1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013

181 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013
Tác giả Nguyễn Hoàng Hà
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Công Giao
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Thể loại luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, luận án đã góp phần bổ sung những tri thức lý luận hiện có về vấn đề này ở nước ta thông qua việc làm rõ một số lý thuyết phổ biến trên thế giới có liên quan đến pháp luật về Q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -*** -

NGUYỄN HOÀNG HÀ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐỂ XÂY DỰNG

QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, TIẾN BỘ VÀ ỔN ĐỊNH

THEO TINH THẦN HIẾN PHÁP NĂM 2013

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -*** -

NGUYỄN HOÀNG HÀ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐỂ XÂY DỰNG

QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, TIẾN BỘ VÀ ỔN ĐỊNH

THEO TINH THẦN HIẾN PHÁP NĂM 2013

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS VŨ CÔNG GIAO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án “Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần Hiến pháp năm 2013” dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Vũ Công Giao là công trình nghiên cứu của riêng tôi, nguồn số liệu, tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận án là trung thực, rõ ràng

và minh bạch, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và các nội dung chưa được công

bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận án và lời cam đoan này

Hà Nội, ngày 17 tháng 09 năm 2021

Tác giả luận án

Nguyễn Hoàng Hà

Trang 4

Chương 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐỂ XÂY DỰNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, TIẾN BỘ VÀ ỔN ĐỊNH 39

2.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định 39 2.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, các tiêu chí hoàn thiện pháp luật

về quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định 46 2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới hoàn thiện pháp luật về quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định 58 2.4 Kinh nghiệm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quan hệ lao động tiến bộ, hài hoà và ổn định trong pháp luật quốc tế, Hiến pháp và pháp luật của một số quốc gia và những gợi mở cho Việt Nam 62 Kết luận Chương 2 76

Chương 3:THỰC TRẠNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐỂ XÂY DỰNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, TIẾN BỘ VÀ ỔN ĐỊNH THEO TINH THẦN HIẾN PHÁP NĂM 2013 Ở VIỆT NAM 77

3.1 Khái quát quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về quan hệ lao động 77 3.2 Thực trạng hoàn thiện pháp luật liên quan đến các thiết chế của quan hệ

Trang 5

3.3.Thực trạng hoàn thiện pháp luật liên quan quyền của người lao động và

người sử dụng lao động trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay: 113

Kết luận Chương 3 121

Chương 4: CÁC YÊU CẦU ĐẶT RA VÀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐỂ XÂY DỰNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, TIẾN BỘ VÀ ỔN ĐỊNH THEO TINH THẦN HIẾN PHÁP NĂM 2013 124 4.1 Các yêu cầu đặt ra với việc hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay 124

4.2 Quan điểm hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động theo hướng hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 130

4.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động theo hướng hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần Hiến pháp 2013 135

Kết luận Chương 4 152

KẾT LUẬN 153

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC TÁC GIẢ CÔNG BỐ 156

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 156

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

ILO : Tổ chức Lao động Quốc tế

LĐ-TB-XH : Lao động – Thương binh – Xã hội

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 3.1: Số liệu cơ bản về hệ thống công đoàn Việt Nam, năm 2018 89

Bảng 3.2: Số liệu cơ bản về hệ thống VCCI, năm 2019 92

Bảng 3.3: Số vụ TCLĐ cá nhân giải quyết tại Tòa án 105

Bảng 3.4: Dữ liệu phân loại đình công theo nguyên nhân, miền, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề 106

Bảng 3.5: Thời gian đình công và số ngày làm việc bị mất, 2016-2018 108

Bảng 3.6: Tỷ lệ bao phủ TƯLĐTT ở Việt Nam năm 2018 116

Bảng 3.7: Tỉ lệ các cuộc đình công về quyền và lợi ích, 2016-2018 119

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp năm 2013 đánh dấu cột mốc quan trọng trong việc thúc đẩy sự tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người ở Việt Nam, đặc biệt là các quyền tự

do kinh doanh, quyền được bảo đảm an sinh xã hội, quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc, quyền được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, được hưởng lương và chế độ nghỉ ngơi [152, Điều 33, 34, 35]

Hiến pháp khẳng định vai trò của Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động (QHLĐ) hài hòa, tiến bộ và ổn định [152, Điều 57] Theo quy định này, việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ được thực hiện một cách hài hoà với bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ, thông qua việc tạo sự bình đẳng về mặt pháp luật giữa NLĐ và NSDLĐ Có thể khẳng định Điều 57 là một quy định có ý nghĩa rất quan trọng của Hiến pháp năm 2013, thể hiện cách tiếp cận mới của các nhà lập hiến trong việc hoàn thiện quan hệ pháp luật về lao động phù hợp với xu hướng chung trên thế giới và đáp ứng các yêu cầu từ quá trình hội nhập quốc tế của đất nước Việt Nam ngày nay đang trong tiến trình xây dựng, phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh các thiết chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) từng bước được hoàn thiện, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, trên cơ sở đó thị trường lao động cũng như QHLĐ được hình thành và từng bước vận hành theo quan hệ cung cầu của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, QHLĐ ở Việt Nam cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, đó là tình trạng tranh chấp lao động (TCLĐ) dẫn đến đình công không đúng pháp luật ở các doanh nghiệp nói chung, nhất là khu vực ngoài nhà nước, có xu hướng gia tăng cả

về số lượng và quy mô, gây nhiều thiệt hại cho NLĐ, cho doanh nghiệp và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, đến nền kinh tế và trật tự, an toàn xã hội Điều này cho thấy pháp luật về lao động, công tác quản lý của Nhà nước và các thiết chế bảo đảm cho QHLĐ ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, chưa theo kịp sự phát triển của

Trang 9

Trong thời gian qua, Đảng CSVN rất quan tâm đến tình hình QHLĐ đã đưa ra nhiều định hướng chỉ đạo việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, các cấp ủy đối với công tác xây dựng công tác QHLĐ ổn định và tiến bộ ở doanh nghiệp Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05 tháng 6 năm 2008 đã giao cho Đảng Đoàn Quốc hội xây dựng

và trực tiếp phụ trách Đề án nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về QHLĐ, cơ chế phối hợp giữa nhà nước, chủ doanh nghiệp, công đoàn để giải quyết các vấn đề về tranh chấp lao động, bảo hiểm xã hội và tiền lương tối thiểu (gọi tắt là

Đề án QHLĐ năm 2010) Gần đây nhất, vào ngày 03/09/2019, Ban Bí Thư ban hành Chỉ thị số 37/CT-TW về “tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới”, trong đó nhận định mặc dù việc xây dựng QHLĐ bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên tình hình QHLĐ trong doanh nghiệp còn những tồn tại, vì vậy đặt ra yêu cầu: “Hoàn thiện pháp luật lao động, công đoàn Luật hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, đảm bảo tuân thủ Hiến pháp, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế-xã hội của nước ta, tạo điều kiện xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ”

Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội XIII của Đảng do Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trình bầy vào ngày 26 tháng 01 năm 2021 nhấn mạnh các ưu tiên phát triển trong giai đoạn tới: “Phát triển thị trường lao động hướng đến việc làm bền vững Xác lập các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động phù hợp với sự phát triển của thị trường, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ” Qua đó, có thể khẳng định chính sách nhất quán của Đảng ta trong việc đảm bảo ưu tiên xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.[12, tr.149]

Từ một góc độ khác, Hiến pháp 2013 ra đời đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật chuyên ngành để phù hợp với những nội dung mới được hiến định, trong đó bao gồm việc xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định Đây cũng chính

là đòi hỏi đặt ra với việc thực thi các điều ước quốc tế về quyền con người và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia

Trang 10

Theo tinh thần Chỉ thị số 37 của Ban Bí Thư và ưu tiêu phát triển do Đại hội XIII của Đảng, phù hợp với các nguyên tắc của Hiến pháp năm 2013, việc hoàn thiện pháp luật để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định là yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, việc xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định là vấn đề rộng, phức tạp và còn khá mới mẻ ở Việt Nam, vì vậy cần phải được thực hiện dựa trên những cơ sở khoa học được đúc rút từ các công trình nghiên cứu toàn

diện, chuyên sâu Trong bối cảnh nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần Hiến pháp năm 2013” để thực hiện luận án tiến sĩ luật học, với mong muốn góp

phần thực hiện công việc quan trọng này ở nước ta

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Mục đích của luận án là cung cấp những luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật hiện hành có liên quan của Việt Nam nhằm xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần Hiến pháp năm 2013

2.2 Nhiệm vụ

Nhằm đạt được những mục đích nêu trên, luận án cần hoàn thành các nhiệm

vụ sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận về QHLĐ, làm sáng tỏ sự ra đời, đặc

điểm, nguồn của pháp luật về QHLĐ; các nguyên tắc, vai trò, nội dung và tiêu chí hoàn thiện pháp luật Việt Nam theo hướng xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định

Thứ hai, nghiên cứu quá trình phát triển và thực trạng các quy định về QHLĐ

trong các Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đặc biệt là trong Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan đến QHLĐ, đánh giá tác động của hệ thống pháp luật Việt Nam với QHLĐ trong giai đoạn hiện nay, qua đó xác định những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân

Thứ ba, trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất các

Trang 11

quan của Việt Nam để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định như đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận, thực tiễn và hệ thống quy định pháp luật để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung và hướng tiếp cận: luận án tập trung nghiên cứu hệ thống pháp

luật điều chỉnh QHLĐ theo hướng hài hòa, tiến bộ và ổn định từ góc độ của chuyên ngành lý luận, lịch sử nhà nước và pháp luật Những vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá

có liên quan đến QHLĐ, cũng như cách tiếp cận của nhưng chuyên ngành luật khác cũng được sử dụng nhưng chỉ để bổ trợ cho việc phân tích, đánh giá hệ thống các quy

- Về mặt thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của luận án là khung pháp luật hiện

hành điều chỉnh QHLĐ theo hướng hài hòa, tiến bộ và ổn định ở Việt Nam Điều này nhằm bảo đảm yêu cầu về tính chuyên sâu và nâng cao ý nghĩa thực tiễn của luận án,

và xuất phát từ thực tiễn là Hiến pháp năm 2013 đã có quy định mới có ý nghĩa quan trọng với việc hoàn thiện QHLĐ ở nước ta

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin làm cơ sở định hướng đánh giá một cách tổng thể sự phát sinh, phát triển cũng như tính chất, đặc điểm của pháp luật về QHLĐ, đồng thời xác định các quan điểm

