1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn thi tốt nghiệp ngữ văn lớp 12

11 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương ôn thi tốt nghiệp ngữ văn lớp 12
Tác giả Hồ Chí Minh, Quang Dũng, Tố Hữu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Khoa Điềm
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn lớp 12
Thể loại Đề cương ôn thi
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 69,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP NGỮ VĂN LỚP 12 I Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa văn bản 1 Hoàn cảnh sáng tác “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh Ngày 19081945 chính quyền Hà Nội về tay nhận dân, các thế lực đồng minh đòi chia chính quyền ở Đông Dương Miền Nam thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh đang tiến vào giải pháp Miền Bắc bọn Tào, Tưởng, Mĩ đang lâm le biên giới Trước tình hình đó ngày 26081945 Bác từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang soạn thảo bản “Tuyên ngôn độc l.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP NGỮ VĂN LỚP 12

I. Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa văn bản

1. Hoàn cảnh sáng tác “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh

- Ngày 19/08/1945 chính quyền Hà Nội về tay nhận dân, các thế lực đồng minh đòi chia chính quyền ở Đông Dương Miền Nam thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh đang tiến vào giải pháp Miền Bắc bọn Tào, Tưởng, Mĩ đang lâm le biên giới

- Trước tình hình đó ngày 26/08/1945 Bác từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang soạn thảo bản “Tuyên ngôn độc lập”

- Ngày 02/09/1945 tại quảng trường Ba Đình, Người thay mặt chính phủ lâm thời của Việt Nam dân chủ cộng hoà đọc “Tuyên ngôn độc lập” trước hàng triệu đồng bào và bạn bè trên thế giới

- Tuyên bố nền độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

- Tố cáo thực dân phát xít

- Lời cảnh tỉnh cho những ai muốn xâm chiếm Việt Nam, nhân dân Việt Nam quyết đem tính mạng tài sản để bảo vệ nền độc lập đó

- Tây Tiến là một đơn vị bộ đội thành lập 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt-Lào, làm tiêu hao quân đội Pháp ở thượng Lào và miền Tây Bắc Bộ Việt Nam

- Địa bàn hoạt động từ Châu Mai, Châu Mộc, Sài Khao vòng về phía tây Thanh Hoá sang tận biên giới Việt-Lào

- Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, Quang Dũng là đại đội trưởng, họ chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành, nhưng vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn

- Năm 1948 đoàn quân Tây Tiến sát nhập vào đơn vị khác, xa đơn vị nhớ về đơn vị cũ nên Quang Dũng sáng tác bài thơ Lúc đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến” sau đổi là “Tây Tiến” Viết năm 1948 tại Phù Lưu Chanh In trong tập “Mây đầu ô” (1986)

- Việt Bắc là cơ quan đầu não của cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), hiệp định Giơ ne ver được kí kết, hoà bình lập lại, miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, đất nước mở sang một trang sử mới

- Tháng 10 năm 1954, cơ quan trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, nhân sự kiện lịch sử ấy Tố Hữu sáng tác bài thơ này

- Phần đầu: tác phẩm tái hiện cuộc sống gian khổ, vẻ vang của cách mạng ở chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỉ niêm sâu năng trong lòng người Phần sau: sự gắn bó miền xuôi và miền ngược trong một viễn cảnh hoà bình tươi sáng và kết thúc là lời ca ngợi công ơn của Đảng

và Bác đối với dân tộc

- Tác phẩm là đỉnh cao của thơ Tố Hữu là tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống Pháp

Trang 2

- Viết nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (03/07/1888)

- In trong Tạp chí Văn học tháng 7 năm 1963

- Khẳng định ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu: cuộc đời của một chí sĩ phấn đấu hết mình cho sự đấu tranh giải phóng dân tộc; sự nghiệp thơ văn của ông là minh chứng hùng hồn và tác dụng to lớn của văn học nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút đối với đất nước, dân tộc

- Thông điệp tác giả gửi nhân dân thế giới nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003

