Theo pháp luật tố tụng đân sự, trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp, xét thấy những tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp chưa đủ để giải quyết vụ án dân sự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HUYỀN TRANG
KỸ NĂNG THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ CỦA THẨM PHÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC (ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG )
Hà Nội – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HUYỀN TRANG
KỸ NĂNG THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ CỦA THẨM PHÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 8380101.04
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Triều Dương
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC (ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG)
Hà Nội – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là do chính tôi thực hiện
Toàn bộ các tài liệu, cơ sở pháp lý, các dẫn chứng số liệu đƣợc tôi sử dụng để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn đều đảm bảo chính xác, trung thực theo yêu cầu của một luận văn khoa học
Tác giả
Phạm Thị Huyền Trang
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa luật - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội,
sự đồng ý của Chủ nhiệm Bộ môn Luật Dân sự, của Trưởng phòng Đào tạo và Công tác học sinh sinh viên, dưới sự dẫn dắt của giảng viên hướng dẫn TS
Nguyễn Triều Dương, em đã chọn đề tài “Kỹ năng thu thập, nghiên cứu,
đánh giá chứng cứ của Thẩm phán trong việc giải quyết các vụ án dân sự”
Quá trình hoàn thiện luận văn, bản thân em nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ tận tình từ phía nhà trường, giảng viên, gia đình, bạn bè, đặc biệt là sự hướng dẫn của Giảng viên – Tiến sĩ Nguyễn Triều Dương đã hướng dẫn em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới nhà trường; quý thầy cô là giảng viên đã chỉ dạy trong suốt thời gian theo học lớp cao học dân sự và tố tụng dân sự ứng dụng cũng như sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Triều Dương
Do uận văn tôi thực hiện trong khoảng thời gian 07 tháng, kiến thức, nhận thức còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ quý Thầy, Cô để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5số điều của Bộ uật Tố tụng dân sự
Nghị quyết
08-NQ/TW:
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I 5
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ NĂNG THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 5
1.1 Khái niệm kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự 5
1.1.1 Khái niệm kỹ năng thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự 5
1.1.2 Khái niệm kỹ năng nghiên cứu chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự 8
1.1.3 Khái niệm kỹ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự 10
1.2 Kỹ năng thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết các vụ án dân sự 11
1.2.1 Kỹ năng thu thập chứng cứ, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp chứng cứ 12
1.2.2 Kỹ năng lấy lời khai 20
1.2.3 Kỹ năng đối chất 27
1.2.4 Kỹ năng xem xét, thẩm định tại chỗ 28
1.2.5 Kỹ năng trưng cầu giám định 31
1.2.6 Kỹ năng định giá tài sản 33
1.2.7 Kỹ năng ủy thác thu thập chứng cứ 35
1.2.8 Kỹ năng yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ 37
1.3 Kỹ năng nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của Tòa án trong giải quyết các vụ án dân sự 39
1.3.1 Kỹ năng nghiên cứu chứng cứ 39
1.3.2 Kỹ năng đánh giá chứng cứ 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 52
Trang 7CHƯƠNG 2 53
THỰC TIỄN THỰC HIỆN KỸ NĂNG THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 53
2.1 Thực tiễn thực hiện kỹ năng thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự 54
2.1.1 Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự 54
2.1.2 Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng không khách quan, toàn diện 57
2.1.3 Thu thập tài liệu, chứng cứ không đúng trình tự pháp luật tố tụng quy định dẫn đến vi phạm thủ tục tố tụng 60
2.1.4 Xem xét thẩm định tại chỗ không đúng trình tự thủ tục tố tụng và những khó khăn thường gặp 63
2.1.5 Những vi phạm trong quá trình định giá tài sản: 66
2.2 Thực tiễn thực hiện kỹ năng nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự 67
2.2.1 Những hạn chế, bất cập trong việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ trong giải quyết các vụ án dân sự 68
2.2.2 Nguyên nhân của việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự chưa đạt hiệu quả cao trên thực tế 80
2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án trong giải quyết các vụ án dân sự 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua cùng với những thành tựu đạt được của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xã hội cũng nảy sinh nhiều quan hệ xã hội phức tạp nhất là trong ĩnh vực dân sự Để giải quyết các vụ án dân sự một cách triệt để, đúng thời hạn, khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật đã đặt ra cho những người làm công tác xét xử không ít những khó khăn, thách thức, đòi hỏi họ không chỉ nắm vững các quy định của pháp luật mà cần phải có phương pháp và kinh nghiệm hay nói cách khác là có kỹ năng Đây là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong việc giải quyết án, đặc biệt là án dân sự
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự là nguyên tắc tố tụng, việc quy định này đã thể hiện rõ nghĩa vụ của đương sự đối với yêu cầu, hay phản đối yêu cầu của mình à có căn cứ Tuy nhiên, trên thực tế không phải khi nào đương sự cũng có khả năng cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình
à có căn cứ và hợp pháp Vì vậy khoản 2 Điều 6 và Điều 106 BLTTDS đã quy định rõ Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do BLTTDS quy định Trên cơ sở đó, khoản 2 Điều 97, Điều 98 và Điều 107 BLTTDS đã quy định về các biện pháp thu thập cứng cứ và đánh giá chứng cứ của Tòa án
Với mục đích àm phong phú thêm nội dung về chứng cứ và chứng
minh trong tố tụng dân sự, tác giả ựa chọn đề tài: "Kỹ năng thu thập,
nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Thẩm phán trong việc giải quyết các
vụ án dân sự" àm đề tài nghiên cứu uận văn thạc sỹ uật học với mong
muốn để nâng cao kiến thức cho bản thân; một phần nhỏ sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp uật hiện hành về chứng cứ và chứng
Trang 92
minh trong tố tụng uật dân sự; khẳng định tầm quan trọng của vấn đề này trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án à một trong những hoạt động chứng minh quan trọng trong tố tụng dân sự Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu iên quan đến vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau như: Luận văn tiến sĩ của tác giả Nguyễn Minh Hằng với đề tài “Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam” năm 2007; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Một số vấn đề ý uận về chứng minh trong tố tụng dân sự” do TS Nguyễn Công Bình àm chủ nhiệm năm 2012; Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Hà với đề tài “Thu thập chứng cứ và thực tiễn tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Sơn La” Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Hương với đề tài “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam” Bên cạnh đó à một
số bài viết trên Tạp chí khoa học pháp ý Việt Nam như: Bài viết “Chứng cứ
và chứng cứ điện tử theo quy định của pháp uật tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng” tác giả Nguyễn Hải An (Vụ giám đốc, kiểm tra về dân sự, kinh doanh- thương mại, Tòa án nhân dân tối cao) - Tạp chí khoa học pháp
ý Việt Nam số 04(125)/2019; hoặc một số bài viết trên các tạp chí khoa học pháp ý như: Bài viết “Vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp)…
Những công trình nghiên cứu kể trên nghiên cứu trên phạm vi rộng về hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự nói chung Cho đến nay, những công trình nghiên cứu về hoạt động thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ đối với Thẩm phán khi được phân công giải quyết, xét xử
vụ án dân sự không nhiều Vì vậy tác giả nghiên cứu đề tài này với mong
muốn hiểu rõ hơn, áp dụng tốt hơn trên thực tiễn thực hành pháp uật