Trang 12

Ngoài phương pháp luận duy vật biện chứng, luận án còn sử dụng một số lý thuyết sau đây để phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật về QHLĐ ở Việt Nam:

- Lý thuyết về quản lý nguồn nhân lực mà đại diện là Stone (1995); Blyton &

Turnbull (1992) và Guest (1989) Lý thuyết này đề xuất cách tiếp cận mới trong quản lý nguồn nhân lực, theo đó cần bắt đầu từ niềm tin rằng các xung đột trong nội

bộ một tổ chức có thể được giải quyết bằng cách nuôi dưỡng một hợp đồng tâm lý dựa trên nền tảng hợp tác giữa các chủ thể liên quan Để tạo lập QHLĐ như vậy, cần thiết phải tạo lập môi trường làm việc theo hướng khuyến khích tính tự chủ của các nhà quản lý và NLĐ, cũng như sự hợp tác giữa họ

- Lý thuyết về hệ thống mà đại diện là John Thomas Dunlop (1958), trong đó

xem QHLĐ như là một hệ thống phụ của hệ thống xã hội rộng lớn hơn Xét chung,

theo lý thuyết này, có bốn yếu tố tác động đến QHLĐ: (i) Thứ nhất là các chủ thể

QHLĐ, bao gồm NSDLĐ và tổ chức đại diện của họ (ví dụ: hiệp hội giới sử dụng lao động), NLĐ và tổ chức đại diện của họ (ví dụ: công đoàn) và các cơ quan bên ngoài quan tâm đến QHLĐ (ví dụ: các cơ quan Chính phủ và tòa án lao động); (ii)

Thứ hai là bối cảnh môi trường, được tạo thành từ các điều kiện kinh tế và công

nghệ hiện hành, cũng như sự phân phối quyền lực trong xã hội rộng lớn hơn, mỗi điều được cho là ảnh hưởng hoặc hạn chế hành động của các chủ thể tham gia

QHLĐ; (iii) Thứ ba là “tập hợp các quy tắc” chi phối mối quan hệ việc làm và được coi là kết quả của sự tương tác giữa các chủ thể; (iv) Thứ tư là một “ý thức hệ ràng

buộc”, đó là một tập hợp các niềm tin và hiểu biết chung phục vụ việc khuyến khích thỏa hiệp với mỗi chủ thể vì mục đích làm cho hệ thống hoạt động được [96] Như vậy, để có một QHLĐ cân bằng, cần xử lý hài hoà tất cả các yếu tố này, xem đó như

là một chỉnh thể thống nhất [131, tr.196-199]

-Lý thuyết lựa chọn chiến lược mà đại diện là Kochan, Katz và McKersie

(1986) Đây là sự phát triển lý thuyết hệ thống của Dunlop (1958), nâng cao nó dựa trên việc xem xét một số biến đổi trong QHLĐ hiện đại mà đã khiến cho việc giải

Trang 13

quyết các mối QHLĐ trở nên phức tạp hơn nhiều so với cách làm theo truyền thống trước đây [131, tr.245-250]

-Lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền con người do các cơ quan Liên hợp quốc,

đặc biệt là UNDP, đề xướng từ những thập kỷ 1980, trong đó xác định sự cần thiết,

ý nghĩa và những yêu cầu xem xét mục tiêu bảo vệ quyền con người như là một ưu tiên khi xây dựng và thực hiện các chính sách và pháp luật của quốc gia mà có liên quan hay tác động đến quyền con người

Các lý thuyết nêu trên sẽ được kết hợp sử dụng để đánh giá nền tảng lý luận và tính toàn diện, hợp lý của hệ thống pháp luật về QHLĐ ở Việt Nam hiện nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án:

Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng khung phân tích của chuyên ngành lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, trong đó chủ yếu xem xét vấn đề dưới

góc độ cấu trúc thể chế và từ các quy tắc của việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật

Trên cơ sở khung phân tích đó, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội để giải quyết những câu hỏi nghiên cứu đặt ra, bao gồm: Phương pháp hệ thống, phương pháp lôgic, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp, cụ thể như sau:

Phương pháp hệ thống được sử dụng trong Chương 1 để phân loại và đánh giá

nội dung các công trình nghiên cứu về pháp luật về QHLĐ ở trên thế giới và ở Việt Nam

Phương pháp logic được sử dụng xuyên suốt trong các chương để kết nối và

xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ở các chương tiếp theo của luận án trên cơ sở những vấn đề đã được phân tích làm rõ ở các chương trước

Phương pháp lịch sử chủ yếu được sử dụng ở Chương 3 của luận án, để đánh

giá thực trạng pháp luật về QHLĐ ở Việt Nam từ khi giành độc lập (1945) đến nay trong bối cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử của đất nước

Phương pháp phân tích được sử dụng trong tất cả các chương của luận án, trong

đó đặc biệt ở các Chương 2 và 3, để khảo sát những tài liệu sơ cấp và thứ cấp, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá về các vấn đề liên quan đến đề tài Tài liệu sơ cấp

Trang 14

Nam, các vụ việc, các số liệu thống kê chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, văn bản pháp luật quốc tế, văn bản pháp luật của một số quốc gia, các văn kiện, báo cáo có liên quan đến đề tài của các tổ chức quốc tế Tài liệu thứ cấp bao gồm các bài báo, tạp chí, sách chuyên khảo, tham khảo chứa đựng những kết luận, đánh giá và thông tin đã được các tác giả khác công bố liên quan đến đề tài

Phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng trong toàn bộ luận án, đặc biệt là ở

các Chương 1,2 và 3, để khái quát hoá, phân loại, xếp loại các tri thức, số liệu qua việc phân tích các tài liệu, từ đó giúp nghiên cứu sinh đưa ra các nhận xét, đánh giá tổng quan ở mỗi chương và trong phần Kết luận của luận án

Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong toàn bộ luận án, đặc biệt là ở

các Chương 2 và 3, để đối chiếu tìm ra sự tương đồng và khác biệt về quan điểm giữa các tác giả, cũng như để đánh giá sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia khác về QHLĐ So sánh cũng nhằm làm rõ

sự phát triển của pháp luật về QHLĐ ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử từ khi giành độc lập (1945) đến nay

Phương pháp chuyên gia (tham vấn bằng cách trao đổi với một số chuyên gia)

chủ yếu được sử dụng trong các Chương 3 và 4 của luận án, để giúp nghiên cứu sinh kiểm tra nhận thức về một số vấn đề lý luận, thực tiễn phức tạp, cũng như thu thập những ý kiến phân tích mà có thể giúp hình thành những quan điểm, giải pháp có tầm chiến lược để giải quyết những vấn đề đặt ra trong pháp luật hiện hành về QHLĐ của Việt Nam Người được tham vấn là những chuyên gia có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm thực tiễn phong phú về đề tài

Phương pháp phân tích tình huống, chủ yếu được sử dụng trong Chương 3 của

luận án, để giúp nghiên cứu sinh đối chiếu giữa các vấn đề lý luận với thực tiễn, cũng như kiểm định và củng cố tính khoa học, thuyết phục của những nhận định, đánh giá

về thực trạng pháp luật về QHLĐ ở Việt Nam

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án là một trong những công trình khoa học có tính toàn diện, chuyên sâu

ở cấp độ tiến sĩ phân tích các vấn đề lý luận, thực tiễn của QHLĐ ở Việt Nam từ

Trang 15

góc độ tiếp cận của chuyên ngành lý luận, lịch sử nhà nước và pháp luật Chính vì vậy, luận án có những đóng góp mới về mặt học thuật, thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, với cách tiếp cận của chuyên ngành lý luận, lịch sử nhà nước và pháp

luật, luận án làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định ở Việt Nam Đặc biệt, luận án đã góp phần bổ sung những tri thức lý luận hiện có về vấn đề này ở nước ta thông qua việc làm rõ một số

lý thuyết phổ biến trên thế giới có liên quan đến pháp luật về QHLĐ và tác động cũng như khả năng ứng dụng của các lý thuyết đó vào việc hoàn thiện pháp luật để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định ở Việt Nam

Thứ hai, thông qua việc nghiên cứu quá trình phát triển và những biểu hiện trong thực tế, luận án đã bổ sung những phân tích, đánh giá có tính hệ thống và cập

nhật khuôn khổ pháp luật hiện hành về QHLĐ ở Việt Nam Cụ thể, luận án đã khái quát hóa những nội dung cốt lõi của pháp luật điều chỉnh QHLĐ ở Việt Nam qua các giai đoạn phát triển từ khi giành được độc lập (1945) đến nay, phân tích, so sánh chỉ

ra những ưu điểm cũng như hạn chế của những lần xây dựng, sửa đổi, bổ sung Hiến

pháp từ năm 1946 đến 2013, đồng thời xác định nguyên nhân của những hạn chế đó Thứ ba, luận án đã xây dựng các quan điểm, đề xuất một hệ thống giải pháp

toàn diện nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật hiện hành để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định ở Việt Nam Luận án đã kế thừa kiến thức từ một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, đặc biệt là các công trình nghiên cứu từ góc

độ chuyên ngành kinh tế - lao động, để phân tích, đánh giá và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật để xây dựng QHLĐ ở Việt Nam theo một cách thức toàn diện, cụ thể và hợp lý hơn, dựa trên những cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn

đáng tin cậy được xác định trong toàn bộ luận án

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

6.1 Về phương diện lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, củng cố cơ sở lý luận khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định ở Việt Nam, cụ thể là khẳng định sự cần thiết và khả năng giải quyết vấn đề từ góc độ

Trang 16

6.2 Về phương diện thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nhiều chủ thể khác nhau ở Việt Nam, bao gồm các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Quốc Hội và Bộ LĐ-TBXH, trong việc nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề

và hoạch định, sửa đổi, bổ sung và tổ chức thực hiện các chính sách, văn bản pháp luật có liên quan đến QHLĐ trong tình hình mới

Bên cạnh đó, luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các

cơ sở học thuật, các tổ chức xã hội và chính quyền địa phương trong việc giảng dạy, nghiên cứu và tổ chức thực thi pháp luật về QHLĐ

7 Kết cấu của luận án

Luận án có phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án mà tác giả đã công bố, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 2: Cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định

Chương 3: Thực trạng hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định ở Việt Nam

Chương 4: Các yêu cầu đặt ra và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật

để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần Hiến pháp năm 2013

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

LUẬN ÁN

Quan hệ lao động là phạm trù gắn với các cuộc cách mạng công nghiệp và phong trào công đoàn Vấn đề QHLĐ nói chung, QHLĐ trong pháp luật Việt Nam nói riêng, từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Mặc dù vậy, xét chung, các nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam còn tương đối hạn chế so với rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở nước ngoài Vì vậy, trong chương này của luận án, các nghiên cứu ở nước ngoài sẽ được khảo sát, đánh giá tổng quan trước các nghiên cứu ở trong nước