- Văn bản ngắn gọn giàu sức thuyết phục bởi những lí lẽ sâu sắc, những dẫn chứng, số liệu cụ thể thể hiện trách nhiệm và lương tâm của người đứng đầu Liên hợp quốc Giá trị văn bản thể hiện ở

tư tưởng có tầm chiến lược, giàu tính nhân văn khi đặt ra nhiệm vụ phòng chống căn bệnh thế kỉ

- Trường ca “Mặt đường khát vọng” được tác giả hoàn thành tại chiến khu Trị-Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị các vùng tạm chiếm miền Nam về non song đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược

- Xuất xứ: Trích phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng” 1974

- Một cách cảm nhận mới về đất nước qua đó khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về văn hoá đậm đà bản sắc Việt Nam

- Sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền

- Bài thơ in trong tập “Hoa dọc chiến hào” (1968)

- Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu thể hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu tha thiết, nồng nàn hay khát vọng và sắt son chung thuỷ, vượt lên mọi giới hạn của đời người

- Rút ra từ tập “Khối vuông ru-bích” xuất bản năm 1985

- Ca ngợi vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn và tài năng của Lor-ca – nhà thơ nhà cách tân vĩ đại của văn học Tây Ban Nha và thế giới thế kỉ XX

- Tuỳ bút in trong tập “Sông Đà” (1960)

- Là kết quả trong chuyến đi thực tế năm 1958 gian khổ và hào hứng miền Tây rộng lớn, không chỉ thoả mãn thú tìm đến những miền đất xa lạ và niềm khao khát “xê dịch” mà chủ yếu tìm chất vàng mười của thiên nhiên cùng “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn người lao động và chiến đấu trên miền núi sông nước hùng vĩ và thơ mộng đó

- Giới thiệu, khẳng định, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây của Tổ quốc; thể hiện sự yêu mến và gắn bó tha thiết của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam

- “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là bài bút kí, viết tại Huế ngày 4/1/1981

Trang 3

- Trích phần thứ nhất của bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”

- Thể hiện những phát hiện khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương; bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu sắc và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương và xứ Huế thân yêu

- Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” (1952) là kết quả của chuyến Tô Hoài cùng bộ đội về giải phóng Tây Bắc

- In trong tập “Truyện Tây Bắc” được giải nhất – giải thưởng hội văn nghệ Việt Nam 1954-1955

- Tố cáo tội ác của bọn phong kiến, thực dân; thể hiện số phận đau khổ của người dân lao động miền núi; ca ngợi vẻ đẹp, sức sống tiềm tang, mãnh liệt; phản ánh con đường đấu tranh giải phóng của họ

- “Vợ nhặt” là tiền thân của tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” viết ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công nhưng dang dở và mất bản thảo Sau hoà bình lập lại 1954 ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này

- In trong tập “Con chó xấu xí” (1962)

- Tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp 1945 và khẳng định: ngay trên bờ vực của cái chết con người vẫn hướng về sự sống, tin tưởng ở tương lai, khát khao tổ ấm gia đình và tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau

- Truyện ngắn “Rừng xà nu” viết vào mùa hè năm 1965 khi đế quốc Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam bắn phá quyết liệt, nhân dân ta với tinh thần quyết chiến Tác phẩm được xem như một bài hịch trong thời chống Mỹ cứu nước

- In trong tập “Trên quê hương những anh hung Điện Ngọc”

- Ca ngợi tinh thần bất khuất, quật khởi của đồng bào Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khẳng định chân lí của thời đại để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân không cách nào khác là cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù

- “Những đứa con trong gia đình” viết trong những ngày chiến đấu ác liệt thời chống Mỹ khi ông đang công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng – 1966

- In trong tập Truyện và kí Nguyễn Thi

- Qua câu chuyện về những con người trong gia đình Nam bộ có truyền thống yêu nước căm thù giặc, thuỷ chung với cách mạng, nhà văn khẳng định sự hoà quyện giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