3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 103
Việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ không chỉ là công việc của những người làm công tác xét xử (gọi chung là những người tiến hành tố tụng) mà còn là việc của những người làm nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (như: Luật sư, Trợ giúp viên pháp ý, người đại diện theo ủy quyền…); những người làm trong các ngành khoa học pháp ý… thậm chí à đương sự khi tham gia tố tụng tại Tòa án Tuy nhiên trong đề tài này tác giả muốn đề cập đến một nhóm đối tượng đặc biệt, thực hiện công việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ đó chính à việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Toà án trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ án dân sự hay nói cách khác phạm vi nghiên cứu đề tài chủ yếu về các vấn đề:
+ Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Luận văn không nghiên cứu về hoạt động thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác
+ Nghiên cứu thực tiễn của việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng
cứ của Toà án trên thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án dân sự
- Đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự
Trang 114
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu uận văn tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ
bản sau:
Phương pháp uận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật ịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường ối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng những vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong đề tài này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt được của uận văn góp phần àm sáng tỏ phương diện ý
uận trong khoa học pháp ý về kỹ năng thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, phân tích thực trạng điều chỉnh pháp uật đối với vấn đề này, chỉ
ra những bất cập của pháp uật và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp uật, thống nhất trong áp dụng các quy định của pháp uật hiện hành
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài ời nói đầu, kết uận, danh mục tài iệu tham khảo, nội dung chính của uận văn gồm 2 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề chung về kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
Chương 2: Thực tiễn thực hiện kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự và một số kiến nghị
Trang 125
NỘI DUNG CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ NĂNG THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG
VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm kỹ năng thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự
Để àm rõ được khái niệm “Kỹ năng thu thập chứng cứ”, trước hết cần àm rõ được khái niệm, “chứng cứ”
Dưới góc độ ngôn ngữ, chứng cứ được hiểu à “những cái cụ thể như
lời nói, việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì đó có thật” 1
Theo từ điển Tiếng Việt, chứng cứ à: “Cái được dẫn ra để àm căn cứ xác định điều gì đó có thật” Theo quy định tại Điều 93 BLTTDS năm 2015 thì
“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự, cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng
và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của
vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp” 2
Như vậy, dưới góc độ pháp ý, chứng cứ à những gì có thật, có nghĩa
à những sự vật, hiện tượng đang tồn tại hoặc để ại dấu vết về sự tồn tại của
nó, đồng thời sự vật và hiện tượng đó có tồn tại một cách khách quan hay không Hay nói cách khác, chứng cứ là những thông tin, dấu vết về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được thể hiện dưới những hình thức nhất
Trang 136
định mà Tòa án sử dụng àm cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự Tuy nhiên, không phải tất cả những gì có thật đều được coi là chứng cứ mà thông tin đó phải đầy đủ ba thuộc tính: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp Nghĩa à chúng tồn tại tự nhiên, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau
và được thu thập theo đúng trình tự pháp luật quy định
Theo từ điển Tiếng Việt thì: hoạt động có nghĩa à “làm những việc
khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội” 3 Thu thập được
hiểu là “góp nhặt và tập hợp lại”4; Chứng cứ được hiểu à “những cái cụ thể
như lời nói, việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì đó có thật” 5 Như vậy, nếu dưới góc độ ngôn ngữ học, có thể hiểu hoạt động thu thập chứng cứ à: hoạt động phát hiện, nhặt nhạnh, thu gom các tình tiết, sự kiện, sự việc có iên quan tới một vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ án dân sự
Dưới góc độ khoa học pháp ý thì “Thu thập chứng cứ là việc phát
hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự”6 Khái niệm này đã đề cập đến được bản chất của hoạt động thu thập chứng cứ cũng như mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ trong hoạt động giải quyết, xét xử các vụ
án dân sự của Tòa án Tuy nhiên, khái niệm trên chưa àm nổi bật ên được chủ thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ cũng như chưa thể hiện hết những hoạt động tiếp theo sau khi đã thu thập được tài iệu, chứng cứ
Hoạt động giải quyết các vụ án dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ
sở có sự tranh chấp về quan hệ nội dung giữa các bên có quyền lợi đối lập nhau và các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau Do đó, về nguyên tắc đương sự nào đưa ra yêu cầu hoặc
Trang 147
phản đối yêu cầu thì đương sự đó phải có nghĩa vụ thu thập chứng cứ, giao nộp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình à có căn cứ và hợp pháp Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải khi nào đương sự cũng có khả năng cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình à có căn cứ
và hợp pháp Do đó, Toà án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cư nhưng cũng chỉ tiến hành thu thập chứng cứ theo những quy định của BLTTDS quy định
Vậy kỹ năng à gì? Theo L.Đ.Lêvitôv: “Kỹ năng là sự thực hiện có
kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” 7 Theo ông những người có kỹ năng à những người phải nắm và vận dụng một cách đúng đắn về những cách thức hành động giúp cho việc thực hiện hành động đạt được hiệu quả Đồng thời ông cũng nhấn mạnh, con người có kỹ năng không chỉ đơn thuần nắm lý thuyết và hành động mà còn phải được ứng dụng vào thực tế Trong ĩnh vực pháp lý, nhất là trong hoạt động tố tụng thì Kỹ năng của Thẩm phán trong giải quyết các vụ án dân sự
là khả năng vận dụng, ứng dụng các kiến thức về pháp luật vào việc giải quyết các vụ án dân sự
Với tư cách à cơ quan xét xử Tòa án sẽ tiếp nhận các chứng cứ, tài liệu do đương sự cung cấp, giao nộp Theo pháp luật tố tụng đân sự, trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp, xét thấy những tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp chưa đủ để giải quyết vụ án dân sự thì Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án dân sự có thể yêu cầu các đương sự cung cấp thêm Tuy nhiên, để thực hiện vai trò của mình
và bảo đảm việc giải quyết đúng các vụ án dân sự, Thẩm phán có thể tiến hành thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không có khả năng thu thập và yêu cầu Tòa án hỗ trợ hoặc trong trường hợp mà pháp luật quy định Việc thu thập chứng cứ của Thẩm phán để hoàn thiện hồ sơ vụ án dân sự
7 Theo L.Đ.Lêvitôv
Trang 15Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm kỹ năng thu thập
chứng cứ của Tòa án trong giải quyết các vụ án dân sự như sau: Kỹ năng thu
thập chứng cứ của Thẩm phán trong giải quyết các vụ án dân sự là khả năng vận dụng các kiến thức pháp luật, hiểu biết pháp luật của Thẩm phán để tiến hành tập hợp, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ iên quan đến vụ án dân sự theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định nhằm hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, àm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ để giải quyết vụ án dân sự sau này
1.1.2 Khái niệm kỹ năng nghiên cứu chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự
Để hiểu kỹ năng nghiên cứu chứng cứ à gì, trước hết chúng ta cần hiểu nghiên cứu là gì?
