triệu Kwh/năm)

Tổng giá trị (triệu USD/năm )

Diện tích ( rừng/ha )

Giá trị rừng ( USD/ha/năm )

Tình huống -0 1.272 50,88 45.000 - Tình huống -1 1.266 50,63 0 -

( Nguồn : kết quả nghiên cứu của Th.sĩ Trần Kim Thanh )

Bảng 1.2 Giá trị rừng trong việc điều tiết nước trong những năm khô hạn

Mục Năng lượng

(triệu Kwh/năm)

Tổng giá trị (triệu USD/năm )

Diện tích ( rừng/ha )

Giá trị rừng ( USD/ha/năm )

Tình huống -0 939 37,57 45.000 - Tình huống -1 913 36,5 0 -

( Nguồn : kết quả nghiên cứu của Th.sĩ Trần Kim Thanh )

Vai trò của rừng trong việc giảm chất lơ lững trong hồ chứa

Trong điều kiện hiện tại của che phủ rừng trong lưu vực, dự kiến là tuổi thọ của dự án sẽ là 60 năm : Sản lượng điện ở nhà máy thủy điện Đa nhim sẽ

là 1.210 triệu Kwh/năm và đã bị giảm do sự bồi lắng tự nhiên của bùn trong thể tích hoạt động của hồ chứa đến mức 1.041 triệu Kwh trước khi công trình ngừng hoạt động Điều này tương đương với một sự giảm sản lượng đầu ra với tốc độ thất thoát là 1.408 kwh/năm

Giảm tuổi thọ hoạt động của nhà máy : Tổng sản lượng thất thoát đất từ lưu vực trong trường hợ 45.000ha rừng được chuyển sang nông nghiệp sẽ là 4 lần so với sử dụng đất hiện tại Mối quan hệ giữa tổng thất thoát đất và dòng chảy chất lơ lửng vào hồ chưa được xác định Giả định rằng tốc độ bồi lắng chất lơ lững trong thể tích chết sẽ là giống như sự thay đổi tổng thất thoát đất Tuổi thọ của hồ chứa sẽ bị giảm đi từ 60 năm trong tình huống sử dụng đất

Trang 27

hiện tại cìn 30 năm trong tình huống chuyển đổi 45.000 ha rừng thông sang sản xuất nông nghiệp

Giá trị của rừng trong việc trong việc làm giảm chất lơ lững bồi lắng lòng hồ : Như đã phân tích ở trên, chuyển đổi rừng sang canh tác nông nghiệp

sẽ giảm tuổi thọ của công trình từ 60 năm ( trong trường hợp sử dụng đất hiện tại) xuống còn 30 năm ( trong trường hợp chuyển 45.000ha rừng ) Sự tổn thất sản lượng điện từ năm thứ 31 đến năm 60 được tính đến trong giá trị ròng hiện tại ( NPV) của tình huông 0 ( 60 năm hoạt động ) và tình huống 1 ( 30 năm hoạt động ) Sự tổn thất điện đầu ra sẽ là 24,41 triệu USD do bồi lắng Tương đương với tiền góp hàng năm của tổn thất NPV là 2,45 triệu USD/năm Giá trị của rừng trong việc giảm bồi lằng chất lơ lững vào hồ sẽ là 54,43 USD/ha/năm

Qua kết quả nghiên cứu, cho thấy: Các giá trị môi trường rừng tùy thuộc không chỉ vào loại rừng mà còn vào mức độ phát triển của các hoạt động của các hoạt động kinh tế của cộng đồng Rừng có chức năng giảm các thảm họa tự nhiên về độ lớn và tần suất, khi hạ nguồn càng dễ bị tổn thương thì giá trị môi trường của rừng càng lớn Vì vậy, các giá trị môi trường của rừng là theo từng nơi cụ thể Giá trị của rừng về điều tiết nước và giảm bồi lắng bùn trong hồ chứa ở lưu vực Đa Nhim sẽ ở mức thấp so với công trình thủy điện mà ở đó sản lượng điện phụ thuộc chủ yếu vào lưu vực và thể tích hoạt động của hồ chứa Tuy nhiên, lưu vực này có tỷ lệ che phủ cao 85% với tổng diện tích rừng là 63.000ha trong đó 8.257ha rừng lá rộng thường xanh, 47.994ha rừng thông, 4.911ha rừng hỗn giao và 1.917 ha rừng trồng