- Chiếc thuyền ngoài xa 8/1983 in năm 1987

- Thể hiện sự chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời: Nghệ thuật chân chính phải luôn gắn liền với cuộc đời, vì cuộc đời; người nghệ sĩ cần phải nhìn nhận cuộc sống và con

Trang 4

người một cách toàn vẹn, sâu sắc Tác phẩm cũng rung lên hồi chuông báo động về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả khôn lường của nó

- Hồn Trương Ba da hàng thịt viết 1981 nhưng đến năm 1984 mới ra mắt công chúng Từ cốt truyện dân gian Lưu Quang Vũ đã xây dựng thành một vở kịch nói hiện đại

- Đoạn trích cảnh VII và đoạn kết của vở kịch

- Một trong những điều quý giá nhất của con người là được sống là mình, sống trọn vẹn với những giá trị mà mình theo đuổi Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống trong sự hài hoà tự nhiên giữa thể xác và tâm hồn

II. Tình huống truyện

- Tình huống độc đáo: Tràng – anh nông dân nghèo, thô kệch, dân ngụ cư bỗng “nhặt” được vợ trong mùa đói khủng khiếp năm 1945

- Việc Tràng “nhặt vợ” đã tạo ra sự lạ lùng, ngạc nhiên, éo le với tất cả mọi người

- Tình huống này làm cho tác phẩm có giá trị về 2 phương diện:

+ Tố cáo xã hội thực dân – phát xít đẩy con người đến bước đường cùng

+ Ca ngợi dù trong bất cứ hoàn cảnh nào con người vẫn yêu thương đùm bọc lẫn nhau

- Cảnh chiếc thuyền ngoài xa: “một cảnh “đắt” trời cho”, “một bức tranh mực tàu của danh hoạ thời cổ”, tất cả khung cảnh đường nét, ánh sáng màu sắc đều hài hoà, một vẻ đẹp thực đơn giản

và toàn bích, đẹp tuyệt đỉnh  vẻ đẹp hoàn mĩ do một tấm ảnh mang lại

- Cảnh chiếc thuyền vào bờ: hiện thực nghiệt ngã của cuộc sống, số phận con người ở làng chày (người đàn ông đánh đập vợ con, người đàn bà cam chịu)  Khám phá, phát hiện về sự thật đời sống, một tình huống nhận thức

 Phải nhìn cuộc sống đa chiều, đừng vì nghệ thuật quên cuộc đời, nghệ thuật chính là cuộc đời

III. Ý nghĩa nhan đề

- Tên ban đầu “Xóm ngụ cư”  nơi xảy ra câu chuyện, cuộc sống bấp bênh, “tha phương cầu thực của người dân trong nạn đói

- Sau đổi “Vợ nhặt”  phù hợp nội dung câu chuyện

+ Lấy vợ là chuyện hệ trọng, đối với người đàn ông như Tràng lại “nhặt vợ” còn đối với người phụ nữ là theo không  số phận thấp bé rẻ rúng của người phụ nữ trong nạn đói

+ Nhan đề này gợi lên 2 ý nghĩa:

• Tố cáo xã hội đẩy con người đến nạn đói khủng khiếp

• Ca ngợi bản chất người lao động, trong bất kì hoàn cảnh nào họ vẫn khao khát hạnh phúc, cưu mang đùm bọc lẫn nhau, tin tưởng tương lai tươi sáng

- Nghệ thuật đầu cuối tương ứng Mở đầu là một đồi xà nu, nhưng kết thúc là một rừng xà nu bạt ngàn chạy tận chận trời  khẳng định sức sống bất diệt của cây xà nu cũng chính là sức sống bất diệt của làng Xô Man

Trang 5

- Hình ảnh cây xà nu là linh hồn của tác phẩm Cảm hứng chỉ đạo và dụng ý nghệ thuật của nhà văn được khơi nguồn từ hình ảnh này

- Cây xà nu gắn bó mật thiết trong đời sống vật chất và tinh chất của người dân Xô Man