Nghiên cứu là "hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ
thống nhằm làm giàu tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa và xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới” 8
Nghiên cứu cũng có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau Martyn
Shuttleworth cho rằng: "Theo nghĩa rộng nhất, định nghĩa của nghiên cứu
bao hàm bất cứ sự thu thập dữ liệu, thông tin, và dữ kiện nào nhằm thúc đẩy tri thức” 9 Creswe định nghĩa: "Nghiên cứu là một quá trình có các bước
thu thập và phân tích thông tin nhằm gia tăng sự hiểu biết của chúng ta về một chủ đề hay một vấn đề." Nó bao gồm ba bước: Đặt câu hỏi, thu thập dữ
Trang 169
liệu để trả lời cho câu hỏi, và trình bày câu trả lời cho câu hỏi đó” 10 Từ
điển Trực tuyến Merriam-Webster thì chi tiết hơn: Nghiên cứu là "một truy
vấn hay khảo sát cẩn thận; đặc biệt: sự khảo sát hay thể nghiệm nhắm đến việc phát hiện và diễn giải dữ kiện, sự thay đổi những lý thuyết hay định luật
đã được chấp nhận dựa trên những dữ kiện mới, hay sự ứng dụng thực tiễn những lý thuyết hay định luật mới hay đã được thay đổi đó." 11
Hoạt động nghiên cứu được dùng để thiết lập hay xác nhận các dữ kiện, xác nhận kết quả của công trình trước đó, để giải quyết những vấn đề mới hay đang tồn tại, chứng minh các định lý, nhận định, hay phát triển những lý thuyết mới Mục đích chủ yếu của nghiên cứu là thu thập dữ kiện, phát kiến, diễn giải, hay nghiên cứu và phát triển những phương pháp và hệ thống vì mục tiêu thúc đẩy sự phát triển tri thức nhân loại Các hình thức nghiên cứu bao gồm: khoa học, nhân văn, nghệ thuật, kinh tế, xã hội, kinh doanh, thị trường Cách tiếp cận nghiên cứu trong những ĩnh vực khác nhau có thể rất khác nhau
Nghiên cứu chứng cứ trong hoạt động tố tụng của Tòa án cũng tương
tự vậy Đây à hoạt động của những người tiến hành tố tụng, đặc biệt là của Thẩm phán khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự, đòi hỏi phải có kinh nghiệm,
kỹ năng Vậy Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự là gì? Kỹ năng nghiên
cứu hồ sơ vụ án dân sự là việc Thẩm phán tiến hành đọc từng tài liệu, chứng cứ… một cách chi tiết, có hệ thống nhằm thu thập dữ liệu, thông tin và dữ kiện để phát hiện, diễn giải các dữ kiện, thông tin, các tình tiết của vụ án dân sự… trên cơ sở đó xâu chuỗi các dữ kiện tìm ra sự liên quan, thống nhất giữa các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, để loại ra các chứng cứ không liên quan, không có giá trị chứng minh; tìm ra các tình tiết, chứng cứ mấu chốt, để làm căn cứ cho việc đánh giá chứng cứ sau này của Tòa án trong việc chấp nhận hay bác yêu cầu của đương sự
Unattributed “"Research" in 'Dictionary' tab” Merriam Webster (m-w.com) Encyclopædia Britannica
Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011
Trang 1710
1.1.3 Khái niệm kỹ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự
Kết quả của việc nghiên cứu à đánh giá “Đánh giá có nghĩa nhận
định giá trị Những từ có nghĩa gần với đánh giá là phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét” 12
“Đánh giá một đối tượng nào đó, chẳng hạn
một con người, một tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hoá hay dịch
vụ, đội ngũ giáo viên hay đánh giá tác động môi trường và có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, nghệ thuật, thương mại, giáo dục hay môi trường” 13
Phê bình có nghĩa xem xét, phân tích, đánh giá ƣu điểm và khuyết điểm; hoặc là nêu lên khuyết điểm để góp ý kiến, để chê trách một ai đó, một đối tƣợng nào đó; hoặc là nhận xét và đánh giá, gắn với công việc gọi là phê bình văn học đối với một tác phẩm Nhận xét có nghĩa đƣa ra ý kiến có xem xét và đánh giá về một đối tƣợng nào đó Còn động từ nhận định có nghĩa đƣa ra ý kiến có tính chất đánh giá, kết luận, dự đoán về một đối tƣợng, một tình hình nào đó Bình uận có nghĩa bàn và đánh giá, nhận định
về một tình hình, một vấn đề nào đó Xem xét có nghĩa tìm hiểu, quan sát kỹ
để đánh giá, rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết
Trong tiếng Anh, những từ gần nghĩa với đánh giá, phê bình hay bình luận là các từ review, appraise, evaluate, assess, reconsider hay rate Theo
Từ điển Anh – Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh
năm 1993, “review có nghĩa xem lại hoặc xét lại (cái gì); ôn lại (nhất là các
sự kiện đã qua) trong trí óc; nhìn tổng quát, hồi tưởng hoặc là viết bài phê bình (một cuốn sách, một bộ phim, v.v… để đăng báo Động từ appraise có nghĩa đánh giá hoặc xác định phẩm chất của (ai/cái gì) Evaluate có nghĩa tìm ra hoặc xác định ý kiến về mức giá trị của ai/cái gì; định giá, đánh giá
12 Viện ngôn ngữ học (1994)
13 TS Nguyễn Kim Dung “Một số ý kiến đóng góp nhằm cải tiến chất ƣợng công tác kiểm tra,
ngày 29
Trang 1811
Trong khi đó động từ assess có nghĩa quyết định hoặc ấn định giá trị của cái gì; đánh giá, định giá; hoặc là ước lượng chất lượng của cái gì, đánh giá Rate có nghĩa ước lượng giá trị của ai, cái gì hay là định giá, đánh giá, ước lượng; xếp hạng hoặc được coi theo một cách được nói rõ” 14
Như vậy: Kỹ năng đánh giá chứng cứ trong vụ án dân sự là hoạt động
của những người tiến hành tố tụng, đặc biệt là của Thẩm phán trong việc giải quyết các vụ án dân sự Trên cơ sở vận dụng sự hiểu biết về pháp luật, kinh nghiệm giải quyết án dân sự, quá trình thu thập, nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án dân sự để đánh giá chứng cứ nhằm loại ra những vấn đề không liên quan, vấn đề còn mâu thuẫn, vấn đề mấu chốt,
…để định hướng (tìm ra hướng) giải quyết, xét xử vụ án được khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật
1.2 Kỹ năng thu thập chứng cứ của Tòa án trong giải quyết các
vụ án dân sự
Theo Điều 93 BLTTDS thì: Chứng cứ trong vụ án dân sự là những gì
có thật, tồn tại khách quan, do các đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự thủ tục tố tụng do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định và được Tòa án được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp” 15
Do vậy để giải quyết một vụ án dân sự, Tòa án thông thường thu thập các tài liệu, chứng cứ qua các con đường: Do đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân… giao nộp hoặc do Tòa án tự mình thu thập để àm căn cứ giải quyết
vụ án Tuy nhiên, Tòa án chỉ thu thập tài liệu, chứng cứ khi hồ sơ vụ án dân
sự còn thiếu những chứng cứ cần thiết àm cơ sở cho việc giải quyết vụ án
Để có thể kết luận là hồ sơ còn thiếu chứng cứ àm cơ sở cho việc giải quyết
14 Theo Từ điển Anh – Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh năm 1993
15
Điều 93 BLTTDS năm 2015
Trang 1912
vụ án, Tòa phải căn cứ vào những chứng cứ tài liệu mà đương sự đã giao nộp Từ đó phân oại, để xác định còn thiếu chứng cứ nào cần thu thập Những tài liệu được coi là chứng cứ thì phải đáp ứng điều kiện mà pháp luật
tố tụng quy định Tuy nhiên, chỉ áp dụng cứng nhắc các quy định của pháp luật về thu thập chứng cứ thì chưa đủ mà cần phải có kinh nghiệm thực tế và người thu thập phải linh hoạt, mềm dẻo mới đạt hiệu quả cao cho việc thu thập chứng cứ
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Thẩm phán quyết định áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ nào cần thiết, phù hợp Nghiên cứu đơn, nghiên cứ tài liệu chứng cứ đã thu thập được để phát hiện chứng cứ mới cần thu thập (xác định được hệ thống chứng cứ của vụ án) Nghĩa à căn cứ vào đối tượng chứng minh và quy định của pháp luật nội dung để phát hiện hệ thống chứng cứ của vụ án Thông thường đối tượng chứng minh trong vụ án dân sự rất phức tạp, đặc biệt là những vụ án có nhiều đương sự tham gia tố tụng, có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp Từ đó xác định cần bổ sung những tài liệu, chứng cứ nào Trong chuỗi các hoạt động thu thập chứng cứ, thì xác định chứng cứ là hoạt động đầu tiên có vai trò quan trọng, bởi chỉ có thể thu thập được chứng cứ khi xác định được nó Tùy thuộc từng loại tranh chấp, tính chất, bối cảnh của từng loại vụ án mà Thẩm phán quyết định áp dụng từng biện pháp hay tổng hợp nhiều biện pháp thu thập cũng như xác định thời hạn phù hợp cho quá trình thu thập chứng cứ đó Đây à hoạt động
tư duy của Thẩm phán trong giải quyết các vụ án dân sự Có thể được phân tích dưới các hình thức sau:
1.2.1 Kỹ năng thu thập chứng cứ, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp chứng cứ
Tòa án tiến hành giao nhận tài liệu, chứng cứ từ đương sự, người làm chứng, cơ quan, tổ chức, cá nhân…(bản tự khai, đơn đề nghị hay các tài liệu, chứng cứ khác iên quan đến việc giải quyết vụ án) Đây à các tài iệu, chứng cứ đọc được thông thường Khi thu thập đối với những tài liệu, chứng
Trang 2013
cứ này, Tòa án phải đảm bảo tài liệu này phải là “Tài liệu đọc được nội dung
được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận 16 Tức là các tài liệu này được thể hiện dưới dạng văn bản, tài liệu đọc được có thể là bản gốc (bản chính) hoặc bản được dùng àm cơ sở lập ra các bản sao (bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp) Tài liệu chứng cứ
do đương sự, người làm chứng… giao nộp phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp (công chứng các tài liệu iên quan đến nhân thân đương sự công chứng các tài liệu do cơ quan có thẩm quyền ban hành hay chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng… ) Đối với các tài liệu, chứng cứ do các cơ quan, tổ chức… cung cấp, thì cơ quan, tổ chức… đó phải xác nhận vào các tài liệu này (ký sao tài liệu, đóng dấu treo của cơ quan, tổ chức….)