Một ha rừng sẽ mang lại lợi ích cho công trình thủy điện Đa Nhim là 69,07USD/ha/năm trong đó 14,64 USD/năm là từ việc điều tiết nước và 54,43USD/ha/năm là do giảm chất lơ lửng bồi lắng vào hồ Nếu lợi ích của

Trang 28

rừng được tính bằng VND/Kwh, tổng là 64,55VND/Kwh trong đó 14,92VND/Kwh là từ việc điều tiết nước và 49,63VND/Kwh là do làm giảm chất lơ lửng bồi lắng hồ

Căn cứ theo kết quả nghiên cứu trên, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra mức thu tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các nhà máy thủy điện nằm trong các lưu vực được cung cung ứng dịch vụ môi trường rừng; Tuy nhiên, số tiền chi trả này Chính phủ đã quyết định nó là một yếu tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng dịch vụ môi trường rừng cho nên chi phí này là do người sử dụng sản phẩm này phải gánh chịu chứ nhà sản xuất không phải trả Cho nên để cho phù hợp điều kiện phát triển sản xuất và thu nhập của người dân Việt Nam Ngày 10/4/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định

số 380/QĐ-TTg về Chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng đã xác định số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cụ thể như sau :

Trường hợp chi trả trực tiếp : số tiền người phải chi trả dịch vụ môi

trường rừng thanh toán trực tiếp cho người được chi trả dịch vụ môi trường rừng , trên cơ sở hợp đồng hoặc hai bên thỏa thuận

Trường hợp chi trả gián tiếp:

Đối với cơ sở sản xuất điện được thu trên sản lượng điện thương phẩm

mà máy bán ra với giá thu 20 đồng/Kwh

Đối với các cơ sở sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt được thu theo sản lượng nước thương phẩm bán ra với gia thu là 40 đồng/m3

Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch được tính trên doanh thu

du lịch từ 1-2%

1.3.1.3 Phân bổ và quản lý sử dụng nguồn thu từ chi trả DVMTR

Trang 29

Trường hợp chi trả trực tiếp : Tiền thu được từ chi trả dịch vụ môi

trường rừng, sau khi thực hiện nghĩa vụ về tài chính theo quy định của pháp luật, người được chi trả có toàn quyền quyết định việc sử dụng số tiền này để đầu tư vào việc bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao chất lượng các dịch vụ môi trường rừng và cải thiện đời sống

Trường hợp chi trả gián tiếp : Thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển

rừng theo quy định tại Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ là tổ chức tiếp nhận ủy thác tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng

Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam thu từ những khi rừng nằm trong phạm vi hành chính từ 2 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên Được sử dụng tối đa 0,5% trên tổng số tiền nhận ủy thác từ các đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng cho hoạt động nghiệp vụ của Quỹ có liên quan đến hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng; Số tiền còn lại được chuyển về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức làm thay nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh theo diện tích rừng của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng

Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh thu từ những khi rừng nằm trong phạm vi hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Số tiền nhận được từ tiền thu được từ Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam và Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh được coi là 100% và được sử dụng như sau:

Trích tối đa không quá 10% để chi cho các hoạt động của Quỹ bảo vệ

& phát triển rừng tỉnh; Trích một phần không quá 5% so với số tiền ủy thác chuyển về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, cộng với các nguồn kinh phí hợp pháp khác để dự phòng, hỗ trợ cho các gia đình, cá nhân, cộng đồng

Trang 30

dân cư thôn được giao khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài trong trường hợp có thiên tai, khô hạn;

Số còn lại để chi trả cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng Số tiền này được coi như là 100% và được sử dụng cho 2 trường hợp sau đây :

Đối với các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; cộng đồng dân cư thôn được nhà nước giao rừng để sử dụng

ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp thì được hưởng toàn bộ số tiền trên;

Đối với chủ rừng là tổ chức nhà nước có thực hiện giao khoán, bảo vệ rừng thì được sử dụng 10% số tiền trên để thực hiện các công việc kiểm tra, giám sát, nghiệm thu, đánh giá chất lượng, số lượng rừng để thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm; Số còn lại 90% để chi trả cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng