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1 Các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về quan hệ lao động

Về bản chất và sự phát sinh, phát triển của QHLĐ

-Cuốn sách chuyên khảo “Industrial Relations” (Các Quan hệ Công nghiệp)

của nhóm tác giả Marian Baird, Rae Cooper, Bradon Ellem và Russell D Lanbury [131] đã phân tích sự phát triển trong nhận thức về QHLĐ, bắt đầu từ những lý giải ban đầu về QHLĐ trong các nghiên cứu của Sidney và Beatrice Webb ở Anh vào năm 1894-1897 Các tác giả cho rằng, chỉ đến những năm giữa thế kỷ 20, khái niệm QHLĐ mới thực sự nhận được sự quan tâm của giới học thuật trên thế giới, mặc dù phạm vi nghiên cứu mới chỉ khu trú khá hẹp ở “mối quan hệ giữa công đoàn và giới chủ” cùng với những tác động của nó Gần đây, khái niệm QHLĐ tiếp tục được nghiên cứu rộng rãi hơn, cung cấp lăng kính nhìn sâu về toàn bộ quá trình vận hành của các chủ thể tham gia QHLĐ Một số trường đào tạo quản trị kinh doanh trên thế giới thậm chí có môn học chuyên ngành riêng về QHLĐ, trong đó tập trung nghiên cứu các thiết chế của QHLĐ, vấn đề công đoàn, đình công và quản trị nguồn nhân lực ở doanh nghiệp QHLĐ hiện đã được tiếp cận và phân tích dưới góc nhìn đa ngành, đa chiều (triết học, pháp lý và khoa học hành vi, văn hóa) [131, tr.168-172]

Trang 18

-Cuốn sách chuyên khảo “The Evolution of Global Industrial Relations: Events, Ideas and Foundation of the Global Industrial Relations Association“ (Sự

phát triển của quan hệ lao động toàn cầu: Các sự kiện, ý tưởng và sự ra đời của Hiệp

hội quan hệ lao động toàn cầu) của tác giả Kaufman, viết cho Tổ chức Lao động

Quốc tế (ILO) (xuất bản lần đầu năm 2004) [126] phân tích vai trò và những nỗ lực của ILO trong việc thúc đẩy QHLĐ hài hoà trên toàn thế giới Tác giả giới thiệu một số lý thuyết về hệ thống QHLĐ của John T Dunlop và Thomas A Kochan và Robert B McKersie, trong đó tranh luận về “sự thay đổi bản chất vận hành mối QHLĐ trong lý thuyết hệ thống”, được phát triển dần qua từng thời kỳ lịch sử Tác phẩm này đồng thời nêu bật quá trình thành lập Hiệp hội Quan hệ lao động toàn cầu (viết tắt là IIRA) vào năm 1966 và làm rõ tầm ảnh hưởng to lớn của tổ chức này trong việc thúc đẩy QHLĐ ở các nước đang phát triển, đặc biệt trong việc thúc đẩy thực hành các tiêu chuẩn công bằng trong QHLĐ ở các nền dân chủ mới nổi ở Châu Phi, Châu Á, Đông Âu và Mỹ Latinh

-Nghiên cứu của hai tác giả S.Hayter và C.H.Lee (năm 2018) có tiêu đề

“Industrial Relations in Emerging Economies – The Quest for Inclusive Development” (Quan hệ lao động ở các nền kinh tế mới nổi – Cuộc tìm kiếm vì mục tiêu phát triển toàn diện) [146] nêu bật tính hệ thống của mối QHLĐ, thể hiện qua

quá trình tương tác của các chủ thể (Nhà nước, NLĐ, NSDLĐ và các tổ chức đại diện cho NLĐ và NSDLĐ) Các tác giả cũng phân tích tiến trình thể chế hóa QHLĐ

ở một số nước, qua đó cho thấy sự hạn chế của QHLĐ truyền thống trong bối cảnh các nước đang phát triển, nơi có nền kinh tế phi chính thức đang tăng trưởng mạnh, bao gồm Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ Kinh nghiệm về QHLĐ ở các nước này là bài học quý cho Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, và bước đầu hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh QHLĐ theo hướng hài hòa, tiến bộ và ổn định

-Tác giả Marvin J Levine phân tích bối cảnh phát triển QHLĐ ở một số nước

Châu trong cuốn “Worker Rights and Labour Standards in Asia’s Four New Tigers

Trang 19

[132], trong đó nghiên cứu của tác giả tập trung vào tình hình phát triển QHLĐ ở bốn quốc gia mới nổi (Trung Quốc, Indonesia, Thailand và Malaysia) qua đó phát hiện nhiều vấn đề nổi cộm, phát sinh trong QHLĐ, nhất là khi các tiêu chuẩn lao động quốc tế được thừa nhận và áp dụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ Thực tế cho thấy những thành tựu kinh tế nổi bật trong nhiều năm qua ở những quốc gia trên không đồng nghĩa với việc cải thiện tiêu chuẩn lao động, tổ chức công đoàn phải can thiệp bằng việc gửi khiếu nại vi phạm quyền thương lượng tập thể theo Công ước số 98 của ILO, cụ thể trường hợp Malaysia Khoảng cách lớn còn tồn tại giữa quy định bảo vệ NLĐ của bộ luật lao động và cam kết thực thị tiêu chuẩn lao động quốc tế, cụ thể là trường hợp quyền đình công của NLĐ Trung Quốc bị cấm, mặc dù, bộ luật lao động mới của Trung Quốc có hiệu lực thi hành từ năm 1995 với nhiều cải cách, nhưng quyền đình công vẫn chưa được đảm bảo Tác giả đã đặt câu hỏi về vai trò của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là ILO trong việc hỗ trợ kỹ thuật, thúc đẩy việc tôn trọng, tuân thủ và thực thi các tiêu chuẩn lao động cơ bản ở các quốc gia mới nổi nói riêng và những nước đang phát triển nói chung trong thời gian tới [132]

Bên cạnh các công trình nêu trên, còn có một số công trình nghiên cứu khác ở nước ngoài cũng đề cập đến bản chất và sự phát sinh, phát triển của QHLĐ, như các nghiên cứu của Greg J Bamber, Russell D Lansbury và Nick Wailes trong cuốn

“International and Comparative Employment Relations – Globalization and Change” (Quan hệ việc làm ở cấp độ so sánh quốc tế - vấn đề toàn cầu hóa và thay đổi) [112], nhóm tác giả phân tích thực tế mỗi quốc gia có tiến trình phát triển

QHLĐ ở cấp độ khác nhau phụ thuộc vào lịch sử hình thành, cấu trúc kinh tế - xã hội và đặc trưng riêng của mình, tuy nhiên, ở cấp độ so sánh quốc tế, nhóm tác giả

chú trọng đến tác động sâu rộng của toàn cầu hóa và khủng hoảng tài chính thế giới

đến thế giới việc làm, trong đó có QHLĐ đã thay đổi một cách căn bản ở tất cả 12 nền kinh tế thị trường được nghiên cứu (Anh, Hoa Kỳ, Canada, Australia, Italia, Pháp, Đức, Đan Mạch, Nhật bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn độ) Mặc dù, tiến

Trang 20

chính trị, luật pháp và xã hội chia sẻ nhiều điểm/thách thức tương đồng (các thiết chế đại diện yếu đi, luật pháp bộc lộ nhiều bất cập trong thực thi quyền lao động, nhiều mô hình QHLĐ được hình thành ổn định trong nhiều thập kỷ qua trở nên lỗi thời không đáp ứng được kỳ vọng của các chủ thể QHLĐ), thực tiễn trên buộc các nhà lập chính sách phải cân nhắc đưa ra những thay đổi cơ bản về mô hình phát triển mối QHLĐ thích ứng, phù hợp hơn nhằm đối phó với tác động tiêu cực của toàn cầu hóa và khủng hoảng tài chính [112]

Về bảo vệ quyền của người lao động trong QHLĐ

-Trong cuốn International and comparative labour law: current challenges (Luật Lao động quốc tế và so sánh: Những thách thức hiện nay)[92], NXB

Palgrave Macmillan, Vương quốc Anh, năm 2009, tác giả Arturo Bronstein đã phân tích những thách thức với pháp luật lao động của các quốc gia trong thế kỷ XXI, xuất phát từ những biến đổi trong thương mại quốc tế, mà thể hiện qua mối QHLĐ Theo tác giả, tính chất đa quốc gia của các chuỗi cung ứng toàn cầu khiến cho pháp luật lao động của các quốc gia ngày càng lạc hậu và không thể bảo vệ người lao động một cách hiệu quả trước những điều kiện làm việc tồi tệ mà người sử dụng lao động áp đặt Tác giả cho rằng, để bảo đảm QHLĐ tiến bộ trong thời đại toàn cầu hóa, các quốc gia cần phê chuẩn các Công ước của ILO và thể chế hoá các tiêu chuẩn lao động quốc tế các hiệp định thương mại tự do, cũng như áp dụng các quy tắc về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trên toàn chuỗi cung ứng [92]

-Trong cuốn: The Role of Collective Bargaining in the Global Economy: Negotiating for Social Justice (Vai trò của thương lượng tập thể trong nền kinh tế

toàn cầu: Đàm phán cho công bằng xã hội), NXB Edward Elgar, Vương quốc Anh, năm 2011, tác giả Susan Hayter nhấn mạnh vai trò của thương lượng tập thể trong việc xây dựng QHLĐ tiến bộ, thông qua việc đảm bảo cho người lao động khả năng chống lại các rủi ro về việc làm và tiền lương Tác giả cũng phân tích những thách thức trong thương lượng tập thể và nhấn mạnh vai trò cực kỳ quan trọng của Chính phủ trong việc thiết lập hành lang pháp lý để giúp các bên trong QHLĐ cân bằng

Trang 21

-Trong cuốn Labour law and worker protection in developing countries (Luật

Lao động và sự bảo vệ người lao động trong các quốc gia đang phát triển)[147], một