- Cây xà nu là biểu tượng cho phẩm chất cao đẹp của người dân Xô Man

- Truyện viết về những đứa con trong gia đình có truyền thống yêu nước cách mạng là hình ảnh thu nhỏ của cả miền Nam đau thương, anh dũng trong thời chống Mỹ, gánh chịu nhiều tang tóc

do đế quốc Mỹ gây ra, đồng thời cũng lập được nhiều chiến công lẫy lừng

- Hình ảnh thu nhỏ của cả dân tộc Việt Nam, muôn người là một, đoàn kết chiến đấu giải phóng quê hương, xây dựng đất nước

- “Thuốc” là dùng để chữa bệnh, nếu đúng “thuốc” sẽ hết bệnh, dùng sai “thuốc” sẽ chết

- Trong tác phẩm có một phương “thuốc”: chiếc bánh bao thấm máu nướng với lá sen đối với người dân Trung Quốc có thể chữa được bệnh lao, nhưng con bệnh ăn vào vẫn chết  sự mê muội, ngu dốt, lạc hậu của người dân trước cách mạng Tân Hợi

- Qua phương “thuốc” đó Lỗ Tấn muốn chữa bệnh tinh thần cho người dân phải luôn tỉnh táo sáng suốt tìm phương thuốc đúng nếu không “tiền mất tật mang”

 Là phương “Thuốc” chữa bệnh đớn hèn, mông muội về chính trị, không hiểu không ủng hộ những người cách mạng tiên phong

IV. Giá trị nhân đạo

- Sự cảm thông sâu sắc với những con người bất hạnh, nhà văn am hiểu cuộc sống, tâm lí đồng bào dân tộc miền núi

- Phê phán sâu sắc đối với bọn quan lại miền núi, căm giận trước thế lực tàn bạo chà đạp con người

- Cảm thông, chia sẻ với những con người bất hạnh, phát hiện, trân trọng phẩm chất cao đẹp, nhất

là tình yêu tự do, sức sống tiềm tang trong họ, tinh thần tự đấu tranh vươn đến ánh sáng của Đảng

- Tác phẩm là một truyện khá sớm giải quyết số phận con người

- Nạn đói năm 1945 làm nhiều người chết  tố cáo xã hội thực dân – phát xít

- Tác phẩm thể hiện sự quan tâm đến thân phận nhỏ bé, bất hạnh cùng quẫn trong xã hội, phát hiện khát vọng chân chính

- Ca ngợi phẩm chất con người: che chở, đùm bọc, khao khát hạnh phúc, niềm tin vững chắc Sớm giác ngộ cách mạng

V. Tóm tắt tác phẩm văn học nước ngoài + văn học Việt Nam

Một đêm thu trăng lặn rồi nhưng mặt trời chưa mọc, lão Hoa Thuyên cầm gói bạc đến trường chém để mua chiếc bánh bao thấm máu người với hi vọng chữa được bệnh lao cho con lão Người bị

Trang 6

xử chém là Hạ Du, một chiến sĩ cách mạng bị chú ruột tố giác để lấy tiền thưởng, vào tù Hạ Du vẫn tiếp tục vận động cách mạng, khi bị xử tử được Cả Khang mách mối bán máu cho con bệnh, nhưng Tiểu Thuyên ăn vào vẫn chết

Vào tiết thanh minh hai bà mẹ của hai kẻ chết trẻ, đi viếng mộ con trong nghĩa địa, mộ của người chết chém, chết tù, chết nghèo, chết trẻ, “mộ đầy khít, lớp này lớp khác như chiếc bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ” hai bà mẹ lòng đầy cảm thông, họ rất ngạc nhiên khi nhìn thấy vòng hoa trên mộ Hạ Du

Truyện kể về ông lão đánh cá tên là Xan-ti-a-gô, thường ông lão đánh cá cùng với cậu bé láng giềng tên là Ma-nô-lin, nhưng do ông lão “xúi quẩy” câu không được cá nên gia đình cậu bé không cho cậu theo thuyền câu ông lão