Trường hợp diện tích rừng còn lại chưa giao khoán bảo vệ rừng thì số tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả cho diện tích rừng đó do chủ rừng quản

lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về tài chính phù hợp với từng loại hình tổ chức

1.3.2 Chi từ dịch vụ môi trường rừng

Chi dịch vụ môi trường rừng: Rừng được chi trả tiền dịch vụ môi

trường rừng là các khu rừng có cung cấp một hay nhiều dịch vụ môi trường rừng như : Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; Hấp thụ

và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển

Trang 31

các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản

1.3.2.1 Đối tượng được chi trả

Các đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các chủ rừng của các khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng gồm : Các chủ rừng là tổ chức được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để sụng dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các chủ rừng là tổ chức tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được giao cho UBND cấp tỉnh xác nhận theo đề nghị của Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn; Các chủ rừng này là

hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, cộng đồng dân

cư được nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư thôn tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được nhà nước giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện xác nhận theo đề nghị của cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp,

có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã

Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài với các chủ rừng là tổ chức nhà nước (gọi là hộ nhận khoán) ; hợp đồng nhận khoán do bên giao khoán và bên nhận khoán lập, ký và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã

Các tổ chức, cá nhân này có trách nhiệm quản lý và bảo vệ, phát triển ,

sử dụng rừng theo quy định tại Luật số 29/2004/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI, kỳ họp thứ 6 từ ngày 26 tháng

10 đến ngày 03 tháng 12 năm 2004 , cụ thể :

Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền vững

về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược

Trang 32

phát triển kinh tế- xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch,

kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cả nước và địa phương; phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hóa nghề rừng; Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà nước với chủ rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng

1.3.2.2 Quản lý, sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng

Việc thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng của Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng cấp tỉnh được thực hiện cụ thể như sau :

Chi hoạt động của Quỹ: Chi quản lý hành chính văn phòng theo cơ chế

ủy thác, chi cho các hoạt động tiếp nhận tiền, thanh quyết tóan, kiểm tra, giám sát , kiểm toán; hỗ trợ cho các hoạt động liên quan đến nghiệm thu, đánh giá rừng; hỗ trợ cho các hoạt động kỹ thuật theo dõi chất lượng dịch vụ môi trường rừng; hỗ trợ cho các hoạt động liên quan đến việc chi trả dịch vụ môi trường rừng các cấp huyện, xã, thôn;

Chi trả cho chủ rừng: Số tiền được chi trả của một loại dịch vụ cho

chủ rừng được xác định bằng diện tích rừng có cung cấp dịch vụ của chủ rừng nhân với số tiền chi trả bình quân cho 1ha rừng và nhân với hệ số chi trả tương ứng với chủ rừng đó (sau đây gọi chung là hệ số K) Một khu rừng cung cấp được nhiều dịch vụ môi trường rừng thì được hưởng các khỏan chi trả của các dịch vụ đó

Hệ số K được xác định căn cứ vào các yếu tố sau :

K = (K LR + K CLR + K NGR + K TĐ ) / 4

Trong đó :

Trang 33

 KLR: Trạng thái rừng là khả năng tạo ra dịch vụ môi trường rừng

Chất lượng các dịch vụ điều tiết nước, cung ứng nguồn nước, bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ tuỳ thuộc vào loại rừng tại từng khu vực áp dụng thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Cấp độ tăng dần của hệ số phụ KLR cụ thể là: KLR= 0,9 với rừng sản xuất, KLR = 1 với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng

 KCLR: Loại rừng

Chất lượng của dịch vụ điều tiết nước, cung cấp nước, chống bồi lắng lòng hồ còn tuỳ thuộc vào chất lượng rừng Rừng giàu, rừng trung bình điều tiết sinh thuỷ, cung cấp nước có hiệu qủa hơn rừng nghèo Do đó KCLR áp dụng có cấp độ tăng dần cụ thể là: KCLR= 0,9 với rừng nghèo và rừng phục hồi, KCLR=0,95 với rừng trung bình và KCLR= 1với rừng giàu;