ấn bản của ILO do NXB Hart, Vương quốc Anh ấn hành năm 2010, tác giả Tzehainesh Teklè đã phân tích thực trạng vấn đề bảo đảm quyền của người lao động trong pháp luật lao động của các nước đang phát triểnở khu vực châu Mỹ La-tinh, Nam Á và miền Nam châu Phi, từ đó chỉ ra những hạn chế trong vấn đề này Tác giả chỉ ra rằng, ngoài việc cách thức bảo vệ người lao động chưa phù hợp, pháp luật của các nước đang phát triển còn chưa có đầy đủ các quy định để điều chỉnh các dạng QHLĐ mới, vì thế không thể bảo vệ quyền của người lao động trong các QHLĐ đó, thể hiện ở một số lượng đáng kể người lao động đang nằm ngoài phạm

vi điều chỉnh của pháp luật lao động và không được bảo vệ Tác giả nêu ra một số giải pháp nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và các cơ chế bảo

vệ người lao động trong pháp luật lao động tại các nước đang phát triển ở châu Mỹ Latinh, Nam Á và miền Nam châu Phi [147]

-Trong cuốn Conciliation and Arbitration Procedures in Labour Disputes: A Comparative study (Thủ tục hòa giải và trọng tài các tranh chấp lao động) được ILO

xuất bản năm 1995, tác giả Eladio Daya đã phân tích một số vấn đề lý luận về QHLĐ, trong đó bao gồm tranh chấp lao động, giải quyết tranh chấp lao động, đình công và đóng cửa doanh nghiệp…và thực trạng hòa giải, trọng tài như là những phương thức giải quyết tranh chấp lao động đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp củng cố QHLĐ tiến bộ thông qua việc hoàn thiện các thủ tục hòa giải và trọng tài tự nguyện và xây dựng hệ thống hòa giải và trọng tài do Chính phủ bảo trợ

Bên cạnh các công trình nêu trên, còn có một số công trình nghiên cứu khác ở nước ngoài cũng đề cập đến vấn đề xây dựng QHLĐ tiến bộ, thông qua việc củng

cố khung pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động, như các nghiên cứu của

George P Politakis (2007): Protecting Labour Rights as Human Rights: Present and Future of International Supervision (Bảo vệ quyền lao động như quyền con

Trang 22

recruitment (Tuyển dụng? Sự phân biệt đối xử trong tuyển dụng); Marcel Crozay (2003): Emergency service workers: Fighting for better working conditions (Nhân

viên dịch vụ khẩn cấp: Đấu tranh cho điều kiện làm việc tốt hơn); U Rani, P

Belser, M Oelz và S Ranjbar (2013): Minimum wage coverage and compliance in developing countries (Bảo hiểm mức lương tối thiểu và sự tuân thủ tại các quốc gia đang phát triển); L Ronconi (2009): Gender equality at the heart of decent work

(Bình đẳng giới tại tâm điểm của việc làm bền vững); Vidya Ravi (2007); Yana van

der Meulen Rodgers (1999): Protecting Women and Promoting Equality in the Labor Market: Theory and Evidence (Bảo vệ lao động nữ và thúc đẩy bình đẳng

trong thị trường lao động: Lý thuyết và chứng cứ)

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động ở Việt Nam

-Công trình nghiên cứu của các tác giả Simon C., C.H.Lee và Đ Q.Chi (năm

2007) về: "Challenges to Industrial Relations in Viet Nam “ (Thách thức của QHLĐ ở Việt Nam) [145] phân tích các khái niệm cơ bản về hệ thống QHLĐ cùng

với những thách thức lớn về thể chế QHLĐ mà Việt Nam phải đối mặt trong giai đoạn đầu của tiến trình cải cách hệ thống pháp luật lao động, đặc biệt là BLLĐ và Luật Công đoàn Từ việc phân tích sâu lý thuyết vận hành hệ thống QHLĐ trong nền kinh tế thị trường, các tác giả đưa ra một số gợi ý về chính sách tăng cường vai trò đại diện của tổ chức công đoàn, thúc đẩy thiết chế công đoàn thông qua nâng cao năng lực cán bộ để họ trở thành người đại diện TLTT hiệu quả Ngoài ra, nhóm tác giả còn đề xuất nội dung sửa đổi chương 14 của BLLĐ Việt Nam liên quan đến các thiết chế bán tư pháp hỗ trợ QHLĐ (hòa giải, trọng tài), trình tự thủ tục giải quyết TCLĐ, đưa ra sự phân biệt giữa các tranh chấp dựa trên quyền và tranh chấp dựa trên lợi ích cùng với những đề xuất giải pháp, và khẳng định đình công được phép diễn ra trong trường hợp tranh chấp dựa trên lợi ích Công trình nghiên cứu trên cho thấy khoảng trống chính sách về QHLĐ mà Việt Nam đang phải đối mặt và nhu cầu cấp thiết phải cải cách toàn diện về thể chế và pháp luật để đảm bảo tính

Trang 23

thống nhất, toàn diện và nhất quán giữa luật pháp và thực tiễn năng động của thị trường lao động hiện nay[145]

-Luận án tiến sĩ của tác giả Do Hai H (trường Luật, Đại học Melbourne, năm

2016) về “Dynamics of Legal Transplantation regulating Industrial Conflicts in Post-Doi Moi Viet Nam“ (Tính năng động của việc cấy ghép pháp luật quy định TCLĐ thời kỳ sau Đổi mới) [100] cho thấy khung pháp lý về TCLĐ ở Việt Nam từ

sau Đổi mới (1986) là một hệ thống độc đáo, với các đặc điểm hỗn hợp của pháp luật lao động XHCN, tư bản và các tiêu chuẩn quốc tế Nhà nước Việt Nam đã du nhập nhiều lý thuyết liên quan đến các tiêu chuẩn quốc tế và quan điểm từ các nước

tư bản trong quá trình cải cách pháp luật lao động nói chung và pháp luật điều chỉnh QHLĐ nói riêng (dẫn chiếu các quy định của BLLĐ, Luật Công đoàn), nhưng chưa coi trọng chúng một cách đúng mức mà vẫn trung thành với các khái niệm, cách tiếp cận và quan điểm truyền thống của chủ nghĩa Mác-Lênin Kết quả là dẫn đến tính hình thức của các cơ chế pháp lý về lao động ở Việt Nam Luận án chứng minh

là quá trình hội nhập quốc tế về hệ thống pháp luật lao động của Việt Nam là không

hề dễ dàng, trong đó Nhà nước vừa cố gắng duy trì các giá trị xuất phát từ hệ thống chính trị đặc thù của quốc gia, trong khi vừa nỗ lực học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm khu vực và quốc tế, mặc dù hiệu quả áp dụng trong thực tiễn còn chưa cao [100] -Luận án tiến sĩ của Tu Phuong N (Đại học Quốc gia Australia, năm 2017) có

tiêu đề “Workplace (In)justice, Law and Labour Resistance“ (Công lý tại nơi làm việc, pháp luật và tính phản kháng trong lao động ở Việt Nam) [148] phân tích làm

sáng tỏ các giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn đặt nền tảng cho những trải nghiệm của NLĐ Việt Nam về công bằng (hoặc bất công), cũng như sự hiểu biết về quyền

và những đòi hỏi công lý của họ Nghiên cứu dựa trên khảo sát định tính của tác giả

ở tỉnh Đồng Nai liên quan đến các cuộc đình công tự phát và những đơn thư của NLĐ khiếu nại quyền mà họ cho là đã bị chủ doanh nghiệp vi phạm, trong đó “các giá trị đạo lý đôi khi đặt cao hơn các quy định cụ thể của pháp luật lao động“ Theo tác giả, điều này có ảnh hưởng của tư tưởng XHCN và các giá trị văn hóa chung ở

Trang 24

trong thực tiễn ở doanh nghiệp nơi NLĐ có cách tiếp cận và hiểu pháp luật theo lăng kính riêng của mình và khiếu nại NSDLĐ về những hành vi bất công Đây là một luận án có nhiều giá trị tham khảo hữu ích cho các nhà lập chính sách, nó cũng

mở thêm hướng nghiên cứu chuyên sâu hơn khi xây dựng hệ thống QHLĐ và thực thi pháp luật lao động ở Việt Nam [148]

-Luận án của Quynh Chi D (Đại học Sydney, năm 2011) về đề tài

“Understanding Industrial Relations Transformation in Viet Nam: A dimensional analysis“ (Tìm hiểu biến chuyển của QHLĐ ở Việt Nam: Phân tích đa chiều) [140] phân tích tiến trình cải cách QHLĐ ở Việt Nam thông qua phỏng vấn

multi-các chuyên gia và đánh giá tác động thay đổi ở cấp độ doanh nghiệp ở hai thành phố

lớn (Hà Nội và Hồ Chí Minh), và đưa ra kết luận rằng sự thích ứng của các phương

pháp quản lý lao động ở cấp độ vi mô tại các địa phương này không phụ thuộc vào

sự thay đổi thể chế Trong trường hợp của Việt Nam, sự biến chuyển QHLĐ đang diễn ra là kết quả của tiến trình tương tác và đàm phán giữa cấp vi mô và các cơ quan vĩ mô Mặc dù hoạt động lao động ở cấp độ doanh nghiệp đã trở thành động lực lớn nhất giúp cải cách môi trường thể chế quốc gia, chính quyền tỉnh/thành phố cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc làm trung gian cải cách QHLĐ tại nơi làm việc và ảnh hưởng đến quá trình phát triển chính sách lao động của quốc gia [140]

-Nghiên cứu của tác giả Collins N (năm 2011) về “Vietnam’s Labour Relations and the Global Financial Crisis“ (QHLĐ ở Việt Nam và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu) [95] phân tích tiến trình phát triển các chính sách và thực

tiễn QHLĐ kể từ khi Việt Nam bắt đầu cải cách kinh tế năm 1986 Theo tác giả, trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường ở Việt Nam, mối quan hệ ổn định trước đây giữa quản lý và NLĐ đã được thay thế bằng

TCLĐ trên diện rộng và sự gia tăng các cuộc đình công lao động do ảnh hưởng của

cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Tác giả cho rằng nguyên nhân chính là do thiếu các quy định pháp luật cho QHLĐ, hệ thống lương thưởng và điều

Trang 25

giả nhấn mạnh rằng những thay đổi trong QHLĐ ở Việt Nam phản ánh tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu đối với sự đa dạng của thị trường lao động cũng như vai trò ngày càng quan trọng của công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ Collins cũng cho rằng một mô hình mới cho hoạt động công đoàn là rất cần thiết để giải quyết các TCLĐ, nhất là khi doanh nghiệp đang đứng trước thách thức của kỷ nguyên hợp tác kinh tế mới và hội nhập sâu rộng của Việt Nam [95]

Bên cạnh các công trình nêu trên, còn có một số công trình nghiên cứu khác cũng đề cập đến thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật điều chỉnh quan hệ lao