Lần này ông lão ra khơi một mình, ông buông câu từ mờ sáng, không có thằng bé ông lão nói

chuyện một mình, với trời đất mây nước Đúng lúc định chợp mắt vì quá mệt mỏi thì lão thấy “có chuyện”, dần dân con thuyền bị kéo phăng ra khơi không còn nhìn thấy đất liền Đêm đến lão phải nhìn sao để định hướng và ái ngại cho con cá chưa thấy mặt “chưa bao giờ có con cá khoẻ đến thế và xử sự kì cục như vậy”

Tới rạng sáng ngày thứ hai lão tìm cách bớt dây câu để bảo toàn con cá, lão bị nó quẫy mạnh ngã vập cả mặt, máu chảy đầy má Một con chim gáy mỏi cánh, kiệt sức đậu xuống dây câu lắng lão trò chuyện Đêm hơi lạnh lẽo, hai bàn tay lão tê dại, trong khoảnh khắc lão thấy con cá nhô nửa tấn”, con cá lớn mà lão hằng mơ tưởng Vào lúc mặt trời mọc lần thứ ba ngoài khơi lão phải đối phó với một trò chơi mới của con cá, nó bắt đầu lượn vòng rồi lồng lên, cuối cùng lão dùng hết sức lực kinh nghiệm dùng xỉa cắm phập vào con cá “Mang cái chết trong lòng, nó tung mình lên cao mặt nước phô bày hết tầm vóc khổng lồ sức mạnh và vẻ đẹp của nó”, chiến thắng được con cá kiếm lão cho thuyền vào bờ…

Mùa xuân 1946, trên đường đi công tác, tác giả gặp Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a trên bến đò Nhân dịp này Xô-cô-lốp kể cho tác giả nghe cuộc đời đầy đau khổ của mình Khi chiến tranh bùng nổ, anh

ra trận để lại vợ và ba con ở hậu phương, chiến đấu chừng một năm anh bị thương hai lần, bị phát xít bắt làm tù binh, bị tra tấn hành hạ dã man, sau đó anh trốn thoát trở về với Hồng quân, được ít lâu anh nhận được tin vợ và hai cô con gái, cùng với căn nhà bị bom phát xít chôn vùi Con trai anh hiện

là đại uý pháo binh hẹn cùng anh tiến về Bec-lin sào huyệt cuối cùng của bọn phát xít, anh chờ đợi giây phút bố con gặp nhau và anh được gọi đến để nhìn mặt con anh lần cuối, con trai anh đã tử trận ngay ngày chiến thắng

Trang 7

Giải ngũ Xô-cô-lốp không về quê, anh quyết định đến ở nhờ nhà người bạn ở U-riu-pin-xcơ,

ở đó anh được làm lái xe cho một đội vận tải và ở đó anh đã gặp bé Va-ni-a, một đứa bé lang thang không nơi nương tựa, cha mẹ điều chết trong chiến tranh và anh quyết định nhận bé làm con, còn bé Va-ni-a cứ tưởng anh là bố đẻ.

Cuộc sống từ khi có bé Va-ni-a, anh phải vất vả nhiều, phải lo ăn, lo mặc nhưng “trái tim tôi

đã suy kiệt, đã chai sai vì đau khổ, nay trở nên êm dịu hơn” Nỗi đau thể xác tinh thần, tình yêu thương đối với bé Va-ni-a không thể nào xoa dịu nỗi đau trong anh “Ban ngày bao giờ tôi cũng trấn tĩnh được, không hở ra một tiếng thở dài, một lời than vãn, nhưng ban đêm thức giấc thì gối

đã ướt đẫm nước mắt”.

Việc không mai lại đến, anh bị tước mất bằng lái, anh quyết định dẫn bé Va-ni-a cuốc bộ khắp nước Nga “Nỗi buồn đau không cho tôi ở lâu mãi một chỗ được, đến khi nào bé Va-ni-a lớn lên buộc lòng gởi cháu vào một trường ổn định, lúc ấy nguôi bớt nỗi buồn tôi mới có thể ở yên một chỗ”, với hi vọng một tương lai tươi sáng hơn đang chờ đón họ ở phía trước.