 KNGR: Nguồn gốc hình thành rừng

Nguồn gốc hình thành rừng cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng điều tiết và cung cấp nước Rừng tự nhiên với sự đa dạng về hệ sinh thái vượt trội hơn hẳn so với rừng trồng, nhất là sự đa dạng và chất lượng của thảm rừng tự nhiên có vai trò điều tiết nguồn nước, cung cấp nước và chống bồi lắng hiệu qủa hơn rừng trồng Vì vậy cần có một hệ số phụ để tính toán và điều chỉnh giá trị chi trả cho phù hợp với chất lượng tạo lập môi trường rừng Vận dụng

hệ số phụ KNGR là hệ số phụ tuỳ thuộc vào nguồn gốc hình thành rừng, hệ số phụ KNGR cụ thể là: KNGR= 0,9 với rừng trồng, KNGR = 1 với rừng tự nhiên;

 KTĐ: Mức độ khó khăn, thuận lợi đối với việc bảo vệ rừng

Yếu tố dân sinh kinh tế, các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn và quốc gia như đường giao thông, khu dân cư cũng có những tác động lớn ảnh hưởng đến việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng để có chất lượng dịch vụ môi trường

Trang 34

rừng đảm bảo nhu cầu của các đối tượng phải chi trả dịch vụ Vì vậy cũng cần xét đến một hệ số phụ về các mức tác động khách quan khác nhau đến tài nguyên rừng để điều chỉnh giá trị thanh toán chi trả cho người tạo lập cho phù hợp và công bằng đảm bảo việc chi trả môi trường rừng là hỗ trợ công bảo vệ rừng là chính, nên có thể xét đến mức độ khó khăn trong quản lý bảo

vệ rừng Áp dụng tương ứng với KTĐ như sau:

Mức tác động I: là mức tác động nguy cấp lên rừng đối với các tiểu khu gần đường giao thông, gần các sông suối lớn, gần khu dân cư, vùng lõi của Vườn Quốc gia Với Mức tác động I, KTĐ= 1;

Mức tác động II: Mức tác động ít nguy cấp lên rừng đối với khu vực vùng sâu, vùng xa dân cư, xa đường giao thông Với Mức tác động II, KTĐ= 0,9

Xác định khu vực giao khoán quản lý bảo vệ rừng có các mức tác động

I và II nêu trên khoanh theo ranh giới đơn vị tiểu khu

Số tiền chi trả bình quân cho 1 ha rừng được xác định bằng số tiền thu được của bên chi trả cho một loại dịch vụ môi trường rừng cụ thể, sau khi trừ khoản tiền quản lý, kinh phí dự phòng chia cho tổng các diện tích rừng từng loại của các chủ rừng cùng tham gia cung cấp dịch vụ đó, nhân với hệ số K tương ứng với từng loại của chủ rừng được chi trả

Trang 35

 Công thức tính tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng

Tổng mức chi – Tổng mức chi x 10% (Chủ rừng)

= Tổng số tiền thu được

Kinh phí quản lý của Quỹ BV& PTR + Kinh phí dự

phòng

Mức chi trả tiền DVMTR bình quân cho 1ha rừng

Số tiền chi

trả cho

chủ rừng

Mức chi trả bình quân cho 1ha rừng (đ/ha) x

Diện tích chủ rừng quản lý,sử dụng X

Hệ số

K của chủ rừng

10% Số tiền chi

Số tiền chi

trả DVMTR

Trang 36

 Đơn giá chi trả khoán bảo vệ rừng

Chi trả hộ nhận khoán bảo vệ rừng

Số tiền mà hộ nhận khoán được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng

được xác định bằng số tiền chi trả bình quân cho 1ha rừng nhân với diện tích

rừng được chi trả (ha) và hệ số K;

Số tiền chi trả bình quân cho 1 ha rừng (đ/ha) được xác định bằng tổng

số tiền còn lại chia cho tổng các diện tích rừng từng loại được chi trả tại thời

điểm được cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận nhân với hệ số K tương

ứng với diện tích rừng từng loại được chi trả

Đơn giá chi trả

x

Diện tích rừng nhận khoán của hộ dân

x

Hệ số

K của hộ nhân khoán

=

Mức chi trả bình quân cho 1ha rừng (đ/ha)