động ở Việt Nam, như các nghiên cứu của Anita Chan trong cuốn “Labour in Vietnam” (Lao động ở Việt Nam) [93] phân tích bối cảnh tác động của tiến trình đổi

mới kinh tế đã cho phép cạnh tranh thị trường trong ngành công nghiệp và việc xuất hiện một giai cấp công nhân mới hình thành sau “Đổi mới” năm 1986, với nhiều yêu cầu/đòi hỏi mới về vai trò của họ trong đàm phán, thương lượng tập thể và giải quyết các vấn đề liên quan đến điều kiện làm việc của NLĐ trong chế độ kinh tế mới Tác giả của cuốn sách đưa ra nhiều thay đổi của phong trào công nhân lao động và một số thách thức của tổ chức công đoàn ở Việt Nam trước tình hình mới, tìm hiểu tác động của hành động ngừng việc tập thể, xem xét và đánh giá lý do diễn

ra số lượng lớn các cuộc đình công trong những năm gần đây Cuốn sách đưa ra những hạn chế của thực trạng thi hành pháp luật lao động, các thách thức về QHLĐ

và hạn chế của các thiết chế QHLĐ hiện có ở Việt Nam đồng thời đề xuất một số gợi ý giải quyết vấn đề trên từ lăng kính của nhà nghiên cứu Việt Nam - một trong những nền kinh tế mới nổi đang phát triển nhanh chóng nhất ở khu vực châu Á [93] Các tác giả của Ngân hàng thế giới nhận định Việt Nam cần hệ thống QHLĐ phù hợp với nhu cầu của một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh trong báo cáo tổng

quan “Vietnam 2035 toward Prosperity, Creativity, Equity and Democracy” (Việt

Nam năm 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ)[130] Báo cáo cho rằng khung pháp lý của thị trường lao động cần cân bằng hơn giữa việc bảo

vệ người lao động với sự linh hoạt cần thiết để thúc đẩy phát triển một khu vực

Trang 26

yếu kém của hệ thống hiện tại, minh chứng bởi số lượng đáng kể các cuộc đình công tự phát từ năm 2006 Trong trung hạn, Việt Nam có thể cân nhắc những biện pháp chủ động hơn để tăng cường hệ thống và thúc đẩy sự hài hòa trên thị trường lao động Liên quan đến quyền tự do lập hội, Việt Nam cần đảm bảo các quy định

và luật pháp cho phép NLĐ, không phân biệt, làm việc cho một doanh nghiệp được quyền thành lập tổ chức đại diện cho NLĐ theo sự lựa chọn của họ ở cơ sở mà không cần phê duyệt trước Tổ chức đại diện cho người lao động ở cấp cơ sở đăng

ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ có quyền tự chủ bầu người đại diện, theo các quy tắc và điều lệ, tổ chức công việc hành chính, bao gồm quản lý tài chính và tài sản, thỏa thuận tập thể đồng thời tổ chức và lãnh đạo các cuộc đình công và các hành động tập thể khác [130]

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về các tiêu chí, quan điểm và giải pháp

hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động ở trên thế giới và ở Việt Nam

-Nghiên cứu của tác giả Youngmo Yoon (2009) về: “A comparative study on Industrial Relations and Collective Bargaining in East Asia“ (Nghiên cứu so sánh

về QHLĐ và TLTT ở khu vực Đông Á) [150] phân tích các tiêu chí về tổ chức đại

diện NLĐ (công đoàn), đánh giá hiện trạng QHLĐ và TLTT trong bối cảnh khu vực Đông Á đang diễn ra nhiều thay đổi về kinh tế, xã hội, chính trị và luật pháp vào những năm 1990 Tác giả so sánh hệ thống QHLĐ và thực tiễn TLTT ở Việt Nam

và Trung Quốc với nhiều điểm tương đồng về cơ cấu quyền lực và độc tôn công đoàn Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích trường hợp rất khác biệt của Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi có truyền thống công đoàn doanh nghiệp mạnh, tuy nhiên gần đây có nhiều thay đổi do tác động của cạnh tranh toàn cầu và sự xuất hiện của nhiều hình thức việc làm không thường xuyên, cũng như tình trạng giảm mạnh số lượng đoàn viên Theo tác giả, TLTT ở doanh nghiệp là cách tiếp cận phổ biến nhất ở các nước khu vực Đông Á nói riêng và Châu Á nói chung, tuy ở từng quốc gia có bối cảnh khác nhau Ví dụ, ở Malaysia và Singapore, Chính phủ áp đặt chủ nghĩa “công đoàn doanh nghiệp” (tuy gần đây phát triển thêm hình thức thương lượng ở cấp ngành),

Trang 27

trong khi đó, ở các nước trong khu vực Đông Á, TLTT ở khu vực công còn chậm phát triển, một phần do những hạn chế của pháp luật đối với NLĐ [150]

-Nghiên cứu do tác giả Natsu Nogami (2011) ở Văn phòng ILO tại Việt Nam

về: “A comparative study on regulations of collective bargaining, social dialogue and protection of trade unions“ (Nghiên cứu so sánh các quy định pháp luật về TLTT, đối thoại xã hội và bảo vệ đối với công đoàn) [133], đưa ra quan điểm tiếp

cận vấn đề độc tôn công đoàn, phân tích các kinh nghiệm quy định liên quan đến TLTT, đối thoại xã hội và bảo vệ công đoàn từ luật pháp trong khu vực Châu Á và quốc tế, tác giả cũng đưa ra những hạn chế về TLTT, đối thoại xã hội và phương thức bảo vệ quyền công đoàn ở Việt Nam, đồng thời so sánh với những yêu cầu của tiêu chuẩn lao động cơ bản, đặc biệt là Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản và quyền lao động (1998), cụ thể là hai Công ước căn bản số 87 và số 98 của ILO Tác giả đưa ra nhiều đề xuất, giải pháp cải cách BLLĐ của Việt Nam theo hướng đảm bảo quyền tự do liên kết, tránh quy định luật hóa vị trí độc tôn của TLĐLĐ Việt Nam, tránh áp đặt phí công đoàn bắt buộc và bổ sung quy định pháp luật về cấm và khắc phục những hành vi lao động không công bằng Tác giả cũng đề xuất tăng cường bảo vệ quyền công đoàn trong QHLĐ hiện đại, đồng thời chú trọng nâng cao năng lực đối thoại và TLTT của cả tổ chức đại diện NLĐ và tổ chức đại diện NSDLĐ [133]

-Nghiên cứu của C.H.Lee (2018) về: “Towards a Harmonious Industrial Relations System in Viet Nam“ (Hướng tới một hệ thống QHLĐ lành mạnh ở Việt Nam) [94] đánh giá những kết quả và nêu ra những thách thức trong QHLĐ sau 32

năm Việt Nam mở cửa đổi mới kinh tế (kể từ năm 1986) và 24 năm phát triển QHLĐ (kể từ năm 1994 khi Quốc hội ban hành BLLĐ đầu tiên của Việt Nam) Theo tác giả, trong thời gian này, pháp luật lao động Việt Nam mặc dù đã từng bước tạo ra khung pháp lý cần thiết điều chỉnh các tiêu chuẩn lao động và QHLĐ gần tiệm cận với thông lệ quốc tế, tuy nhiên, QHLĐ còn bộc lộ nhiều bất cập về mặt

hệ thống NLĐ nhận thức tốt hơn về quyền của mình và có nhiều kinh nghiệm hơn

Trang 28

hiệp hội doanh nghiệp bước đầu cũng tham gia tích cực hơn vào QHLĐ Tác giả đánh giả hạn chế lớn nhất chính ở việc tất cả các cuộc đình công ở Việt Nam đều bất hợp pháp, điều đó chứng minh những quy định của BLLĐ còn xa rời thực tế Tổ chức công đoàn phụ thuộc nhiều vào NSDLĐ và Chính phủ vẫn còn là thách thức,

bộ máy quản trị lao động ở tất cả các cấp còn thiếu năng lực giải quyết các vấn đề QHLĐ và năng lực lãnh đạo của cộng đồng doanh nghiệp trong QHLĐ còn yếu kém Tác giả gợi ý một số hướng tiếp cận mới để phát triển hệ thống QHLĐ hài hoà, tiến bộ ở Việt Nam đó là: (i) xây dựng Luật QHLĐ mới (ii) đổi mới công đoàn

và các tổ chức của NLĐ, (iii) tăng cường vai trò lãnh đạo của các hiệp hội doanh nghiệp và NSDLĐ, (iv) cải thiện năng lực quản trị nội bộ và thực thi chính sách quản trị lao động ở tất cả các cấp liên quan đến QHLĐ và thanh tra lao động và (v) định hướng mới về chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách thị trường lao động của Chính phủ [94]

-Nghiên cứu của tác giả Colin Fennick và Shelley Marshall trong cuốn

“Labour Regulation and Development: Socio-legal Perspectives” (Quy định vấn đề

lao động và phát triển: dưới góc độ pháp lý-xã hội) [96] phân tích và đặt yêu cầu cải cách pháp luật lao động phục vụ việc thúc đẩy phát triển kinh tế, nhất là vai trò của ILO trong hỗ trợ kỹ thuật các quốc gia thành viên Các tác giả nêu quan điểm cải cách pháp luật lao động dựa trên cách tiếp cận phát triển Chương trình Nghị sự về việc làm bền vững dựa trên bốn trụ cột chính: (i) thúc đẩy quyền trong lao động; (ii) tạo việc làm có hiệu quả; (iii) tăng cường bảo trợ xã hội với nhóm lao động dễ bị tổn thương và (iv) thúc đẩy đối thoại xã hội Cơ bản đây là hướng tiếp cận của ILO

hỗ trợ kỹ thuật trong sửa đổi, bổ sung luật lao động ở nhiều quốc gia thành viên trong nhiều năm qua [96]

Bên cạnh các công trình nêu trên, còn có một số công trình nghiên cứu khác ở nước ngoài cũng đề cập đến các tiêu chí, quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động ở trên thế giới và ở Việt Nam, như các nghiên cứu

của John Godard trong cuốn “Industrial Relations” (quan hệ công nghiệp) [131]

Trang 29

kinh tế thị trường hiện đại, NLĐ có quyền tham gia và đồng quyết định các vấn đề liên quan đến điều kiện làm việc, tiêu chuẩn lao động NSDLĐ có trách nhiệm tham gia thông qua Ban điều hành doanh nghiệp, trong lý thuyết này, doanh nghiệp được xem là những thiết chế xã hội được quản lý phục vụ lợi ích lâu dài của xã hội, NLĐ được luật pháp bảo đảm an ninh việc làm, được hưởng bảo trợ xã hội Nền tảng cho QHLĐ hài hòa, bền vững nằm ở tiến trình dân chủ hóa ở doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở niềm tin, hợp tác của các chủ thể tham gia QHLĐ [131]