Mị là cô gái dân tộc, người Mèo, xinh đẹp, có tài thổi lá hay như thổi sáo, siêng năng, cần cù có nhiều trai làng theo đuổi, Mị cũng có người yêu và cũng được yêu

Mị bị bắt về làm dâu gạt nợ, trả món nợ truyền kiếp do cha mẹ Mị thiếu, mang tiếng là dâu như

bị đối xử như một súc nô, Mị làm vô số công việc, bị đánh đập, bị trói đứng “Mị thấy mình thua cả

con trâu con ngựa làm có lúc đêm đứng nhai cỏ, gãi chân, đàn bà con gái nhà này vùi vào công việc cả ngày lẫn đêm”, từ một cô gái hồn nhiên yêu đời trở thành người vô cảm, vô thức, nhưng Mị

thấy mình trẻ lại và muốn đi chơi, khát vọng đó bị dập tắt vì A Sử về trói đứng Mị, Mị vẫn dõi theo cuộc chơi quên đi số phận bi thảm

A Sử đi chơi đánh nhau với A Phủ, bị xử ép A Phủ phải làm nô lệ nhà A Sử Một lần chăn bò A Phủ để hổ bắt mất bò, bị trói đứng suốt mấy đêm liền Sau đó Mị cắt dây mây cởi trói A Phủ hai người trốn khỏi Hồng Ngài đến Phiềng Sa, thành vợ thành chồng, được A Châu giác ngộ hai người đi theo cách mạng

Truyện kể về người đàn ông nghèo khổ, xấu xí dân “ngụ cư” tên Tràng Một buổi chiều trong không khí thê lương ảm đạm “Vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người, người chết như ngả rạ vì đói khát” Tràng dẫn về một người phụ nữ, đó là vợ Tràng – người vợ Tràng vừa nhặt được trong cảnh đói khát chỉ gặp nhau hai lần, mời ăn 4 bát bánh đúc cùng với những câu nói đùa đã theo Tràng về làm vợ Bà cụ Tứ đón nhận nàng dâu với nhiều tâm trang: ngạc nhiên, buồn tủi,

Trang 8

lo lắng, vui sướng, tin tưởng ở tương lai, thương con bà thương dâu nên động viên hai con bà nói toàn chuyện vui

Tràng cảm thấy nên người hơn, có bổn phận trách nhiệm với gia đình hơn Bà mẹ đãi hai con bữa

ăn ngày đói mỗi người có lưng hai bát cháo loãng và món “chè khoán”, họ vừa nghe chua xót tủi hơn, nhưng mỗi người đều tin tưởng ở tương lai Trong óc Tràng hiện lên cảnh đám người đói phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ sao vàng bay phất phới

“Rừng xà nu” kể về nhân vật Tnú, dân tộc Strá người làng Xô Man ở Tây Nguyên Tnú từ bé mồ côi được dân làng Xô Man nuôi nấng, từ bé đã sớm giác ngộ cách mạng vào rừng tiếp tế cho bộ đội, được anh Quyết dạy chữ, họ thu Mai “Lấy đá đập vào đầu”, làm liên lạc “xé rừng mà đi, lựa chỗ nước chảy xiết mà qua”, bị bắt bị tra tấn dã man quyết không khai, trốn thoát trở về tham gia cách mạng, giặc bắt vợ con để dụ bắt, bản thân anh cũng bị tra tấn dã man “Mười ngón tay như mười ngọn đuốc”, nhưng anh không hề kêu la “chỉ thấy lửa cháy trong lòng ngực” Vượt qua nỗi đau thể xác và tinh thần anh tham gia lực lượng kháng chiến Hai năm đi lực lượng Tnú được phép về thăm làng, thằng bé Heng gặp ở con nước lớn dẫn anh về làng Đêm đó cụ Mết tập trung dân làng kể về đời Tnú cho cả làng nghe, nhằm giáo dục truyền thống cách mạng