Diện tích chủ rừng của hộ nhận khoán

Hệ số

K của hộ nhận khoán

Trang 37

1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng

Cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng chịu ảnh hưởng rất nhiều nhân tố, cả các nhân tố chủ quan và khách quan

1.4.1 Chính sách của nhà nước

Chính sách của nhà nước là khung pháp lý không thể thiếu trong quá trình triển khai thực hiện vấn đề này, nhất là hiện nay Việt Nam đang thực hiện chi trả theo hình thức gián tiếp Nhà nước đưa ra mức thu và quy định vấn đề phân phối nguồn thu, và trình tự thủ tục chi trả và thanh quyết toán nguồn thu này Việc triển khai thực hiện cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng phụ thuộc rất nhiều vào các văn bản của nhà nước quy định

Văn bản quy định mức thu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà máy sản xuất điện, nhà máy sản xuất nước, hay các công ty kinh doanh du lịch thì việc triển khai thu dễ được sự đồng thuận của các đối tượng phải chỉ trả; Ngược lại thì cơ chế này

sẽ dễ bị ”chết yểu” vì không thu được do chủ yếu dựa vào nguồn thu của các bên phải chi trả để nuôi bộ máy hoạt động của Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng, chi trả cho các hộ nhận khóan bảo vệ rừng nhằm từng bước thay thế nguồn vốn quản lý bảo vệ rừng do từ nguồn ngân sách cấp Quy định và hướng dẫn

cụ thể việc phân bổ nguồn thu, đối tượng được chi trả, hình thức quản lý, kiểm tra, gíam sát và thanh quyết tóan thì sẽ rất thuận lợi cho việc triển khai

và thực hiện

1.4.2 Năng lực quản lý của nhà nước

Năng lực quản lý của cơ quan quản lý nhà nước thể hiện qua triển khai, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát Chi trả dịch vụ môi trường rừng là khái niệm

Trang 38

tương đối mới ở Việt Nam, vì vậy việc triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường cần phải mất rất nhiều thời gian và công sức đầu tư, để cho người phải chi trả lẫn người được chi trả hiểu một cách tường tận nội dung, bản chất

và mục tiêu của chính sách này Triển khai chính sách một cách đồng bộ từ Trung ương đến xuống các địa phương, thôn ấp nhất là đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số nằm trong khu vực được chi trả dịch vụ môi trường rừng

Vai trò chỉ đạo xuyên suốt ở đây thuộc về UBND tỉnh, các Sở, ban ngành có liên quan mà cơ quan thường trực là Sở Nông nghiệp & PTNT; Tập trung toàn hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cơ sở tham gia để giáo dục, tập huấn nâng cao nhận thức cho cộng đồng và thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng vì đây là chìa khoá của sự thành công; Kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện: đây là một khâu không kém phần quan trọng để đánh giá việc thực hiện chính sách này có thành công hay không Việc kiểm tra, giám sát phải bao gồm cả cơ quan quản lý nhà nước, các hội, đoàn thể và cộng đồng dân cư nơi có triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

1.4.3 Sự đồng thuận của đối tượng phải chi trả

Khi có được cơ chế, chính sách phù hợp thì công tác tuyên tuyên truyền

và triển khai cơ chế chính sách đó đạt hiệu quả tạo được sự đồng thuận của cộng đồng và bên phải chi trả thì nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng sẽ đạt được mục tiêu chúng ta đặt ra Sự thấu hiểu, đồng thuận và thực hiện chi trả của các đối tượng được chi trả là nhân tố quyết định sự sống còn của chính sách này Nếu các đối tượng phải chi trả không thực hiện chi trả theo quy định của Chính phủ thì coi như chính sách này sẽ bị phá sản