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.2.1 Các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về quan hệ lao động

Chỉ từ khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới (năm 1986), đặc biệt từ thời điểm ra đời BLLĐ năm 1994, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, vấn đề xây dựng quan hệ pháp luật về lao động theo hướng hài hòa, tiến

bộ và ổn định mới được đề cập và bắt đầu thu hút sự quan tâm, nghiên cứu trong giới khoa học và quản lý Dù vậy, trong hơn hai thập kỷ vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề này được công bố dưới nhiều dạng thức như giáo trình, đề tài khoa học, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học Những công trình đó

đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của pháp luật về QHLĐ và về những yêu cầu với việc xây dựng khung pháp luật về QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định Tiêu biểu cho những nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án, có thể kể như sau:

- Sách chuyên khảo của Nguyễn Mạnh Cường (2011), Mối quan hệ giữa luật pháp và thực tiễn QHLĐ trong một quốc gia [13] đã đánh giá khá toàn diện về mối

quan hệ giữa luật pháp và thực tiễn QHLĐ ở một số nước trong khu vực và thế giới Theo tác giả, QHLĐ là mối quan hệ giữa các chủ thể về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên trong quá trình lao động cụ thể như việc làm, tiền lương, các điều kiện làm việc được hình thành thông qua thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau Theo tác giả, pháp luật lao động

Trang 30

dụ, tham vấn là hoạt động cần thiết trong QHLĐ, là bước thứ hai trong đối thoại xã hội, song theo qui định của pháp luật hiện hành, tham vấn chỉ là hoạt động mang tính chất tự nguyện và kết quả của nó không có tính ràng buộc nên các bên dễ tham gia, dễ thực hiện hơn so với thương lượng Thực tế cho thấy khuôn khổ pháp lý cho các tổ chức đại diện NSDLĐ hình thành và hoạt động còn bất cập; Luật Công đoàn ban hành năm 2012 nhưng quá trình thực thi đã xuất hiện nhiều nội dung quy định không còn phù hợp với thực tế, đặc biệt là khi xuất hiện tổ chức đại diện của NLĐ mới [13, tr.7-17]

-Đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả Khoa Luật do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu

làm Chủ nhiệm (2012) về Pháp luật về QHLĐ Việt Nam - thực trạng và phương hướng hoàn thiện [67], giúp làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về QHLĐ -

cách tiếp cận, quan niệm hiện nay, các đặc điểm, điều kiện tồn tại và phát triển, yêu cầu của việc điểu chỉnh pháp luật Đề tài đã nghiên cứu, tham khảo nhiều công ước, khuyến nghị có liên quan của ILO, qui định của pháp luật một số nước về QHLĐ làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định ở Việt Nam Nhóm tác giả đã đánh giá thực trạng pháp luật về QHLĐ ở Việt Nam, chỉ ra những nội dung còn hạn chế, thiếu sót, chưa phù hợp, từ đó luận giải về nhu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật về QHLĐ ở Việt Nam [67]

-Cuốn Giới thiệu pháp luật về QHLĐ của một số nước trên thế giới của Trung

tâm phát triển QHLĐ, Bộ LĐ-TBXH, NXB Lao động – xã hội năm 2011 [85] giới thiệu và phân tích so sánh quy định về QHLĐ trong pháp luật của một số quốc gia theo các chủ đề cơ bản như: quyền tự do liên kết, TƯLĐTT, TLTT, TCLĐ Đồng thời, sách cũng cung cấp nhiều thông tin về khung pháp luật của một số nước liên quan đến quyền tự do liên kết và TLTT, cách thức giúp các bên trong QHLĐ tiến hành thương lượng, tương tác với nhau tạo điều kiện phát triển QHLĐ hài hòa và ổn định [85] Nội dung của sách hữu ích cho việc phân tích so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước khác, cũng như trong việc đúc rút những giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về QHLĐ

Trang 31

-Cuốn Đảm bảo quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam của

Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội [77], đã giới thiệu một cách toàn diện các vấn đề về quyền lao động trong pháp luạt quốc tế và pháp luật Việt Nam Sách cũng phân tích sâu về việc bảo đảm quyền của cả hai chủ thể quan trọng trong QHLĐ là NLĐ và NSDLĐ Các quyền của NLĐ được đề cập và phân tích bao gồm: quyền tự do việc làm; quyền được bảo đảm thu nhập và đời sống; quyền được tôn trọng và bảo đảm an toàn sức khỏe, tính mạng nhân phẩm, danh dự nhân cách; quyền tự do công đoàn…Các quyền của NSDLĐ được phân tích bao gồm quyền quản lý và quyền hiệp hội [77] Nội dung của sách giúp nhìn nhận, đánh giá rõ hơn về khung pháp luật hiện hành về QHLĐ ở Việt Nam từ góc độ các quyền và nghĩa vụ của những bên liên quan

-Cuốn Công ước và khuyến nghị của ILO về QHLĐ của Trung tâm phát triển

QHLĐ – Bộ LĐ-TBXH, NXB Lao động-xã hội, năm 2010 giới thiệu các công ước căn bản và khuyến nghị của ILO về QHLĐ, trong đó có các quy định đề cập đến vấn đề cốt lõi của QHLĐ như TLTT và thúc đẩy hoạt động TLTT; vấn đề hợp tác hai bên tại nơi làm việc; đối thoại xã hội và tham vấn ba bên; hòa giải lao động và trọng tài lao động; thanh tra các khiếu nại về QHLĐ Nội dung của sách hữu ích cho việc phân tích so sánh và đề ra các giải pháp nâng cao sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế về lĩnh vực này

-Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện pháp luật về đối thoại xã hội trong QHLĐ“ của

nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Bình (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội năm 2013) [4] phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn về đối thoại xã hội trong QHLĐ, từ đó

đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy đối thoại xã hội ở Việt Nam Tác giả đề xuất cơ chế thúc đẩy hoạt động đối thoại một cách thực chất, tránh

tổ chức hình thức mà không đem lại lợi ích cho các bên chủ thể QHLĐ Theo tác giả, đối thoại xã hội chỉ có thể phát huy được ý nghĩa cốt lõi của nó khi nội dung đối thoại phải được chuẩn bị kỹ lưỡng và là kết quả của quá trình tham vấn đầy đủ

Trang 32

giúp hoạt động đàm phán thương lượng đi vào thực chất Tác giả cũng cho rằng hoạt động đối thoại xã hội phải gắn kết nhiều hơn với các biểu hiện khác của QHLĐ như HĐLĐ cá nhân, TƯLĐTT, tranh chấp và giải quyết TCLĐ để có bức tranh rộng hơn của QHLĐ trong doanh nghiệp, cấp ngành và cấp quốc gia [4]

-Cuốn Quyền tự do liên kết và thiết chế đại diện trong QHLĐ của Viện Công

nhân và Công đoàn, năm 2018 [68] giới thiệu cơ sở khoa học của quyền tự do liên kết và thiết chế đại diện và vai trò của quyền này trong các hiệp định thương mại tự

do thế hệ mới (CP-TPP), trong đó gắn các tiêu chuẩn lao động quốc tế vào quan hệ thương mại tự do, yêu cầu các quốc gia tham gia phải tuân thủ nghiêm ngặt các nội dung cam kết về lao động trong hiệp định, thúc đẩy cải cách pháp luật lao động để đáp ứng kỳ vọng của các đối tác thương mại Các tác giả phân tích hiện trạng quyền

tự do liên kết và các thể chế đại diện ở Việt Nam và nêu một số đề xuất giải pháp chung nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về thực thi quyền tự

do liên kết và thiết chế đại diện trong QHLĐ trong thời gian tới Hạn chế lớn nhất của cuốn sách này là chỉ tập trung phân tích tác động của quyền tự do liên kết và thiết chế đại diện NLĐ (công đoàn), chưa cập nhật tình hình sẽ có tổ chức đại diện NLĐ hoạt động độc lập với thiết chế công đoàn [68] Nghiên cứu của tác giả Vũ

Quang Thọ về quyền tự do liên kết trong cuốn “Quyền tự do liên kết và thiết chế đại diện trong quan hệ lao động” đã chỉ ra yêu cầu ứng dụng những cơ sở lý luận mới

của quốc tế vào bối cảnh một Việt Nam đang hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế sâu rộng, tác giả ủng hộ lý thuyết lựa chọn chiến lược (strategic choice theory) của Kochan, Katz và McKersie đề cao vai trò của công đoàn là một đối tác tin cậy để liên minh và thương lượng tập thể Trong bối cảnh đa nguyên công đoàn, thực thi quyền tự do liên kết, lý thuyết trên kỳ vọng mang lại những lợi ích chung/chia sẻ bởi cả NLĐ, NSDLĐ và các tổ chức đại diện của họ Tác giả cho rằng những cam kết của Việt Nam trong việc đảm bảo sự tôn trọng, thực thi quyền tự do liên kết theo Công ước số 87 của ILO được ghi nhận trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CP-TPP và EV-FTA) là khả thi và sẽ mang lại lợi ích cho môi trường

Trang 33

Bên cạnh các công trình nêu trên, còn có một số công trình nghiên cứu khác ở Việt Nam cũng đề cập đến các vấn đề lý luận về QHLĐ, như các nghiên cứu của tác

giả Nguyễn Mạnh Cường trong cuốn “Sổ tay QHLĐ trong nền kinh tế thị trường”

[86] nhận định Việt Nam cần áp dụng những lý luận quản trị nguồn nhân lực và quản lý QHLĐ theo hướng hiện đại, phù hợp với các Công ước cơ bản của ILO trong bối cảnh các điều kiện kinh tế thị trường phát triển đầy đủ, hệ thống QHLĐ sẽ

tự vận hành và điều tiết sự cân bằng về lợi ích giữa các bên, đảm bảo môi trường thuận lợi để các bên đều đóng góp xây dựng QHLĐ hài hòa và ổn định Cuốn sổ tay cung cấp nhiều kiến thức căn bản, chia sẻ thực tiễn vận hành hệ thống QHLĐ ở Việt Nam hiện nay khi áp dụng các lý luân chuyên sâu về QHLĐ một cách chuyên nghiệp và hiệu quả [86]