Vậy bản chính là gì, bản sao là gì? Theo Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam số 04(125)/2019 tác giả Nguyễn Hải An – Vụ Giám đốc, kiểm tra
về dân sự, kinh doanh – thương mại, Tòa án nhân dân tối cao viết: “Bản
chính là bản gốc, bản đầu tiên, là bản được dùng làm ra bản sao Ngược lại bản sao là bản được làm ra từ bản gốc hay được chép lại từ bản gốc” 17
Trường hợp tài liệu do đương sự giao nộp hay do Tòa án thu thập là văn bản nhưng sử dụng ngôn ngữ nước ngoài Khi thu nhận loại tài liệu này ngoài việc đảm bảo yêu cầu trên, Tòa án phải yêu cầu người giao nộp, cung cấp tài liệu này phải giao nộp bản dịch sang Tiếng Việt kèm theo hợp pháp
- Cùng với sự phát triển của khoa học, xã hội…các tài iệu là sản phẩm của khoa học, công nghệ như băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, ghi nhận lại nội dung các giao dịch dân sự giữa con người với con người (hình ảnh, âm thanh) khi tham gia giao dịch Các tài liệu này không phải là những văn bản thông thường (tài liệu đọc được, được thể hiện
Trang 21đã được quy định tại Điều 82, Điều 83 BLTTDS năm 2004 và được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, xác định tại Nghị
quyết 04/2012/NQ-HĐTP: “Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được
xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản
về việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh…Nếu đương sự không xuất trình được các văn bản nêu trên, thì tài liệu nghe được, nhìn
Nay được quy định tại khoản 1 Điều 94 và khoản 2 Điều 95 BLTTDS năm 2015, đây à một nguồn chứng cứ trong việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung và
vụ án dân sự nói riêng
Ví dụ: Trong vụ án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, A (nguyên đơn) được một người cung cấp băng ghi hình (trích xuất camera) sự việc B (bị đơn) đánh, chửi, xúc phạm danh dự, uy tín của A Trong trường hợp này, cùng với việc giao nộp băng ghi hình đó, thì A phải xuất trình cho Toà án bản xác nhận của người đã cung cấp cho mình về xuất xứ của băng ghi hình đó
Ví dụ: A thỏa thuận chuyển nhượng cho B 100m2 đất, B đặt cọc 50.000.000 đồng Khi thỏa thuận và giao tiền cọc hai bên không lập thành văn bản, nhưng B đã ghi âm, ghi hình lại toàn bộ nội dung thỏa thuận này, việc giao nhận tiền và thời điểm đặt cọc giữa ông A và ông B để làm bằng chứng Đến thời điểm làm thủ tục chuyển nhượng, do giá đất tăng quá cao nên A không đồng ý chuyển nhượng cho B diện tích đất trên cũng không
18
Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP
Trang 2215
chấp nhận phạt cọc Hai bên không thỏa thuận được nên B đã khởi kiện A ra Tòa Trong trường hợp này, cùng với việc giao nộp băng ghi âm, thì B phải gửi bản trình bày về sự việc iên quan đến việc ghi âm, ghi hinh đó
- Ngoài thu thập những tài liệu chứng cứ thông thường, thì Thông điệp dữ liệu điện tử cũng à một trong những nguồn chứng cứ được quy định
trong BLTTDS năm 2015: “Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới
hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử” 19 Như vậy có nghĩa là chứng cứ điện tử, thư điện tử, điện
tín, điện báo, fax… được xác định là chứng cứ (nếu có) khi giải quyết các vụ
án dân sự Để thu thập những tài liệu, chứng cứ này hiệu quả nhất, chúng ta cần hiểu thế nào à thông điệp dữ liệu điện tử Khoản 5 Điều 4 Luật Giao
dịch điện tử năm 2005 quy định: “Thông điệp dữ liệu điện tử trong tố tụng
dân sự, tố tụng hành chính (sau đây viết tắt là thông điện dữ liệu điện tử) là
dữ liệu được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử từ đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, căn bản tố tụng đã được ban hành theo quy định của pháp luật” 20
- Vật chứng trong vụ án dân sự là gì? Vật chứng trong vụ án dân sự tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau trong thế giới vật chất, nó chứa đựng những thông tin, phản ánh những dấu vết về vụ án dân sự Vật chứng được
sử dụng làm chứng cứ phải là hiện vật gốc (là hiện vật đầu tiên) và liên quan đến vụ án dân sự Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn,
xác định về vật chứng như sau: “Vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan
đến vụ việc dân sự; nếu không phải là hiện vật gốc hoặc không liên quan đến vụ việc thì không phải là chứng cứ trong vụ việc dân sự đó” 21
tại khoản
2 Điều 3 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Nay được quy định tại Khoản 4 Điều
Trang 2316
95 BLTTDS năm 2015 quy định: “Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật
gốc liên quan đến vụ việc” 22 Như vậy có thể thấy, vật chứng tồn tại dưới các dạng khác nhau nên vật chứng trong mỗi một vụ án là khác nhau, nó không mang tính chất đặc định, đặc hình Do đó khi thu thập những tài liệu này Tòa án cần ưu ý phải lập biên bản miêu tả chi tiết các đặc điểm hình thức, tính chất, dấu vết… thể hiện trên vật chứng đó Cũng như để đảm bảo hiện trạng vật chứng trong quá trình xét xử thì tùy từng loại vật chứng mà Tòa án có cách bảo quản để giữ được giá trị vật chứng hoặc có những biện pháp xử lý hợp ý để tránh những tổn thất không đáng có cho đương sự
- Ngoài ra, trong quá trình Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ do đương sự, người làm chứng, cơ quan, tổ chức… giao nộp nhưng xét thấy việc giao nộp tài liệu, chứng cứ còn thiếu, Tòa án phải yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ bổ sung Hình thức yêu cầu phải được thể hiện dưới dạng văn bản: Thông báo, quyết định hay dưới dạng lập biên bản làm việc…thể hiện việc Tòa án đã yêu cầu họ àm căn cứ ưu trong hồ sơ vụ án Nội dung thông báo, quyết định, biên bản làm việc…phải thể hiện rõ yêu cầu họ giao nộp, bổ sung những tài liệu, chứng cứ gì, giao nộp trong thời hạn bao lâu và hậu quả pháp lý của việc không giao nộp Nếu không thể hiện được những vấn đề trên thì đó à thiếu sót và có thể vi phạm tố tụng vì chưa đảm bảo cho đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình hay nói cách khác là thiếu
kỹ năng thu thập chứng cứ
Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản, nguyên đơn cho rằng khi bố mẹ chết có để lại di chúc cho mình toàn bộ tài sản nhưng nguyên đơn chỉ có bản sao di chúc Bị đơn à người quản lý di chúc (bản gốc) nhưng không giao nộp cho Tòa án Bản di chúc này lại là chứng cứ quan trong trong việc giải quyết vụ án Trong trường hợp này, Tòa án ra thông báo hoặc quyết định yêu cầu bị đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản di chúc gốc do
bị đơn đang quản lý
22
Khoản 4 Điều 95 BLTTDS năm 2015
Trang 2417
Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, Tòa án phải giải quyết yêu cầu nuôi con chưa thành niên Nếu đương sự chưa nộp cho Tòa án bản sao giấy khai sinh của con chưa thành niên, thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung giấy khai sinh để àm căn cứ giải quyết yêu cầu giao con chưa thành niên cho người cha hoặc người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cũng như quyết định mức cấp dưỡng cho con cho phù hợp
Trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ do các cơ quan, tổ chức, các nhân đang quản ý, ưu giữ Khi tiếp nhận yêu cầu này của đương sự thì Tòa án sẽ tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu này Tuy nhiên, cần ưu ý khi đưa ra yêu cầu này thì đương sự phải chứng minh mình đã thu thập mà không được, không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
Khoản 2 Điều 106 BLTTDS quy định: “Trường hợp đương sự đã áp
dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn” 23
Theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP đã giải thích rõ, chỉ trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng
cứ, đã sử dụng mọi cách thức và khả năng cho phép để yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức quản ý, ưu giữ chứng cứ cung cấp cho mình chứng cứ mà vẫn không được cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp thì mới có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ Đây à trường hợp mà bắt buộc đương sự phải có đơn yêu cầu được đương sự viết riêng Khi nhận đơn yêu cầu của đương sự, Thẩm phán phải kiểm tra tính trung thực của sự việc, xem đương sự đã thực sự áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng
cứ hay chưa Nếu đương sự chưa tiến hành hoặc không có chứng cứ về việc
23
Khoản 2 Điều 106 BLTTDS năm 2015
Trang 2518
đã tiến hành việc thu thập chứng cứ mà không có kết quả, Thẩm phán sẽ không tiếp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ cho Tòa án Thẩm phán cần giải thích và hướng dẫn cho đương sự thực hiện đầy đủ các thủ tục mà pháp luật đã quy định
Chỉ khi đương sự thực hiện đầy đủ những quy định trên, Thẩm phán mới nhận đơn yêu cầu của đương sự Đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức quản ý, ưu giữ phải có các nội dung chính sau: Ngày, tháng, năm viết đơn; Tên Tòa án mà đương sự yêu cầu tiến hành thu thập chứng cứ; Tên, địa chỉ của người có yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ; Vấn đề cụ thể cần thu thập; Lý do vì sao tự mình không thu thập được chứng cứ đó; Họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản ý, ưu giữ chứng cứ cần thu thập
Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp về nhà ở, do thất lạc giấy tờ sở hữu nhà
ở, đương sự đã có văn bản đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường xác nhận tình trạng sở hữu về nhà ở Sở Tài nguyên và Môi trường có văn bản trả lời đương sự là Sở chỉ xác nhận khi có công văn của Tòa án, không xác nhận theo yêu cầu của cá nhân Trường hợp này đương sự sẽ àm đơn yêu cầu Tòa
án thu thập tài liệu này, trong đơn trình bày rõ về yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu về sở hữu nhà ở, lý do không thể thu thập; đơn này được nộp kèm với công văn trả lời của Sở tài nguyên và môi trường để nộp cho Tòa án
Ví dụ: Khi nguyên đơn trong vụ án ly hôn, chia tài sản khi ly hôn, yêu cầu Ngân hàng sao kê khoản tiền gửi tiết kiệm ngân hàng của phía bị đơn,
để chứng minh vợ chồng có tài sản chung là khoản tiền tiết kiệm nhưng đang do bị đơn nắm giữ Khi nguyên đơn yêu cầu Ngân hàng sao kê thông tin về khoản tiền gửi tiết kiệm này nhưng bị ngân hàng từ chối Thì nguyên đơn phải nộp cho Tòa án văn bản trả lời của phía ngân hàng mà nguyên đơn xin sao kê, lý do vì sao mà họ không sao kê Kèm theo đơn trình bày lý do
tự nguyên đơn không thể thu thập được những tài liệu, chứng cứ này Trên
cơ sở đầy đủ những điều kiện này, Thẩm phán sẽ ra quyết định yêu cầu ngân
Trang 2619
hàng cung cấp các tài liệu, chứng cứ iên quan đến việc này để àm căn cứ giải quyết vụ án
- Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ
Khi xét thấy yêu cầu của đương sự, yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ à có căn cứ, thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng
cứ theo quy định của pháp luật
- Thực hiện quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ
+ Thẩm phán có thể trực tiếp thu thập tài liệu, chứng cứ, yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản ý, ưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ Trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tố chức đang quản ý, ưu giữ chứng cứ thực hiện được việc giao nộp ngay chứng cứ thì lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ theo quy định của bộ luật Tố tụng dân sự Nếu cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ có dấu thì đề nghị đại diện có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức ký tên và đóng dấu xác nhận Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản ý ưu giữ chứng cứ từ chối việc giao nộp chứng cứ thì lập biên bản về việc đó và ghi rõ ý do của việc từ chối đó
Trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản ý ưu giữ chứng cứ chưa thực hiện được việc giao nộp chứng cứ ngay thì lập biên bản
về việc đó và yêu cầu họ cung cấp đầy đủ, kịp thời cung cấp theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn được ghi trong quyết định
Ví dụ: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết, yêu cầu
Uỷ ban nhân dân huyện A cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ nêu trên
Trong trường hợp không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thì phải thông báo bằng văn bản cho Toà án biết, trong đó ghi rõ ý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
+ Trong trường hợp Tòa án không trực tiếp yêu cầu cá nhân, cơ quan,
tổ chức đang quản ý, ưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ thì Tòa án chỉ cần gửi quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ cho cá nhân, cơ quan, tổ chức
mà mình có yêu cầu cung cấp chứng cứ
Trang 2720
Như vậy, khi yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức … đang ưu giữ tài liệu, chứng cứ iên quan đến việc giải quyết vụ án Thẩm phán cần chú ý thực hiện đúng quy định pháp luật về vấn đề này, đảm bảo đúng trình tự thủ tục tố tụng Có như vậy mới đảm bảo cho việc thu thập chứng cứ của Tòa án nói chung và của Thẩm phán nói riêng
1.2.2 Kỹ năng lấy lời khai
Thông thường khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án không chỉ căn cứ trên những tài liệu chứng cứ do Tòa án giao nộp để giải quyết vụ án mà Tòa
án cần phải thu thập thêm những tài liệu, chứng cứ khác Ngoài việc yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân…giao nộp các tài liệu chứng cứ còn thiếu iên quan đến việc giải quyết vụ án thì lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng…cũng à một biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án dân sự Trong quá trình giải quyết vụ án, xét thấy, nội dung bản tự khai do đương sự giao nộp còn thiếu hoặc đương sự không đưa ra quan điểm iên quan đến việc giải quyết vụ án (không có bản tự khai) hoặc cần lấy lời khai của người làm chứng để làm rõ hơn các tình tiết của vụ
án thì Tòa án cần tiến hành lấy lời khai của họ Việc lấy lời khai của đương
sự, của người làm chứng… cũng à một nghệ thuật Ngoài việc áp dụng nhuần nhuyễn các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người tiến hành lấy lời khai cần phải có kinh nghiệm mới đạt được hiệu quả tối đa Để việc lấy lời khai có hiệu quả cần chú ý những vấn đề sau:
- Trước khi lấy lời khai, Thẩm phán cần nắm rõ nội dung vụ án, đối tượng mình cần lấy lời khai sắp tới;
- Vạch ra nội dung cần làm (lấy lời khai ở những nội dung gì?);
- Sắp xếp thành phần, địa điểm, thời gian…để tiến hành lấy lời khai;
- Khi tiến hành lấy lời khai cần quan sát thái độ, diễn biến tâm lý của đương sự, người làm chứng
Việc này áp dụng chung cho việc lấy lời khai (lấy lời của đương sự và lấy lời khai của người làm chứng hay làm việc với cá nhân, cơ quan, tổ
Trang 2821
chức…) Tuy nhiên, ngoài những quy định chung, kỹ năng áp dụng chung cho việc lấy lời khai thì việc lấy lời khai của đương sự cũng có những tính chất, đặc thù riêng so với việc lấy lời khai của người làm chứng
1.2.2.1 Kỹ năng lấy lời khai của đương sự
- Xác định điều kiện lấy lời khai của đương sự:
Đương sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay nói cách khác là những người có quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền với vụ án Họ à người trực tiếp iên quan đến các tình tiết trong vụ án Vì vậy, việc lấy lời khai của đương sự có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án, à cơ sở để xác định được đường lối giải quyết vụ án Về nguyên tắc, lời khai của đương sự do đương sự tự cung cấp,