1.4.4 Chất lượng dịch vụ cung ứng

Trang 39

Chất lượng dịch vụ cung ứng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu của cơ chế tài chính này Nếu các đơn vị chủ rừng thực hiện tốt công tác bảo

vệ, chăm sóc và phát triển tốt rừng thì rừng sẽ phát triển tốt Rừng tốt thì sẽ đem lại chất lượng cung ứng dịch vụ môi trường tốt, sẽ tác động trực tiếp đến các nhà phải chi trả dịch vụ môi trường rừng Khi nhận được sự cung ứng dịch vụ tốt như nguồn nước ổn định, chất lượng nước tốt hơn, bồi lắng lòng

hồ thấp thì đơn vị phải chi trả sẽ đem lại hiệu quả cao trong sản xuất của các nhà máy điện, nhà máy nước; sản lượng đầu ra tăng thì sẵn sàng chi trả một cách kịp thời và đầy đủ tiền dịch vụ môi trường rừng và ngược lại

1.4.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bên phải chi trả

Trong điều kiện kinh tế thế giới hiện nay cũng như những khó khăn của nền kinh tế Việt Nam về nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất của các doanh nghiệp Nên kết quả sản xuất của các nhà máy thủy điện, sản xuất nước sạch và các Công ty kinh doanh du lịch là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến

cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng

1.4.6 Thiên tai, hạn hán

Thiên tai, hạn hán luôn là mối hiểm họa do thiên nhiên gây ra, mà con người khó có thể lường trước được hậu quả nó mang lại Đặc biệt nó ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, hệ sinh thái Hạn hán sẽ dễ dẫn đến cháy rừng, môi trường bị tàn phá, hệ thống sông suối sẽ bị giảm và ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các nhà máy điện, cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất công nghiệp sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến nguồn thu dịch vụ môi trường rừng

Ảnh hưởng của các nhân tố trên sẽ được luận giải chi tiết trong phân tích Thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lâm Đồng

Trang 40

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trên đây là những nguyên cứu tổng quát về cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng : những khái niệm, nội dung thu, chi dịch vụ môi trường rừng, đối tượng phải chi trả, người được chi trả và phân phối quản lý, sử dụng nguồn tiền thu, chi trả dịch vụ môi trường rừng Đồng thời cũng nêu ra những nhân tố ảnh hưởng tới cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng Trên cơ sở lý luận của chương này để phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế tài chính dịch

vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng giai đoạn 2009 đến năm 2012 trong chương 2