Sáng hôm sau Tnú lại trở về đơn vị, cụ Mết, Dít tiễn Tnú lên đường trước “một rừng xà nu bạt ngàn chạy đến chân trời”

Để xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, Phùng một chiến sĩ khi xưa quyết định trở lại vùng biển từng là chiến trường cũ thời kháng chiến chống Mỹ, đồng thời ghé thăm Đẩu, người bạn chiến đấu năm xưa nay là chánh án toà án huyện

Sau nhiều ngày “phục kích”, một buổi sáng Phùng phát hiện một cảnh một chiếc thuyền đánh cá thu lưới “đắt” trời cho, thật đẹp và toàn bích Nhưng thật bất ngờ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp ấy lại bước xuống một người đàn ông đánh vợ một cách dã man chỉ để giải toả uất ức, buồn khổ của mình Phùng đã vứt máy ảnh xông lại nhưng chưa kịp thì thằng Phác (con lão làng chài) đã dằn lấy dây thắt lưng khỏi tay lão để bảo vệ che chở cho người mẹ Biết Phùng chứng kiến sự việc ấy thằng

bé đâm ra ghét anh

Ba hôm sau, cũng trong làn sương sớm, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cảnh cô chị gái tướt đoạt con dao găm mà em trai định dùng để bảo vệ mẹ Anh xông ra buộc lão đàn ông phải chấm dứt hành động vũ phu ấy, bị lão đánh trọng thương, Phùng được đưa vào trạm xá Tại toà

án huyện anh đã nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài với bao sự cảm thông và ngỡ ngàng

Anh hiểu được người đàn bà ấy dù bị đánh đập đến đâu vẫn yêu chồng con, rất hiểu lẽ đời, rất

Trang 9

cần có chồng để nuôi dạy con cái, giàu đức hi sinh, luôn chắt chiu những hạnh phúc đời thường

từ trong những đau khổ bất hạnh… Phùng và Đẩu đã thấm thía một chân lí “Không thể nhìn đời

một cách đơn giản và sơ lược, cuộc sống chính là nghệ thuật và nghệ thuật chính là cuộc sống”

Việt và chị Chiến cùng tranh đi bộ đội để trả thù cho ba má, chú Năm quyết định cho 2 đứa đi tòng quân, việc mà chị Chiến thu xếp gởi chú Năm lo liệu

Trong một trận đánh lớn Việt dùng thủ pháo diệt một xe bọc thép của Mỹ, bị thương nặng lạc mất đồng đội, phải nằm lại giữa chiến trường ba ngày đêm, Việt nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại, tỉnh rồi lại ngất Mỗi lần tỉnh lại là một dòng kí ức những kỉ niệm buồn vui tuổi thơ về Má, về chú Năm, về chị Chiến về đồng đội về anh Tánh Tuy bị thương nặng mắt không còn nhìn thấy, không đủ sức bò nữa nhưng Việt vẫn sẵn sàng trong tư thế chiến đấu “đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng”

Anh Tánh đi suốt ba ngày mới tìm được Việt và suýt nữa thì bị ăn đạn Việt được đưa vào bệnh viện, hồi phục rất nhanh, anh Tánh giục Việt viết thu cho chị Chiến kể chiến công của mình, Việt không muốn kể vì chưa thấy thấm thía gì với những thành tích của đơn vị và những mong ước của má

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” kể về ông lái đò Lai Châu, tuổi đã 70 những vẫn còn khoẻ mạnh, làm nghề chở đồ dọc suốt mười năm và thôi làm nghề đò cũng đã dôi chục năm Cuộc sống của ông gắn liền với sông Đà hung bạo và trữ tình, với miền đất Tây Bắc đang dần dần đi vào cuộc sống mới, từng ngày ông phải giành lấy sự sống từ sự hung bạo của những ghềnh thác đá trên sông Đà, ông lái