tự viết hoặc đánh máy và ký tên (dưới dạng văn bản) Điều 98 BLTTDS quy
định “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa
có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản….” 24
Do đó, Tòa
án chỉ có thể tiến hành lấy lời khai khi xét thấy nội dung bản tự khai của họ không đầy đủ hoặc họ không giao nộp bản tự khai trình bày về các vấn đề iên quan đến việc giải quyết vụ án
- Phương pháp ấy lời khai của đương sự:
Việc lấy lời khai của đương sự do Thẩm phán tiến hành Thư ký Tòa
án chỉ có thể giúp Thẩm phán ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản Vậy để việc lấy lời khai của đương sự được hiệu quả, Thẩm phán phải nắm chắc các tình tiết có ý nghĩa quan trọng của vụ án, các quy định của pháp luật nội dung cần áp dụng giải quyết vụ án Lời khai của đương sự phải tập trung làm rõ nội dung cơ bản của vụ án Đối với những đương sự đã có ời khai nhưng khai chưa đầy đủ, rõ ràng, Thẩm phán chỉ tập trung vào những
24
Điều 98 BLTTDS năm 2015
Trang 2922
tình tiết mà đương sự khai còn thiếu, chưa rõ ràng Đối với đương sự chưa
có bản tự khai, Tòa án khi lấy lời khai của họ cần vạch ra tất cả các nội dung cần àm rõ iên quan đến việc giải quyết vụ án Tránh việc lấy lời khai không đầy đủ, phải lấy đi, ấy lại nhiều lần gây bức xúc cho đương sự Thực tế cho thấy, khi lấy lời khai của đương sự Thẩm phán không nên bắt tay vào việc lấy lời khai ngay mà cần quan sát thái độ, nắm bắt tâm lý, tạo niềm tin cho đương sự (thể hiện thái độ công minh, không bênh vực bên nào) Việc lấy lời khai của đương sự phải được lập thành văn bản, Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi ại lời khai của đương sự vào biên bản
Ngoài phần nội dung lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán cần chú ý tới địa điểm, thời gian, thành phần tiến hành lấy lời khai của đương sự tại trụ
sở Tòa án cũng như ngoài trụ sở Tòa án Lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án hay ngoài trụ sở Tòa án, Thẩm phán đều phải thông báo, có văn bản thông báo liên hệ với đương sự, cơ quan tổ chức nơi đương sự đang sinh sống, làm việc…về thời gian, địa điểm làm việc cụ thể để họ có thể sắp xếp công việc làm việc với Tòa án Những trường hợp Tòa án lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án do đương sự bị hạn chế quyền tự do (đương sự đang bị tam giam, chấp hành hình phạt tù); đương sự bị bệnh, đang điều trị tại các cơ sở y tế; đương sự già yếu không thể tới trụ sở Tòa án để tham gia
tố tụng…
Ví dụ lấy lời khai của đương sự đang bị tạm giam phải được thực hiện tại trại giam theo bố trí của Ban giám thị trại tạm giam; lấy lời khai của đương sự bị bệnh đang điều trị tại cơ sở y tế phải được thực hiện tại nơi họ đang điều trị; lấy lời khai của đương sự tại nhà (do đương sự không chấp hành theo triệu tập của Tòa án, trốn tránh nghĩa vụ)… thì khi ấy lời khai của họ thì cần phải mời người chứng kiến và phải có xác nhận của cơ quan, chính quyền địa phương nơi Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự
Đối với đương sự được quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự, tức à đương sự chưa đủ 6 tuổi hoặc người mất năng ực
Trang 3023
hành vi dân sự; đương sự từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi; đương sự là người hạn chế năng ực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức (đương sự đặc biệt)…Việc lấy lời khai phải có người giám hộ, người đại diện hợp pháp… của họ chứng kiến, ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản lấy lời khai
Thông thường nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền và lợi ích khác nhau nên lời khai của họ thường chứa đựng những thông tin có lợi cho họ Do đó khi tiến hành lấy lời khai của đương
sự, đồng thời với việc phải ghi nhận lời khai của họ, chúng ta phải ưu ý hỏi
họ có giao nộp kèm theo tài liệu chứng cứ mà họ khai ra không (nếu có thì thu thập, nếu không có thì hỏi lý do vì sao không giao nộp) Hoặc họ khai ra người làm chứng, người chứng kiến thì họ phải cung cấp được thông tin về người làm chứng, chứng kiến Đồng thời phải kết hợp với các chứng cứ khác thì mới xác định được đâu à chứng cứ cốt lõi của vụ án
- Cách ghi biên bản lấy lời khai:
Khi ghi biên bản lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi biên bản Nội dung biên bản phải thể hiện rõ thời gian (giờ, ngày, tháng, năm); địa điểm lấy lời khai; thành phần những người tiến hành lấy lời khai; thông tin về người được lấy lời khai (họ, tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp… của nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); nội dung cần lấy lời khai Biên bản phải phải ghi đầy đủ, chính xác nội dung, quan điểm của đương sự khai Nếu là những lời khai quan trọng phải ghi đúng cả lời văn của người khai vào biên bản lấy lời khai Trường hợp đương sự từ chối khai hoặc có thái độ đáng chú ý trong quá trình lấy lời khai cũng cần phản ánh vào biên bản (ví dụ thái độ ngập ngừng, luống cuống, khóc, không khai báo, thách thức, khiếm nhã…)
Mỗi chữ mỗi câu thêm vào hoặc bỏ đi trong biên bản phải được cả người lấy lời khai và người khai xác nhận; những dòng còn trống phải gạch
đi
Trang 3124
Sau khi lập xong biên bản, nội dung biên bản lấy lời khai phải được người lấy lời khai đọc lại hoặc để họ tự đọc để họ xác nhận lại nội dung hoặc có yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai hay không Chữ viết trong biên bản phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt, chỉ viết một loại mực mà không được viết nhiều loại mực…
Nếu người khai đã xác nhận nội dung, không còn ý kiến nào khác thì người khai ký tên xác nhận vào biên bản Nếu người khai không biết chữ thì cho điểm chỉ xác nhận, đối với người khai này thì nhất thiết phải có người chứng kiến quá trình lấy lời khai của Thẩm phán và đồng thời họ cũng ký tên chứng kiến vào biên bản lấy lời khai Nếu người khai không ký thì yêu cầu họ phải khai rõ lý do vì sao không ký tên xác nhận; nếu đã giải thích họ vẫn không ký, không khai lý do vì sao không ký tên thì Thẩm phán mời người làm chứng đến xác nhận sự việc và ký tên vào biên bản
Trường hợp biên bản lấy lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở của Tòa án thì phải có người chứng kiến và có xác nhận của ủy ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức… nơi ập biên bản; cũng như phải có chữ ký của người tiến hành lấy lời khai
Việc lấy lời khai của đương sự có thể được thực hiện trước hoặc tại phiên tòa Đối với trường hợp lấy lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thông thường do Thẩm phán tiến hành và thường được lập thanh văn bản, trường hợp sử dụng phương tiện hỗ trợ là sản phẩm của công nghệ thông tin (băng ghi âm, đĩa ghi hình….), thì ngoài ưu giữ băng ghi âm, đĩa ghi hình….vẫn phải có văn bản xác nhận xuất xứ của chúng Đối với trường hợp lấy lời khai của đương sự tại phiên tòa, do Hội đồng xét xử tiến hành, việc Tòa án tiến hành lấy lời khai của đương sự không cần phải kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của chúng
1.2.2.2 Kỹ năng lấy lời khai người làm chứng
Điều 77 BLTTDS quy định: “Người làm chứng là người biết các tình
tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu
Trang 32- Xác định điều kiện để lấy lời khai của người làm chứng
Người làm chứng à người được đương sự nói đến hoặc do cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để khai báo những tình tiết có iên quan đến
vụ án mà họ được biết, họ không có quyền lợi, nghĩa vụ iên quan đến vụ án Lời khai của những người này có thể chứa đựng nhiều chứng cứ về những tình tiết cần chứng minh nhằm giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan của vụ