Ngày đăng: 26/06/2022, 09:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Minh Hà , Katherine, W., và các tác giả khác (2008), Chi trả di ̣ch vụ môi trường : kinh nghiê ̣m và bài học tại Viê ̣t Nam , World Agroforestry Centre (ICRAF), Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi trả di ̣ch vụ môi trường : kinh nghiê ̣m và bài học tại Viê ̣t Nam
Tác giả: Hoàng Minh Hà , Katherine, W., và các tác giả khác
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2008
4. Juergen H ., Tô Thi ̣ Thu Hương (2011), Chi trả di ̣ch vụ môi trường rừng tại Việt Nam – Kết nối chủ rừng và n gười sử dụng di ̣ch vụ môi trường rừng , The center for people and forests, RECOFTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi trả di ̣ch vụ môi trường rừng tại Việt Nam – Kết nối chủ rừng và n gười sử dụng di ̣ch vụ môi trường rừng
Tác giả: Juergen H ., Tô Thi ̣ Thu Hương
Năm: 2011
7. RUPES (Rewarding Upland poor for Environment Services) (2004), Chiến lược mới nhằm đền đáp cho người nghèo vùng cao Chấu Á để bảo tồn vàcải thiện môi trường của chúng ta, World Agroforestry Center, ICRAF Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược mới nhằm đền đáp cho người nghèo vùng cao Chấu Á để bảo tồn và "cải thiện môi trường của chúng ta
Tác giả: RUPES (Rewarding Upland poor for Environment Services)
Năm: 2004
9. Trần Kim Thanh (2008), Giá trị của rừng về bảo tồn nước và kiểm soát xói mòn lưu vực Đa nhim, tỉnh Lâm Đồng, Khảo sát kinh tế xã hội để đánh giá chính sách thí điểm của chính phủ Việt nam về chi trả DVMTR ở tỉnh Lâm Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của rừng về bảo tồn nước và kiểm soát xói mòn lưu vực Đa nhim, tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Trần Kim Thanh
Năm: 2008
11. Phạm Quang Trung (2003), Tập đoàn kinh doanh và cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn kinh doanh, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn kinh doanh và cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn kinh doanh
Tác giả: Phạm Quang Trung
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2003
17. Winrock International (2010), Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Nghiên cứu trường hợp thực hiện thí điểm ở tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam từ 2006 đến 2010, Winrock International Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Nghiên cứu trường hợp thực hiện thí điểm ở tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam từ 2006 đến 2010
Tác giả: Winrock International
Năm: 2010
1. Chính phủ (2008), Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Khác
5. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật bảo vệ và phát triển rừng Khác
6. Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng (2009-2011), Báo cáo tài chính 2009, 2010, 2011 và 6 tháng năm 2012 Khác
8. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Lâm Đồng (2011), Báo cáo Kết quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR năm 2011 và triển khai kế hoạch 2012 Khác
10. Thủ tướng chính phủ (2008), Quyết định số 380/QĐ-TTg Khác
12. UBND tỉnh Lâm Đồng (2011), Báo cáo Tổng kết thực hiện Quyết định 380/QĐ-TTg về Chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lâm Đồng của UBND tỉnh Lâm Đồng Khác
13. UBND tỉnh Lâm Đồng (2010), Đề án xây dựng cơ chế quản quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR Khác
14. UBND tỉnh Lâm Đồng (2010), Đề án xác định giá trị các dịch vụ môi trường rừng Khác
15. UBND tỉnh Lâm Đồng (2010), Đề án điều tra đối tượng và xác lập hệ số K để chi trả DVMTR Khác
16. UBND tỉnh Lâm Đồng (2012), Dự án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Giá trị rừng trong việc điều tiết nƣớc trong những năm ẩm ƣớt - (LUẬN văn THẠC sĩ) cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại lâm đồng
Bảng 1.1 Giá trị rừng trong việc điều tiết nƣớc trong những năm ẩm ƣớt (Trang 26)
Bảng 2.1: Kết quả thu tiền DVMTR năm 2009,2010 - (LUẬN văn THẠC sĩ) cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại lâm đồng
Bảng 2.1 Kết quả thu tiền DVMTR năm 2009,2010 (Trang 49)
Bảng 2.2. Kết quả chi trả DVMTR năm 2009,2010 - (LUẬN văn THẠC sĩ) cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại lâm đồng
Bảng 2.2. Kết quả chi trả DVMTR năm 2009,2010 (Trang 50)
Bảng 2.3: Kết quả thu tiền DVMTR năm 2011 và 6 tháng năm 2012 - (LUẬN văn THẠC sĩ) cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại lâm đồng
Bảng 2.3 Kết quả thu tiền DVMTR năm 2011 và 6 tháng năm 2012 (Trang 53)
Bảng 2.4: Kết quả chi trả DVMTR năm 2011 và 6 tháng năm 2012 - (LUẬN văn THẠC sĩ) cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại lâm đồng
Bảng 2.4 Kết quả chi trả DVMTR năm 2011 và 6 tháng năm 2012 (Trang 54)
Theo số liệu chi tiết tại bảng 2.4: Kết quả chi trả tiền dịch vụ mơi trường rừng ; Tổng số tiền đã chi trả: 71.172.700.000 đồng, gồm: - (LUẬN văn THẠC sĩ) cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại lâm đồng
heo số liệu chi tiết tại bảng 2.4: Kết quả chi trả tiền dịch vụ mơi trường rừng ; Tổng số tiền đã chi trả: 71.172.700.000 đồng, gồm: (Trang 54)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUỸ - (LUẬN văn THẠC sĩ) cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại lâm đồng
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUỸ (Trang 79)
3.2.1.1. Hội đồng quản lý Quỹ là tổ chức hoạt động theo hình thức trưng tập ý kiến tập thể của các Sở, ngành cĩ liên quan đến họat động triển khai và thực  hiện chính sách chi trả dịch vụ mơi trường rừng - (LUẬN văn THẠC sĩ) cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại lâm đồng
3.2.1.1. Hội đồng quản lý Quỹ là tổ chức hoạt động theo hình thức trưng tập ý kiến tập thể của các Sở, ngành cĩ liên quan đến họat động triển khai và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ mơi trường rừng (Trang 79)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w