1.2.2 Các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động ở Việt Nam

-Cuốn Xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp của Đại

học Công đoàn, NXB Lao động năm 2015 [76], phân tích những yêu cầu của việc xây dựng quan hệ pháp luật mới trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Sách cũng bước đầu phân tích các quan điểm của Đảng Cộng sản và chính sách của Nhà nước Việt Nam ban hành trong thời gian gần đây gắn với việc xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ Nội dung của sách hữu ích cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện khung pháp luật về lĩnh vực này ở Việt Nam từ góc độ thể chế và cải cách thể chế [76]

-Bài viết của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu, QHLĐ và những vấn đặt ra trong việc điều chỉnh pháp luật ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 23 (255), tháng

12.2013 [69], đã đánh giá và nêu ra nhiều hạn chế của cơ chế vận hành QHLĐ theo pháp luật hiện hành của Việt Nam như sự tham gia còn hạn chế của NLĐ, NSDLĐ trong xây dựng chính sách, pháp luật QHLĐ, khiến cho chất lượng bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể này còn thấp; cơ chế đối thoại giữa NLĐ và NSDLĐ chưa được chú ý đúng mức, còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao;

Trang 34

vệ NLĐ; công tác thanh tra lao động xử lý vi phạm còn yếu kém do đội ngũ thanh tra mỏng và trình độ chuyên môn chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn ở doanh nghiệp [69, tr.39-47] Để khắc phục những hạn chế đó, tác giả đề xuất cần xây dựng một đạo luật chuyên ngành về QHLĐ

-Bài viết của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu về vai trò đại diện của NSDLĐ trong QHLĐ nêu lên nhiều thực tiễn bất cập của tổ chức đại diện NSDLĐ (VCCI và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam) [73], tác giả khuyến cáo cần tăng cường vai trò tương tác của hai tổ chức đại diện nêu trên và mối quan hệ chặt chẽ với các hiệp hội ngành nghề trong chức năng đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và giới

sử dụng lao động ở các cấp [73, tr.26-27]

-Các bài viết của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu về thực trạng quản lý nhà nước về QHLĐ [74, tr.24-25] và về nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong phát triển QHLĐ hài hòa, ổn định [75, tr.26-27] Trong những bài viết này, tác giả tiếp tục nêu

và phân tích nhiều hạn chế của tổ chức công đoàn và các tổ chức được Chính phủ chỉ định đại diện cho NSDLĐ trong hoạt động đại diện và bảo vệ quyền lợi, cũng như những bất cập khác trong công tác quản lý nhà nước về QHLĐ, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay

-Bài viết của tác giả Trần Văn Hưng về Những thách thức của QHLĐ Việt Nam trong hiệp định CPTPP [40], nhận định rằng việc tham gia và thực thi các cam

kết của hiệp định sẽ giúp tạo điều kiện cho cải cách QHLĐ ở Việt Nam trong nhiều lĩnh vực và xây dựng môi trường cho nền kinh tế cạnh tranh Tác giả cũng phân tích những thách thức của QHLĐ Việt Nam trong CPTPP, và đề xuất các giải pháp hoàn thiện QHLĐ trong bối cảnh hội nhập quốc tế [40]

-Bài viết của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí về Một số vấn đề cơ bản của BLLĐ NĂM 2012: Triển vọng và thách thức khi thực hiện trong thực tế [15], phân tích

những vấn đề vướng mắc khi thực thi các quy định của BLLĐ, đặc biệt là các quy định cứng nhắc khi áp đặt cho doanh nghiệp phải tổ chức đối thoại 03 tháng/lần mà không tính đến nhu cầu đối thoại của các chủ thể liên quan, hay các quy định về

Trang 35

và cấp ngành Tác giả cũng đề xuất một số phương hướng hoàn thiện pháp luật lao động trong thời gian tới [15, tr.43]

-Bài viết của Lương Minh Hạnh (2017) về Tiếp cận cánh tả và một số vấn đề QHLĐ ở Việt Nam [24], giới thiệu cách tiếp cận cánh tả về QHLĐ Tác giả nêu bật

bối cảnh sự phát triển và thay đổi cơ cấu kinh tế, dịch vụ và đặc biệt là xu hướng phát triển của quản lý nguồn nhân lực đã khiến cho QHLĐ có những bước tiến mới

và biểu hiện ở hình thái quan hệ nhân viên Tác giả khẳng định vai trò phát triển QHLĐ hiện nay cần có những tiếp cận mới, phù hợp hơn với môi trường doanh nghiệp đa dạng và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của Việt Nam [24]

-Cuốn Pháp luật Việt Nam về TLTT trong QHLĐ của NXB Lao động, năm

2018 [52] giới thiệu những vấn đề lý luận và thực tiễn của TLTT, trong đó làm rõ nhiều thách thức thực thi các quy định có liên quan ở doanh nghiệp, phát hiện các nguyên nhân tồn tại về chất lượng các thỏa ước tập thể nặng tính hình thức, sao chép nội dung các quy định pháp luật, thiếu hiệu quả trong thực tiễn, quy trình thương lượng không hoàn thiện, thực chất Tác giả đưa ra một số đề xuất tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn cấp trên cơ sở có quyền thương lượng trực tiếp, giúp CĐCS tiến hành thương lượng thực chất đảm bảo quyền lợi của NLĐ [52]

-Luận án tiến sĩ luật học về: “Thoả ước lao động tập thể - Nghiên cứu so sánh giữa pháp luật lao động Việt Nam và Thụy điển” (Đại học Luật Hà Nội năm 2011)

của nghiên cứu sinh Hoàng Thị Minh phân tích toàn diện cơ cấu tổ chức của công đoàn Thụy điển, làm rõ các điểm mạnh như: sự độc lập, tư duy thực tế, tính năng động sáng tạo và khả năng tài chính độc lập Trên cơ sở đó, tác giả so sánh với các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam và xác định những hạn chế của pháp luật Việt Nam liên quan đến khả năng của công đoàn trong việc hỗ trợ ký kết và giám sát thực hiện thoả ước lao động tập thể (TƯLĐTT), khả năng chủ động yêu cầu thương lượng, khả năng chịu trách nhiệm bồi thường khi để xảy ra đình công bất hợp pháp, khả năng đảm bảo chức năng đại diện cho NLĐ (bất kể là tập thể hay

Trang 36

bộ công đoàn và cải thiện tình hình tài chính của công đoàn [54, tr.50-58] Luận án trên giúp nêu lên những kinh nghiệm của Thụy điển mà Việt Nam có thể tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật về công đoàn, đặc biệt là về vai trò của công đoàn trong việc thúc đẩy các TƯLĐTT, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam vừa tham gia phê chuẩn Công ước số 98 của ILO về TLTT và sẽ phải gửi báo cáo đầu tiên về thực trạng nội luật hóa các quy định của Công ước này ngay trong năm 2021

-Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc của NSDLĐ, tổ chức tại Hà Nội ngày 14/10/2019 chứa đựng ý kiến phân tích về pháp luật về QHLĐ hiện hành của đại diện nhiều hiệp hội nghề nghiệp nổi bật của Việt Nam (Hiệp hội dệt may da giầy, Hiệp hội điện tử, Hiệp hội nghề cá ), đại diện các Phòng thương mại nước ngoài (Phòng Thương mại Hoa Kỳ-AmCham, Phòng Thương mại Hàn Quốc –Kocham và Phòng Thương mại Công nghiệp Nhật Bản- JCCI) và đại diện VCCI ở khắp các vùng, miền trong cả nước Tài liệu cũng bao gồm ý kiến của các đại biểu trao đổi về cách thức nâng cao vai trò đại diện của giới sử dụng lao động, đặc biệt là của VCCI, trong tiến trình xây dựng, phát triển và thực thi những chính sách lao động quốc gia Các ý kiến đã nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết cần xây dựng một chương chuyên biệt cho giới chủ sử dụng lao động trong BLLĐ sửa đổi năm 2019, nhằm giúp bảo đảm môi trường pháp lý mạnh cho doanh nghiệp phát triển bền vững ở Việt Nam

Bên cạnh những nghiên cứu nêu trên, cơ quan chủ trì soạn thảo BLLĐ năm

2019 là Bộ LĐ-TBXH đã tổ chức hơn 20 hội thảo, tọa đàm chuyên đề tham vấn các chuyên gia và các đơn vị chức năng ở trung ương và địa phương liên quan đến các tiêu chuẩn lao động quốc gia quy định trong Bộ luật Lao động (tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động) và chương quy định QHLĐ (HĐLĐ, đối thoại tại doanh nghiệp, TLTT, tổ chức đại diện NLĐ và giải quyết TCLĐ) Nhiều ý kiến ghi nhận trong kỷ yếu và tài liệu của các buổi hội thảo, toạ đàm đó đã phân tích sâu những thách thức đặt ra trong thực tế thực hiện các quy định pháp luật hiện hành về QHLĐ và đề xuất một số giải pháp hướng tới giải quyết những thách thức đặt ra

Trang 37

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về các tiêu chí, quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động ở Việt Nam

Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và toàn diện về tiêu chí hoàn thiện pháp luật để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định ở Việt Nam Tuy nhiên, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến tiêu chí đánh giá QHLĐ lành mạnh và đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật để xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định Những công trình tiêu biểu có thể kể như sau:

-Luận án tiến sĩ về: “Tạo lập và thúc đẩy QHLĐ lành mạnh tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội“ của nghiên cứu sinh Nguyễn Duy Phúc

(Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2011) [58] tiến hành khảo sát ở 166 doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ở địa bàn Hà Nội và đưa ra một số phát hiện thực tế, qua đó

đề xuất một số nhóm giải pháp giúp tạo lập và thúc đẩy QHLĐ lành mạnh ở các doanh nghiệp Trên cơ sở phân tích tình hình QHLĐ, luận án đưa ra các tiêu chí đánh giá QHLĐ lành mạnh dựa trên 4 nhóm: (i) tiêu chí về năng lực của các chủ thể (khả năng xác định vấn đề, mức độ hiểu biết pháp luật, kỹ năng đối thoại và năng lực công đoàn); (ii) tiêu chí về thái độ của các chủ thể (mức độ tôn trọng của NSDLĐ đối với công đoàn, quan niệm của NSDLĐ về động cơ thúc đẩy NLĐ, thái

độ của NLĐ đối với NSDLĐ, thái độ của NLĐ đối với công đoàn, mức độ cam kết mạnh mẽ của NSDLĐ trong việc thúc đẩy QHLĐ lành mạnh); (iii) tiêu chí về cơ chế tương tác (cách thức tổ chức các kênh đối thoại, TLTT, giải quyết khiếu nại và bất bình, thủ tục giải quyết TCLĐ, cơ chế tham gia của NLĐ và xây dựng chính sách lao động) và (iv) tiêu chí về kết quả tương tác (các tiêu chuẩn lao động đạt được, mức độ thỏa mãn của các bên với nhau)[58]