đò vượt qua ghềnh thác giống như một vị tướng trí dũng đầy mưu lược, mỗi trận đánh có một chiến thuật rõ ràng, sông Đà như một loài thuỷ quái độc ác và nham hiểm Bằng lòng yêu nghề, bằng kinh nghiệm, bằng sự thông minh, tỉnh táo, am hiểu địa thế, quy luật của dòng nước…ông luôn chiến thắng Sau khi vượt qua được vòng vi của thạch trận với một phong thái ung dung, bình tĩnh tự tin như một nghệ sĩ tài hoa và không bao giờ kể lại chiến công vừa qua

Trương Ba giỏi đánh cờ bị Nam Tào bắt chết nhầm Vì muốn sửa sai nên Nam Tào và Đế Thính cho hồn Trương Ba sống lại bằng cách nhập vào xác hàng thịt vừa mới chết Trú nhờ vào xác hàng thịt Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái, Lí trưởng sách nhiễu, vợ hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cũng cảm thấy xa lạ, bản thân Trương Ba đau khổ vì phải sống giả tạo, trái tự nhiên, càng ngày xác hàng thịt làm cho Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu không phải của bản thân ông Trước nguy cơ tha hoá về nhân cách và sự phiền toái do mượn xác kẻ khác, gia đình xa

Trang 10

lánh (vợ thấy sợ trước những hành động của bố chồng) Trương Ba quyết định gọi Đế Thính xuống, trả lại xác cho anh hàng thịt, xin cho cu Tị sống lại và chấp nhận cái chết

VI. Ý nghĩa tác phẩm

- Hạ Du là hiện thân của Thu Cận – nữ cách mạng cuối đời Thanh (Hạ đối với Thu, Du và Cận là tên các loại ngọc)

- Người chiến sĩ cách mạng sớm giác ngộ lí tưởng, lật đổ ngai vàng đem lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân, hiên ngang, dũng cảm tuyên truyền cách mạng

- Làm cách mạng nhưng rời xa quần chúng, bị tố giác, bị quần chúng coi là “điên” là “giặc”, bị lấy máu để chữa bệnh, chết trong cô độc

 Lỗ Tấn vừa ca ngợi, trân trọng đồng thời cũng phê phán

Vòng hó trên mộ là do tác giả đặt thể hiện sự trân trong, cảm phục của tác giả đối với người cách tiên phong, đồng thời hi vọng tương lai sẽ có nhiều người ủng hộ cách mạng

- Con cá kiếm : là hình ảnh đẹp, là ước mơ, khát vọng mà con người suốt đời phấn đấu theo đuổi

- Ông lão : là hình ảnh đẹp về người lao động luôn có ước mơ, khát vọng làm nên kì tích, dù phải chiến đấu đơn độc nhưng ông lão vẫn không khoan nhượng “con người có thể bị tiêu diệt nhưng không thể bị khuất phục”

- Biển cả khung cảnh kì vĩ tương ứng với môi trường hoạt động sáng tạo của con người

 Trong cuộc sống con người cần phải có ước mơ, khát vọng nhưng đừng “quá tầm cao với” sẽ dẫn đến thất bại chua cay

- Khám phá nổi bất hạnh của con người sau chiến tranh

- Niềm tin mãnh liệt, tình yêu thương đức vị tha, ý chí và nghị lực giúp con người đứng vững đi tới vượt qua sức mạng phủ phàng của bão tố chiến tranh hướng tới một tương lai tươi sáng (Niềm tin vào tính cách Nga kiên cường)

- Xô-cô-lốp đau khổ vì những mất mát trong chiến tranh

- Nhân bé Va-ni-a mồ côi làm con, yêu thương chăm sóc như con ruột

- Giấu bé không cho biết sự thật vì không muốn bé hụt hẫng

- Vượt qua đau đớn của bệnh, nỗi đau về tinh thần, quyết tâm nuôi bé Va-ni-a khôn lớn trở thành người có ích

- Giá trị lịch sử:

+ Là một văn kiện có giá trị to lớn

+ Tuyên bố xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến

+ Khẳng định chủ quyền, vì thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới

Ngày đăng: 25/06/2022, 18:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w