án Tuy vậy, lời khai của người làm chứng cũng có thể bị sai lệch và không phù hợp với sự thật khách quan vì có thể họ bị mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa, dẫn tới họ cố tình khai báo sai sự thật, hay người làm chứng không nhớ kỹ đúng sự việc đã chứng kiến Trong các trường hợp đó ời khai của người làm chứng sẽ không mang tính khách quan Các lời khai của người làm chứng luôn phải được đánh giá với các chứng cứ khác của vụ án
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trường hợp cần lấy lời khai của
người làm chứng tại Điều 99, đó à trường hợp “theo yêu cầu của đương sự
hoặc khi xét thấy cần thiết” 26 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã giải thích
rõ các trường hợp Tòa án tiến hành lấy lời khai của người làm chứng: “Khi
đương sự có yêu cầu bằng văn bản lấy lời khai của người làm chứng, thì Toà án tiến hành lấy lời khai của người làm chứng đó Khi xét thấy cần
25
Điều 98 BLTTDS năm 2015
26 Điều 99 BLTTDS năm 2015
Trang 3326
thiết, tuy đương sự không có yêu cầu, Thẩm phán có thể tiến hành lấy lời khai của người làm chứng Được coi là “cần thiết” nếu việc lấy lời khai của người làm chứng bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật’’ 27
Đối với trường hợp Thẩm phán lấy lời khai của người làm chứng theo yêu cầu của đương sự thì trước khi áp dụng biện pháp này, Thẩm phán phải xem xét đủ các điều kiện để thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hay không Khi đã thấy đủ rồi, Thẩm phán mới ban hành giấy triệu tập gửi cho người làm chứng Trong giấy triệu tập phải ghi rõ lý do triệu tập (để làm chứng trong vụ án ), thời gian, địa điểm làm việc theo mẫu giấy triệu tập chung của Tòa án Giấy triệu tập phải được tống đạt hợp lệ tới người làm chứng
Trường hợp xét thấy cần thiết Tòa án tiến hành lầy lời khai của người làm chứng à trường hợp đương sự không có yêu cầu nhưng Tòa án vẫn tiến hành lấy lời khai của người làm chứng để àm rõ hơn các tình tiết của vụ án, nếu không lấy lời khai của người làm chứng này thì sẽ không làm rõ nét các tình tiết của vụ án Như vậy, được coi à “cần thiết” nếu việc lấy lời khai của người làm chứng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp uật
- Phương pháp ấy lời khai người làm chứng và cách ghi biên bản lấy lời khai người làm chứng về cơ bản được thực hiện giống như đối với phương pháp ấy lời khai của đương sự và cách ghi biên bản lấy lời khai của đương sự Tuy vậy cũng có một số điểm mà Thẩm phán cần chú ý thêm khi lập biên bản, đó à: Phải ghi rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với các đương sự trong vụ án Nếu người làm chứng là thân thích, gần gũi với đương sự như cha, mẹ, vợ, con, anh chị em… hoặc bạn bè thân thích thì trong biên bản cũng phải ghi rõ quan hệ đó Phải đảm bảo, người làm chứng
đã được Thẩm phán giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định
27
Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP
Trang 3427
của pháp luật tố tụng dân sự Cam đoan của người làm chứng về việc khai trung thực về những tình tiết của vụ án mà mình biết được, nếu khai báo không trung thực sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình
- Người làm chứng là những đối tượng đặc biệt như người làm chứng
à đối tượng không biết chữ, hạn chế nặng lực hành vi dân sự, à người dân tộc… Khi ấy lời khai của họ buộc phải có người chứng kiến, người đại diện hợp pháp hoặc phiên dịch; những người này phải ký xác nhận vào cuối nội dung biên bản…để đảm bảo việc lấy lời khai đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự
1.2.3 Kỹ năng đối chất
Trong quá trình giải quyết vụ án, khi đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng, hoặc giữa những người làm chứng với nhau theo thứ
tự hợp lý Tùy từng trường hợp cụ thể mà tiến hành đối chất về từng vấn đề một hoặc để từng người trình bày về các vấn đề cần đối chất theo thứ tự
Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, chia tài sản khi y hôn, nguyên đơn (A) yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng à nhà đất Tuy nhiên giữa nguyên đơn, bị đơn (B) khai về nguồn gốc đất, về chi phí xây dựng nhà trên đất không thống nhất, lời khai của các đương sự mâu thuẫn với nhau Trong trường hợp này, ngoài việc thu thập các tài liệu chứng cứ iên quan đến nguồn gốc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng A thì Thẩm phán cần tiến hành đối chất giữa A và B để àm cơ sở giải quyết vụ án (tính công sức đóng góp của mỗi bên vào khối tài sản chung của vợ chồng…)
Để việc đối chất được hiệu quả, thì khi tiến hành đối chất, ngoài việc tuân thủ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Thẩm phán cần nắm bắt tâm ý, thái độ của đương sự, người làm chứng, vạch ra các kế hoạch, nội dung cần đối chất… Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi biên
Trang 3528
bản đối chất Biên bản phải có chữ ký của những người tham gia đối chất Thẩm phán tiến hành đối chất, thư ký ghi biên bản đối chất phải ký và đóng dấu của Tòa án Cách ghi biên bản đối chất về cơ bản cũng thực hiện như đối với trường hợp ghi biên bản lấy lời khai của đương sự và của người làm chứng
1.2.4 Kỹ năng xem xét, thẩm định tại chỗ
Ngoài lấy lời khai của đương sự, người làm chứng…Tòa án còn thu thập chứng cứ thông qua việc xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản, giám định, …đối với từng loại chứng cứ này, Khoản 7 Điều 95 BLTTDS cũng có những quy định riêng về từng việc này
“Biên bản ghi kết quả xem xét thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định” 28
Vậy đúng quy định là gì? Đúng quy định, có nghĩa à đúng
trình tự do BLTTDS quy định (đảm bảo về mặt hình thức) Trong vụ án dân
sự, không phải vụ án nào cũng cần phải tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ Tùy từng vụ án mà Thẩm phán sẽ phải tiến hành hoặc không tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ Vậy khi nào thì Tòa án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ? Những trường hợp cần xem xét, thẩm định tại chỗ là những vụ án mà đối tượng tranh chấp là bất động sản (đất, tài sản gắn liền với đất…); tài sản à động sản (ô tô, xe máy….) hoặc trường hợp Thẩm phán cần nắm vững hiện trường xảy ra sự việc tranh chấp nếu đương
sự có yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và xét có căn cứ thì Thẩm phán tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ Việc xem xét, thẩm định tại chỗ để xác định đúng thực trạng tài sản đang tranh chấp àm căn cứ giải quyết vụ án
- Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ
Trước khi tiến hành biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ, Thẩm phán phải ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ Quyết định này phải được gửi tới đương sự họ biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định tại chỗ Tuy
28
Khoản 7 Điều 95 BLTTDS
Trang 3629
nhiên, nếu đương sự vắng mặt lần thứ hai không có ý do (trước đó đã được tống đạt hợp lệ) thì việc xem xét, thẩm định tại chỗ vẫn được tiến hành theo thủ tục chung Đồng thời phải gửi cho ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan,
tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định kèm theo văn bản đề nghị
ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức cử đại diện tham gia việc xem xét, thẩm định tại chỗ để việc xem xét, thẩm định tại chỗ được diễn ra đúng thời gian, địa điểm như trong quyết định ban hành Trường hợp, trước đó Tòa án