-Luận án tiến sĩ về “Hoàn thiện quản lý nhà nước về QHLĐ trong doanh nghiệp” của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Nhàn (Đại học Thương mại năm

2010) [55] bước đầu đánh giá thực trạng QHLĐ ở cấp doanh nghiệp thông qua: (i) việc ban hành pháp luật điều chỉnh các chủ thể và cơ chế tương tác hai bên trong QHLĐ; (ii) việc thiết lập các thiết chế thực thi pháp luật QHLĐ doanh nghiệp; (iii)

Trang 38

giải pháp hoàn thiện từng bước pháp luật điều chỉnh QHLD doanh nghiệp dưới góc nhìn kinh tế học đối với công tác quản lý nhà nước và phản ánh thực trạng thời kỳ phát triển ban đầu sơ khai của QHLĐ Mặc dù, luận án còn chưa phân tích về kinh nghiệm quốc tế và bài học đúc rút cho Việt Nam nhưng một số kiến nghị của luận

án có thể sử dụng giúp phân tích so sánh tình hình giai đoạn 2008-2010 và đánh giá cập nhật tình hình mới hiện nay [55]

-Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Huy Khoa về: “TLTT trong QHLĐ ở Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn“ [51] đưa ra khái niệm

về TLTT ở Việt Nam, giúp đóng góp cho cơ sở hình thành lý luận và thực tiễn của TLTT trong QHLĐ Luận án cũng phân tích kinh nghiệm khu vực và quốc tế về TLTT, so sánh đối chiếu với tình hình ở Việt Nam [51]

-Luận án tiến sĩ kinh tế: “Một số vấn đề QHLĐ tại các DNNQD và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế –khảo sát ở thành phố Hồ chí Minh” của nghiên cứu sinh Vũ Việt Hằng (Đại học Kinh tế

thành phố Hồ chí Minh năm 2004) [27] phân tích ba mô hình tiếp cận vấn đề QHLĐ trong doanh nghiệp: (i) mô hình cổ điển của Dunlop người Mỹ (1958), với quan hệ trong đó các chủ thể chia sẻ hệ tư tưởng, giá trị chung (cơ sở cho hệ thống TLTT), giải quyết êm thấm mâu thuẩn quyền lợi, loại trừ xung đột (ii) mô hình lựa chọn chiến lược và lý thuyết QHLĐ của Kochan: với các chiến lược (a) chấp nhận công đoàn và coi là đối tác tin cậy: chính sách tương ứng (chú trọng TLTT, thành lập ủy ban hỗn hợp đại diện hai bên, duy trì hợp tác); (b) làm suy yếu công đoàn: tấn công giảm uy tín công đoàn; thay đổi công nghệ, sử dụng nhân công bên ngoài, đóng của nhà máy nơi có công đoàn mạnh, xây dựng nhà máy nơi có công đoàn yếu; (c) duy trì tình trạng không có công đoàn (iii) mô hình tác động tương hỗ của Andre Petit

về tạo quan hệ cân bằng giữa các chủ thể QHLĐ, các bên phải tìm cách giải quyết mâu thuẫn lợi ích Tác giả có nêu khuyến nghị vận dụng linh hoạt 2 trong 3 mô hình trên (mô hình lựa chọn chiến lược của Kochan và mô hình tác động tương hỗ của Petit) phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam [27]

Trang 39

-Luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật về thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại tòa án ở Việt Nam” (Học viện Khoa học Xã hội năm 2011) của tác giả Phạm Công

Bảy, Học viện Khoa học xã hội [7] phân tích khung pháp luật về thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án mà được xây dựng trên cơ sở tính chất, đặc điểm của

QHLĐ và TCLĐ Xuất phát từ thực tiễn dưới góc nhìn của một thẩm phán công tác

lâu năm trong ngành tòa án, tác giả làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về thủ tục tố tụng trong giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự trong giải quyết TCLĐ

cá nhân với nhiều ví dụ minh họa; trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình pháp luật

về thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án cho phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay [7]

-Luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật công đoàn trong điều kiện phát triển kinh

tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam” (Học viện Chính trị - Hành chính

Quốc gia năm 2012) của tác giả Trần Thị Thanh Hà [28] phân tích khung pháp luật

về tổ chức và hoạt động của công đoàn, từ đó nêu ra các quan điểm và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật công đoàn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Cách giải pháp được tác giả đề xuất bao gồm: (a) sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn theo hướng nâng cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ; (b) cải cách pháp luật về lao động, việc làm và định hướng giải quyết TCLĐ; (c) tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật công đoàn; (d) nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp với chính quyền chuyên môn cùng cấp; (e) tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật công đoàn; (f) đổi mới toàn diện cách tổ chức, phát triển đoàn viên và hoạt động của công đoàn [28]

1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án sẽ tiếp tục giải quyết

1.3.1 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thứ nhất, về những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trang 40

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về QHLĐ nói chung và về pháp luật

về QHLĐ nói riêng rất phong phú, tuy nhiên phần lớn đi sâu vào các vấn đề lý thuyết

và chủ yếu từ cách tiếp cận của kinh tế, chính trị và xã hội học, có ít nghiên cứu từ góc độ luật học và hướng cụ thể vào các vấn đề pháp lý của QHLĐ Thêm vào đó, mặc dù đã có một số nghiên cứu công bố ở nước ngoài phân tích về QHLĐ ở Việt Nam (phần lớn là các luận án mà nghiên cứu sinh Việt Nam thực hiện ở các trường đại học nước ngoài), song chủ yếu từ góc độ pháp luật lao động nói chung, chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích vấn đề từ góc độ của chuyên ngành lý luận, lịch sử nhà nước và pháp luật

Dù vậy, những công trình của các tác giả nước ngoài về QHLĐ vẫn là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh trong việc thực hiện luận án Nhiều công trình trong số này cung cấp cho tác giả luận án những kiến thức chuyên sâu, cách tiếp cận mới về QHLĐ, cũng như kinh nghiệm thực tiễn quý báu ở một số quốc gia

về xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định mà có thể tham khảo áp dụng vào thực tiễn Việt Nam Đặc biệt, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

có ý nghĩa quan trọng trực tiếp hỗ trợ tác giả luận án trong quá trình khảo cứu các vấn đề lý luận về QHLĐ và nói chung, và về về pháp luật về QHLĐ nói riêng

Thứ hai, về những công trình nghiên cứu ở trong nước

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài được công bố ở trong nước đã

đề cập, phân tích QHLĐ và pháp luật về QHLĐ một cách khá toàn diện, trên rất nhiều phương diện lý luận và thực tiễn Cụ thể, nhiều công trình đã đề cập đến vai trò,

ý nghĩa của việc xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ và ổn định trong mối quan hệ với

sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam Khung pháp luật về QHLĐ ở Việt Nam cũng đã được khảo sát và phân tích trên nhiều góc độ như đặc điểm, vai trò, các hình thức biểu hiện, những phát triển gần đây và những hạn chế, thách thức trong mối liên hệ so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn của đất nước Đây là những kiến thức tham khảo rất hữu ích cho việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất

Ngày đăng: 25/06/2022, 11:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Khi nút Màn hình chính, nút Quay lại và nút Tổng quan không hiển thị ở bên dưới màn hình, hãy tìm và nhấn vào [Cài đặt] > [Hệ thống] > [Cử chỉ] > [Di chuyển trên hệ thống] > [Di chuyển bằng 3 nút]. - Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013
hi nút Màn hình chính, nút Quay lại và nút Tổng quan không hiển thị ở bên dưới màn hình, hãy tìm và nhấn vào [Cài đặt] > [Hệ thống] > [Cử chỉ] > [Di chuyển trên hệ thống] > [Di chuyển bằng 3 nút] (Trang 38)
Bảng 3.2: Số liệu cơ bản về hệ thống VCCI, năm 2019 Văn phòng và chi nhánh VCCI ở Hà Nội (trụ sở chính) và các - Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013
Bảng 3.2 Số liệu cơ bản về hệ thống VCCI, năm 2019 Văn phòng và chi nhánh VCCI ở Hà Nội (trụ sở chính) và các (Trang 99)
Bảng 3.3: Số vụ TCLĐ cá nhân giải quyết tại Tòa án - Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013
Bảng 3.3 Số vụ TCLĐ cá nhân giải quyết tại Tòa án (Trang 112)
Số liệu ở Bảng 3.5 khẳng định thực tế hầu hết các cuộc ngừng việc tập thể, đình công đều tự phát, không có sự lãnh đạo của tổ chức công đoàn và quy mô phổ  biến  diễn  ra  từ  3-4  ngày,  có  cuộc  kéo  dài  đến  14  ngày  (cụ  thể  tại  Công  ty  TNHH  H - Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013
li ệu ở Bảng 3.5 khẳng định thực tế hầu hết các cuộc ngừng việc tập thể, đình công đều tự phát, không có sự lãnh đạo của tổ chức công đoàn và quy mô phổ biến diễn ra từ 3-4 ngày, có cuộc kéo dài đến 14 ngày (cụ thể tại Công ty TNHH H (Trang 113)
PHÂN LOẠI THEO LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP - Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013
PHÂN LOẠI THEO LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP (Trang 114)
PHÂN LOẠI THEO LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP - Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013
PHÂN LOẠI THEO LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP (Trang 114)
được bao phủ bởi TƯLĐTT là 10,7% (Xem thêm Bảng 3.6). Từ một góc độ khác, tỉ lệ NLĐ được bao phủ bởi TƯLĐTT thấp hơn tỉ lệ tham gia công đoàn (lần lượt là  43,5%  với  NLĐ  làm  công  hưởng  lương  và  19%  với  NLĐ  nói  chung) - Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013
c bao phủ bởi TƯLĐTT là 10,7% (Xem thêm Bảng 3.6). Từ một góc độ khác, tỉ lệ NLĐ được bao phủ bởi TƯLĐTT thấp hơn tỉ lệ tham gia công đoàn (lần lượt là 43,5% với NLĐ làm công hưởng lương và 19% với NLĐ nói chung) (Trang 123)
Bảng 3.7: Tỉ lệ các cuộc đình công về quyền và lợi ích, 2016-2018 - Hoàn thiện pháp luật để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và ổn định theo tinh thần hiến pháp năm 2013
Bảng 3.7 Tỉ lệ các cuộc đình công về quyền và lợi ích, 2016-2018 (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w