đã gửi quyết định xem xét thẩm định tại chỗ và công văn kèm theo nhưng đại diện của ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức không có mặt theo đúng thời gian trong quyết định tại địa điểm cần xem xét, thẩm định thì Thẩm phán phải nhanh chóng liên hệ để họ có mặt Trong trường hợp vắng mặt đại diện của ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức, thì Thẩm phán phải hoãn việc xem xét thẩm định tại chỗ Ngoài việc thông báo cho đương sự, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có tài sản cần xem xét, thẩm định Tòa án phải mời các hộ giáp ranh (nếu tài sản có tranh chấp là bất động sản), nhằm xác định ranh giới, mốc giới được chính xác nhất
- Thực hiện việc xem xét thẩm định tại chỗ:
Theo Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc xem xét thẩm định tại chỗ phải do Thẩm phán tiến hành có sự chứng kiến đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định tại chỗ Đối với đương sự, Thẩm phán phải thông báo việc xem xét thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó tránh ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và những người khác được mời
Trang 37hỗ trợ kịp thời để việc xem xét thẩm định tại chỗ thực hiện được thuận lợi Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu lực ượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc công an nhân dân có thẩm quyền để có các biện pháp can thiệp theo quy định tại thông tư số 15/2003/ TT-BCA ngày 10/9/2003 của
Bộ công an hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực ượng cảnh sát bảo
vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc công an nhân dân Việc đương sự gây cản trở cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được phản án vào biên bản để ưu vào
hồ sơ vụ án
Sau khi lập xong biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, các thành viên hội đồng thẩm định; các đương sự tham gia buổi xem xét, thẩm định; những người chứng kiến ký xác nhận vào cuối biên bản, các đương sự ký nháy vào các trang Trường hợp đương sự đương sự từ chối ký vào biên bản mặc dù
đã được Thẩm phán giải thích, thì việc không ký tên xác nhận phải được phán ánh vào biên bản Sau cùng, biên bản phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thẩm quyền nơi tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ
Trường hợp đương sự tự đi yêu cầu thẩm định, không theo thủ tục do
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, sẽ không được thừa nhận hay nói cách khác là không có giá trị chứng minh
Ví dụ: A tự mình mời cơ quan, tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản có tranh chấp mà không được các đương sự khác đồng thuận, không có sự chủ trì của Tòa án, của chính quyền địa phương hay cơ quan, tổ
Trang 3831
chứ, pháp nhân nơi có tài sản tranh chấp cần thẩm định thì việc xem xét thẩm định này không có giá trị chứng minh
1.2.5 Kỹ năng trưng cầu giám định
- Điều kiện để trưng cầu giám định: Trong trường hợp việc đánh giá chứng cứ cần phải sử dụng các kiến thức chuyên môn như xác định chữ viết, chữ ký, vân tay của một người nào đó nay cần xác định nguyên nhân gây thiệt hại trong xây dựng, xác định gien ADN.v.v… và có yêu cầu của đương
sự về việc trưng cầu giám định, Tòa án cần phải trưng cầu giám định khoa học
Ví dụ: Trong vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản Nguyên đơn xuất trình tài liệu là giấy biên nhận vay tiền có chữ ký xác nhận của bị đơn Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn cho rằng nguyên đơn
đã giả mạo chứ ký của bị đơn nên bị đơn không đồng ý trả nợ cho nguyên đơn Để có căn cứ giải quyết vụ án, Thẩm phán phải lập biên bản làm việc với bị đơn về vấn đề này và yêu cầu họ đưa ra quan điểm về việc giám định chữ ký, chữ viết trong giấy biên nhận vay tiền mà nguyên đơn xuất trình
Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có chứng cứ bị tố cáo
là giả mạo về chữ ký, chữ viết thì điều đó có nghĩa à chứng cứ đó đang bị nghi ngờ về tính xác thực Muốn khẳng định chắc chắn thì phải giám định chứng cứ mới xác định được chứng cứ giả mạo hay xác thực
Xuất phát từ tính chất của các quan hệ dân sự, các bên có quyền quyết định và tự định đoạt trong quá trình giải quyết vụ việc, kể cả việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định cho phép đương sự đưa ra chứng cứ bị tố cáo là giả mạo được rút lại chứng cứ đó nhằm đảm bảo cho việc giải quyết nhanh chóng vụ án mà không cần phải giám định tránh gây lãng phí về thời gian và tiền bạc Nếu đương sự không rút lại chứng cứ đó thì người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đối với chứng cứ đó để xác minh về tính hợp pháp của chứng cứ Trong trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án sẽ
Trang 39Như vậy, Tòa án chỉ tiến hành trưng cầu giám định khi: “Đương sự
yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự” hoặc “khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định ” 29
Thủ tục, quyết định trưng cầu giám định phải tuân thủ theo, trình tự, thủ tục, nội dung được quy định tại điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự
“Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định”30 Hiện nay thủ tục giám định được quy định tại Pháp lệnh giám định tư pháp số 24/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/9/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định
số 67/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giám định tư pháp Như vậy, kết luận giám định phải được tiến hành theo trình tự do BLTTDS quy định tức à đối với tài liệu, chứng cứ này BLTTDS đặt ra yêu cầu về mặt hình thức mà không yêu cầu đặt ra về mặt nội dung Trường hợp đương sự tự mình giám định (ví dụ
tự đi xét nghiệm AND), không theo trình tự pháp luật tố tụng dân sự (mặt hình thức) thì không có giá trị chứng minh
Ví dụ: Trong vụ án xác nhận con cho cha, anh A và cháu C tự đi giám định AND trước khi Tòa án thụ ý để giao nộp cùng với đơn khởi kiện thì kết luận giám định này không được Tòa án chấp nhận Trong trường hợp này, chứng cứ là kết quả giám định AND do anh A cung cấp không đúng trình tự pháp luật tố tụng quy định Do vậy, không có giá trị chứng minh
Trang 4033
1.2.6 Kỹ năng định giá tài sản
- Xác định điều kiện định giá tài sản
Cũng giống như biện pháp xem xét, thẩm định tài sản, trưng cầu giám định thì định giá tài sản cũng à một trong những biện pháp thu thập chứng
cứ của Tòa án và BLTTDS cũng chỉ đặt ra yêu cầu về hình thức mà không đặt ra yêu cầu về nội dung Việc định giá có thể do tổ chức có thẩm quyền
thực hiện: “Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định
giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả định giá cho Tòa án”31 hoặc do “Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành
lập hội đồng định giá”32
Vậy Tòa án ra quyết định định giá tài sản trong các trường hợp nào? Tòa án tiến hành định giá trong vụ án dân sự có tranh chấp về tài sản Khi các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giá trị của tài sản đang tranh chấp hoặc có dấu hiệu, có căn cứ rõ ràng chứng minh rằng mức giá mà các bên đương sự thỏa thuận thấp hơn giá thị trường tại địa phương nơi có tài sản đang tranh chấp hoặc thấp hơn khung giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định đối với tài sản cùng loại, nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí
Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét sử sơ thẩm lại thì việc định giá tài sản lại chỉ được thực hiện khi một hoặc các bên đương sự có yêu cầu Việc định giá tài sản lại được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại BLTTDS
- Quyết định định giá tài sản tranh chấp
Đối với trường hợp Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập hội đồng định giá tài sản thì phải yêu cầu đương sự nộp tiền chi phí tố tụng cho việc định giá tài sản theo quy định của BLTTDS